Tải bản đầy đủ

Môi trường và con người

ÔN TẬP MÔI TRƯỜNG VÀ CON NGƯỜI
Câu 1: Phân tích quy mô dân số thế giới và Việt Nam.
Câu 2: Phân tích chất lượng dân số thế giới.
Câu 3: Phân tích chất lượng dân số Việt Nam.
Câu 4: Phân tích cơ cấu dân số Việt Nam.
Câu 5: Phân tích cơ cấu dân số thế giới
Câu 6: Đánh giá các tác động bật lợi do quy mô dân số lớn tới tài nguyên đa dạng sinh học ở
Việt Nam.Nêu VD?
Câu 7: Đánh giá các tác động bật lợi do quy mô dân số lớn tới tài nguyên đất ở Việt
Nam.Nêu VD?
Câu 8: Đánh giá các tác động bật lợi do quy mô dân số lớn tới tài nguyên nước ở Việt
Nam.Nêu VD?
Câu 9: Đánh giá các tác động bật lợi do quy mô dân số lớn tới tài nguyên khoáng sản ở Việt
Nam.Nêu VD?
Câu 10: Đánh giá các tác động(có lợi và bất lợi) do quy mô dân số lớn tới kinh tế-xã hội ở
Việt Nam.

March 23, 2017

1



Câu 1: Phân tích quy mô dân số thế giới và Việt Nam.



Phân tích quy mô dân số thế giới

_ Tổng số dân hiện tại,biến động qua các thời kỳ

Đầu công nguyên, dân số thế giới 0.285 tỉ người. Đến năm 1830 dân số thế giới
tròn một tỷ người. Ta thấy thời gian để thế giới tăng từ 0.285 tỷ lên 1 tỷ người đầu tiên
phải mất 1.831 năm. Năm 1930, dân số thế giới tăng lên đạt mức 2 tỷ người. Như vậy,
thời gian để dân số thế giới tăng thêm 1 tỷ người vào thời kỳ này là 110 năm. Đến năm
1960, dân số thế giới đạt tới 3 tỷ người. Đến thời kỳ này, thời gian để dân số thế giới
tăng thêm 1 tỷ nữa rút lại chỉ còn 30 năm. Dân số thế giới đạt 7,238 tỷ người vào năm
2014.Như vậy dân số tăng lên rất nhanh và thời gian để tăng ngày càng bị rút ngắn.
Hai nước DS đông nhất TG là TQ với 1.364 tỉ ng,Ấn Độ với 1,296 tỉ người.Đứng
t3 là Hoa Kỳ với 317.7 triệu người. Khoảng cách giữa 2 nc đứng đầu và nc t3 có sự
khác biệt rõ rệt.
_ Phân bố dân số

Tuy dân số thế giới có quy mô lớn, nhưng dân số phân bố không đều giữa các nước và
giữa các vùng. Nhìn trên bản đồ dân số thế giới, ta thấy dân số thế giới tập trung đông
vào các nước đang phát triển, đặc biệt là dân số thế giới tập trung chủ yếu ở châu Á và
châu Phi.
Dân số tập trung chủ yếu ở châu Á là khu vực có hầu hết các nước đang phát triển
và là nơi tập trung nhiều quốc gia có quy mô dân số lớn như Ấn Độ và Trung Quốc.
Sau châu Á, thì châu Phi là châu lục đông dân thứ hai trên thế giới. Nếu xét theo mật
độ dân số, thì Mỹ La Tinh là khu vực có mật độ dân số đứng thứ hàng thứ 3 trên thế
giới sau Châu Á và Châu Phi.
_Mật độ dân số các nước
TQ(143ng),Ấn Độ(394ng) là 2 nc có số dân lớn nhất TG nhưng không phải nước có
mật độ dân số cao nhất.Đứng t1 là Monaco: 37.000ng/km^2,Đặc khu
Macao(China):23.870,Singapore là 8.034. Mật độ dân số không đồng đều ngay cả
trong quốc gia,vd thành thị thường cao hơn nông thôn.
_Tổng tỷ suất sinh(TFR) đóng góp vào quy mô dân số
TFR của TG năm 2015 là 2.5(số con/phụ nữ),cao nhất là Niger với 6.76,Burundi
6.09,mali 6.06,thấp nhất TG là Singgapore 0.81.



Phân tích quy mô dân số Việt Nam.

VN là nước có quy mô dân số lớn,có sự thay đổi qua các thời kỳ và có sự khác biệt giữa các vùng
miền trong phạm vi cả nước.

March 23, 2017

1


_Tổng số dân hiện tại,biến động qua các thời kỳ
Theo thống kê Điều tra dân số giữa kỳ năm 2014,tổng số dân VN ước đạt 90,494,352 người,tăng them
khoảng 4,64 triệu ng trông vòng 5 năm kể từ Tổng DTDS 2009.Hiện tại, DS VN đứng t3 khu vực
ĐNÁ(sau Indonesia và Philipin) và t8 trong khu vực Châu Á và t14 TG.
+ Quy mô dân số VN có sự thay đổi-liên tục tăng qua mỗi thời kỳ(tăng từ 15,5 triệu ng năm 1921 lên
90,493 triệu ng năm 2014,tăng 5,8 lần)
+Tỉ lệ tăng dân số bình quân nước ta có xu hướng giảm dần từ năm 1960 trở lại đây.Tuy nhiên,tốc độ
gia tăng dân số vẫn còn cao và sẽ còn duy trì tốc độ này trong vòng nhiều năm nữa.Theo dự báo dân
số nc ta sẽ còn tăng đến giữa TK21 với quy mô dân số hơn 100 triệu và sẽ thuộc vào nhóm nước có
dân số đông nhất TG.
+Quy mô dân số VN đang dần hg tới ổn định

Nếu đầu kỷ nguyên dân số Việt Nam chỉ bằng 0,6% dân số thế giới thì nay đã
gần bằng 1,4%. Như vậy, tỷ lệ tăng dân số Việt Nam vượt xa tỷ lệ tăng bình quân dân
số thế giới. Từ sau khi thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 tháng 1/1993, tỷ lệ tăng
dân số của Việt Nam đã giảm mạnh. Năm 2004, tỷ lệ tăng dân số chỉ còn là 1,4%, và
đến năm 2014 tỉ lệ tăng dân số VN chỉ còn 1.06%.
_Phân bố dân số
+Dân số nước ta đông nhưng phân bố không đồng đều giữa các vùng.Khu vực có mật độ dân số cao
đều là những vùng đô thị, KT trọng điểm như HN,HCM,HP,Bắc Ninh,…Đồng bằng có mật độ dân số
cao,số ng tăng lên hàng lắm lớn,nhưng khả năng mở rộng sx lại có hạn.
Khu vực miền núi có đất đai rộng,có ưu thế ptrien cây công nghiệp,chăn nuôi,nghề rừng nhưng mật
độ dân số thưa thớt,thiếu LĐ do đđ địa lý khó khăn,xa xôi hẻo lánh,giao thông không thuận lợi,là địa
bàn cư trú dân tộc ít ng như Lai Chậu,Điện Biên,…
+Tốc độ đô thị hóa những năm gần đây tặng nhanh
Số lượng đô thị tăng từ 629 đô thị năm 1999 lên 772 đô thị năm 2014.Theo niên giám thống kê 2014,
Tỷ lệ dân số thành thị(%) cả nước năm 2009 là 29.6 tăng lên 33.1 năm 2014.

_Tổng tỷ suất sinh(TFR) đóng góp vào quy mô dân số
Tổng tỷ suất sinh của Việt Nam tương đối ổn định trong vòng 10 năm qua.Tổng tỉ suất sinh thành thị
luôn thấp hơn của nông thôn và luôn nằm dưới mức sinh thay thế,trong đó TFR của nông thôn nằm
trên mức sinh thay thế.Tuy nhiên,mức độ biến động TFR từ 2001 đến 2010 thì ở nông thôn giảm
dần,nhưng thành thị có xu hướng tăng nhẹ từ 2011 đến nay.

Câu 2: Phân tích chất lượng dân số thế giới.
_Tuổi thọ; Chỉ số phát triển con người(HDI)
+Theo bảng tuổi thọ TB cao nhất,thấp nhất của TG năm 2014 nước có tuổi thọ cao nhất là HKong là
84,San Marino 84,Nhật Bản 83,Thấp nhất là Lesotho 44,Sierra Leone 45 và Botswana 47. Sở dĩ như
thế vì….(phân tích).Tổng kết châu lục có tuổi thọ TBcao nhất năm 2014 là Châu Âu:78. Đặc biệt Tây
Âu có tuổi thọ cao từ 80-83,TB 81. Phân tích tại sao các nước đó lại có tuổi thọ cao(kte phat
trien>>đời sống của con ng được quan tâm,y tế ptrien chua dc nhieu benh…)

March 23, 2017

2


+Chỉ số phát triển con ng là thước đo tổng hợp về sự phát triển KT XH của 1 quốc gia hay vùng lãnh
thổ trên các phương diện thu nhập(GDP),tri thức(chỉ số học vấn) và sk(tuổi thọ TB tính từ lúc sinh
ra).
Báo cáo Phát triển Con người 2015 được UNDP (Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc) công bố vào
ngày 14 tháng 12 năm 2015.Các nước đứng đầu như Na Uy là 0.944,Úc 0.935,Thụy Sỹ 0.930. và Việt
Nam( đứng thứ 116/188) 0.666 đã tăng bậc so với năm 2014 121/187(0.638)

_Tỉ lệ chết trẻ sơ sinh(IMR) -đơn vị: trẻ dưới 1 tuổi tử vong/1000 trẻ đẻ ra sống
IMR phản ánh việc chăm sóc sk;phân bố dân số theo độ tuổi;tác động tăng giảm mức sinh.
Theo số liệu thống kê từ trang web www.prb.org năm 2014 IMR thế giới còn 38 giảm đáng kể so với năm
1970. Năm 2015, Afghanistan có IMR cao nhất là 115,08,mali 102.23,sômali 98.39. Sở dĩ các nước này lại
có chỉ số IMR cao đến vậy là bởi 3 yếu tố: 1.Về mức sống dân cư(Afghanistan là đất nước có chiến tranh
kéo dài,ctri,kte,…kem ptrien,2 nước về sau đều là nước thuộc khu vực châu Phi nghèo đói,kte kem phat
trien,…). 2. Trình độ phát triển y học, mạng lưới y tế, vệ sinh phòng bệnh(trình độ y học,…),3.Môi
trường sống(mtr sống ô nhiễm,khí thải,rác thải…).Ngoài ra còn tệ nạn xã hội…

Câu 3: Phân tích chất lượng dân số Việt Nam.
_Chỉ số phát triển con người(HDI)
Chỉ số phát triển con ng là thước đo tổng hợp về sự phát triển KT XH của 1 quốc gia hay vùng lãnh
thổ trên các phương diện thu nhập(GDP),tri thức(chỉ số học vấn) và sk(tuổi thọ TB tính từ lúc sinh
ra).
Năm 2014, tuổi thọ TB từ lúc sinh ra của Việt Nam là 73,2 tuổi;tỉ lệ người lớn biết chữ là 94,7% dân
số từ 15 tuổi trở lên,GDP bình quân đầu người là 2.052USD.Từ đó chỉ số ptrien con ng của VN đạt
0.638 đứng thứ 121/187 nước được xếp hạng, tức là ở thứ hạng trên của nhóm các nước có mức phát
triển con người trung bình.
_Tỉ lệ chết trẻ sơ sinh(IMR) -đơn vị: trẻ dưới 1 tuổi tử vong/1000 trẻ đẻ ra sống
IMR phản ánh việc chăm sóc sk;phân bố dân số theo độ tuổi;tác động tăng giảm mức sinh.
Chỉ số IMR toàn quốc qua các năm 1999(36,7),2009(16),2014(14.9). Như vậy tủ lệ chết trẻ sơ sinh ngày
càng giảm. Trong đó thành thị tỷ lệ trẻ sơ sinh ít hơn nông thôn.Nguyên nhân:………
_Tuổi thọ
Tuổi thọ của người VN tăng đáng kể từ năm 1979 đến 2014(tăng 20,5 tuổi).Năm 2014, tuổi thọ TB của
VN là 73,2, trong đó nữ 76 và nam 70,6. Còn theo Kết quả điều tra mới nhất của Diễn đàn kinh tế thế giới
(WEF) cho thấy, tuổi thọ trung bình của người Việt Nam đã tăng lên 75,6, đứng thứ 2 khu vực chỉ sau
Singapore.Với tuổi thọ ở mức trên, Việt Nam đang đứng thứ 56 trong tổng số 138 nước, vùng lãnh thổ
WEF thực hiện khảo sát..Đây là 1 thành tựu của VN trong việc nâng cao đời sống cho ng dân.
_Chất lượng nguồn nhân lực ảnh hưởng đến kinh tế,xã hội Việt Nam
Hiện nay, Việt Nam có số người trong độ tuổi lao động trên tổng dân số chiếm tỷ lệ 75,2% là nước đang ở
giai đoạn dân số vàng, nhưng số lao động qua đào tạo có bằng chuyên môn kỹ thuật chỉ chiếm tỷ lệ chỉ
17,9% (nông thôn 11,2%).
Chất lượng nguồn nhân lực của nước ta ngày càng tụt hậu so với nhiều nước trong khu vực, mất cân đối
nghiêm trọng về trình độ đào tạo, cơ cấu và giới; tình trạng thất nghiệp của lao động có bằng cấp cao ngày
càng nhiều. Dự báo trong những năm tới, nước ta hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, nhiều hợp tác song
phương và đa phương sẽ được ký kết, sự di chuyển lao động giữa các quốc gia sẽ diễn ra mạnh mẽ, sự
cạnh tranh trong thị trường lao động càng trở lên gay gắt, trong khi nhân lực của nước ta đang mất dần sức

March 23, 2017

3


cạnh tranh trên thị trường lao động trong khu vực và quốc tế, đây là thách thức lớn đối với nước ta. Trước
yêu cầu của thời kỳ hội nhập, nếu không có những giải pháp tích cực thì những khó khăn của đất nước sẽ
ngày càng nặng nề hơn, nhất là khi nước ta phải thực hiện nhiều cam kết với các quốc gia, các tổ chức
quốc tế. Quá trình hội nhập quốc tế sẽ tạo sức ép và đặt ra nhiều vấn đề đòi hỏi nước ta phải quyết liệt đổi
mới căn bản nhiều mặt, mà trước hết là nhanh chóng đổi mới công tác đào tạo nhân lực, nâng cao chất
lượng của lao động theo tiêu chuẩn quốc tế, nếu không muốn nước ta tụt hậu thêm nữa.

_Những thách thức đối với chất lượng dân số
Theo báo cáo của Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGÐ), chất lượng dân số về thể chất
của người Việt Nam đã được cải thiện song vẫn còn rất thấp
+ Kết quả Tổng điều tra Dân số và nhà ở năm 2009 cho thấy, có 1,5% dân số Việt Nam bị thiểu năng về
thể lực và trí tuệ. Trong đó, số trẻ mới sinh bị dị tật bẩm sinh do di truyền chiếm khoảng từ 1,5 đến 3% và
có xu hướng tiếp tục gia tăng do điều kiện sống, môi trường độc hại, chưa được phát hiện và điều trị sớm.
+ số lượng người bị tàn tật, khuyết tật trong cả nước rất lớn, khoảng 5,3 triệu người (chiếm 6,3% số dân)...
Tầm vóc, thể lực cân nặng, sức bền của người Việt Nam so với nhiều nước trong khu vực vẫn còn hạn chế.
+ Viện trưởng Dinh dưỡng Quốc gia GS, TS Lê Thị Hợp cho biết, chiều cao trung bình của người Việt Nam
là 164,4 cm (đối với nam) và 153 cm (nữ), tăng trung bình 4 cm sau 35 năm. Nghĩa là cứ khoảng 10 năm,
người Việt Nam mới tăng 1 cm chiều cao. Trong cùng khoảng thời gian đó, chiều cao của người dân Tháilan và Trung Quốc đã tăng được 2 cm. Với chiều cao hiện tại, nam thanh niên Việt Nam vẫn thấp hơn chuẩn
quốc tế 13,1 cm và nữ thấp hơn 10,7 cm. Không chỉ thua kém về chiều cao, thanh niên Việt Nam còn thua
kém cả về sức bền, sức mạnh (cơ bắp), cân nặng so với chuẩn quốc tế khá nhiều.
+ Tuổi thọ bình quân của người dân Việt Nam đạt mức khá cao là 73 tuổi, tuy nhiên, tuổi thọ bình quân khỏe
mạnh lại chỉ đạt 66 tuổi và xếp thứ 116/182 nước trên thế giới. Trong khi đó, với tốc độ già hóa dân số đang
tăng khá nhanh, Việt Nam vẫn chưa kịp chuẩn bị cho việc thích ứng với việc chăm sóc người cao tuổi, nhất
là chế độ an sinh xã hội
+ tỷ số giới tính khi sinh (số trẻ sơ sinh trai/100 trẻ sơ sinh gái) ở nước ta đã tăng nhanh một cách bất thường
và phức tạp. Theo Ðiều tra biến động dân số năm 2012, tỷ số giới tính khi sinh của Việt Nam đang ở mức
112,3/100 và đang là vấn đề đáng lo ngại. Với tình trạng này, nước ta sẽ thiếu khoảng 2,3 - 4,3 triệu phụ nữ
vào năm 2050. Tình trạng "dư thừa" nam giới trong độ tuổi kết hôn có thể sẽ dẫn tới tan vỡ cấu trúc gia đình.
Một bộ phận nam giới sẽ phải kết hôn muộn và nhiều người trong số họ không có điều kiện kết hôn. Ðiều
này sẽ gia tăng thêm sự bất bình đẳng giới như nhiều phụ nữ phải kết hôn sớm hơn, tỷ lệ ly hôn và tái hôn
của phụ nữ sẽ tăng cao, tình trạng bạo hành giới, mua bán phụ nữ sẽ gia tăng,...

Câu 4: Phân tích cơ cấu dân số Việt Nam.


Cơ cấu dân số theo nhóm tuổi

_Cơ cấu dân số theo tuổi của Việt Nam thay đổi nhanh chóng: tỷ lệ dân số của các nhóm tuổi đều tăng lên
hoặc giảm đi một cách rõ rệt. Đặc biệt, tỷ lệ trẻ em ở nhóm (0-4) tuổi, năm 2007 so với năm 1979 chỉ còn
khoảng 1/2. Ngược lại, trong 20 năm, tỷ lệ nhóm tuổi từ 5 trở lên đó tăng tới hơn hai lần: từ 0,16% năm
1979 tăng lên 0,38 % năm 1999.  báo hiệu tuổi thọ tăng lên và xu hướng già hoá dân số đang diễn ra.
_Cùng với xu hướng giảm sinh và nâng cao tuổi thọ, tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động (15-64) tăng lên.
Năm 1979, gần một nửa (42,6%) dân số Việt Nam dưới 15 tuổi. Năm 2012, con số này chỉ còn 23,9%. Nhóm
dân số có độ tuổi từ 15-64 hiện chiếm 69% tổng số dân.
Bắt đầu từ năm 2007, với tỷ số phụ thuộc chung (nhóm dân số 0-14 tuổi và nhóm dân số trên 65 tuổi tính
trên nhóm dân số 15-64) dưới 50%, Việt Nam chính thức bước vào thời kỳ cơ cấu “dân số vàng”.

Đó là”cơ hội vàng” mà cta cần nắm bắt để hội nhập ptrien kte-xh để tương xứng vs quy mô
dân số lớn như hnay.

March 23, 2017

4




Cơ cấu dân số theo khu vực (có sự phân hóa khác nhau)

1. vi dan so phan bo khong dong deu giua cac vung
2. cac vung co su phat trien kinh te khong dong deu.co su chenh lech ve trinh do phat trien,co so ha
tang,chat luong va so luong nguoi lao dong
3. nha nuoc xac dinh vung manh (vung thuan loi) de dau tu nhieu,co chinh sach thong thoang de thuc
day vung nay tro thanh cực kinh te nham thuc day su phat trien cua cac vung lan can
4. do von dau tu it oi,khả năng phat trien cua tung vung
5. dieu kien tu nhien cung co vai tro rat quan trong



Cơ cấu dân số theo giới tính




Cơ cấu dân số theo tình trạng hôn nhân
Cơ cấu dân số theo giáo dục

Câu 5: Phân tích cơ cấu dân số thế giới.



Cơ cấu dân số theo nhóm tuổi
Cơ cấu dân số theo khu vực

Câu 6: Đánh giá các tác động bật lợi do quy mô dân số lớn tới tài nguyên đa dạng sinh
học ở Việt Nam.Nêu VD?


Tác động làm suy thoái ĐDSH
1. Gia tăng dân số là một trong các nguyên nhân sâu xa gây nên thất thoát
ĐDSH
Nguyên nhân sâu xa của thất thoát ĐDSH bao gồm gia tăng dân số, sự di dân đến các khu vực
nhạy cảm sinh thái, đói nghèo và bất bình đẳng, các chính sách khuyến khích việc tiêu dùng tài
nguyên một cách không bền vững, và thiếu nhận thức đúng đắn về môi trường.

2. Nhu cầu ngày càng tăng về lương thực, thực phẩm và nhà ở do dân số tăng
đã góp phần vào làm suy thoái ĐDSH
Việc chuyển đổi đất rừng và các vùng ĐNN thành đất canh tác nông nghiệp cùng với việc
sử dụng không có kiểm soát phân bón, thuốc trừ sâu là những yếu tố quan trọng dẫn đến
tuỵệt chủng loài, và sự mở rộng đô thị hóa cũng dẫn đến mất mát hay phá vỡ các HST. Sự
gia tăng dân số hiện nay tại các HST giàu ĐDSH, do cả tăng tự nhiên lẫn do di cư, đã
khiến cho những nỗ lực bảo tồn ĐDSH ngày càng khó khăn và mâu thuẫn với nhu cầu
của con người.

3. Mật độ dân số có mối liên quan chặt chẽ đến sự suy thoái và mất mát các
nơi cư trú của sinh vật, và sự mất mát này là cao nhất ở những nơi có dân
cư đông đúc nhất
Một nghiên cứu gần đây về mật độ dân số và sự mất nơi cư trú đã chỉ ra rằng trong số 50
quốc gia không có sa mạc ở châu Á và châu Phi, thì tại mười quốc gia đông dân nhất đã
mất đi trung bình là 79% sinh cảnh của các loài. Mật độ dân cư trung bình ở các nước này
là 2.687 người trên một km2. Mười quốc gia có dân số thấp nhất thì mất đi khoảng 47%
diện tích nơi cư trú của các loài và mật độ dân số trung bình tại đây chỉ có 95 người/km2.

March 23, 2017

5


4. Gia tăng dân số đang là sức ép lớn nhất tại các khu vực giàu có về ĐDSH
Hơn 1,1 tỷ người hiện đang sống tại 25 điểm nóng về ĐDSH trên thế giới.
Các nhà sinh học cho rằng các điểm nóng ĐDSH có tính toàn cầu là những khu vực đang
bị đe dọa nhiều nhất trên thế giới. Nghiên cứu của tổ chức Hành động Quốc tế về Dân số
(Population Action International) đã chứng minh rằng các điểm nóng là nơi sinh sống của
chừng khoảng 20% dân số toàn cầu, mặc dù ranh giới của những vùng này chỉ chiếm
khoảng 12% diện tích bề mặt trái đất. Dân số vẫn đang tiếp tục tăng tại tất cả các điểm nóng
ĐDSH (trừ điểm nóng tại vùng biển ngoài khơi Thái Bình Dương). Có tới 19 trên tổng số
25 điểm nóng ĐDSH có tốc độ tăng dân số ở mức 1,8%, nhanh hơn tốc độ tăng dân số trung
bình của thế giới (1,3%).
Bên cạnh các điểm nóng về ĐDSH, các nhà khoa học còn phân ra những vùng hoang dã nhiệt
đới chính hiện còn tồn tại trên thế giới. Đó là vùng Thượng Amazon và Guyana ở Nam Hoa
Kỳ, lưu vực sông Congo ở châu Phi và quần đảo Tân Ghinê/Melanesia nằm giữa châu á và
Australia. Chừng khoảng 75 triệu người đang sinh sống tại những cánh rừng đang bị đe dọa suy
thoái này. Và tốc độ tăng dân số trung bình tại những khu vực này lớn gần gấp 2,5 lần tốc độ
tăng dân số trung bình trên thế giới.
Tại các điểm nóng ĐDSH thuộc các quốc gia phát triển, sự di dân đang là một nguyên nhân
quan trọng gây nên gia tăng dân số. Đây là một thực tế đã và đang diễn ra tại các vùng có tính
độc đáo về sinh học ở California, Florida, Hawaii, tây nam Australia và New Zealand. Hầu hết
sự di cư gây tác động đến các điểm nóng ĐDSH là di cư nội tại – tức là người dân chuyển đến
những nơi có khí hậu ấm áp hơn và dến các vùng duyên hải trong phạm vi nước mình. Tuy
nhiên, dòng di cư từ các nước đang phát triển cũng góp phần vào sự gia tăng dân số tại các vùng
này trong vòng nửa thập kỷ qua.

5. Quần thể loài người đã vượt quá ngưỡng chịu đựng sinh thái
Dựa vào các tính toán so sánh mối tương quan giữa kích thước cơ thể với diện tích nơi cư
trú, các nhà khoa học đã thấy rằng quần thể loài người hiện đã lớn gấp 30 lần giá trị dự
kiến. Chúng ta đã bước vào thời kỳ mà số lượng người, mức tiêu thụ trên đầu người và
những ứng dụng của công nghệ đã làm biến đổi các quá trình địa lý và khí hậu toàn cầu.



Tác động làm suy giảm các loài tự nhiên
Sự gia tăng dân số song hành với sự gia tăng của các loài vật nuôi cây trồng
Người ta ước tính rằng tổng trọng lượng của 10 tỷ động vật nuôi trên thế giới lớn gấp 2 lần tổng
trọng lượng của toàn nhân loại. Cả con người và các loài vật nuôi cùng có tốc độ tăng số lượng
quần thể tương tự nhau. Vật nuôi và cây trồng cạnh tranh với các loài bản địa về thức ăn và nơi cư
trú. Chất thải gia súc và tồn dư của phân bón, thuốc trừ sâu là nguồn gây ô nhiễm đáng kể đối với
sông ngòi và các HST biển và ven bờ.



Tác động làm suy giảm các nguồn gen quý hiếm
Trái đất đang trải qua sự suy giảm đáng quản ngại của tính đa dạng gen di truyền

_Các hợp chất có nguồn gốc thực vật đang chiếm một phần tư tổng các loại dược phẩm hiện nay. Việc
chuyển đổi đất sang các mục đích sử dụng khác nhau của con người như canh tác nông nghiệp, phát triển đô
thị và khu công nghiệp, cùng với sự du nhập vô tình cũng như có chủ đích các loài ngoại lai, đang là hai
nguyên nhân quan trọng nhất hiện nay khiến cho các loài thực vật bị tuyệt chủng. Việc di nhập nhiều giống
mới một cách tràn lan có thể là nguy cơ tiềm tàng làm các giống bản địa bị mai một. Tác hại ngay lập tức có
thể thấy do một số trường hợp phát triển tự phát, nhiều loài sinh vật đưa vào nước ta bằng nhiều con đường
không qua kiểm dịch, thiếu hiểu biết và chưa có thử nghiệm khoa học nên một số loài như ốc bươu vàng
(Pomacea spp.) từ khi được di nhập vào Việt Nam đã phát triển thành nạn dịch phá hoại lúa nghiêm trọng.
Tại vùng Đồng Tháp Mười và vườn Quốc gia U Minh Thượng, các loài thực vật hoang dại đã được di nhập
vào đây như cây Trinh nữ (Mimosa sp.), cây Mai dương (Mimosa figo), cây dây leo (Centrosoma pubescen)
thuộc họ Fabaceae; cỏ Lông tây (Brachiara mutica) thuộc họ Poaceae, cây leo Mikunia microcantha thuộc
họ Asleraceae...Các loài cây hoang dại này có khả năng lan truyền và đã rất phát triển, lấn át các loài thực
vật bản địa khu vực này.

March 23, 2017

6


_Hơn nữa, dân số đông đúc và sự di chuyển dễ dàng của con người từ nơi này sang nơi khác đã tạo điều kiện
cho các loại bệnh truyền nhiễm rất dễ bùng phát trong khi các nguồn hợp chất để bào chế ra thuốc lại đang
bị mất dần.
• Giải pháp
Với những sức ép lớn lao kể trên của dân số đến tính ĐDSH, chúng ta cần phải nỗ lực nhiều hơn
nữa để ổn định và thậm chí giảm bớt qui mô dân số. Hiển nhiên, bản thân việc giảm dân số không
đủ để ngăn chặn làn sóng tuyệt chủng các loài. Cần phải có những chương trình sâu rộng hơn nhằm
vào việc xóa đói giảm nghèo, đảm bảo công bằng trong xã hội, quản lý tài nguyên thiên nhiên và
môi trường theo hướng bền vững, bảo vệ các nơi cư trú giàu tính ĐDSH, ngăn chặn sự xâm lấn của
các loài ngoại lai, giảm thiểu ô nhiễm môi trường do các hoạt động công nông nghiệp và làm giảm
bớt những biến đổi khí hậu do con người gây ra. Tất cả những nỗ lực trên không những sẽ bảo vệ
được các HST giàu loài mà còn nâng cao chất lượng cuộc sống của các thế hệ mai sau

Câu 7: Đánh giá các tác động bất lợi do quy mô dân số lớn tới tài nguyên đất ở Việt
Nam.Nêu VD?
1.Khai thác quá mức các loại tài nguyên trong long đất để phục vụ nhu cầu tăng nhanh
của dân số hiện nay
Do dân số tăng tác động đến môi trường nên dẫn đến những hệ quả:Sức ép lớn tới nguyên thiên nhiên và
môi trường đất do khai thác quá mức các nguồn tài nguyên phục vụ cho các nhu cầu nhà ở,sản xuất lương
thực,thực phẩm,sản xuát cn…đất sẽ bị thay đổi cấu trúc bề mặt gây xói mòn và thoái hóa.

2.Phá rừng dẫn đến hạn hẹp về tài nguyên đất
_Rừng nước ta đang bị tàn phá 1 cách nhanh chóng.Trong vòng 50 năm qua,diện tích rừng nước ta đã bị
giảm hơn 1 nửa,từ 19 triệu ha xuống còn 9 triệu ha,bình quân mỗi năm giảm 200 nghìn ha.Nguyên nhân
của tình trang trên,ngoài khai thác gỗ và các loại lâm sản 1 cách bừa bãi,còn do nhu cầu lương thực cho 1
số dân tăng quá nhanh đòi hỏi phải mở rộng diện tích canh tác.
_1 số dân tộc ít người có tập quán du canh,du cư,rừng sau khi bị đốt phát thành nương rẫy chỉ gieo trồng
được vài vụ là lại phải di chuyển sang nơi khác phá rừng làm nương rẫy.Quá trình cứ lặp đi lặp lại làm cho
diện tích rừng tự nhiên nhanh chóng bị thu hẹp lại. Mà rừng ngoài chức năng cung cấp gỗ còn có chức
năng xã hội và sinh thía rộng lớn.
_Diện tích rừng bị giảm sút,diện tích đất trồng,đồi trọc tăng lên làm lũ lụt xảy ra nhiều hơn,tình trạng xói
mòn đất,hạn hán triền mien làm cho tài nguyên đất ngày càng bị hạn hẹp và suy thoái nghiêm trọng.Ngoài
ra không có rừng phòng hộ cũng dẫn đến việc không có cây giữ đất đẫn đến suy giảm tài nguyên nước
trong đất,đất bị ngập mặn,hiện tượng cát bay,cát chảy,hoang mạc hóa.

3.Bình quân đất nông nghiệp giảm-năng suất tăng nhưng bình quân lương thực đầu
người không tăng.
Do dân số tăng nhanh nhưng đất nông nghiệp bình quân đầu người giảm cho nên dù năng suất lúa có tăng
nhanh nhưng bình quân lương thực đầu ng vẫn tăng chậm.Dẫn đến vẫn không cải thiện được cs cho ng LĐ
trong nghành nông nghiệp.

4.Ô nhiễm đất ở các vùng nông thôn do thâm canh thiếu khoa học
_Ô nhiễm đất chủ yếu xảy ra ở nông thôn,trước hết do sự bành trướng của kỹ thuật canh tác hiện đại.
_Nông nghiệp hiện nay phải sản xuất 1 lượng lớn thức ăn để đáp ứng cho 1 lượng dân số tăng nhanh và đột
biến như hiện nay.Trong khi đất trồng trọt tính thoe đầu ng ngày càng giảm vì dân số tặng và cũng vì sự
ptrien thành phố,kỹ nghệ và những dịch vụ phi nông nghiệp.==>> Nta phải thâm canh mạnh hơn,đãn tới
việc làm xáo trộn dòng năng lượng và chu trình vật chất trong hệ sinh thía nông nghiệp.

5.Ô nhiễm đất do sự tác động mạnh mẽ của chất độc hóa học

March 23, 2017

7


Ô nhiễm đất xảy ra khi đất bị nhiễm các chất hóa học độc hãi(hàm lượng vượt giới hạn hông thường) do
các hoạt động chủ động của con người như khai thác khoáng sản,sx công nghiệp,sd phân bón hóa học or
thuốc trừ sâu quá nhiều,…or bị rò rỉ từ các thùng chứa ngầm.

6.Ô nhiễm đất do các chất thải từ công nghiệp
_Quá trình ptrien cnghiep và đô thị hóa cũng ảnh hg đến các tính chất vật lý và hóa học của đất.Những tác
động về vật lý như xói mòn,nén chặt đất và phá hủy cấu trúc đất do các hdong xây dựng,sx và khai thác
mỏ.Các chất rắn,lỏng và khí đều có tdong đến đất. Các cchaats thỉa có thể dc tích lũy trong đất trong thời
gian dài gây ran guy cơ tiềm tang đối với môi trường.
_Các chất thỉa khí và phóng xạ phát ra chủ yếu tuef các nhà máy nhiệt điện,các khu vực khai thác than,các
khu nhà máy nhiệt điện nguyên tử,có khả năng tích lũy cao trong các loại đất giàu khoáng sét và chất
bùn.==>> đó là nguyên nhân đất bị bạc màu vĩnh viễn khó có thể cải tạo được

7.Ô nhiễm tài nguyên đất do các hoạt động trong sinh hoạt của con người.

*Hướng phát triển bền vững

March 23, 2017

8


March 23, 2017

9


Câu 8: Đánh giá các tác động bật lợi do quy mô dân số lớn tới tài nguyên nước ở Việt
Nam.Nêu VD?
Sự gia tăng dân số quá nhanh là nguyên nhân chính gây áp lực lên nguồn nước. Vì nhu cầu nước cho
phát triển nông nghiệp để gia tăng lương thực thực phẩm, phát triển công nghiệp để gia tăng hàng hóa và
gia tăng thêm nhiều hình thức dịch vụ…
1. ẢNH HƯỞNG DO HOẠT ĐỘNG SỐNG CỦA CON NGƯỜI
- Các dòng nước mặt (sông, kênh rạch…) đặc biệt là ở vùng đô thị đều bị ô nhiễm trầm trọng bởi rác
thải, nước thải sinh hoạt từ các khu dân cư xả vào kênh rạch chưa qua xử lý. Tình trạng lấn chiếm lòng, bờ
sông kênh rạch để sinh sống, xả rác và nước thải trực tiếp trên bề mặt gây ô nhiễm nước mặt, cản trở lưu
thông của dòng chảy, tắc nghẽn cống rãnh tạo nước tù. Môi trường yếm khí gia tăng phân hủy các hợp chất
hữu cơ, không những gây mùi hôi thối, ô nhiễm nguồn nước và môi trường mà còn gây khó khăn trong
việc lấy nguồn nước mặt để xử lý thành nguồn nước sạch cấp cho nhu cầu xã hội.
Thống kê và đánh giá của Bộ Y tế và Bộ Tài Nguyên môi trường trung bình mỗi năm ở Việt Nam có
khoảng 9.000 người tử vong vì nguồn nước và điều kiện vệ sinh kém và gần 200.000 trường hợp mắc
bệnh ung thư mới phát hiện, mà một trong những nguyên nhân chính là sử dụng nguồn nước ô nhiễm.
- Nhu cầu nước sử dụng cho ăn uống, sinh hoạt và các hoạt động khác của con người gia tăng, dẫn đến tình
trạng khai thác nước dưới đất tràn lan gây cạn kiệt nguồn nước và ảnh hưởng đến môi trường như sụp lún,
nhiễm mặn…
- Nhiều giếng khoan thi công không đúng kỹ thuật (Kết cấu giếng không tốt, giếng gần khu vực nhà vệ
sinh, hệ thống xử lý nước thải…), giếng khoan hư không được trám lấp là nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn
nước.
- Nhiều sự cố gây thất thoát nước do đường ống dẫn nước cũ gẫy bể lâu ngày, rò rỉ nước từ van hư củ.
Lười hoặc quên tắt van cũng là nguyên nhân gây lãng phí nước.
- Giữa nước mặn và nước nhạt có một ranh giới, khi họat động khai thác nước dưới đất quá mức đường
ranh giới này sẽ tiến dần đến công trình khai thác, mực nước mặn xâm nhập dần, đẩy lùi mực nước ngọt
vào sâu và làm nhiễm mặn các công trình khai thác trong khu vực. Mặt khác do nước biển tràn vào hoặc do
con người dẫn nước biển vào sâu trong ruộng để làm muối, dẫn đến xâm nhập mặn vào tầng chứa nước.
- Để gia tăng môi trường sống, con người phá rừng lấp đất, sang ruộng cất nhà làm đường dẫn đến mất khả
năng giữ nước của đất, lượng nước bề mặt không được thấm bổ cập vào nước ngầm mà chảy vào sông rạch
ra biển. Ngoài ra còn gây ngập lụt, trược lỡ đất.
2. ẢNH HƯỞNG DO PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP
- Việc chăn nuôi gia súc gia cầm ở hộ gia đình vùng nông thôn còn chưa có ý thức tiết kiệm nguồn nước
trong việc vệ sinh, vệ sinh chuồng trại, chưa có hệ thống xử lý chất thải nước thải, phần lớn cho vào ao hồ,
bể tự hoại để thấm vào đất dễ gây ô nhiệm môi trường đặt biệt là nguồn nước ngầm.
- Việc nuôi các bè cá, bè tôm trực tiếp trên các dòng nước mặt sông rạch đã làm ô nhiễm nguồn nước do
một số nguyên nhân: thức ăn của cá dư thừa, sự khuấy động nguồn nước, sự cản trở lưu thông dòng mặt.
- Nhiều giếng khoan ngoài ruộng vườn để tưới tiêu không đảm bảo kỹ thuật gây nhiễm bẫn, nhiễm các hóa
chất và thuốc trừ sâu …
- Với tình trạng sử dụng bừa bãi, tùy tiện các loại hóa chất trong phân bón, các loại thuốc kích hoạt phát
triển cây… Nhiều hệ thống kênh mương tưới tiêu nội đồng đã bị ô nhiễm nguồn nước và phát tán rộng.
- Hệ thống tưới tiêu và hình thức tưới tiêu không hợp lý là nguyên nhân gây thất thoát lưu lượng nước lớn
trong ngành trồng trọt.
3. ẢNH HƯỞNG DO PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP VÀ DỊCH VỤ
- Việc gia tăng nhiều nhà máy, xí nghiệp từ quy mô nhỏ hộ gia đình đến quy mô lớn dẫn đến nhu cầu về
nguồn nước tăng, không những nước phục vụ cho sản xuất mà còn phục vụ sinh hoạt cho một số lượng lớn
công nhân từ nhiều vùng khác nhau tập trung về. Đặc biệt ở các khu vực chưa có hệ thống cấp nước, mật
độ khai thác nước dưới đất sẽ gia tăng nhanh, từ đó dẫn đến tình trạng cạn kiệt nguồn nước và sụp lún đất.
- Các chất thải công nghiệp như khối, bụi…tạo nên mưa axít không những làm thay đổi chất lượng nước
ngọt, mà còn ảnh hưởng xấu đến đất và môi trường sinh thái.
- Việc xả nước thải sản xuất từ các nhà máy, khu chế xuất khu công nghiệp chưa được xử lý vào sông rạch,
ao hồ gây ô nhiễm nước mặt, nước dưới đất. Thậm chí có nơi còn cho nước thải chảy tràn trên mặt đất để
tự thấm xuống đất hoặc đào các hố dưới đất để xả nước thải làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến các tầng
nước dưới đất.

March 23, 2017

10


VD: Vào tháng 4 năm 2016 xảy ra hiện tượng rất nhiều cá biển chết hàng loạt rồi trôi dạt vào bờ
tại vùng biển Vũng Áng (Hà Tĩnh).[16] Hiện tượng này sau đó lan ra vùng biển Quảng
Bình, Quảng Trị, Huế.[17] Có nơi mỗi ngày, ngư dân dọc bờ biển vớt được hàng tấn cá chết.
Nhiều ý kiến cho rằng hiện tượng trên là do nguồn nước bị ô nhiễm bởi các nhà máy tại khu kinh
tế Vũng Áng xả thải gây độc.[18] Qua phân tích, cả nước biển lẫn nước đầm Lăng Cô (Huế) đều
bị ô nhiễm, nồng độ PO4 (chỉ tiêu phú dưỡng) ở tầng đáy gấp đôi chỉ số cho phép, làm tăng độ
pH trong nước, nhiều khả năng đây là nguyên nhân làm cá chết hàng loạt. Ngoài ra tảo biển
phát triển mạnh, cộng với khí độc ở đáy lồng khiến cá thiếu oxy.
Ví dụ: ở ngành công nghiệp dệt may, ngành công nghiệp giấy và bột giấy, nước thải thường có độ pH trung
bình từ 9-11; chỉ số nhu cầu ô xy sinh hoá (BOD), nhu cầu ô xy hoá học (COD) có thể lên đến 700mg/1 và
2.500mg/1; hàm lượng chất rắn lơ lửng... cao gấp nhiều lần giới hạn cho phép.
Hàm lượng nước thải của các ngành này có chứa xyanua (CN-) vượt đến 84 lần, H2S vượt 4,2 lần, hàm
lượng NH3 vượt 84 lần tiêu chuẩn cho phép nên đã gây ô nhiễm nặng nề các nguồn nước mặt trong vùng
dân cư.
4. ẢNH HƯỞNG DO MỘT SỐ NGUYÊN NHÂN KHÁC
- Hệ thống kênh rạch không được nạo vét dẫn đến tích tụ một khối lượng lớn các vật chất hữu cơ từ nước
thải, rác thải gây bồi lắng và ảnh hưởng đến việc tiêu thoát của dòng nước.
- Các bãi chôn rác không đạt yêu cầu kỹ thuật, nước rỉ ra từ rác thấm vào mạch nước ngầm hoặc cho chảy
tràn trên mặt đất vào kênh rạch.
- Các dòng nước mặt trên sông, kênh rạch còn bị ô nhiễm do xăng dầu của các tàu bè đi lại, hoặc các sự cố
vận chuyển khác trên sông, biển.
- Ảnh hưởng do chưa có ý thức về sử dụng và bảo vệ nguồn nước như sử dụng bừa bãi hoang phí, không
đúng mục đích sử dụng.

Câu 9: Đánh giá các tác động bật lợi do quy mô dân số lớn tới tài nguyên khoáng sản ở
Việt Nam.Nêu VD?
- Áp lực khai thác tài nguyên khoáng sản phục vụ nhu cầu dân sinh, phát triển công nghiệp và xuất
khẩu làm cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt các dạng tài nguyên không tái tạo.
VD: Theo thống kê của Viện Tài Nguyên Thế Giới Trong ngày 20/11 năm 2014, lượng dầu được khai
thác 81 triệu thùng, ước tính khoảng 39 năm nữa sẽ cạn kiệt. Lượng ga đã khai thác tính đến 24h ngày 20/11
được là 1.133 tỷ boe và còn khoảng 59.684 ngày nữa sẽ khai thác cạn kiêt. Lượng than đã khai thác tính đến
24h ngày 20/11 là 4.374 tỷ boe và còn khoảng 151.854 ngày khai thác nữa sẽ cạn kiệt
VD: Ở Việt Nam, hàng năm, số lượng quặng sắt khai thác và chế biến đạt từ 300.000 - 450.000 tấn.
Việt Nam cũng đã khai thác than hơn 100 năm nay. Nếu năm 1980, mới chỉ khai thác gần 5,2 triệu tấn than
đá thì đến năm 2010 đã khai thác khoảng 46 triệu tấn; năm 2015 dự kiến khai thác khoảng gần 50 triệu tấn;
năm 2020 là 57- 63 triệu tấn và năm 2025 khoảng 59-66 triệu tấn. Sự khai thác với sản lượng lớn và không
ngừng tăng lên sẽ làm cho loại tài nguyên “vàng đen” này cạn kiệt theo nhiều nghĩa.
_Hiện nay, do chưa làm chủ được công nghệ, nhất là công nghệ chế biến các doanh nghiệp
khai thác, chế biến khoáng sản chủ yếu chạy theo lợi nhuận nên chỉ chú ý đến khai thác khoáng
sản có chất lượng tốt, hàm lượng giàu cùng với công nghệ lạc hậu đã gây tổn thất, lãng phí tài
nguyên do không thu hồi tối đa quặng nghèo, khoáng sản đi kèm.
Khai thác vàng là một ví dụ, do mức độ thu hồi quặng vàng trong chế biến hiện chỉ đạt khoảng 30-40%,
nghĩa là hơn một nửa thải ra ngoài bãi thải, không chỉ làm lãng phí tài nguyên mà còn gây ô nhiễm môi
trường nghiêm trọng. Đối với những mỏ vàng vừa và nhỏ do dân tự khai thác với công nghệ thô sơ,
càng không thể đánh giá hết những tổn thất. Nếu so với chỉ tiêu một số nước, thu hồi vàng trong quặng
thường chiếm 92-97% thì rõ ràng là một tổn thất quá lớn.

- Khai thác không bền vững gây sự cố môi trường như sụt lún, sạt lở, trượt lở đất...

March 23, 2017

11


- Các hoạt động khai thác, chế biến, sử dụng khoáng sản tác động đến các nguồn tài nguyên khác
như ô nhiễm, suy thoái tài nguyên đất, nước, không khí, gia tăng nguy cơ gây bệnh đối với người
và sinh vật.
+ Hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản ảnh hưởng đến ô nhiễm nguồn nước. Nhiều mỏ,
khu vực khai thác đã gây ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước, do một lượng nước thải từ mỏ thải ra không
được xử lý. Nhiều bãi thải không có công trình xử lý nên khi có mưa xuống đã gây ô nhiễm nguồn nước,
chất thải lơ lửng, hòa tan trôi xuống ruộng ảnh hưởng đến đất nông nghiệp. Trong thành phần nước thải
thường có axít, tính kiềm cao, có kim loại nặng, chất độc hại… làm ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước trên
diện rộng.
+ Khai thác mỏ ảnh hưởng đến chất lượng không khí, ở hầu hết các mỏ khi khai thác đã thải ra lượng bụi
vượt tiêu chuẩn cho phép, nhất là ở mỏ đá, mỏ than. Đồng thời, ảnh hưởng đến cảnh quan làm biến dạng địa
hình tự nhiên, phá hủy nhiều cảnh quan môi trường như phong cảnh thiên nhiên, thảm thực vật, đa dạng sinh
học. Hiện tượng sạt đất, xói lở bờ sông và sự cố môi trường, nguy cơ xuất hiện các hiện tượng địa chất công
trình động lực ven biển như biển xâm thực, biến dạng đường bờ biển, sạt lở bờ biển, cát bay, cát chảy…
Ngoài ra, khai thác mỏ còn ảnh hưởng đến phát triển tài nguyên thiên nhiên và các ngành kinh tế khác…
Đơn cử như việc khai thác than, từ năm 2000 đến nay sản lượng ngành than đã không ngừng tăng. Song vấn
đề bức xúc nhất đối với các mỏ khai thác than về góc độ bảo vệ môi trường là đất đá thải. Để sản xuất 1 tấn
than, cần bóc đi từ 8 – 10 m3 đất phủ, thải từ 1 - 3 m3nước thải mỏ. Chỉ tính riêng năm 2006, các mỏ than
của Tập đoàn Công nghiệp Than và Khoáng sản Việt nam đã thải vào môi trường tới 182,6 triệu m3 đất đá,
khoảng 70 triệu m3 nước thải mỏ, dẫn đến một số vùng của tỉnh Quảng Ninh bị ô nhiễm đến mức báo động
như Mạo Khê, Uông Bí, Cẩm Phả...

Năm 2006 các mỏ than của Tập đoàn Công nghiệp Than và Khoáng sản Việt Nam đã thải vào môi
trường tới 182,6 triệu m3 đất đá và khoảng 70 triệu m3 nước thải từ mỏ.
_Quá trình khai thác mỏ phục vụ lợi ích, con người làm thay đổi môi trường xung quanh. Hoạt động của
các mỏ khai thác than, quặng, phi quặng và vật liệu xây dựng như tiến hành xây dựng mỏ, khai thác thu
hồi khoáng sản, đổ thải, thoát nước mỏ đã phá vỡ cân bằng điều kiện sinh thái đã được hình thành từ
hàng chục triệu năm, gây sự ô nhiễm nặng nề đối với môi trường.

- Mất cân bằng các hệ sinh thái, suy giảm đa dạng sinh học
Hoạt động khai thác khoáng sản là một trong những nguyên nhân làm giảm độ che phủ do rừng cây bị chặt
hạ, lớp phủ thực vật bị suy giảm. Hoạt động khai thác khoáng sản cũng làm cho thực vật, động vật bị giảm
số lượng hoặc tuyệt chủng do các điều kiện sinh sống ở rừng cây, đồng cỏ và sông nước xấu đi. Một số loài
thực vật bị giảm số lượng, động vật phải di cư sang nơi khác.

Tóm lại: Các hoạt động khai thác khoáng sản đã gây ra nhiều tác động xấu đến
môi trường xung quanh, nhưng có thể nói gọn lại trong một số tác động chính
như sau: sử dụng chưa thực sự có hiệu quả các nguồn khoáng sản tự nhiên; tác
động đến cảnh quan và hình thái môi trường; tích tụ hoặc phát tán chất thải rắn;
làm ảnh hưởng đến nguồn nước, ô nhiễm nước, ô nhiễm không khí, ô nhiễm đất;
làm ảnh hưởng đến đa dạng sinh học; gây tiếng ồn và chấn động; sự cố môi
trường; tác động đến công nghiệp nói chung; tác động đến kinh tế – xã hội; gây
ảnh hưởng đến sức khoẻ và an toàn của người lao động

March 23, 2017

12


*Giải pháp
_Để quyết định đưa một mỏ vào khai thác cần phải xem xét thận trọng giữa lợi ích trước mắt cũng như lợi

ích lâu dài, bảo đảm các yêu cầu phát triển bền vững.
_ Việc chuyển đổi từ khai thác lộ thiên sang hầm lò sẽ hạn chế và giảm thiểu tác động đến môi trường,
khắc phục tình trạng ô nhiễm nước mặt cũng như nước ngầm do đất đá thải gây ra.
_ Khai thác mỏ cần được tối ưu hóa, vì nước phải được tiêu thụ, sử dụng có hiệu quả, đồng thời áp dụng
công nghệ tái sử dụng nước một cách tối đa.
_ Các doanh nghiệp sau khi khai thác có nghĩa vụ đóng cửa mỏ, bảo đảm mục đích loại bỏ những tác động
lâu dài đến môi trường, phục hồi lại đất đai để có thể đáp ứng yêu cầu trồng trọt, canh tác hoặc các mục
đích phù hợp khác, bảo đảm việc sử dụng đất được phê duyệt, bảo đảm cảnh quan được trở lại trạng thái
ban đầu trước khi khai thác.

Câu 10: Đánh giá các tác động(có lợi và bất lợi) do quy mô dân số lớn tới kinh tế-xã hội
ở Việt Nam.


Đánh giá tác động bất lợi của quy mô dân số lớn tới kinh tế - xã hội ở Việt Nam
- Nguồn nhân lực dồi dào thuận lợi phát triển KT – XH

Nhân tố con người này sẽ góp phần phát triển kinh tế nhất là trong những lĩnh vực cần nhiều lao
động như nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dệt, may mặc… Lực lượng lao động trẻ chiếm ưu thế có lợi
cho việc chuyển dịch lao động và tạo ra sự năng động, sáng tạo trong các hoạt động về kinh tế, đặc biệt trong
thời kỳ đổi mới và hội nhập; khả năng ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin vào
hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ… tương đối cao và bền vững.

- Tạo sự cạnh tranh trong lao động, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
sự tồn tại của nguồn cung lao động lớn hơn cầu lao động, điều đó sẽ làm cho chi phí lao động rẻ.
Đây là một trong những yếu tố thu hút các nguồn đầu tư trực tiếp của nước ngoài trong bối cảnh
toàn cầu hóa hiện nay.

- Thúc đẩy phát triển Khoa học kỹ thuật, cải tiến công nghệ
Dân số không những là lực lượng sản xuất mà còn là lực lượng tiêu thụ hàng hóa – một trong những
động lực lớn để phát triển kinh tế. Các quốc gia đang phát triển có số dân đông sẽ là thị trường tiêu thụ mạnh
mẽ. Việt Nam cũng không nằm ngoài nhóm quốc gia đông dân đó. Từ quá trình tiêu thụ hàng hóa mạnh mẽ
đó đã vô hình tạo sự cạnh tranh giữa các nhà sản xuất với nhau làm họ không ngừng đổi mới khoa học công
nghệ, nâng cao chất lượng phục vụ để đáp ứng nhu cầu thị hiếu khách hàng.

- Đảm bảo an ninh quốc phòng
- Khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên hợp lý, nâng cao trách nhiệm của người dân đối
với bảo vệ tài nguyên và môi trường.
Tổng cục thống kê Việt Nam xác định rõ “cơ hội dân số vàng” xảy ra khi tỉ lệ trẻ em (1 – 14 tuổi)
< 30% và tỉ lệ người già (> 60 tuổi) <15%. Tại Việt Nam bước sang năm 2007 thì dân số nước ta đã đạt được
cơ hội vàng này và các nhà dân số học dự đoán rằng giai đoạn sung mãn của dân số kéo dài 30 năm, khoảng
tới năm 2040 thì giai đoạn này kết thúc. Như vậy nếu ta biết tận dụng cơ hội hiếm có này thì việc phát triển
kinh tế là điều dễ dàng.

- Giữ gìn bản sắc dân tộc, da dạng văn hóa.



Đánh giá tác động bất lợi của quy mô dân số lớn tới kinh tế - xã hội ở Việt Nam

March 23, 2017

13


- Áp lực công ăn việc làm
Khi dân số tăng nhanh, số lượng lao động tăng lên, quá trình sản xuất không sử dụng hết lao
động, mất cân đối giữa nhu cầu và khả năng lao động, dẫn đến tình trạng khủng khoảng thừa là nguyên
nhân dẫn đến thất nghiệp mà thất nghiệp chính là một nguồn gốc của nhiều tiêu cực trong xã hội.

- Khai thác quá mức tài nguyên  suy giảm, cạn kiệt
- Ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí
- Áp lực lên hạ tầng cơ sở: giao thông, hệ thống điện, nước, trường học, bệnh viện, nhà ở,
cây xanh, dịch vụ công...
Việc gia tăng quá mức dân số cũng ảnh hưởng đến chất lượng của nguồn lao động. Dân số
quá đông sẽ làm cho hệ thống dịch vụ như giáo dục, y tế, quá tải, con người sẽ không được
đào tạo, không được đảm bảo cả về thể lực, trí lực để đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao
của quá trình sản xuất cạnh tranh cao mang tính hàng hoá, toàn cầu hoá.

- Tác động đến an ninh trật tự: trộm cắp, cờ bạc, mại dâm...
- Mất rừng, mất đất nông nghiệp
- Giảm bề mặt ao, hồ, sông suối...

March 23, 2017

14



x

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×