Tải bản đầy đủ

Giải pháp trong việc chia thừa kế theo quy định của pháp luật khi phát hiện di chúc hợp pháp

A-PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Luật dân sự là ngành luật được hình thành từ rất sớm trong lịch sử phát
triển của Nhà nước và pháp luật. Những quan hệ xã hội do Luật dân sự điều
chỉnh thuộc các lĩnh vực dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động, hôn nhân
và gia đình là những quan hệ cơ bản và thiết yếu trong đời sống kinh tế và xã
hội. Vì vậy, trong mọi thời kỳ các Nhà nước luôn luôn chú trọng hoàn thiện
pháp luật dân sự do tính phổ biến và vai trò quan trọng của nó trong việc điều
chỉnh các quan hệ xã hội.
Trong Bộ luật Hồng Đức, các quan hệ dân sự được đề cập tới
nhiều nhất là các lĩnh vực như: quan hệ sở hữu, quan hệ hợp đồng và
thừa kế ruộng đất.
Về sở hữu và hợp đồng: Quốc triều hình luật đã phản ánh hai chế độ
sở hữu trong thời kỳ phong kiến là: Sở hữu Nhà nước và sở hữu tư nhân.
Trong Bộ luật Hồng Đức, do đã có chế độ lộc điền- công điền tương đối toàn
diện về vấn đề ruộng đất công nên trong bộ luật này quyền sở hữu Nhà nước
về ruộng đất chỉ được thể hiện thành các chế tài áp dụng đối với các hành vi
vi phạm chế độ sử dụng ruộng đất công quá hạn mức(điều 343), không được
nhận ruộng đất công đã giao cho người khác(điều 344), cấm làm sai quy định
phân cấp ruộng đất công(điều 347), không để bỏ hoang ruộng đất công(điều
350), cấm biến ruộng đất công thành tư(điều 353), không được ẩn lậu để trốn

thuế(điều 345). Bên cạnh đó, việc bảo hộ quyền sở hữu tư nhân/ hợp đồng về
ruộng đất tư cũng được quy định rõ ràng.
Về hình thức, các hợp đồng thường phải lập thành văn tự giữa các bên
tham gia hợp đồng với sự chứng thực của quan viên có thẩm quyền.
Trong lĩnh vực thừa kế, quan điểm của các nhà làm luật thời Lê khá
gần gũi với các quan điểm hiện đại về thừa kế. Cụ thể, thứ nhất: khi cha mẹ
còn sống không phát sinh các quan hệ thừa kế nhằm bảo vệ và duy trì sự


trường tồn của gia đình và dòng họ; thứ hai, các quan hệ thừa kế theo di chúc
thể hiện ở trong các điều 354, 388 và thừa kế không có di chúc (thừa kế theo
luật) thể hiện ở trong các điều 374-377, 380, 388. Điểm đáng chú ý trong Bộ
luật Hồng Đức đó là người con gái có quyền thừa kế ngang bằng với người
con trai- đây là một điểm tiến bộ không thể thấy ở trong các bộ luật phong
kiến khác; thứ ba, bộ luật đã phân định về nguồn gốc tài sản của vợ chồng,
gồm có: tài sản riêng của mỗi người và tài sản chung của cả hai vợ chồng.
Việc phân định này góp phần xác định việc phân chia thừa kế cho các con khi
cha mẹ đã chết hoặc chia tài sản cho bên còn sống nếu một trong hai vợ hoặc
chồng chết trước. Có thể nói, thừa kế chính là điểm nổi bật nhất của luật pháp
triều Lê.
Trong hệ thống pháp luật nước ta, Luật dân sự là một ngành luật quan
trọng liên quan trực tiếp tới đời sống hàng ngày của mọi người dân. Luật dân
sự là tổng hợp các quy phạm pháp luật, điều chỉnh các quan hệ tài sản mang
tính chất hàng hóa tiền tệ và một số quan hệ nhân thân phi tài sản phát sinh
trong quá trình sản xuất, phân phối lưu thông, tiêu thụ hàng hóa, sản phẩm
nhằm làm thỏa mãn nhu cầu của nông dân, trên cơ sở bình đẳng, độc lập,
quyền tự định đoạt của các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ đó.
Hiện nay, hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam được chia thành hai
phần lớn: phần chung và phần riêng.
Phần chung là phần quy định về nhiệm vụ, những nguyên tắc cơ bản
của Luật dân sự, xác định địa vị pháp lý của các loại chủ thể trong quan hệ
pháp luật dân sự và những vấn đề chung nhất của Luật dân sự như vấn đề thời
hạn, thời hiệu. Những nội dung này được quy định trong Phần thứ nhất của
Bộ luật dân sự, từ Chương I đến chương IX với 162 điều.
Phần riêng bao gồm những quy phạm pháp luật được sắp xếp thành
các chế định pháp luật điều chỉnh từng mặt, từng lĩnh vực cụ thể của quan hệ
pháp luật dân sự. Từ Chương X, Bộ luật dân sự năm 2005 đề cập đến những
chế định chủ yếu sau: tài sản và quyền sở hữu; nghĩa vụ dân sự và hợp đồng



dân sự; thừa kế; những quy định về chuyển quyền sử dụng đất; quyền sở hữu
trí tuệ và chuyển giao công nghệ. Đặc biệt, việc phân chia di sản là một trong
những vấn đề đang được nhiều người quan tâm khi có di chúc hoặc không có
di chúc của người thân trong gia đình để lại. Xã hội phát triển kéo theo nhiều
nhu cầu của người dân đòi hỏi pháp luật ngày càng phải hoản thiện.
Luật Công chứng được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2006 đã có các
quy định về thủ tục công chứng Di chúc, công chứng văn bản thỏa thuận việc
phân chia di sản, công chứng văn bản khai nhận di sản, công chứng văn bản
từ chối nhận di sản và nhận lưu giữ di chúc. Về quy định phân chia di sản
trong Bộ luật Dân sự năm 2005 cho thấy: tại chương XXVquy định về thanh
toán và phân chia di sản trong đó có phân chia di sản theo Di chúc( điều 684)
và phân chia di sản theo pháp luật (điều 685). Đối với việc phân chia di sản
theo di chúc thì: việc phân chia này được thực hiện theo ý chí của người để lại
di chúc, nếu trong di chúc đó không xác định rõ phần của từng người thừa kế
thì di sản phải chia đều cho từng người được chỉ định trong di chúc, trừ
trường hợp có thỏa thuận khác. Đối với việc phân chia di sản theo pháp luật
thì: nếu có người thừa kế cùng hàng đã thành thai nhưng chưa sinh ra thì phải
dành lại một phần di sản bằng phần mà người thừa kế khác được hưởng để
nếu người đó còn sống khi sinh ra được hưởng, nếu chết trước khi sinh ra thì
người thừa kế khác được hưởng.
Để xác định ranh giới giữa thừa kế theo di chúc hay thừa kế theo pháp
luật? và Di chúc được coi là hợp pháp khi nào? Tôi đã chọn đề tài: “ Giải
pháp trong việc chia thừa kế theo quy định của pháp luật khi phát hiện di
chúc hợp pháp” để nghiên cứu.
2.Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu về Bộ luật dân sự trong hệ thống các ngành luật Việt Nam.
Từ đó nghiên cứu kỹ hơn nữa về vấn đề chia tài sản thừa kế theo di chúc và
theo pháp luật để áp dụng đúng với quy định của pháp luật trong đời sống
hiện nay.


3.Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp được áp dụng khi nghiên cứu đề tài này là: Phân
tích, tổng hợp, chứng minh, điều tra xã hội học, đặc biệt là phương pháp tổng
kết thực tiễn.
4.Kết cấu đề tài
Sau khi nghiên cứu đề tài này, ngoài phần mở đầu và phần kết luận, tôi
chia nội dung đề tài thành 3 phần:
I-Một số vấn đề chung về quyền thừa kế
II-Những vấn đề lý luận về Di chúc và thừa kế theo di chúc
III-Giải pháp trong việc chia thừa kế theo quy định của pháp luật khi
phát hiện di chúc hợp pháp


B-NỘI DUNG
I.MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN THỪA KẾ
1. Khái niệm quyền thừa kế
Với ý nghĩa là phạm trù kinh tế, thừa kế có mầm mống ngay từ thời kỳ
Công xã nguyên thủy. Ở thời kỳ này việc thừa kế dựa trên cơ sở huyết thống
và bị ràng buộc bởi phong tục tập quán riêng của từng bộ lạc, thị tộc. Khi xã
hội phân chia giai cấp, quan hệ thừa kế trở thành một phạm trù pháp lý mang
nội dung giai cấp. Với ý nghĩa là quan hệ pháp luật dân sự, các chủ thể của
quan hệ thừa kế có những quyền và nghĩa vụ do pháp luật quy định. Người có
tài sản có quyền để lại tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Người
thừa kế có quyền nhận hoặc từ chối di sản.
Thừa kế còn được xem xét dưới góc độ là một chế định pháp luật dân
sự, bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh việc chuyển dịch tài sản của
người chết cho người khác theo di chúc hoặc theo pháp luật; quy định quyền
và nghĩa vụ, phương thức bảo vệ quyền của người thừa kế.
Quyền thừa kế và quyền sở hữu có quan hệ mật thiết với nhau. Quyền
sở hữu là tiền đề của quyền thừa kế vì đối tượng của quyền thừa kế là những
tài sản và quyền tài sản thuộc sở hữu cá nhân. Cá nhân có quyền để lại quyền
thừa kế những tài sản và quyền tài sản của mình cho người khác (trừ các
quyền tài sản không được phép chuyển dịch), Nhà nước không hạn chế quyền
để lại thừa kế và nhận di sản thừa kế của cá nhân (trừ trường hợp pháp luật
quy định khác).
Vậy, thừa kế là quan hệ dân sự, là quan hệ tài sản của người chết với
người còn sống, là sự dịch chuyển tài sản của người đã chết sang cho những
người còn sống khác. Thừa kế là một chế định pháp lý quan trọng trong hệ
thống pháp luật của mọi quốc gia trên thế giới. Ở nước ta, chế định thừa kế
được quy định tại Phần thứ tư trong Bộ luật Dân sự 2005.


Thứ nhất, pháp luật bảo hộ quyền thừa kế tài sản của công dân. Công
dân có quyền lập di chúc để lại tài sản của mình cho người thừa kế, được
nhận hoặc từ chối nhận tài sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.
Thứ hai, cá nhân không phân biệt nam, nữ đều bình đẳng về quyền
hưởng di sản, quyền để lại tài sản của mình theo di chúc hoặc theo pháp luật.
2.Người để lại di sản thừa kế
Quyền thừa kế của cá nhân được định rõ tại Điều 631 Bộ luật Dân sự
2005: “ Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài
sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật”. Theo quy định này quyền
định đoạt của cá nhân với tư cách là chủ sở hữu tài sản được tôn trọng. Việc
để lại di sản( thực hiện quyền thừa kế) do cá nhân định đoạt bằng ý chí thông
qua việc lập di chúc. Nếu người đó không thể hiện ý chí để định đoạt tài sản
thông qua việc lập di chúc hoặc sự định đoạt của họ thông qua việc lập di
chúc không phù hợp với yêu cầu của pháp luật thì di sản của họ để lại sẽ được
chia theo quy định của pháp luật. Vì thế người để lại di sản là người mà sau
khi chết có tài sản để lại cho người khác theo trình tự thừa kế: theo di chúc
hoặc theo quy định của pháp luật.
Người để lại di sản thừa kế chỉ có thể là cá nhân mà không bao giờ là
một pháp nhân hay một tổ chức nào khác.
Người để lại di sản thừa kế là cá nhân không phụ thuộc vào điều kiện
hay yếu tố xã hội của cá nhân đó. Họ có thể là người chưa thành niên, người
đã thành niên, người bị hạn chế năng lực hành vi hoặc bị mất năng lực hành
vi, người đang bị giam giữ hoặc đang thi hành án hình sự, người đó không
phụ thuộc vào trình độ học vấn, địa vị xã hội, giới tính, dân tộc, tôn giáo, tình
trạng tài sản…
3.Người thừa kế
Người thừa kế là người được hưởng di sản của người chết theo di chúc
hoặc theo pháp luật. Người thừa kế theo pháp luật phải là người có quan hệ
hôn nhân, gia đình hoặc nuôi dưỡng đối với người để lại di sản. Người thừa


kế theo di chúc có thể là cá nhân hoặc pháp nhân, họ có quyền sở hữu đối với
phần tài sản được thừa kế.
Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở
thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành
thai trước khi người để lại di sản chết. Trong trường hợp người thừa kế là tổ
chức, cơ quan thì phải là cơ quan, tổ chức tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
4.Những người không được hưởng di sản thừa kế
Trong quan hệ thừa kế, những người là vợ, chồng, con…của người
chết hoặc những người được chỉ định trong di chúc là những người được
hưởng thừa kế của người chết. Tuy nhiên, trong thực tế có những trường hợp
họ đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của mình, có những hành vi trái với
pháp luật, trái đạo đức xã hội, trái với thuần phong mỹ tục của nhân dân Việt
Nam, xâm phạm đến danh dự, uy tín, tính mạng, sức khỏe của bố, mẹ, anh,
em, vợ, chồng…Người có những hành vi như vậy không xứng đáng được
hưởng những quyền lợi của mình đã xâm phạm. Kế thừa tập quán đó, khoản 1
Điều 643 Bộ luật Dân sự 2005 quy định về những người không được hưởng
di sản:
- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc
về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm
nghiêm trọng danh dự, nhâm phẩm của người đó;
- Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;
- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế
khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có
quyền hưởng;
- Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản
trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc nhằm
hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản;
Nguyên tắc của lưu thông dân sự phải tôn trọng đạo đức truyền thống
tốt đẹp của nhân dân ta. Những người có những hành vi trên không còn xứng


đáng hưởng di sản của người đã chết. Điều đó không những chỉ ảnh hưởng
đến danh dự, quyền lợi của cá nhân mà còn ảnh hưởng đến danh dự của gia
đình, dòng họ. Tuy nhiên, để đảm bảo quyền tự định đoạt của người có di sản
người này vẫn có thể cho người vi phạm được hưởng nếu biết nhưng vẫn viết
di chúc cho họ hưởng tài sản của mình.
5.Thời điểm mở thừa kế
Việc xác định mở thừa kế rất quan trọng, vì từ thời điểm đó xác định
được chính xác tài sản, quyền và nghĩa vụ về tài sản của người để lại di sản đó
gồm có những gì. Việc xác định tài sản mà người chết để lại rất quan trọng vì
cần đề phòng tình trạng tài sản đó có thể bị người khác phân tán hoặc chiếm
đoạt. Ngoài ra, thời điểm mở thừa kế còn là căn cứ xác định những người
thừa kế của người đã chết.
Tại khoản 1 Điều 633 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: thời điểm mở
thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trong trường hợp Tòa án tuyên bố
một người đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày tòa án xác định người đó
chết hoặc ngày mà quyết định của Tòa án tuyên bố người đó là đã chết có
hiệu lực pháp luật.
VD: Trong một tai nạn máy bay, lũ lụt...theo yêu cầu của thân nhân
người bị tai nạn, đề nghị Tòa án tuyên bố người chết mà qua điều tra xác
minh, nếu biết chính xác được ngày xảy ra tai nạn thì Tòa án có thể tuyên bố
ngày chết của người bị tai nạn là ngày xảy ra tai nạn.
6. Địa điểm mở thừa kế
Khoản 2 Điều 633 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: “địa điểm mở thừa
kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản; nếu không xác định được
nơi cư trú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế là nơi có toàn bộ hoặc phần lớn
di sản”.
Bộ luật Dân sự quy định địa điểm mở thừa kế, vì ở nơi đó thường phải
tiến hành những công việc như: kiểm kê ngay tài sản của người đã chết; xác
định những ai là người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật; người từ


chối nhận di sản...Ngoài ra, nếu có người trong diện thừa kế từ chối nhận di
sản thì phải thông báo cho cơ quan Công chứng nhà nước hoặc UBND xã,
phường, thị trấn nơi mở thừa kế về việc từ chối nhận di sản. Hơn nữa trong
trường hợp có tranh chấp thì Tòa án nhân dân nơi mở thừa kế có thẩm quyền
giải quyết.
Trong thực tế, một người trước khi chết có thể ở nhiều nơi nên Bộ luật
Dân sự quy định địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại
di sản. Trong trường hợp không xác định được nơi cư trú cuối cùng thì địa
điểm mở thừa kế là nơi có toàn bộ hoặc phần lớn di sản.
7. Di sản thừa kế
Di sản thừa kế là toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của
người chết để lại, là đối tượng của quan hệ pháp luật liên quan đến việc dịch
chuyển tài sản của người đó sang cho những người được hưởng thừa kế được
nhà nước thừa nhận và bảo đảm thực hiện.
Di sản thừa kế bao gồm:
-Tài sản riêng của người chết: Đây là phần tài sản mà thông thường cá
nhân nào cũng có, bởi nó gắn liền với các quyền và nghĩa vụ lao động của
mỗi cá nhân trong xã hội gắn liền với nhu cầu tất yếu về vật chất cho cuộc
sống của con người. Tài sản riêng của người chết là tài sản do người đó tạo ra
bằng thu nhập hợp pháp( như tiền lương, tiền được trả công lao động, tiền
thưởng, tiền nhuận bút, tiền trúng thưởng xổ số), tài sản được tặng cho, được
thừa kế, tư liệu sinh hoạt riêng( như quần áo,giường tủ, xe máy, ô tô, vô
tuyến...), nhà ở, tư liệu sản xuất các loại, vốn dùng để sản xuất kinh doanh các
loại.
Tài sản riêng của người chết được xác định là phần tài sản mà về
phương diện pháp lý không bị chi phối hoặc chịu một sự ràng buộc nào với
các chủ thể khác trong việc chiếm hữu, sử dụng và thực hiện quyền định đoạt.
Tài sản riêng được sử dụng trong Điều 634 Bộ luật Dân sự 2005 để xác định
tài sản của một cá nhân không nằm trong khối tài sản chung với người khác;


không nằm trong khối tài sản chung của vợ chồng. Theo đó phần tài sản này
được xác định:
+ Độc lập trong sở hữu chung theo phần
+ Độc lập trong sở hữu chung hợp nhất. Sự độc lập này được xác định
căn cứ vào Khoản 1 Điều 32 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, trong đó:
tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng có trước khi kết hôn; tài sản riêng của vợ,
chồng bao gồm tài sản mà vợ chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng
trong thời kỳ hôn nhân; tài sản riêng của vợ, chồng có được khi chia tài sản
trong thời kỳ hôn nhân.
-Tài sản của người chết trong khối tài sản chung hợp nhất của vợ
chồng. Tài sản chung của vợ chồng bao gồm: tài sản do vợ chồng tạo ra; thu
nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và thu nhập hợp pháp khác
nhau của vợ chồng trong thời ký hôn nhân tài sản mà vợ chồng được thừa kế
chung hoặc được tặng,cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa
thuận là tài sản chung; quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết
hôn cuãng là tài sản chung của hai vợ chồng. Tất cả các tài sản này là tài sản
chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất. Khi một bên chết trước và
có yêu cầu chia di sản thừa kế, khối tài sản chung này được chia đôi một nửa
thuộc sở hữu của người đang sống, người còn lại được xác định là di sản của
người đã chết.
- Tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác. Sở
hữu chung theo phần cho phép xác định phần quyền của mỗi chủ sở hữu.
Phần tài sản này có thể do họ góp vốn, góp công sức để cùng kinh doanh;
phần vốn góp trong công ty; phần tài sản được cho chung, được thừa kế
chung của họ trong khối tài sản chung của nhiều người. Vì vậy, khi người này
chết phần tài sản của họ trong khối tài sản chung theo phần là di sản thừa kế
mà họ để lại.


II-NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DI CHÚC VÀ THỪA KẾ THEO
DI CHÚC.
1.Khái niệm di chúc
Di chúc là sự bày tỏ ý chí của một người(người để lại di sản) nhằm
định đoạt toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc một phần
tài sản của mình sẽ được chuyển giao cho một hoặc nhiều người sau khi
người đó chết. Sự bày tỏ ý chí được thực hiện thông qua hình thức bằng văn
bản (gọi là di chúc bằng văn bản), hoặc bằng lời nói miệng (gọi là di chúc
miệng). Sự bày tỏ ý chí này gọi là lập di chúc (Điều 646 Bộ luật Dân sự số
33/2005/QH11 của Quốc hội).
Nội dung di chúc thể hiện ý chí của một bên là người để lại di sản khi
người đó lập di chúc và chỉ được thực hiện khi người để lại di sản chết. Vì
vậy:
-Người để lại di sản không bị ràng buộc bởi di chúc do chính mình lập
ra. Người đó có thể sửa đổi di chúc hoặc hủy bỏ di chúc đã lập bằng một di
chúc khác lập rấu này.
-Không có sự ràng buộc giữa người lập di chúc và người được chỉ định
là người thừa kế theo di chúc hoặc của bất kỳ người nào khác trong thời gian
người lập di chúc còn sống.
-Sau khi người lập di chúc chết, người được chỉ định là người thừa kế
theo di chúc sẽ bày tỏ ý chí của mình nhận hay không nhận tài sản của người
lập di chúc để lại.
2.Thừa kế theo di chúc
a.Khái niệm thừa kế theo di chúc
Thừa kế theo di chúc là việc dịch chuyển của tài sản của người
đã chết cho người khác còn sống theo quyết định của người đó trước
khi chết. Nội dung cơ bản của thừa kế theo di chúc là chỉ định người
thừa kế (cá nhân, tổ chức) và phân định tài sản cho họ, giao cho họ
nghĩa vụ tài sản…


Người lập di chúc là cá nhân có các quyền do Luật Dân sự quy định.
Họ có quyền chỉ định một hoặc nhiều người trong di chúc và cho họ hưởng
một phần hoặc toàn bộ tài sản của mình. Nếu trong di chúc có nhiều người,
mỗi người được hưởng bao nhiêu phụ thuộc vào ý chí của người có tài sản.
Người có tài sản thể hiện ý chí của mình, nhưng ý chí đó có được thực hiện
hay không phụ thuộc vào hình thức biểu lộ ý chí. Vì vậy , một người muốn
định đoạt tài sản của mình bằng di chúc cần phải tuân thủ các quy định của
pháp luật về thừa kế theo di chúc.
Vợ chồng có quyền lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung. Di
chúc chung có thể thay đổi, sửa đổi, bổ sung, thay thế bất cứ lúc nào nhưng
phải có sự thống nhất ý chí giữa vợ,chồng. Nếu một người chết trước thì
người kia chỉ có thể thay đổi, bổ sung di chúc liên quan đến phần tài sản
của mình.
b.Hiệu lực của di chúc
Di chúc có hiệu lực pháp luật từ thời điểm mở thừa kế. Di chúc không
có hiệu lực pháp luật một phần hoặc toàn bộ trong trường hợp người thừa kế
theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, hoặc
tổ chức được thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế.
Nếu di chúc có phần không hợp pháp mà không ảnh hưởng đến hiệu
lực pháp luật của phần còn lại thì phần còn lại vẫn có hiệu lực pháp luật. Nếu
một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ có bản di chúc
sau cùng mới có hiệu lực pháp luật.
c.Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc
Về nguyên tắc, quyền định đoạt bằng di chúc của cá nhân được tôn
trọng, người lập di chúc có quyền truất quyền thừa hưởng di sản của những
người thuộc diện thừa kế. Nhưng xuất phát từ đạo lý truyền thống, phong tục,
tập quán tốt đẹp của dân tộc và để bảo vệ quyền lợi của một số người thuộc
diện này, Bộ luật Dân sự nước ta đã hạn chế quyền tự định đoạt bằng di chúc


của người có di sản. Những người được hưởng di sản không phụ thuộc vào
nội dung di chúc gồm:
+ Cha, mẹ, vợ, chồng.
+ Con chưa thành niên, con đã thành niên mà không có khả năng
lao động.
Những người này được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của
một người thừa kế theo pháp luật nếu như di sản được chia theo pháp luật (trừ
trường hợp họ từ chối nhận di sản hoặc không được hưởng di sản theo quy
định của pháp luật).
3.Điều kiện để di chúc được coi là di chúc hợp pháp
Theo quy định của pháp luật, để di chúc được coi là hợp pháp, có giá
trị pháp lý thì trong việc lập di chúc phait uân thủ 4 điều kiện dưới đây:
Thứ nhất, người lập di chúc phải có đủ năng lực hành vi dân sự. Trước
tiên, khi lập di chúc người để lại di sản phải là người đã thành niên, không bị
mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh nào khác mà không thể nhận thức được và
không thể làm chủ được hành vi của mình thì có quyền tự mình lập di chúc để
định đoạt tài sản của mình. Theo Điều 18 Bộ luật Dân sự thì người thành niên
là người đủ 18 tuổi trở lên. Người tuy chưa đủ 18 tuổi nhưng đã đủ 15 tuổi
cũng có thể lập di chúc với điều kiện phải được sự đồng ý của cha mẹ hoặc
người giám hộ của người đó trong việc lập di chúc. Quy định này là phù hợp
với quy định của Bộ luật Lao động về độ tuổi tối thiểu có thể tham gia lao
động là đủ 15 tuổi trở lên. Người từ đủ 15 tuổi trở lên có thể có tài sản riêng,
bởi vậy, họ có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình. Tuy nhiên, vì
người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên, để bảo vệ
quyền lợi cho người chưa thành niên, pháp luật quy định việc lập di chúc của
họ phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.
Người bị hạn chế về thể chất hoặc người không biết chữ nhưng đã
thành niên cũng có quyền lập di chúc. Tuy nhiên, di chúc của những đối
tượng này phải được người làm chứng lập thành văn bản và có chứng nhận


của cơ quan công chứng hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường,
thị trấn.
Thứ hai, người lập di chúc tự nguyện, minh mẫn. Sự tự nguyện của
người lập di chúc là sự thống nhất giữa ý chí và sự bày tỏ ý chí của họ. Đó
chính là sự thống nhất giữa mong muốn chủ quan của người lập di chúc và sự
thể hiện ra bên ngoài các mong muốn đó. Mọi sự lừa dối, cưỡng ép hoặc đe
dọa người lập di chúc sẽ làm cho di chúc trở nên vô hiệu vì thiếu sự tự
nguyện. Mặt khác, trong lúc lập di chúc nếu người lập di chúc không minh
mẫn, sáng suốt thì di chúc cũng không có hiệu lực pháp lý.
Vì vậy, điều kiện minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc là điều
kiện đầu tiên, có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đánh giá di chúc có giá trị
pháp lý hay không, nhằm đảm bảo tính chính xác theo ý chí của người để lại
di sản.
Thứ ba, nội dung của di chúc không trái pháp luật và đạo đức xã hội.
Nội dung di chúc là toàn bộ ý chí của cá nhân về việc định đoạt tài sản của
mình. Ý chí đó phải phù hợp với pháp luật nói chung và Luật dân sự nói
riêng. Mọi sự định đoạt trái với nội dung và tinh thần của Bộ luật Dân sự đều
có thể làm cho di chúc trở nên vô hiệu.
VD: trong trường hợp người lập di chúc định đoạt tài sản thuộc sở hữu
của người khác, hoặc chỉ định người thừa kế theo di chúc với điều kiện người
đó phải gây thương tích cho một người khác, thì nội dung di chúc đó là trái
pháp luật và đạo đức xã hội và được coi là không hợp pháp.
Thứ tư, hình thức của di chúc phù hợp với pháp luật.
Di chúc phải được lập dưới một hình thức nhất định. Pháp luật quy
định hai loại di chúc là di chúc miệng và di chúc bằng văn bản.
a.Di chúc miệng là sự bày tỏ bằng lời nói ý chí của người để lại
di sản lúc còn sống về việc định đoạt tài sản của mình cho người khác
sau khi mình chết.


Di chúc miệng chỉ được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể
hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay
sau đó những người làm chứng phải ghi chép lạ, cùng ký tên hoặc điểm chỉ
vào văn bản. Trong thời hạn năm ngày kể từ ngày người di chúc miệng thể
hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực. Sau
ba tháng, kể từ ngày lập di chúc miệng nếu người lập di chúc còn sống và
minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ.
VD: Bà Dương Thị Tuyết có hai người con đẻ là Vũ Thế Long, Vũ
Bạch Dương và một người con nuôi là Dương Văn Đức. Khi bà Tuyết chết,
ông Vũ Thế Long đang đi học ở nước ngoài, ông Dương Văn Đức đứng ra lo
tang lễ. Trước khi chết, bà Tuyết căn dặn: “ tài sản được chia đều cho các con,
con đẻ cũng như con nuôi. Khi nào Vũ Thế Long về sẽ đứng ra chia, đảm bảo
gia đình hòa thuận, êm ấm”. Hỏi: trường hợp trên có được pháp luật công
nhận và bảo vệ không?
Trả lời: Bà Dương Thị Tuyết chết, di sản của bà là toàn bộ tài sản
thuộc sở hữu của bà Tuyết trước khi chết sau khi trừ đi các nghĩa vụ về tài
sản, tiền tang ma. Di sản bao gồm tài sản riêng của bà Dương Thị Tuyết, phần
tài sản của bà Tuyết trong khối tài sản chung với người khác.
Bà Dương Thị Tuyết có căn dặn, tài sản được chia đều cho các con ,
con đẻ cũng như con nuôi, di sản được chia khi con trai Vũ Thế Long ở nước
ngoài về. Có 3 tình huống xảy ra: thứ nhất, con trai Long đứng ra phân chia
có giá trị bắt buộc thi hành nếu điều căn dặn ấy được thể hiện dưới hình thức
di chúc có hiệu lực; thứ hai, trường hợp căn dặn ấy không thỏa mãn điều kiện
của một di chúc thì những người thừa kế tự nguyện thi hành; thứ ba, trường
hợp không tự nguyện thi hành thì họ có quyền chia di sản kể từ thời điểm mở
thừa kế tức là từ khi bà Dương Thị Tuyết chết.
Tuy nhiên, theo như phân tích ở trên thì trường hợp căn dặn trên không
thỏa mãn điều kiện của một di chúc miệng nên những người thừa kế tự
nguyện thi hành.


b.Di chúc bằng văn bản (chúc thư) là loại di chúc viết, đánh máy, ghi
nhận ý chí của cá nhân về việc định đoạt tài sản của họ sau khi chết.
Di chúc bằng văn bản bao gồm những nội dung sau:
+ Ngày, tháng, năm lập di chúc. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong
trường hợp người để lại di sản đã lập nhiều di chúc để định đoạt toàn bộ hoặc
một phần di sản. Di chúc nào mà ngày, tháng, năm lập di chúc là thời gian gần
nhất với ngày mà người để lại di sản chết thì được coi là di chúc lập cuối cùng
và di sản sẽ được chia theo bản di chúc lập cuối cùng này.
+ Họ tên và nơi cư trú của người để lại di sản lập di chúc.
+ Họ tên, địa chỉ của người hoặc cơ quan, tổ chức được hưởng di sản.
+ Di sản để lại và nơi có di sản. Người để lại di sản khi lập di chúc cần
ghi cụ thể các hiện vật trong khối di sản, nhất là đối với những hiện vật có giá
trị.
+ Phân định phần tài sản hoặc hiện vật mà người thừa kế theo di chúc
được hưởng trong khối di sản.
+ Trong các di chúc bằng văn bản, người để lại di sản có thể chỉ định
người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ. Tuy nhiên, những nghĩa
vụ mà người thừa kế phải thực hiện không được trái với pháp luật và đạo đức
xã hội. Nếu là nghĩa vụ về tài sản, thì người thừa kế chỉ phải thực hiện nghĩa
vụ này trong phạm vi di sản mà người thừa kế đó nhận.
VD: Ông Phạm Ngọc Khanh có 2 người con gái và 1 người con trai.
Người con gái lớn năm nay 32 tuổi và đã lập gia đình; người con thứ hai năm
nay 18 tuổi đã đi làm để nuôi bản thân còn người con trai năm nay 5 tuổi.
Trước khi mất ông đã để lại di chúc: “ tài sản được chia đều cho các con và
người con gái lớn phải có trách nhiệm nuôi dưỡng em nhỏ cho đến khi em 18
tuổi”.
+ Chỉ định trong di chúc người giữ di chúc, người quản lý di sản sau
khi người để lại di sản chết, người phân chia di sản.


Điều cần lưu ý trong thể thức lập di chúc bằng văn bản là trong di chúc
không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu. Nếu di chúc gồm nhiều trang, thì
phải đánh số thứ tự các trang vào mỗi trang của di chúc, mỗi trang đó đều
phải có chữ ký của người lập di chúc. Nếu là di chúc bằng văn bản có người
làm chứng, thì mỗi trang đó đều phải có chữ ký của những người làm chứng.
Các chữ ký nên ký vào cuối mỗi trang, ngay dưới dòng chữ cuối cùng. Nếu là
di chúc có chứng thực của UBND xã, phường hoặc thị trấn hay cơ quan công
chứng thì phải có dấu giáp lai của UBND hoặc cơ quan công chứng vào các
trang của di chúc. Thể thức này có ý nghĩa quan trọng nhằm đề phòng việc
thay thế một trang của di chúc để làm thay đổi nội dung của di chúc.
Bộ luật Dân sự quy định các loại di chúc bằng văn bản, bao gồm:
+Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng thì người lập di
chúc cần lưu ý ngoài việc tuân thủ điều kiện, người lập di chúc hoàn toàn tự
nguyện, minh mẫn, sáng suốt khi lập di chúc và ghi đầy đủ các nội dung theo
quy định của pháp luật, người lập di chúc còn phải tự tay viết và ký vào bản
di chúc. Di chúc đánh máy không có giá trị pháp lý. Vì vậy. người để lại di
sản khi lập di chúc bằng văn bản không có người làm chứng phải là người
biết chữ(có thể là tiếng Việt hoặc tiếng dân tộc) và tự mình viết bản di chúc.
VD: Ông Vũ Ngọc Quỳnh muốn lập di chúc, không cần người làm
chứng. Hỏi: di chúc của ông có được pháp luật công nhận không?
Trả lời: Theo quy định của pháp luật Điều 655 Bộ luật Dân sự, ông Vũ
Ngọc Quỳnh có thể tự mình lập di chúc không cần người làm chứng với điều
kiện ông phải tự tay viết và ký vào bản di chúc; phải tuân theo quy định tại
Điều 653 của Bộ luật Dân sự 2005.
+ Di chúc bằng văn bản có người làm chứng
Bất cứ người nào khi lập di chúc bằng văn bản cũng có thể nhờ người
khác làm chứng cho việc lập di chúc của mình. Tuy nhiên, nếu người lập di
chúc không thể tự mình viết bản di chúc vì không biết đọc, biết viết hoặc vì lý
do nào khác mà nhờ người khác viết hộ di chúc thì di chúc này buộc phải có


người làm chứng. Số người làm chứng ít nhất phải là hai người. Người lập di
chúc phải đọc cho người khác viết hộ di chúc trước mặt người khác. Di chúc
viết xong phải do người làm chứng đọc to cho mọi người nghe, được người
lập di chúc thừa nhận là di chúc viết hộ đã ghi đầy đut và phù hợp với ý
nguyện của người để lại di sản.
VD: Bà Ngô Thị Hồng hoàn toàn minh mẫn, sáng suốt nhưng do bị tai
nạn gãy tay, không thể tự viết di chúc. Bà có ý định nhờ người viết hộ và cháu
nội của bà là Phạm Ngọc Hoa xung phong viết hộ. Hỏi: Bà Hồng có thể nhờ
cháu Hoa viết hộ được không? Và bản di chúc đó có được coi là bản di chúc
hợp pháp không?
Trả lời: Trong trường hợp người lập di chúc không thể tự mình viết
bản di chúc thì có thể nhờ người khác viết nhưng phải tuân theo quy định tại
Điều 656 Bộ luật Dân sự 2005. Như vậy, bà Ngô Thị Hồng có thể nhờ người
khác viết hộ di chúc và bà Hồng có thể nhờ cháu nội Phạm Ngọc Hoa viết di
chúc. Cháu Phạm Ngọc Hoa chỉ có thể là người viết hộ di chúc mà không thể
là người làm chứng. Việc cháu Phạm Ngọc Hoa viết di chúc theo lời của bà
Hồng, có đủ người làm chứng theo quy định của pháp luật thì bản di chúc đó
hoàn toàn hợp pháp.
+ Di chúc bằng văn bản có chứng thực
+ Di chúc bằng văn bản có công chứng
VD: Ông Trần Đăng Dũng tới UBND phường Mai Dịch đề nghị chứng
thực di chúc nhưng cán bộ phường chuyên trách sau khi đọc di chúc đã từ
chối chứng thực và đề nghị ông hôm sau đến nhờ cán bộ khác với lý do vợ
của cán bộ phường là người thừa kế theo di chúc. Hỏi: Việc cán bộ đó từ chối
chứng thực di chúc có đúng không?và những trường hợp nào không được
quyền công chứng, chứng thực di chúc?
Trả lời: Việc ông Dũng có di chúc cho vợ của cán bộ phường mà ông
đề nghị chứng thực thì việc từ chối chứng thực di chúc của người cán bộ là
hoàn toàn có cơ sở pháp lý và đúng với quy định của pháp luật. Những người


không được công chứng, chứng thực di chúc được quy định tại Điều 659 Bộ
luật Dân sự 2005:
1.Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di
chúc
2.Người có cha, mẹ, vợ hoặc chồng, con là người thừa kế theo di chúc
hoặc theo pháp luật
3.Người có quyền, nghĩa vụ về tài sản liên quan tới nội dung di chúc.
Ngoài ra, Bộ luật dân sự còn quy định một số trường hợp di chúc bằng
văn bản có giá trị như di chúc có chứng thực, công chứng.
VD: Trước ngày bị thi hành án tử hình, ông Phạm Hữu Anh lập di chúc
phân chia di sản cho những người thừa kế, ông Hữu Anh muốn ra ngoài trại
giam đi công chứng, chứng thực di chúc nhưng Ban giám thị trại giam không
thể cho phép. Hỏi: Ông Phạm Hữu Anh có thể nhờ người khác đi công chứng,
chứng thực di chúc không?Làm sao để di chúc của ông có giá trị như được
công chứng, chứng thực?
Trả lời: Theo Điều 660 Bộ luật Dân sự, dù ông Phạm Hữu Anh đã bị
kết án tử hình nhưng ông vẫn có quyền lập di chúc. Tuy nhiên theo yêu cầu
của công tác trại giam, người bị kết án tử hình không thể tới Cơ quan công
chứng, UBND xã, phường, thị trấn để công chứng, chứng thực di chúc. Hoạt
động công chứng, chứng thực di chúc không cho phép ông Hữu Anh nhờ
người khác tới cơ quan có thẩm quyền để được công chứng. Để di chúc của
ông có giá trị như được công chứng, chứng thực thì ông Hữu Anh có thể đề
nghị người phụ trách trại giam nơi ông đang bị giam giữ xác nhận vào di
chúc. Di chúc của người đang bị giam có xác nhận của người phụ trách trại
giam có giá trị như di chúc được công chứng, chứng nhận.
III-Giải pháp trong việc chia thừa kế theo quy định của pháp luật khi
phát hiện di chúc hợp pháp
1.Công dân có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận quyền được
hưởng thừa kế của mình nếu còn thời hiệu khởi kiện


- Theo quy định tại Điều 645 Bộ luật Dân sự thì thời hiệu khởi kiện để
người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác
bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.
VD: Bà Phạm Thị Là là người được chỉ định hưởng ½ khối di sản của
cha là ông Phạm Ngọc Khanh. Tuy nhiên, khi ông Phạm Ngọc Khanh mất, bà
Phạm Thị Là đang ở nước ngoài. Những người thuộc diện thừa kế theo pháp
luật của ông Khanh đã chia thừa kế theo quy định của pháp luật. Họ không
biết ông Khanh có lập di chúc, không biết bà Phạm Thị Là được nhận di sản
thừa kế. Bản án của Tòa án phân chia di sản cho những người thừa kế theo
pháp luật của ông Khanh có hiệu lực pháp luật. Hỏi: Khi bà Là về nước bà có
quyền khởi kiện để được nhận di sản thừa kế theo di chúc không?
Trả lời: Bà Phạm Thị Là được nhận di sản thừa kế theo di chúc của
ông Phạm Ngọc Khanh. Tuy nhiên khi Tòa án chia di sản cho những người
thừa kế của ông Khanh đã không biết đến di chúc, bà Phạm Thị Là không
được triệu tập tham gia tố tụng. Điều này gây thiệt hại cho quyền và lợi ích
hợp pháp của bà Là. Vì vậy, bà Là có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án công
nhận quyền được hưởng thừa kế của mình nếu còn thời hiệu khởi kiện.
2.Trường hợp di chúc bị mất thì tài sản đã được chia theo quy định của
pháp luật nhưng trong trường hợp các bên công nhận nội dung di chúc và thỏa
thuận phân chia di sản theo nội dung di chúc đó thì việc phân chia di sản được
thực hiện theo thỏa thuận.
VD: Cha mẹ ông Phạm Hữu Anh có lập di chúc chung cho các con
nhưng do trận lụt, toàn bộ giấy tờ trong đó có bản di chúc đã bị cuốn trôi, nay
không thể tìm thấy. Ông Phạm Hữu Anh có biết nội dung di chúc, cha mẹ có
dành một phần tài sản để tặng cho trường học tại quê nhà nơi họ sinh ra và
lớn lên. Nhưng ông Anh không nhớ rõ là bao nhiêu.Hỏi: việc chia thừa kế đối
với khối di sản do cha mẹ ông Anh để lại được thực hiện như thế nào?
Trả lời: Khi di chúc đã bị nước cuốn trôi thì trường hợp này không
được coi là hưởng tài sản theo di chúc và phải chia tài sản theo pháp luật nên


phần tài sản mà trường học tại quê nhà được hưởng theo di chúc không được
công nhận. Tuy nhiên, nếu những người thừa kế thỏa thuận, nhớ lại nội dung
di chúc và công nhận đó là ý muốn đích thực của cha mẹ ông Phạm Hữu Anh
thì việc phân chia di sản được thực hiện theo thỏa thuận và trường học tại quê
nhà nơi họ sinh ra và lớn lên vẫn được hưởng một phần di sản của cha mẹ ông
Phạm Hữu Anh theo di chúc trước đó.
3.Trường hợp di chúc do một người ở xa nơi người lập di chúc giữ, khi
Tòa án xét xử tài sản của người đã mất theo quy định của pháp luật mà người
giữ di chúc không có mặt thì người giữ bản di chúc đó cần gửi đơn đề nghị
kháng nghị tái thẩm tới Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân cấp trên trực
tiếp xét xử.
VD: Ngày 25/10/2007, Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng có bản án
phân chia di sản thừa kế cho các con của ông Phạm Ngọc Khanh mất
14/4/2005. Bản án của TAND huyện Nghĩa Hưng đã có hiệu lực pháp luật và
được thi hành. Ngày 12/1/2008, ông Phạm Tuấn Khiêm từ Pháp trở về xuất
trình trước TAND huyện Nghĩa Hưng bản di chúc của ông Khanh nhờ ông
Khiêm cất giữ hộ.
Nội dung của di chúc, phần định đoạt tài sản khác rất nhiều so với
việc phân chia di sản thừa kế theo pháp luật của Tòa án, trong đó có một phần
di sản được dùng vào thờ cúng dòng họ, tổ tiên. Tòa án huyện Nghĩa Hưng đã
từ chối yêu cầu chia thừa kế của ông Phạm Tuấn Khiêm vì cho rằng thụ lý vụ
việc đã giải quyết. Hỏi: Ông Phạm Tuấn Khiêm cần phải làm gì để thực hiện
bản di chúc đó?
Trả lời: Ông Phạm Ngọc Khanh đã chết từ 14/4/2005, di sản của ông
đã được chia theo pháp luật cho các con. Tại thời điểm phân chia di sản thừa
kế, di chúc của ông Khanh được xác định là không có. Bản án đã có hiệu lực
pháp luật nghĩa là vụ việc đã được giải quyết.
Nay ông Khiêm có xuất trình di chúc, điều này được xem như là tình
tiết mới quan trọng của vụ án mà đương sự không thể biết được trong quá


trình giải quyết vụ án để làm căn cứ kháng nghị theo thủ tục tái thẩm. Ông
Khiêm cần gửi đơn đề nghị kháng nghị tái thẩm tới VKSND, TAND cấp trên
trực tiếp của TAND huyện Nghĩa Hưng. Nếu xét thấy có căn cứ thì cơ quan
có thẩm quyền kháng nghị tái thẩm và vụ việc được giải quyết theo quy định
tại Chương XIX về thủ tục tái thẩm vụ án dân sự. Khi đó, nếu có căn cứ Tòa
án xét xử vụ kiện theo thủ tục tái thẩm có thể hủy bản án đã có hiệu lực pháp
luật để xét xử sơ thẩm lại.


C- KẾT LUẬN
Phương pháp đặc trưng được sử dụng trong luật dân sự là tôn trọng sự bình
đẳng, thỏa thuận của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật dân sự. Sự bình đẳng
của các chủ thể dựa trên cơ sở sự độc lập về mặt tài sản và tổ chức. Việc xác lập và
giải quyết những quan hệ tài sản, quan hệ nhân thân chủ yếu do ý chí và vì lợi ích của
chính các chủ thể là cá nhân, tổ chức tham gia vào các quan hệ đó. Vì không có sự
ràng buộc về tài sản và tổ chức nên các chủ thể đều có tư cách pháp lý ngang nhau.
Nhà nước khuyến khích sự thỏa thuận giữa các chủ thể trong khuôn khổ quy định
của pháp luật.
Ở nước ta, trong quá trình phát triển của xã hội, từ những quy phạm pháp luật
dân sự ban đầu đã hình thành nhiều ngành luật mới như luật lao động, luật thừa kế,
luật hôn nhân và gia đình…Tuy vậy, những ngành luật này vẫn sử dụng nhiều
nguyên tắc và quy phạm của luật dân sự.
Quyền thừa kế là một trong những quyền dân sự cơ bản của công dân được
pháp luật ghi nhận. Sự tiếp nối từ thế hệ này sang thế hệ khác là quy luật khách quan.
Quyền sở hữu là cơ sở khách quan của việc thừa kế. Từ quan điểm đó, pháp luật về
thừa kế ở nước ta hiện nay được coi là phương tiện để củng cố sở hữu của công dân,
củng cố quan hệ hôn nhân và gia đình. Để bảo đảm cho quyền thừa kế thực sự là
phương tiện để củng cố quyền sở hữu của công dân, củng cố quan hệ hôn nhân và gia
đình, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình, quá trình
xây dựng và thực thi pháp luật về thừa kế cần phải tuân theo các nguyên tắc sau:
Thứ nhất, pháp luật bảo hộ quyền thừa kế tài sản của công dân. Công dân có
quyền lập di chúc để lại tài sản của mình cho người thừa kế, được nhận hoặc từ chối
nhận tài sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.
Thứ hai, cá nhân không phân biệt nam, nữ đều bình đẳng về quyền hưởng di
sản, quyền để lại tài sản của mình theo di chúc hoặc theo pháp luật.
Thứ ba, tôn trọng quyền định đoạt bằng di chúc của người có di sản, đồng
thời bảo hộ thích đáng quyền lợi của những người thừa kế theo pháp luật.
Thứ tư, củng cố và phát triển tình đoàn kết, thương yêu trong nội bộ gia đình.


D-TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Giáo trình : Các ngành luật cơ bản trong hệ thống pháp luật Việt
Nam ( quyển 2), NXB Chính trị quố gia, HN, 2006.
2.Giáo trình : Lý luận Nhà nước và pháp luật, NXB Tư pháp, HN,
2007.
3.TS. Nguyễn Hợp Toàn (Cb), Giáo trình pháp luật đại cương, NXB
Đại học Kinh tế quốc dân, HN, 2008.
4.Luật Hôn nhân và gia đình, NXB Lao động Hà Nội, 2000.
5. Luật Công chứng, NXB Lao động Hà Nội, 2006.
6. Luật Thừa kế, NXB Lao động Hà Nội, 2010.
7.www.google.com.vn


MỤC LỤC


x

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×