Tải bản đầy đủ

Vấn đề xây dựng đảo và công trình, thiết bị nhân tạo theo quy định của công ước luật biển 1982

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ ……

VÊn ®Ò x©y dùng ®¶o vµ c«ng tr×nh, thiÕt bÞ nh©n t¹o
theo quy ®Þnh cña C«ng íc LuËt BiÓn 1982
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật
Mã số : 60380101
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. ……………..

HÀ NỘI – NĂM 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực. Tôi xin cam đoan rằng mọi sự

giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích
dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày …..tháng …..năm 2017
Người cam đoan


LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám hiệu Trường đại học
Luật Hà Nội; lãnh đạo, cán bộ Khoa Pháp luật Quốc tế, Khoa sau Đại học và các
khoa, phòng có liên quan của Đại học Luật Hà Nội đã luôn quan tâm, tạo điều
kiện thuận lợi nhất cho việc học tập, nghiên cứu của các học viên Lớp Cao học
Luật Quốc tế khóa 22, trong đó có bản thân tác giả. Qua chương trình học này
đã giúp tác giả càng củng cố thêm những tình cảm, suy nghĩ hết sức tốt đẹp về
Trường Đại học Luật Hà Nội – một môi trường đào tạo chuyên nghiệp, một địa
chỉ tin cậy cho những ai thực sự mong muốn tìm kiếm những kiến thức cần thiết
phục vụ nghiên cứu, ứng dụng khoa học pháp lý.
Tác giả xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong và ngoài
Trường Đại học Luật Hà Nội đã giành nhiều thời gian, công sức quý giá để
truyền đạt cho tác giả, cũng như toàn thể học viên Lớp Cao học Luật Quốc tế
khóa 22 những phương pháp nghiên cứu khoa học vô cùng hữu ích, mở ra cho
tác giả những chân trời tri thức mới.
Xin gửi lời cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè đã hỗ trợ tác giả trong việc
tìm kiếm tài liệu phục vụ nghiên cứu đề tài.
Xin cảm ơn gia đình đã luôn động viên, ủng hộ tác giả trong suốt thời gian
học tập và nghiên cứu đề tài. Nếu không có sự động viên, ủng hộ này, tác giả sẽ
thật khó có thể hoàn thành chương trình học tập của bản thân.
Đặc biệt, tác giả xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS. Nguyễn Toàn
Thắng, người đã vô cùng tâm huyết, tận tình hướng dẫn tác giả trong suốt quá
trình nghiên cứu luận văn tốt nghiệp./.


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Ý nghĩa
COC Bộ Quy tắc ứng xử giữa các bên ở Biển Đông
DOC Tuyên bố ứng xử giữa các bên ở Biển Đông
EEZ Vùng đặc quyền kinh tế
ICJ Tòa án Công lý Quốc tế của Liên Hợp Quốc
LHQ Liên Hợp Quốc
PCA Tòa Trọng tài Thường trực của Liên Hợp Quốc
UNCLOS Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982

UAE Các Tiểu vương quốc Arab thống nhất


Mục lục
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHẬN THỨC CHUNG VỀ ĐẢO NHÂN TẠO, CÔNG TRÌNH, THIẾT BỊ
NHÂN TẠO TRÊN BIỂN 8
1.1. Khái niệm đảo nhân tạo, công trình, thiết bị nhân tạo trên biển 8
1.1.1. Khái niệm đảo nhân tạo 8
1.1.2. Khái niệm công trình, thiết bị nhân tạo trên biển 12
1.1.3. Mối liên hệ giữa đảo nhân tạo và công trình thiết bị nhân tạo trên biển 14
1.2. Thực tiễn xây dựng đảo nhân tạo, công trình, nhân tạo trên biển 15
1.3. Phân loại đảo nhân tạo, công trình, thiết bị nhân tạo trên biển 17
1.4. Tác động, ảnh hưởng của việc xây dựng đảo nhân tạo, công trình, thiết bị nhân tạo trên
biển 24
1.4.1. Tác động, ảnh hưởng tích cực 24
1.4.2. Tác động, ảnh hưởng tiêu cực 24
TIỂU KẾT 26
CHƯƠNG 2: QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA ĐẢO NHÂN TẠO, CÔNG TRÌNH, THIẾT
BỊ NHÂN TẠO THEO CÔNG ƯỚC LUẬT BIỂN NĂM 1982 27
2.1. Quá trình pháp điển hóa Luật Biển quốc tế, hình thành Công ước Luật biển năm 1982 27
2.2. Thẩm quyền xây dựng đảo nhân tạo, công trình, thiết bị trên các vùng biển 31
2.3. Đảo nhân tạo, công trình, thiết bị nhân tạo và việc xác định các đường ranh giới trên
biển 37
2.4. Đảo nhân tạo, công trình, thiết bị nhân tạo và việc mở rộng các bãi cạn lúc nổi lúc chìm,
đảo và đảo đá 40
TIỂU KẾT 42


CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG XÂY DỰNG ĐẢO NHÂN TẠO, CÔNG TRÌNH VÀ THIẾT
BỊ NHÂN TẠO Ở BIỂN ĐÔNG VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ CHO VIỆT NAM
44
3.1. Thực trạng xây dựng đảo nhân tạo, công trình, thiết bị nhân tạo ở khu vực Biển Đông
3.1.1. Khái quát chung về khu vực Biển Đông
3.1.2. Thực trạng xây dựng đảo nhân tạo, công trình thiết bị nhân tạo tại khu vực biển Đông
3.1.3. Ảnh hưởng từ việc xây dựng đảo nhân tạo, công trình nhân tạo trong khu vực Biển
Đông tới Việt Nam
3.2. Hoạt động xây dựng của Trung Quốc và vấn đề giải quyết tranh chấp ở Biển Đông
3.3. Vụ Philippines kiện Trung Quốc và tác động đối với Việt Nam
3.4. Một số đề xuất, kiến nghị
TIỂU KẾT 71
KẾT LUẬN 73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
PHỤ LỤC 81


PHẦN MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, các vấn đề xoay quanh đảo và công trình, thiết bị nhân tạo
chưa được quan tâm, làm rõ trong bối cảnh “đảo nhân tạo” vẫn còn gây nhiều
tranh cãi và chưa có bất kỳ định nghĩa nào về đảo nhân tạo được chấp nhận
rộng rãi mặc dù hàng loạt các điều khoản trong Công ước Luật Biển của Liên
Hợp Quốc năm 1982 có đề cập tới khái niệm này.
Trong bối cảnh các quốc gia đang nỗ lực mở rộng lãnh thổ, chiếm giữ
không gian phát triển, đặc biệt là không gian biển thì vấn đề xây dựng các
công trình, thiết bị nhân tạo, đặc biệt là đảo nhân tạo đã và đang được các
quốc gia ven biển quan tâm và thực hiện. Bởi lẽ, các đảo, công trình, thiết bị
nhân tạo được xây dựng hợp pháp trên biển sẽ mang lại nhiều lợi ích cho
quốc gia ven biển trong việc bảo vệ và thực thi chủ quyền, quyền chủ quyền
và quyền tài phán của quốc gia; gia tăng hiệu quả khai thác tài nguyên biển
(như khai thác dầu khí, thủy, hải sản, các mỏ kim loại...); nghiên cứu khoa
học biển; bảo đảm an ninh hàng hải, hàng không, thương mại quốc tế và các
hoạt động tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, đấu tranh phòng, chống tội phạm; điều
chỉnh, cân bằng dòng chảy của thủy triều, chống xói mòn (Balance Island
của Hà Lan); thích nghi với tình trạng trái đất nóng lên (Hulhumale của
Cộng hòa Maldives)...
Từ những lợi ích to lớn nói trên, nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang
tiến hành xây dựng đảo nhân tạo, điển hình là Hà Lan, các Tiểu Vương quốc
Arab thống nhất (UAE), Azerbaijan, Maldives, Qatar, Bahrain, Áo, Canada,


Đan Mạch, Hong Kong, Singapore, Nam Phi, Ấn Độ...
Tuy nhiên, một thực trạng nguy hiểm hiện nay đó chính là việc bồi đắp,
mở rộng các đảo đá nhỏ, hay các bãi ngầm, rạn san hô, bãi cạn lúc chìm lúc
nổi để biến chúng thành đảo nhân tạo đang được một số quốc gia thực hiện
với mục đích duy trì, củng cố yêu sách về chủ quyền đối với các vùng biển
xung quanh các “đảo” này, đặc biệt ở các quần đảo và vùng biển đang có yêu
sách tranh chấp hoặc chồng lấn. Việc xây dựng, bồi đắp các đảo nhân tạo này
đã từng bước làm thay đổi hiện trạng của các vùng biển, đảo khiến cho mâu
thuẫn giữa các quốc gia có lợi ích liên quan ngày càng căng thẳng và phức
tạp. Thực tiễn đó đã và đang được Trung Quốc tiến hành với quy mô rất lớn ở
quần đảo Hoàng Sa và 7 bãi đá ở quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của
Việt Nam.
Vậy việc nghiên cứu “Vấn đề xây dựng đảo và công trình, thiết bị
nhân tạo theo quy định của Công ước Luật Biển 1982” là rất quan trọng.
Với mong muốn làm sáng tỏ các quy chế pháp lý liên quan đến khái niệm,
điều kiện, vị trí, thủ tục xây dựng, quy chế pháp lý và quyền tài phán của quốc
gia đối với đảo, công trình và thiết bị nhân tạo theo quy định của Công ước
Luật Biển năm 1982. Đồng thời, phân tích cơ sở pháp lý và tác động tiêu cực
từ thực trạng xây dựng đảo nhân tạo bất hợp pháp của Trung Quốc trên các đá
ở quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Tình hình nghiên cứu vấn đề
Việt Nam vốn là một nước đi lên từ hai cuộc kháng chiến chống Pháp
và chống Mỹ, điều kiện kinh tế - xã hội còn ở mức kém phát triển, ngành lập
pháp Việt Nam còn tương đối chậm phát triển và có nhiều hạn chế. Năm


1994, Quốc hội nước ta thông qua Nghị quyết về việc phê chuẩn Công ước
Luật Biển năm 1982 của Liên Hợp Quốc. Trên cơ sở Hiến pháp năm 1992 và
Nghị quyết của Quốc hội nước ta về phê chuẩn Công ước Luật Biển năm
1982, Luật Biển Việt Nam ra đời năm 2012 là một yêu cầu tất yếu và cần thiết
đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của chúng ta trong tình hình
hiện nay.
Tại quần đảo Hoàng Sa, Trung Quốc tiến hành xây dựng tại một số
điểm, đảo như: xây mới đường băng dài 2.920m thay thế cho đường băng cũ
dài 2.400m tại đảo Phú Lâm , mở rộng khu vực hậu cần cho máy bay tại đảo
Phú Lâm, xây dựng một doanh trại quân đội, đê chắn biển và một số các công
trình trên đảo Quang Hòa, mở rộng diện tích đảo này lên 50% so với diện tích
vào tháng 01/2014 và xây dựng các tòa nhà trên đảo Duy Mông...
Tại quần đảo Trường Sa, từ đầu năm 2014, Trung Quốc tiến hành “đảo
hóa” và mở rộng các đá trên quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt
Nam mà họ đã sử dụng vũ lực xâm lược năm 1988 (bao gồm: Gạc Ma, Subi,
Tư Nghĩa, Chữ Thập, Gaven, Châu Viên) và năm 1995 (Vành Khăn) bất chấp
sự phản đối của Việt Nam, Philippines và các cường quốc trên thế giới như
Mỹ, Nhật Bản, Australia, Ấn Độ, khối G7 và Liên minh châu Âu.
Hiện nay, một số ít các cơ quan như Bộ Ngoại giao, Tổng cục Biển và
Hải đảo Việt Nam... đã xuất bản các ấn phẩm liên quan đến Biển Đông và
các tranh chấp trên Biển Đông, về việc xây dựng đảo nhân tạo trên Biển
Đông, song, đa phần là những công trình nghiên cứu về Biển Đông nói chung,
mang tính chuyển tải nội dung tính chất địa chính trị, lợi ích, chính sách và
hành động của các bên liên quan.


Số lượng các công trình nghiên cứu về vấn đề pháp lý liên quan đến
xây dựng đảo và công trình, thiết bị nhân tạo theo quy định của Công ước
Luật Biển năm 1982 còn hạn chế, vì vậy, tác giả chọn đề tài luận văn trên
đảm bảo tính “mới” trong nghiên cứu.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu
- Quy chế pháp lý về việc xây dựng đảo và công trình thiết bị nhân tạo;
- Thực tiễn các quốc gia trên thế giới trong giải quyết tranh chấp về
việc xây dựng đảo và công trình thiết bị nhân tạo.
- Áp dụng vào trường hợp các yêu sách vùng biển tại Biển Đông.
Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: khu vực Biển Đông, trong vùng biển thuộc chủ
quyền của Trung Quốc và Việt Nam.
- Phạm vi thời gian: Từ năm 2014 khi Trung Quốc tiến hành cải tạo,
xây dựng đảo, công trình nhân tạo trên Biển Đông, có sử dụng dẫn chứng
lịch sử.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu
- Làm sáng tỏ các quy chế pháp lý liên quan đến khái niệm, điều kiện,
vị trí, thủ tục xây dựng, quy chế pháp lý và quyền tài phán của quốc gia đối
với đảo, công trình và thiết bị nhân tạo theo quy định của Công ước Luật Biển
năm 1982.
- Phân tích cơ sở pháp lý và tác động tiêu cực từ thực trạng xây dựng
đảo nhân tạo bất hợp pháp của Trung Quốc trên các đá ở quần đảo Trường Sa


thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Quy chế pháp lý liên quan đến xây dựng đảo và công trình, thiết bị
nhân tạo theo quy định của Công ước Luật Biển năm 1982.
- Thực tiễn giải quyết tranh chấp về xây dựng đảo và công trình, thiết bị
nhân tạo trên biển của một số quốc gia trên thế giới.
- Phân tích bối cảnh tình hình khu vực Biển Đông, những động thái của
Trung Quốc và đánh giá một số tác động của các động thái đó tới thái độ của
một số bên có liên quan tới tranh chấp trên Biển Đông.
- Kiến nghị một số giải pháp đối với Việt Nam.
Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn
- Đảo nhân tạo là gì? Công trình, thiết bị nhân tạo là gì? Mối liên hệ
giữa hai khái niệm này như thế nào? Phân loại ra sao? Tác động, ảnh hưởng
của việc xây dựng đảo, thiết bị, công trình nhân tạo trên biển?
- Quy chế pháp lý của đảo nhân tạo, công trình, thiết bị nhân tạo theo
Công ước Luật Biển năm 1982? Thẩm quyền xây dựng, lắp đặt như thế nào?
Vai trò trong việc xác định các đường ranh giới trên biển ra sao?
- Pháp luật Việt Nam quy định về vấn đề này như thế nào? Những quy
định ấy đã tương thích với các điều ước quốc tế hay chưa?
- Cần có giải pháp, kiến nghị như thế nào để hoàn thiện hơn nữa pháp
luật Việt Nam về vấn đề này?
Các phƣơng pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn
- Vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, đề tài sử
dụng cạch tiếp cận khoa học, kết hợp phương pháp logic và lịch sử. Dùng


những dữ liệu lịch sử để phân tích, khái quát thành lý luận và đưa ra những
dự báo có cơ sở khoa học, kết hợp giữa phân tích và tổng hợp. Sử dụng
phương pháp hệ thống, xem xét vấn đề trong tổng thể bối cảnh tranh chấp
trên Biển Đông.
- Phương pháp phân tích, chứng minh, so sánh và tổng hợp là những
phương pháp bổ trợ cần thiết cho phương pháp chủ yếu nêu trên nhằm giải
quyết những vấn đề mà đề tài đã đặt ra.
Một số vụ việc tương tự trên thế giới cũng được sử dụng có chọn lọc để
bình luận và các tài liệu, số liệu thống kê của các cơ quan chuyên ngành liên
quan đến vấn đề nghiên cứu cũng được tham khảo để việc nghiên cứu được
toàn diện và sâu sắc hơn.
Cơ sở khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Cơ sở khoa học
- Đề tài vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, trong đó chủ yếu
vận dụng thuyết duy vật lịch sử trong việc lý giải mối quan hệ giữa vật chất
và ý thức, vai trò quan trọng quyết định của nhân tố vật chất đối với ý chí và
quyết định của con người.
- Đề tài vận dụng lý thuyết của chủ nghĩa hiện thực, nhấn mạnh quốc
gia là chủ thể cơ bản và duy lý, “chủ nghĩa quốc gia” chi phối chính sách
đối ngoại của mỗi nước. Sự phát triển và quyền lực có ảnh hưởng quyết
định đến sự tồn tại của quốc gia nên nhó trở thành mục tiêu mà quốc gia
theo đuổi.
Ý nghĩa thực tiễn
Tranh chấp trên Biển Đông hiện đang là một vấn đề “thời sự”, có ảnh


hưởng trực tiếp tới lợi ích và việc bảo vệ an ninh chủ quyền biển đảo của Việt
Nam. Trong bối cảnh đó, những kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần
làm rõ một vấn đề quan trọng, xác định tính hợp pháp của các công trình trên
Biển Đông. Qua phân tích hiện trạng cũng như lịch sử của vấn đề này, đề tài
cũng sẽ đưa ra một số dự báo trong tương lai, và đây sẽ là cơ sở quan trọng để
chúng ta có thể đưa ra những kiến nghị, chính sách phù hợp nhằm bảo vệ lợi
ích của Việt Nam.
Về phương diện nhận thức: Làm sáng tỏ các quy chế pháp lý liên quan
đến khái niệm, điều kiện, vị trí, thủ tục xây dựng, quy chế pháp lý và quyền
tài phán của quốc gia đối với đảo, công trình và thiết bị nhân tạo theo quy
định của Công ước Luật Biển năm 1982 và đi vào thực tiễn giải quyết các
tranh chấp về các vấn đề này trên thế giới.
Về phương diện thực tiễn: Từ việc phân tích những cơ sở pháp lý và tác
động tiêu cực từ thực trạng xây dựng đảo nhân tạo bất hợp pháp của Trung
Quốc trên các đá ở quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam luận
văn sẽ đưa ra một số kiến nghị, đề xuất đối với Việt Nam. Vận dụng trong vấn
đề bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ chủ quyền biển đảo.
Luận văn hy vọng sẽ là nguồn thông tin tham khảo thiết thực, có giá trị
phục vụ công tác nghiên cứu khoa học.
Cấu trúc của luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục chữ viết tắt, danh mục tài liệu tham
khảo và phụ lục, luận văn được chia thành 3 chương với nội dung tóm tắt
như sau:


CHƢƠNG 1: Nhận thức chung về đảo nhân tạo, công trình thiết bị
nhân tạo trên biển
Chương này nghiên cứu, làm rõ phần lý luận chung về đảo nhân tạo và
công trình, thiết bị nhân tạo trên biển. Qua thực tiễn của việc xây dựng đảo,
công trình, thiết bị nhân tạo của các quốc gia trên thế giới, đánh giá tác động
tích cực và tiêu cực của việc xây dựng này.
CHƢƠNG 2: Quy chế pháp lý của đảo nhân tạo, công trình, thiết bị
nhân tạo theo Công ước Luật Biển năm 1982
Chương 2 tập trung làm rõ quy chế pháp lý của đảo nhân tạo, công
trình, thiết bị nhân tạo trong Công ước Luật Biển năm 1982. Từ thẩm quyền
xây dựng trên các vùng biển, đến việc xác định các đường ranh giới trên biển
xung quanh các đảo nhân tạo và công trình, thiết bị nhân tạo này. Chương này
cũng đề cập đến vấn đề mở rộng các bãi cạn lúc nổi lúc chìm, đảo và đảo đá
theo Công ước Luật Biển năm 1982 - một vấn đề phức tạp mà luật pháp quốc
tế hiện đại đang cần làm rõ.
CHƢƠNG 3: Thực trạng xây dựng đảo nhân tạo, công trình và thiết bị
nhân tạo ở Biển Đông và một số đề xuất, kiến nghị cho Việt Nam
Chương này nêu bật vị trí, vai trò của Biển Đông đối với các nước
trong khu vực, trên thế giới và cả với Việt Nam. Đồng thời, khái quát về các
tranh chấp trong khu vực này, trong đó có vấn đề “đảo hóa” các đá, rạn san hô
trong khu vực Biển Đông. Trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, đề xuất giải
pháp, kiến nghị phương hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam cũng như Công
ước Luật Biển năm 1982, đến những vấn đề có liên quan đến việc xác định
quy chế pháp lý của đảo nhân tạo - những thực thể hiện hữu trên Biển Đông,


làm ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh, hòa bình, ổn định của khu vực.


CHƢƠNG 1
NHẬN THỨC CHUNG VỀ ĐẢO NHÂN TẠO, CÔNG TRÌNH,
THIẾT BỊ NHÂN TẠO TRÊN BIỂN
1.1. Khái niệm đảo nhân tạo, công trình, thiết bị nhân tạo trên biển
1.1.1. Khái niệm đảo nhân tạo
Trong lịch sử nhân loại, xuất phát từ những nhu cầu khác nhau, các
quốc gia luôn tìm cách mở rộng lãnh thổ của mình mà một trong những biện
pháp để thực hiện nhu cầu đó là việc chiếm hữu nhiều hơn không gian biển.
Một biểu hiện cụ thể của việc “lấn biển” đó là việc xây dựng những hòn đảo
nhân tạo. Việc xây dựng đảo nhân tạo đã có từ thời xa xưa: Thời La Mã cổ đại
có những ghi chép sơ khai đầu tiên về đảo nhân tạo từ gần 2000 năm trước.
Năm 47, Plinius đề cập đến những “gò đất nhân tạo” do cư dân sống tại khu
vực mà ngày nay thuộc Đông Bắc Hà Lan, được xây dựng để tránh triều
cường và sóng bão1
. Thời Trung Cổ, dân cư Scotland và Iceland đã xây dựng
các nhà chòi tại nhiều vùng hồ làm nơi trú ngụ an toàn để tránh kẻ thù. Năm
1634, trong quá trình thi hành chính sách Tỏa Quốc ngăn người nước ngoài
vào Nhật Bản, người Nhật đã xây dựng đảo nhân tạo Dejima ngoài khơi
Nagasaki để làm nơi giao thương với người Bồ Đào Nha và sau này với người
Hà Lan2
Ngày nay, vấn đề xây dựng các công trình, thiết bị nhân tạo, đặc biệt là
đảo nhân tạo đã và đang được nhiều quốc gia biển quan tâm thực hiện, điển
hình là Hà Lan, các tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE), Azerbaijan,


Maldives, Qatar, Bahrain, Áo, Canada, Đan Mạch, Hong Kong, Singapore,
Panama, Nam Phi, Ấn Độ, quần đảo Slomon, Ba Lan, Anh, Mỹ... Ví như
quần đảo Cây Cọ ở Dubai là quần thể bao gồm ba hòn đảo nhân tạo được xây
bởi Nakheel Properties, một nhà phát triển tài sản ở Các Tiểu vương quốc
Arab thống nhất, đây được đánh giá là kỳ quan thế giới thứ 8 của thế giới và
là quần đảo nhân tạo lớn nhất thế giới hay như Đảo nhân tạo Pampus được
biết đến trong lịch sử quân sự Hà Lan.
Vậy, cần phải hiểu thế nào là “đảo nhân tạo”? Theo từ điển tiếng Việt,
“đảo” được định nghĩa là “khoảng, vùng đất rộng có nước bao quanh ở sông,
hồ, biển”
. Như vậy, về mặt ngôn ngữ, có thể hiểu: “đảo nhân tạo” là “khoảng,
vùng đất rộng có nước bao quanh ở sông, hồ, biển do con người tạo ra,
phỏng theo cái có sẵn trong tự nhiên”.
Trong quá trình nghiên cứu về luật biển, các học giả đã đưa ra một số
định nghĩa khác nhau về đảo nhân tạo như:“Đảo nhân tạo là những cấu trúc
được tạo ra bằng cách đặt/đổ lên các vật chất tự nhiên như sỏi, cát và đá;
trong khi đó các công trình lắp đặt nhân tạo lại là những cấu trúc bê tông cố
định gắn với đáy biển bằng ống dẫn và các cọc” 5
. Hay “Đảo nhân tạo là các
thực thể nổi trên biển khi thủy triều lên cao do các hoạt động cải tạo đất hoặc
các hoạt động nhân tạo khác” 6
. Hay “Đảo nhân tạo là các thực thể nhân tạo
được hình thành từ nguồn tự nhiên trên nền đất cả đáy biển, bao quanh bởi
nước và nổi trên biển khi thủy triều lên cao” 7
. Phân tích các định nghĩa trên


có thể thấy, chúng chưa phản ánh toàn diện các vấn đề kỹ thuật và tính pháp
lý của đảo nhân tạo. Sẽ hợp lý hơn khi định nghĩa đảo nhân tạo dựa trên tiêu
chí về kỹ thuật, pháp lý và mục đích xây dựng. Tiêu chí kỹ thuật để trả lời cho
câu hỏi: Đảo nhân tạo được xây dựng như thế nào, bằng vật liệu gì? Tiêu chí
pháp lý để trả lời cho câu hỏi: Đảo nhân tạo có quy chế pháp lý như thế nào?
Tiêu chí mục đích xây dựng, trả lời cho câu hỏi: Đảo nhân tạo được xây dựng
nhằm mục đích gì?
Về phương diện pháp luật quốc tế, trong quá trình đàm phán để ký kết
UNCLOS đã có đệ trình của một số quốc gia liên quan tới đảo nhân tạo
nhưng văn bản cuối cùng của UNCLOS chỉ định nghĩa “đảo” tại Điều 121:
“Đảo là một vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thủy triều lên vùng đất
này vẫn ở trên mặt nước” mà không định nghĩa “đảo nhân tạo”. Việc thiếu
vắng định nghĩa về đảo nhân tạo trong UNCLOS đã làm cho việc giải thích và
áp dụng quy chế pháp lý của đảo nhân tạo trên thực tế chưa có sự thống nhất.
Theo pháp luật Việt Nam, cụ thể là Luật Biển Việt Nam 2012, khái
niệm “đảo nhân tạo, thiết bị, công trình trên biển” được định nghĩa, bao gồm:
(i) Các giàn khoan trên biển cùng toàn bộ các bộ phận phụ thuộc khác
đảm bảo hoạt động bình thường và liên tục của các giàn khoan hoặc các thiết
bị chuyên dùng để thăm dò, khai thác và sử dụng biển;
(ii) Các loại báo hiệu hàng hải;
(iii) Các thiết bị, công trình khác được lắp đặt và sử dụng ở biển.8
Như vậy, theo pháp luật Việt Nam, đảo nhân tạo và thiết bị, công trình
được phân loại căn cứ vào mục đích sử dụng của nó.
Qua những phân tích trên đây, có thể rút ra một định nghĩa chung về


đảo nhân tạo như sau: “Đảo nhân tạo là công trình do con người xây dựng cố
định, vĩnh viễn trên nền của đáy biển bằng các vật liệu tự nhiên như đất, đá,
cát hoặc bê tông, được bao quanh bởi nước biển và nổi trên biển khi thủy
triều lên cao nhất”
Xem xét định nghĩa này có thể rút ra một số đặc điểm sau đây về “đảo
nhân tạo”:
(i) Tính cố định, không thể dịch chuyển: Đảo nhân tạo trước hết là một
hòn đảo do đó không thể di dời, dịch chuyển được. Đặc điểm này giúp phân
biệt “đảo nhân tạo” với các công trình nhân tạo khác như như giàn khoan dầu,
khí; cáp ngầm, ống dẫn ngầm trên biển...
(ii) Tính nhân tạo: Thời cổ đại con người có thể phải dựa hoàn toàn vào
sức lực chân tay để xây dựng các đảo nhân tạo. Tuy nhiên ngày nay, với sự
phát triển của khoa học và công nghệ, máy móc đã đóng một vai trò quan
trọng trong đời sống của con người nói chung cũng như trong việc xây dựng
các đảo nhân tạo nói riêng. Trong nhiều trường hợp, máy móc đã tham gia
hoàn toàn vào việc xây dựng một hòn đảo nhân tạo (từ khâu thiết kế, thi
công...). Như vậy, tính nhân tạo trong việc xây dựng các hòn đảo này thể hiện
ở ý chí của con người khi muốn xây dựng hòn đảo đó chứ không nhất thiết
mang nghĩa là con người phải trực tiếp tham gia vào quá trình xây dựng vật
chất của hòn đảo đó.
(iii) Bao bọc bởi nước biển: điều kiện này kéo theo nhận xét, theo đó
việc xây dựng một cây cầu hay đường ngầm nối đảo nhân tạo với lục địa
không làm mất đi đặc điểm nói trên.
(iv) Khi thủy triều lên, vẫn ở trên mặt nước: Điều kiện này nhằm loại


bỏ các cấu trúc khi thủy triều xuống thấp thì lộ ra, khi thủy triều lên cao thì bị
ngập nước. Tuy nhiên, Công ước Luật Biển năm 1982 không đưa ra khái
niệm và các phương pháp xác định thủy triều10. Trên thực tế, tính toán thủy
10 Về phương diện địa lý, thủy triều là hiện tượng chuyển động thường xuyên và có chu kỳ
của các khối
nước trong các biển và đại dương. Sự thay đổi lực hấp dẫn từ Mặt Trăng và từ các thiên thể
khác như Mặt
Trời tại một điểm bất kỳ trên bề mặt Trái Đất trong khi Trái Đất quay đã tạo nên hiện tượng
nước lên
(triều lên) và nước rút (triều xuống) vào những khoảng thời gian nhất định trong một ngày.
Nguyên nhân
của thủy triều chủ yếu do sức hút của Mặt Trăng và Mặt Trời. Một số nơi trên thế giới xuất
hiện các loại
thủy triều sau: triều bán nhật nếu như chu kỳ dao động của thủy triều bằng nửa ngày Mặt
Trăng
(12g25ph), triều toàn nhật - chu kỳ bằng một ngày Mặt Trăng (24g50ph) và triều hỗn hợp với
chu kỳ biến
12
triều là một lĩnh vực phức tạp và nhiều phương pháp tính cũng như phân tích
số liệu mực nước thủy triều đã hình thành. Vì vậy, mỗi quốc gia tự lựa chọn
cho mình một phương pháp phù hợp. Chỉ tính riêng 31 nước11 có quy định
phương pháp tính toán thủy triều trong hệ thống pháp luật quốc gia, 17 công
thức tính khác nhau đã được sử dụng. Việc xảy ra tranh chấp là điều khó
tránh khỏi khi các phương pháp tính thủy triều đưa đến những kết quả không
giống nhau.
1.1.2. Khái niệm công trình, thiết bị nhân tạo trên biển
Ngoài đảo nhân tạo, một dạng thực thể khác cũng được con người chú


trọng xây dựng để đáp ứng các nhu cầu khác nhau đó là: công trình, thiết bị
nhân tạo trên biển. Các công trình, thiết bị có thể được xây dựng nhằm những
mục đích như nghiên cứu khoa học biển, giám sát thủy triều, các khu nghỉ mát
hoặc khu dân cư, cảng hàng không, trung tâm vận chuyển hàng hóa, trạm
kiểm soát giao thông12. Theo Nghị định thư Barcelona 1994 về Bảo vệ Địa
Trung Hải chống lại ô nhiễm do việc thăm dò và khai thác trên thềm lục địa,
đáy biển và lòng đất dưới thềm lục địa, khái niệm “công trình” (installation)
đổi trong thời gian nửa tháng Mặt Trăng từ bán nhật sang toàn nhật hay ngược lại. Nếu số
ngày với chu kỳ
toàn nhật chiếm ưu thế thì thủy triều được gọi là triều toàn nhật không đều, nếu số ngày với
chu kỳ bán
nhật chiếm ưu thế - triều bán nhật không đều. Những điều kiện địa lý của biển như hình dạng
đường bờ,
kích thước hình học của bờ, phân bố độ sâu, sự tồn tại các đảo và các vịnh trong biển có ảnh
hưởng quyết
định đến độ lớn và đặc điểm thủy triều trong biển đó và trong các bộ phận của nó. Thực tế
quan trắc thấy
rằng, trong khi ở một số vùng của đại dương dao động thủy triều có biên độ rất lớn, thì ở một
số vùng khác
dao động thủy triều diễn ra yếu hoặc gần như không có. Được biết nơi có biên độ dao động
mực nước thủy
triều lớn nhất trong đại dương, với độ lớn thủy triều 13 m, là vùng vịnh Fundy (Canađa) và
nơi thủy triều
hoàn toàn không đáng kể là biển Baltic. Xem SIMON Bernard và ALLAIN Serge, Sự thay
đổi mực nước
biển và vấn đề thủy triều, < http://www.shom.fr >.
11 Afrique du Sud, Arabie Saoudite, Australie, Bahamas, Belize, Croatie, Danemark,
Honduras, Îles Cook,
Îles Marshall, Îles Salomon, Indonésie, Kiribati, Liban, Madagascar, Namibie, Niue,
Nouvelle Guinée,


Nouvelle-Zélande, Pays-Bas, Royaume-Uni, Samoa, Soudan, Sri Lanka, Syrie, Tonga,
Trinité et Tobago,
Tuvalu, Ukraine, Vanuatu, Venezuela. Theo:
http://www.un.org/Depts/los/LEGISLATIONANDTREATIES/index.htm.
12 George K. Walker (2012), Definitions for the Law of the Sea: Terms Not Defined by the
1982
Convention, Martinus Nijihoff Publishers.
13
được hiểu là bất kỳ cấu trúc cố định hoặc nổi và bất kỳ phần gắn liền nào của
nó được sử dụng vào các hoạt động: (i) các bộ phận thăm dò ngoài khơi cố
định hoặc di động; (ii) các bộ phận sản xuất bao gồm các bộ phận có vị trí
động; (iii) các hệ thống kho bãi ngoài khơi bao gồm các tàu thuyền sử dụng
cho mục đích đó; (iv) các cảng phục vụ việc bốc dỡ và hệ thống vận chuyển
các sản phẩm được chiết xuất như các ống dẫn ngầm; (v) hệ thống máy móc
gắn liền với các thiết bị nhằm mục đích bốc xếp, sản xuất, lưu trữ và tiêu hủy
các chất được lấy lên từ đáy biển và lòng đất dưới đáy biển13. Theo Công ước
Luật Biển năm 198214, thuật ngữ “thiết bị công trình” có được nhắc tới tuy
nhiên thuật ngữ này không được định nghĩa hay làm rõ trong Công ước15
.
Trong khoa học pháp lý, chúng thường được hiểu là những thiết bị, công trình
nhân tạo được xây dựng và lắp đặt một cách lâu dài trong lãnh hải, vùng đặc
quyền kinh tế và trên thềm lục địa; trong vùng nước quần đảo hoặc những
vùng biển quốc tế được điều chỉnh bằng Công ước Luật Biển năm 1982 và
luôn được sử dụng nhằm mục đích thăm dò và khai thác các nguồn tài nguyên
biển. Chúng là các công trình, thiết bị trên biển do con người xây dựng, lắp


đặt và sử dụng trên biển16, vì vậy, chúng phân biệt với các thực thể được tạo
ra trên biển bởi sự kiến tạo thiên nhiên - những thực thể đáp ứng tiêu chuẩn
của đảo tự nhiên bởi yếu tố “một vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thủy
triều lên vùng đất này vẫn ở trên mặt nước”17. Về vấn đề này, các công trình
và thiết bị trên biển không gặp nhiều rắc rối về mặt định nghĩa bởi lẽ các thiết
bị và công trình là sản phẩm của con người, thông qua kỹ thuật và công nghệ.
13 Điều 1 (f) Nghị định thư Barcelona 1994 về Bảo vệ Địa Trung Hải chống lại ô nhiễm do
việc thăm dò và
khai thác trên thềm lục địa, đáy biển và long đất dưới thềm lục địa 1994.
14 Điều 56 UNCLOS 1982.
15 Alexander Lott, Marine Environmental Protection and Transboundary Popeline Projects:
A Case Study
of the Nord Stream Piperline, Xem: http://dspace.library.uu.nl/handle/1874/208555.
16 Trong khoa học pháp lý, các công trình và thiết bị được gọi bằng các thuật ngữ khác nhau
như “các công
trình và thiết bị ngoài khơi” (offshore installations and strucstures); “các thiết bị nhân tạo”
(artificial
installations); “các thiết bị và công trình” (installations and structures)...
17 Điều 121 (1) UNCLOS 1982.
14
Xem xét khái niệm về thiết bị và công trình nhân tạo có thể rút ra một
số đặc điểm như sau:
Cũng giống như đảo nhân tạo, tính nhân tạo của thiết bị và công trình
nhân tạo trên biển nằm ở ý chí của con người muốn xây dựng các công trình
và thiết bị đó chứ không nhất thiết thể hiện ý nghĩa là con người phải trực
tiếp tham gia vào quá trình xây dựng vật chất của hòn đảo đó. Do đó, chúng


phân biệt với các thực thể được tạo ra trên biển bởi sự kiến tạo thiên nhiên.
Các thiết bị và công trình là sản phẩm của con người thông qua kỹ thuật và
công nghệ.
Các công trình và thiết bị tồn tại và hoạt động trên biển và có sự gắn
kết vật chất với đáy biển một cách trực tiếp (như những công trình, thiết bị
được xây dựng, lắp đặt trên hạ tầng đáy biển, chúng có sự gắn bó hữu cơ với
đáy biển) hoặc thậm chí không gắn liền với đáy biển.
Bên cạnh đó, các công trình, thiết bị nhân tạo cũng được bao bọc bởi
nước biển và ở trên mực nước biển khi thủy triều lên cao nhất.
1.1.3. Mối liên hệ giữa đảo nhân tạo và công trình, thiết bị nhân tạo
trên biển
Do đặc tính “nhân tạo” của chúng mà các công trình, thiết bị luôn có sự
liên hệ mật thiết với các “đảo nhân tạo”. Thông thường, khái niệm xây dựng
các đảo nhân tạo sẽ bao hàm việc xây dựng thiết bị và công trình trên đó hoặc
ngược lại, việc xây dựng các công trình, thiết bị trên một thực thể thường
được hiểu đồng nghĩa với việc xây dựng đảo nhân tạo theo nghĩa rộng. Ở đây
có hai trường hợp đặt ra.
Trường hợp thứ nhất, trường hợp bản thân các công trình, thiết bị đó
đóng vai trò như một “đảo nhân tạo” tức là có sự gắn bó vật chất với đáy biển
và có đầy đủ các tiêu chuẩn cần thiết của một đảo như có nước bao quanh,
thường xuyên nhô lên khỏi mặt nước khi nước thủy triều lên cao nhất. Trong
trường hợp này hai khái niệm là một và có thể dùng thay thế cho nhau.
15
Trường hợp thứ hai, trường hợp các công trình, thiết bị được xây dựng


và lắp đặt đồng thời, hoặc sau đó, với một đảo nhân tạo. Trong trường hợp
này, hai khái niệm được hiểu không hoàn toàn đồng nhất. Vấn đề đặt ra là
trong trường hợp một quốc gia tiến hành hoạt động cải tạo đất và xây dựng
những công trình trên đó thì điều này có làm thay đổi bản chất pháp lý của
các bãi cạn này không? Trong trường hợp này, thứ nhất, các bãi cạn lúc nổi
lúc chìm này có thể tiếp tục là một bãi cạn lúc nổi lúc chìm, tuy nhiên theo
Điều 7 (4) UNCLOS, trong trường hợp trên đó có những đèn biển hoặc các
thiết bị tương tự thường xuyên nhô trên mặt nước hoặc việc vạch các đường
cơ sở thẳng đó đã được sự thừa nhận chung của quốc tế thì chúng có thể được
sử dụng làm một điểm để xác định đường cơ sở; thứ hai, chúng có thể trở
thành một “đảo nhân tạo”, trong trường hợp này, chúng không có quyền thiết
lập các vùng biển riêng.
18
1.2. Thực tiễn xây dựng đảo nhân tạo, công trình thiết bị nhân tạo
trên biển
Các quốc gia trên thế giới đã và đang tiến hành xây dựng các đảo nhân
tạo nhằm đáp ứng những nhu cầu khác nhau. Cụ thể như:
Là đất nước nằm thấp nhất so với mực nước biển, để cân bằng dòng
chảy của thủy triều, chống xói mòn... Hà Lan đã xây dựng đảo nhân tạo
Pampus gần Amsterdam, ngoài ra còn có các đảo Flevoland, Ijburg, Ijsseloog,
Neeltje-Jans, REM Island, Maasvlakte, Marker Wadden .. Đảo nhân tạo
Pampus được biết đến trong lịch sử quân sự Hà Lan. Pampus là một hòn đảo
nằm trong hệ thống pháo đài phục vụ cho nhiều mục đích quân sự trước và
sau Chiến tranh thế giới thứ Hai của Hà Lan. Cùng với những pháo đài khác,


x

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×