Tải bản đầy đủ

Hợp đồng đầu tư theo hình thức đối tác công tư và thực tiễn trong lĩnh vực xây dựng công trình kết cấu hạ tầng giao thông vận tải ở việt nam

B GIO DC V O TO

B T PHP

TRNG I HC LUT H NI

NGUYN TH

Hợp đồng đầu t theo hình thức đối tác công t và thực tiễn
trong lĩnh vực xây dựng công trình kết cấu hạ tầng giao thông
vận tải ở Việt Nam

LUN VN THC S LUT HC
Chuyờn ngnh : Lý lun v lch s Nh nc v phỏp lut
Mó s : 60380101
Ngi hng dn khoa hc: PGS.TS. ..

H NI NM 2017

MC LC



PHẦN MỞ ĐẦU 1.
Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài ........... .3
2. Tình hình nghiên cứu đề tài........... .3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ........... . 3
4. Phương pháp nghiên cứu ........... . 3
5. Mục tiêu và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài ........... . 4
6. Đóng góp mới của luận văn. ........... .. 5
7. Kết cấu của luận văn.......... ........... .......... 5
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG ĐẦU TƯ THEO
HÌNH THỨC ỐI TÁC CÔNG TƯ VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG ĐẦU TƯ
THEO HÌNH THỨC ĐỐI ÁC CÔNG TƯ ........... ................................................ 6
1.1.Một số vấn đề lý luận về hợp đồng đầu tư theo hình thức đối tác công
tư........................ 6
1.2.Pháp luật về hợp đồng đầu tư theo hình thức đối tác công
tư.......................................... 20
Kết luận Chương 1....................... ........... .

..... .................................. 30

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ HỢP ĐỒNG ĐẦU
TƯ THEO ÌNH THỨC ĐỐI TÁC CÔNG TƯ............................................ ........ 32
2.1.Quy định về các loại hợp đồng đầu tư theo hình thức đối tác công
tư ............................ 32
2.2.Quy định về chủ thể có thẩm quyền ký kết và thực hiện hợp đồng đầu tư theo
hình thức ối tác công tư ......................................................................................... 35
2.3.Quy định về lĩnh vực đầu tư, phân loại dự án đầu tư và nguồn vốn thực hiện
dự án...... 40
2.4.Quy định về lựa chọn nhà đầu tư thực hiện đàm phán, ký kết hợp đồng đầu tư
theo hình
thức đối tác công tư .................................................................................. 46


2.5.Quy định về triển khai thực hiện hợp đồng đầu tư theo hình thức đối tác công
tư ......... 50
2.6.Quy định về ưu đãi và đảm bảo đầu tư đối với nhà đầu tư và doanh nghiệp dự
án......... 57
Kết luận Chương 2................................................................................................... 60
Chương 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG ĐẦU TƯ
THEO HÌNH HỨC ĐỐI TÁC CÔNG TƯ TRONG LĨNH VỰC XÂY DỰNG

CÔNG TRÌNH KẾT CẤU Ạ TẦNG GIAO THÔNG VẬN TẢI Ở VIỆT NAM
VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ................. 61
3.1.Thực tiễn áp dụng pháp luật về hợp đồng đầu tư theo hình thức đối tác công
tư trong lĩnh ực xây dựng công trình kết cấu hạ tầng giao thông vận tải ở Việt
Nam.............................. 61
3.2.Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về
hợp đồngđầu tư theo hình thức đối tác công tư trong lĩnh vực xây dựng công
trình kết cấu hạ tầng giaothông vận tải ở Việt Nam ................................ 77
Kết luận Chương 3............................................................. ............................... 83
KẾT LUẬN ............................................................. .............................................. 85


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong sự phát triển kinh tế toàn cầu ngày càng có xu hướng gia tăng ở khắp các
quốc gia trên thế giới thì phát triển cơ sở hạ tầng là vấn đề quan trọng tạo tiền đề cho
mỗi quốc gia tạo lợi thế cạnh tranh về môi trường đầu tư, kinh doanh cho các nhà
đầu tư trong nước và cả trên thế giới. Trên thế giới không có Chính phủ nào có thể
đáp ứng đầy đủ cơ sở hạ tầng nói chung và giao thông đường bộ nói riêng từ nguồn
ngân sách nhà nước mà luôn cần có sự hợp tác với khu vực tư nhân. Ở Việt Nam,
trước đây các công trình giao thông được đầu tư xây dựng chủ yếu dựa vào ngân
sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ và nguốn vốn ODA nhưng hiện nay nguồn vốn
ODA đang có xu hướng giảm dần nên vấn đề tìm kiếm vốn để xây dựng các công
trình giao thông càng trở nên quan trọng và cần thiết. Trước áp lực cần nguồn vốn để
phát triển xây dựng giao thông thì phương thức hợp tác công - tư (Public Private
Partnership - PPP) là hướng giải pháp thích hợp trong việc thu hút sự đầu tư của khu
vực tư nhân vào phát triển cơ sở hạ tầng giao thông. Mô hình PPP được xem như
một phương thức để tổ chức và huy động sự tham gia của khu vực tư nhân vào
những hoạt động mà theo tiền lệ là chức năng của Nhà nước, đồng thời giúp cải cách
quá trình hoạt động của hệ thống nhà nước về hành chính, thu hút nguồn vốn để xây
dựng, hoàn thiện cơ sở hạ tầng nói chung và cơ sở hạ tầng giao thông nói riêng.
Ở Việt Nam, đầu tư theo mô hình PPP đã được triển khai ở một số dự án giao
thông bằng hình thức BOT, BTO, BT nhưng để áp dụng có hiệu quả mô hình này thì
cần phải đánh giá được những ưu, nhược điểm của nó để các nhà hoạch định chính
sách có sự điều chỉnh pháp luật phù hợp với thực tiễn và đảm bảo quản lý của nhà
nước, đồng thời tạo tiền đề để phát triển cơ sở hạ tầng giao thông góp phần vào sự
phát triển kinh tế quốc gia. Xuất phát từ lý do này và nhu cầu cần thiết của việc phát
triển cơ sở giao thông vận tải ở nước ta hiện nay, tác giả chọn đề tài “Hợp đồng đầu
tư theo hình thức đối tác công tư và thực tiễn trong lĩnh vực xây dựng công trình


kết cấu hạ tầng giao thông vận tải ở Việt Nam” làm nội dung nghiên cứu trong luận
văn thạc sỹ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trên thế giới có rất nhiều công trình nghiên cứu về mô hình đầu tư PPP. Ở Việt
Nam, hình thức hợp tác công tư đang ngày càng được sự quan tâm của các nhà đầu
tư tư nhân bởi những lợi ích cũng như hiệu quả mà mô hình đầu tư PPP mang lại.
Những nghiên cứu về PPP tiêu biểu trong thời gian gần đây đã phần nào giải đáp
những kiến thức cần thiết về PPP và thực tiễn của mô hình PPP trên thế giới, trong
đó phải kể đến các công trình nghiên cứu của các tác giả:
Luận án Tiến sỹ kinh tế của Huỳnh Thị Thúy Giang (2012) về “Hình thức hợp
tác công tư - (Public private partnership) để phát triển cơ sở hạ tầng giao thông
đường bộ Việt Nam”. Trong nghiên cứu này, tác giả đã nghiên cứu cách thức PPP
hoạt động tại những quốc gia chưa tồn tại thị trường PPP như Việt Nam để thu hút
vốn đầu tư phát triển đường bộ thông qua việc nghiên cứu các mô hình thực nghiệm
trên thế giới để từ đó tìm hiểu cách thức vận hành và các nhân tố thành công hoặc
các rào cản trong lĩnh vực đường bộ để có kinh nghiệm lựa chọn mô hình phù hợp
áp dụng ở Việt Nam.
Nghiên cứu của tác giả Phan Thị Bích Nguyệt “PPP - Lời giải cho bài toán vốn
để phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh”, Tạp chí
phát triển và hội nhập (2013); tác giả đã phân tích tính hiệu quả của việc áp dụng mô
hình PPP để giải quyết bài toán vốn cho phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đô thị tại
Việt Nam và vấn đề hành lang pháp lý chưa có tính đồng bộ cao, chưa hài hòa về lợi
ích và cơ chế chia sẻ rủi ro giữa các bên.
Nghiên cứu của Bùi Thị Hoàng Lan “Mô hình đối tác công - tư: Đòn bẩy tài
chính cho xã hội hóa phát triển hạ tầng giao thông đường bộ ở Việt Nam”, Tạp chí


Nghiên cứu kinh tế số 427 tháng 12/2013 đã chỉ ra một số mô hình PPP trên thế giới
và kinh nghiệm áp dụng cho Việt Nam trong lĩnh vực xây dựng giao thông đường
bộ.
Phương thức đối tác công - tư (PPP): Kinh nghiệm quốc tế và khuôn khổ thể
chế tại Việt Nam của Nhóm tác giả: Mai Thị Thu, Nguyễn Văn Phúc, Đặng Ngọc
Trâm, Nguyễn Đoan Trang, Nxb Tri thức 2014 đã chỉ ra được bản chất và đặc điểm
của phương thức đối tác công tư và làm rõ những ưu điểm, hạn chế của thể chế pháp
lý và thực tiễn khi áp dụng mô hình PPP ở Việt Nam; từ đó nhóm tác giả đã đưa ra
những khuyến nghị nhằm hoàn thiện khuôn khổ thể chế PPP với mục đích phù hợp
với thực tiễn khi áp dụng tại Việt Nam.
Đầu tư theo hình thức PPP không phải là vấn đề quá mới ở Việt Nam nhưng từ
sự tham khảo các tài liệu cũng như tìm hiểu thực tế trong lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ
tầng giao thông - lĩnh vực mới được áp dụng mô hình đầu tư PPP cho một số dự án
giao thông đường bộ trong thời gian gần đây; luận văn sẽ tập trung nghiên cứu về
mô hình PPP cho lĩnh vực giao thông đường bộ.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các vấn đề pháp lý về hợp đồng PPP như
về bản chất, đặc điểm, các hình thức về hợp đồng của loại hình đầu tư này trong lĩnh
vực xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông vận tải đường bộ ở Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu: Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài sẽ tập trung làm rõ
các vấn đề pháp lý hiện hành về hợp đồng PPP và thực tiễn khi áp dụng ở Việt Nam
trong lĩnh vực xây dựng giao thông đường bộ để từ đó tìm ra những ưu điểm, hạn
chế của hình thức này khi áp dụng trong thực tiễn và có những khuyến nghị nhằm
hoàn thiện hành lang pháp lý tạo điều kiện cho mô hình đầu tư dưới hình thức hợp


đồng PPP được áp dụng thuận lợi hơn ở Việt Nam trong thời gian tới, nhất là trong
lĩnh vực đầu tư xây dựng các dự án giao thông đường bộ.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp định tính: Trên cơ sở kế thừa và vận dụng có chọn lọc các kết quả
nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm trên thế giới nhằm xác định các nhân tố và sự
khác biệt về mức độ ảnh hưởng của các nhân tố này đến sự thành công của PPP
ngành đường bộ ở các quốc gia phát triển và đang phát triển. Mục đích của phương
pháp nghiên cứu này nhằm tìm hiểu cách thức vận hành và các hình thức của hợp
đồng đầu tư công - tư PPP trong lĩnh vực xây dựng giao thông đường bộ ở các quốc
gia trên thế giới để từ đó lựa chọn phương pháp tiếp cận phù hợp cho Việt Nam khi
áp dụng mô hình này.
Phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh được sử dụng để đánh giá tình hình
đầu tư tư nhân trong lĩnh vực đường bộ để cân nhắc việc áp dụng PPP trong lĩnh vực
xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ tại Việt Nam.
5. Mục tiêu và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu lý luận khoa học, kinh nghiệm
quốc tế về mô hình đầu tư dưới hình thức hợp đồng PPP trong lĩnh vực đầu tư cơ sở
hạ tầng, cụ thể:
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận về hợp đồng PPP và các loại phổ biến hiện nay
của hợp đồng PPP trên thế giới để tìm hiểu cách thức vận hành và các nhân tố thành
công cũng như các rào cản của hình thức này trong lĩnh vực xây dựng giao thông
đường bộ. Từ đó sẽ tìm ra cách thức, mô hình phù hợp với thực tiễn ở Việt Nam.


- Đánh giá tình hình áp dụng hợp đồng PPP trong lĩnh vực xây dựng giao thông
đường bộ ở Việt Nam trong thời gian qua.
- Cách thức để hợp đồng PPP được thực hiện thành công và triển vọng thu hút
vốn đầu tư tư nhân trong phát triển giao thông đường bộ ở Việt Nam.
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu cụ thể trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận
văn cần làm rõ các vấn đề sau:
- Mô hình nghiên cứu nào phù hợp cho phép thực hiện thành công hình thức
PPP nói chung và hợp đồng PPP ở Việt Nam?
- Các nhà đầu tư tư nhân có muốn đầu tư vào các dự án PPP đường bộcủa Việt
Nam không?
- Hợp đồng PPP cần có hành lang pháp lý thế nào để thu hút vốn đầu tư tư nhân
để phát triển hạ tầng giao thông đường bộ ở Việt Nam.
6. Đóng góp mới của luận văn
Với các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể đã đặt ra như trên thì luận văn
của tác giả đóng góp một số kết quả nghiên cứu như sau:
- Một là, kết quả nghiên cứu định tính cho thấy sự tương tác chặt chẽ giữa khu
vực nhà nước và khu vực tư nhân trong quá trình hợp tác là cần thiết. Sự tương tác
này phải hướng đến dung hòa lợi ích của các bên cũng như tạo ra chất lượng của các
công trình giao thông vận tải nói chung và giao thông đường bộ nói riêng ở Việt
Nam.
- Hai là, từ kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới về hợp đồng PPP để rút
ra phương thức áp dụng cho Việt Nam khi áp dụng mô hình này cần phải đạt được


các yếu tố: (i) Lợi nhuận đầu tư; (ii) Khung pháp lý đầy đủ và minh bạch; (iii) Chia
sẻ rủi ro phù hợp giữa nhà nước và tư nhân; (iv) Kinh tế vĩ mô ổn định; (v) Đối tác
tin cậy để từ đó tạo tiền đề thu hút nguồn vốn đầu tư tư nhân thông qua PPP để phát
triển giao thông đường bộ ở Việt Nam như: xây dựng bộ tiêu chuẩn để lựa chọn các
dạng hợp đồng PPP cho từng điều kiện cụ thể (quy mô, tài chính, đặc điểm dự án, lợi
ích kinh tế, lợi ích xã hội...), cung cấp hành lang pháp lý, cơ chế phân bổ rủi ro và
một số giải pháp hỗ trợ các dự án PPP đường bộ thành công.
7. Kết cấu của luận văn
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hợp đồng đầu tư theo hình thức đối tác
công tư và pháp luật về hợp đồng đầu tư theo hình thức đối tác công tư
Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về hợp đồng đầu tư theo hình thức
đối tác công tư
Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật về hợp đồng đầu tư theo hình thứcđối
tác công tư trong lĩnh vực xây dựng công trình kết cấu hạ tầng giao thông vận tải ở
Việt Nam và một số kiến nghị.


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG ĐẦU TƯ THEO HÌNH THỨC
ĐỐI TÁC CÔNG TƯ VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG ĐẦU TƯ THEO
HÌNH THỨC ĐỐI TÁC CÔNG TƯ
1.1. Một số vấn đề lý luận về hợp đồng đầu tư theo hình thức đối táccông tư
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng đầu tư theo hình thức đối tác công

Mô hình hợp tác công tư theo tiếng Anh có nghĩa là Public – Private Partnership
(viết tắt là PPP) được bắt nguồn từ Hoa Kỳ, ban đầu sử dụng để nói đến sự hợp tác
trong các chương trình giáo dục được cả khu vực công và khu vực tư nhân cùng tài
trợ trong thập niên 1950, sau đó nó dùng để nói về các liên doanh giữa các chính
quyền thành phố và các nhà đầu tư tư nhân trong việc cải tạo các công trình đô thị ở
Hoa Kỳ ; còn mô hình này được áp dụng trong việc xây dựng các kênh đào ở Pháp
vào thế kỷ 18 và các cây cầu ở Anh vào thế kỷ 19. Tuy nhiên, mô hình này chỉ thực
sự bắt đầu phổ biến trên thế giới từ thập niên 1980 và nó đã đóng vai trò nhất định
trong việc phát triển cơ sở hạ tầng ở các nước phát triển
. Hiện nay trên thế giới chưa có một định nghĩa thống nhất về thuật ngữ “hợp tác
công tư” (PPP). Mỗi quốc gia, mỗi tổ chức quốc tế đều có một cách hiểu riêng phù
hợp với quá trình áp dụng của mình tuy nhiên, các định nghĩa sau được sử dụng phổ
biến và được nhiều nước áp dụng:
Theo ADB thì “Hợp tác công tư dùng để chỉ các quan hệ hợp tác có thể có của khu
vực nhà nước và khu vực tư nhân trên cơ sở một hợp đồng. “Hợp tác Công- Tư Giải pháp thu hút các nguồn lực từ khu vực tư nhân” tại địa chỉ:


Mục đích cao nhất của hợp tác công tư là nhắm tới sự sẵn có của nguồn lực,chất
lượng, tính hiệu quả trong cung cấp dịch vụ và việc sử dụng hiệu quả,hợp lý các
nguồn vốn”.
- Theo Word Bank thì: “PPP việc chuyển giao cho khu vực tư nhân cácdự án đầu tư
mà theo truyền thống thì đó là các dự án phải do Nhà nước đầutư vận hành”4,Khác
với ADB, ủy ban Châu Âu không đưa ra một định nghĩa cụ thể vềthuật ngữ hợp tác
công tư mà sử dụng các đặc trưng tổng quan về định nghĩacác dự án hợp tác công tư.
Theo đó, hợp tác công tư được hiểu là:
- Các mối quan hệ tương đối lâu dài giữa đối tác nhà nước và đối tác tưnhân trên tất
cả các khía cạnh của một dự án đã được lập kế hoạch từ trước.
- Cơ cấu vốn là sự liên kết các nguồn vốn của khu vực nhà nước vàkhu vực tư nhân.
- Tổ chức chịu trách nhiệm vận hành tức khu vực tư nhân đóng vai tròquan trọng
trong từng giai đoạn cụ thể của dự án.
- Có sự phân chia rủi ro giữa hai bên đối tác là khu vực nhà nước và khuvực tư nhân.
Ngoài ra, một số quốc gia, tổ chức cũng đưa ra định nghĩa như sau:
- Hội đồng hợp tác giữa nhà nước - tư nhân Canada, Hội đồng quốc giavề PPP của
Mỹ đưa ra định nghĩa: “PPP là một liên doanh hợp tác giữa khuvực công và tư, dựa
trên lợi thế của mỗi bên nhằm xác định nhu cầu của cộngđồng thông qua sự phân bố
hợp lý các nguồn lực, rủi ro và lợi ích”.
Ở Việt Nam tại Nghị định 15/2015/NĐ-CP của Chính phủ ngày 14tháng 02 năm
2015 về đầu tư theo hình thức đối tác công tư quy định:“Đầu tư theo hình thức đối


tác công tư là hình thức đầu tư thực hiện trên cơsở hợp đồng giữa cơ quan nhà nước
có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanhnghiệp dự án để thực hiện, quản lý, vận hành dự
án kết cấu hạ tầng, cung cấpdịch vụ công”
Theo các định nghĩa đưa ra như trên có thể thấy PPP được diễn giảitheo nhiều cách
khác nhau nhưng các quan điểm đều nêu lên bản chất củahình thức hợp tác này, theo
đó có hiểu khái quát: “PPP là một hình thức hợptác trên cơ sở hợp đồng giữa hai chủ
thể là Nhà nước (các bộ, ngành,cơ quan địa phương, doanh nghiệp nhà nước và nhà
đầu tư tư nhân trongnước hoặc ngoài nước để chia sẻ lợi ích, rủi ro trong việc thực
hiện một dựán đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội và cung cấp dịch vụ
côngtrong các lĩnh vực khác như y tế, giáo dục, giao thông, điện....”
Như vậy, hợp đồng đầu tư theo hình thức đối tác công tư là cơ sởpháp lý của mô
hình PPP. Khoản 8 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2014 định nghĩavề hợp đồng này như
sau: “Hợp đồng đầu tư theo hình thức đối tác công tư(sau đây gọi là hợp đồng PPP)
là hợp đồng được ký kết giữa cơ quan nhànước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh
nghiệp dự án để thực hiện dự ánđầu tư theo quy định tại Điều 27 của Luật Đầu tư
năm 2014”.Từ khái niệm về mô hình PPP và định nghĩa về hợp đồng PPP quy
địnhnhư trên thì có thể hiểu: “Hợp đồng đầu tư theo hình thức đối tác công tư là
sự thỏa thuận bằng văn bản giữa cơ quan nhà nước và nhà đầu tư tư nhân đểcùng
thực hiện một dự án xây dựng cơ sở hạ tầng đồng thời xác định cụ thểquyền, nghĩa
vụ cũng như sự phân chia rủi ro của các bên khi tham gia thựchiện dự án”. Từ cách
hiểu trên có thể rút ra được những đặc điểm sau đây củahợp đồng PPP:
* Về chủ thể của hợp đồng:
Hợp đồng PPP đều được giao kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyềnvà nhà đầu
tư.
- Theo quy định tại Điều 8 Nghị định 15/2015/NĐ-CP của Chính phủ


ngày 14 tháng 02 năm 2015 về đầu tư theo hình thức đối tác công tư thì cơ
quan nhà nước có thẩm quyền ký kết và thực hiện hợp đồng dự án là Bộ,
ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là cơ quan nhà nước có thẩm quyền ký kết
hợp đồng dự án thuộc chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình và thực hiện
các quyền, nghĩa vụ trên cơ sở thỏa thuận với nhà đầu tư tại hợp đồng dự án.
Căn cứ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và điều kiện quản lý cụ thể, Bộ,
ngành được ủy quyền cho tổ chức thuộc Bộ, ngành; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
được ủy quyền cho cơ quan chuyên môn của mình hoặc Ủy ban nhân dân cấp
huyện ký kết và thực hiện hợp đồng dự án nhóm B và nhóm C.
Như vậy, khác với quan hệ hợp đồng hợp tác kinh doanh, chủ thể là các
tổ chức, cá nhân bỏ vốn để tiến hành hoạt động đầu tư; hợp đồng dự án có sự
tham gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền với tư cách một bên trong quan
hệ hợp đồng. Các cơ quan nhà nước khi tham gia hợp đồng dự án nhằm mục
đích giảm bớt gánh nặng tài chính của việc đầu tư phát triển hạ tầng để tập
trung nguồn vốn ngân sách vào các nhiệm vụ phát triển đất nước. Cơ quan
nhà nước có thẩm quyền phải thực hiện các quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm
theo thoả thuận với nhà đầu tư trong hợp đồng dự án. Tùy thuộc tính chất, quy
mô của từng dự án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể thành lập bộ phận
chuyên trách hoặc chỉ định cơ quan chuyên môn của mình là đầu mối tổ chức
thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo thoả thuận trong hợp đồng dự án nhưng
trong mọi trường hợp phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về các nghĩa vụ đã cam
10
kết theo hợp đồng dự án.


- Nhà đầu tư là chủ thể của hợp đồng PPP bao gồm các tổ chức, cá nhân
thực hiện hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư và pháp luật
có liên quan (Khoản 8 Điều 3 Nghị định 15/2015/NĐ-CP của Chính phủ ngày
14 tháng 02 năm 2015 về đầu tư theo hình thức đối tác công tư). Như vậy,
theo quy định của pháp luật luật hiện hành, mọi nhà đầu tư, không phân biệt
là nhà đầu tư trong nước hay nhà đầu tư nước ngoài đều có thể tham gia đấu
thầu dự án và nếu trúng thầu, sẽ được tham gia đàm phán, ký kết hợp đồng dự
án với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
* Về đối tượng của hợp đồng PPP:
Không giống như hợp đồng hợp tác kinh doanh, các hợp đồng PPP nói
chung đều có đối tượng là các công trình kết cấu hạ tầng hoặc cung cấp dịch
vụ công. Theo quy định tại Điều 27 Luật Đầu tư năm 2014, Nhà đầu tư,
doanh nghiệp dự án ký kết hợp đồng PPP với cơ quan nhà nước có thẩm
quyền để thực hiện dự án đầu tư xây dựng mới hoặc cải tạo, nâng cấp,
mở rộng, quản lý và vận hành công trình kết cấu hạ tầng hoặc cung cấp
dịch vụ công.
Điều 4 Nghị định 15/2015/NĐ-CP đã quy định cụ thể đối tượng của hợp
đồng PPP bao gồm:
- Công trình kết cấu hạ tầng giao thông vận tải và các dịch vụ có
liên quan;
- Hệ thống chiếu sáng; hệ thống cung cấp nước sạch; hệ thống thoát
nước; hệ thống thu gom, xử lý nước thải, chất thải; nhà ở xã hội; nhà ở tái


định cư; nghĩa trang;
- Nhà máy điện, đường dây tải điện;
- Công trình kết cấu hạ tầng y tế, giáo dục, đào tạo, dạy nghề, văn hóa,
thể thao và các dịch vụ liên quan; trụ sở làm việc của cơ quan nhà nước;
11
- Công trình kết cấu hạ tầng thương mại, khoa học và công nghệ, khí
tượng thủy văn, khu kinh tế, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu công
nghệ thông tin tập trung; ứng dụng công nghệ thông tin;
- Công trình kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn và dịch vụ phát
triển liên kết sản xuất gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp;
- Các lĩnh vực khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
* Nội dung của hợp đồng PPP:
Nội dung của hợp đồng PPP đều bao gồm các thoả thuận về các nội dung
của hoạt động xây dựng, kinh doanh và chuyển giao các công trình kết cấu hạ
tầng hoặc liên quan đến nội dung cung cấp dịch vụ công. Chẳng hạn các hợp
đồng: BOT (xây dựng - vận hành - chuyển giao), BTO (xây dựng - chuyển
giao - vận hành), BT (xây dựng - chuyển giao), BOO (xây dựng - sở hữu vận hành), BTL (xây dựng - chuyển giao – thuê dịch vụ)... thì nội dung quan
trọng của các hợp đồng này là quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư và cơ quan
nhà nước có thẩm quyền liên quan đến việc xây dựng, kinh doanh và chuyển
giao các công trình kết cấu hạ tầng. Theo đó, nhà đầu tư có nghĩa vụ xây dựng
công trình và bàn giao công trình đó cho Nhà nước vào những thời điểm cụ
thể. Đối với hợp đồng BOT, nhà đầu tư được quyền kinh doanh ngay tại công


trình mà mình xây dựng, sau một khoảng thời gian nhất định mới phải chuyển
giao công trình đó cho nhà nước. Đối với hợp đồng BTO, nhà đầu tư sau khi
xây dựng phải chuyển giao ngay công trình cho nhà nước nhưng vẫn được
Nhà nước cho phép kinh doanh tại công trình đó trong một thời han nhất định.
Khác với hợp đồng BOT và BTO, nhà đầu tư sau khi xây dựng xong công
trình theo hợp đồng BT phải chuyển giao ngay công trình đó cho Nhà nước và
được Chính phủ tạo điều kiện cho nhà đầu tư thực hiện dự án khác để thu hồi
vốn đầu tư và lợi nhuận hoặc thanh toán cho nhà đầu tư theo thoả thuận trong
hợp đồng. Còn hợp đồng BOO sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư sở
hữu và được quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định.
Hợp đồng BTL sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư chuyển giao cho cơ
quan nhà nước có thẩm quyền và được quyền cung cấp dịch vụ trên cơ sở vận
12
hành, khai thác công trình đó trong một thời hạn nhất định; cơ quan nhà nước
có thẩm quyền thuê dịch vụ và thanh toán cho nhà đầu tư theo các điều kiện
nhất định.
* Mục đích của các bên khi ký kết hợp đồng PPP:
Như trên đã phân tích, đối tượng của Hợp đồng PPP là các công trình
kết cấu hạ tầng hoặc cung cấp dịch vụ công vốn dĩ do nhà nước phải đảm
nhận trực tiếp đầu tư và nhà nước tham gia hợp đồng dự án nhằm đưa ra
những bảo đảm cho nhà đầu tư, đồng thời theo dõi, quản lý các hoạt động
đầu tư và các cam kết của nhà đầu tư đối với việc phát triển cơ sở hạ tầng.


Mục đích của nhà nước khi tham gia Hợp đồng PPP là nhằm đạt được
những mục tiêu kinh tế - xã hội, một chức năng quản lý của nhà nước.
Trong khi đó Nhà đầu tư tham gia Hợp đồng PPP không nhằm mục
đích nào khác ngoài kinh doanh kiếm lời. Họ không quan tâm đến các yếu tố
công của Hợp đồng PPP, mà chỉ đơn thuần tiến hành hoạt động kinh doanh
như tất cả các công việc kinh doanh khác. Theo đó, giống như các hợp đồng
thông thường khác, Hợp đồng PPP là sự thể hiện ý chí, tự do, tự nguyện của
nhà đầu tư. Chính hạt nhân kinh doanh này đã quyết định và chi phối yếu tố
tư của Hợp đồng PPP, xác định tính chất bình đẳng về địa vị pháp lý của các
chủ thể Hợp đồng PPP.
Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng trong Hợp đồng PPP
được thực hiện trực tiếp bởi khu vực tư nhân, nên khi nói về hợp đồng này
người ta thường nghĩ về yếu tố “tư” nhiều hơn là yếu tố “công”. Tuy nhiên
thực tế cho thấy, vai trò điều tiết, chỉ đạo và hỗ trợ của nhà nước là không thể
thiếu, đôi khi quyết định sự thành công hay thất bại của việc thực hiện
Hợp đồng PPP.
Tính đặc thù về mặt chủ thể của Hợp đồng PPP đã chi phối tới
mục đích của các bên tham gia hợp đồng này, đòi hỏi phải giải quyết một
cách hợp lý các yếu tố “công” và “tư” trong hợp đồng PPP. Yếu tố “tư” ở đây
được hiểu là yếu tố thương mại trong hợp đồng, hay nói cách khác là mục
đích kinh doanh cũng như sự tham gia của khu vực tư nhân trong hoạt động
13
xây dựng kết cấu hạ tầng hoặc cung cấp dịch vụ công. Yếu tố “công” được


hiểu là vai trò, sự tham gia của nhà nước thể hiện trong các quy định của
Hợp đồng PPP.
1.1.2. Các loại hợp đồng đầu tư theo hình thức đối tác công tư
Hình thức đầu tư PPP được thực hiện thông qua các hợp đồng trong đó
có các điều khoản mà khu vực nhà nước chuyển giao một số quyền hoặc đặc
quyền sang cho khu vực tư nhân để thực hiện một dự án nào đó. PPP có hai
loại cơ bản là trao quyền vận hành và trao quyền đầu tư. Ở mô hình trao
quyền vận hành, nhà nước vẫn giữ quyền sở hữu với các công trình công cộng
còn tư nhân thì sẽ thực hiện vận hành và cung cấp các hàng hóa hoặc dịch vụ
đã được cam kết trong các điều khoản hợp đồng. Đối với mô hình trao quyền
đầu tư, khu vực tư nhân sẽ chịu trách nhiệm cung cấp vốn và vận hành các
công trình và có thể sở hữu tài sản trong một khoảng thời gian còn nhà nước
sẽ phải đáp ứng các ưu đãi cho các nhà đầu tư tư nhân như thỏa thuận.
Trên thế giới, có nhiều loại hợp đồng PPP nhưng một số loại hợp đồng dưới
đây là dạng phổ biến được nhiều quốc gia áp dụng:
1.1.2.1. Hợp đồng dịch vụ
Đây là dạng hợp đồng thỏa thuận giữa một cơ quan/đơn vị thuộc khu
vực công (sau đây gọi là cơ quan nhà nước) có thẩm quyền với một đơn
vị/công ty tư nhân, trong đó cơ quan nhà nước thuê đơn vị tư nhân thực hiện
một hoặc một số nhiệm vụ trong một thời gian nhất định. Khi đó, cơ quan nhà
nước có thẩm quyền là người cung cấp chính các dịch vụ cơ sở hạ tầng và chỉ
thuê các đối tác tư nhân điều hành một phần hoạt động. Đối tác tư nhân phải


thực hiện dịch vụ với một mức chi phí được thỏa thuận và thường được đáp
ứng các tiêu chuẩn hoạt động do cơ quan nhà nước đặt ra. Trong các hợp
đồng dịch vụ, Chính phủ phải trả đối tác tư nhân một khoản phí định trước
cho dịch vụ, có thể dựa trên cơ sở chi phí một lần, trên cơ sở chi phí đơn vị
dịch vụ hoặc dựa trên các cơ sở khác. Vì thế, lợi nhuận của nhà thầu sẽ tăng
lên nếu nhà thầu có thể giảm được chi phí điều hành mà vẫn đáp ứng được
các yêu cầu tiêu chuẩn dịch vụ. Hợp đồng dịch vụ thông thường thích hợp
14
nhất khi dịch vụ có thể xác định rõ ràng trong hợp đồng, mức độ nhu cầu
tương đối chắc chắn và việc thực hiện có thể theo dõi một cách dễ dàng.
Các hợp đồng dịch vụ là một lựa chọn có độ rủi ro tương đối thấp trong
việc mở rộng vai trò của khu vực tư nhân và có tác động nhanh đối với hoạt
động và tính hiệu quả của hệ thống, đây là một phương thức để chuyển giao
công nghệ và phát triển năng lực quản lý. Các hợp đồng dịch vụ thường có
thời gian ngắn, tạo điều kiện cho cạnh tranh liên tục trong nhiều lĩnh vực. Các
rào cản đối với việc tham gia cũng ở mức thấp căn cứ trên việc chỉ có một
hoạt động dịch vụ riêng biệt được đưa ra đấu thầu. Bên cạnh đó, việc đấu thầu
lặp đi lặp lại duy trì áp lực đối với các nhà đấu thầu phải duy trì chi phí thấp,
trong khi các rào cản ở mức thấp khuyến khích nhiều công ty tham gia cạnh
tranh với nhau. Tuy nhiên, loại hợp đồng nay thường ít rủi ro và thường được
áp dụng để đáp ứng nhu cầu hàng hóa nhà nước.
1.1.2.2. Hợp đồng quản lý
Đây là hình thức hợp đồng giữa cơ quan nhà nước (khu vực công) với


đối tác tư nhân, trong đó thỏa thuận cho khu vực tư nhân được quản lý một
tiện ích hay dịch vụ công. Đặc điểm của hình thức này:
- Nghĩa vụ cung cấp dịch vụ công thuộc trách nhiệm của khu vực nhà
nước, hoạt động quản lý kiểm soát và thẩm quyền xử lý hàng ngày được giao
cho đối tác tư nhân.
- Cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm quy định biểu phí dịch vụ đối với
khách hàng sử dụng.
- Đối tác tư nhân cung cấp vốn cho hoạt động quản lý, điều hành nhưng
không có nhiệm vụ cung cấp vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng.
- Đối tác tư nhân được trả một khoản phí theo thỏa thuận dựa trên chi phí
lao động và các chi phí điều hành dự kiến khác.
Ưu điểm chính của phương án này là có thể đạt được những kết quả
hoạt động từ việc quản lý của khu vực tư nhân mà không phải chuyển giao
các tài sản cho khu vực tư nhân. Xây dựng hợp đồng quản lý tương đối dễ
15
dàng hơn so với các phương án khác và hợp đồng quản lý có chi phí thấp do
các nhà điều hành cần ít nhân viên hơn cho các dịch vụ công.
1.1.2.3. Hợp đồng nhượng quyền khai thác/cho thuê
Hoạt động nhượng quyền cho phép nhà điều hành tư nhân (người được
nhượng quyền) chịu trách nhiệm cung cấp toàn bộ dịch vụ trong khu vực cụ
thể bao gồm việc điều hành, duy trì bảo dưỡng, thu phí, quản lý xây dựng và
tu bổ hệ thống. Khi đó, nhà điều hành tư nhân chịu trách nhiệm đối với toàn


bộ khoản đầu tư vốn, khu vực nhà nước chịu trách nhiệm thiết lập các tiêu
chuẩn hoạt động và đảm bảo người được nhượng quyền đáp ứng được các
tiêu chuẩn của hoạt động đó; nói cách khác là nhà nước chuyển từ việc là
người cung cấp dịch vụ sang là người điều tiết và quản lý chất lượng dịch vụ.
Đối với loại hợp đồng này thì người được nhượng quyền sẽ thực hiện
thu phí trực tiếp từ những người sử dụng hệ thống và chịu trách nhiệm đối với
bất kỳ khoản đầu tư cần thiết nào để xây dựng, nâng cấp hoặc mở rộng hệ
thống và chịu trách nhiệm thu xếp vốn cho các khoản đầu tư đó từ nguồn lực
tài chính của mình và từ các khoản phí do người sử dụng hệ thống chi trả.
- Nhượng quyền khai thác: Là hình thức PPP trong đó cơ quan nhà
nước nhượng lại quyền vận hành khai thác và cung cấp dịch vụ công cho đối
tác tư nhân dựa trên các tài sản/tiện ích/cơ sở hạ tầng sẵn có, thuộc quyền sở
hữu của khu vực nhà nước. Đối với hình thức này thì đối tác tư nhân được
phép thu phí từ người sử dụng dịch vụ và trả một khoản phí cho cơ quan nhà
nước theo tỷ lệ trên một đơn vị dịch vụ bán ra, đồng thời được phép giữ lại
một phần doanh thu từ việc cung cấp dịch vụ công.
- Nhượng quyền cho thuê: Với hình thức này, cơ quan nhà nước cho đối
tác tư nhân thuê tài sản/tiện ích/cơ sở hạ tầng sẵn có thuộc sở hữu của cơ quan
nhà nước để thực hiện khai thác, vận hành và cung cấp các dịch vụ công.
Theo đó, đối tác tư nhân phải thanh toán tiền thuê cho cơ quan nhà nước một
khoản cố định, không phụ thuộc vào khả năng thu phí từ người sử dụng và đối
tác tư nhân chịu hoàn toàn rủi ro kinh doanh.
16


Nhượng quyền là một hình thức hiệu quả để thu hút nguồn tài chính
cần thiết của khu vực tư nhân để tài trợ cho việc xây dựng mới hoặc tu bổ các
cơ sở dịch vụ hiện tại. Hợp đồng về nhượng quyền (khai thác, cho thuê) có
đặc điểm:
- Đối tác tư nhân được nhượng quyền chịu trách nhiệm cung cấp toàn bộ
dịch vụ trong một khu vực cụ thể, bao gồm việc điều hành, bảo dưỡng, thu
phí và quản lý hệ thống, đồng thời đảm bảo thực hiện các nghĩa vụ liên quan
đến chất lượng và tiêu chuẩn của dịch vụ. Bên cạnh đó, khu vực nhà nước
chịu trách nhiệm thiết lập các tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ và tiêu chuẩn
hoạt động, đồng thời đảm bảo lựa chọn đối tác tư nhân được nhượng quyền
đáp ứng được các tiêu chuẩn hoạt động đó.
- Các tài sản/ cơ sở hạ tầng vẫn thuộc quyền sở hữu của khu vực
nhà nước.
- Chính phủ chịu trách nhiệm đầu tư để hình thành tài sản và do đó chịu
rủi ro đầu tư. Các rủi ro hoạt động được chuyển giao cho nhà khai thác (đối
tác tư nhân).
Hình thức nhượng quyền này thường được sử dụng trong trường hợp
khi cơ quan quản lý nhà nước muốn kết hợp tài chính công với hiệu quả khai
thác của khu vực tư nhân và thời hạn của hợp đồng này thường là 8 – 10 năm
hoặc kéo dài lâu hơn. Trên thực tế có nhiều trường hợp nhượng quyền khai
thác nhưng không xác định thời hạn thì với các hợp đồng này, đối tác tư nhân
chịu trách nhiệm cho tất cả các quyết định kinh doanh, bao gồm cả vốn đầu


tư, thủ tục hoạt động và kiểm soát toàn bộ hoặc phần lớn các chính sách giá
cả. Trong một số trường hợp, Chính phủ, cơ quan nhà nước vẫn có thể thu hồi
nhượng quyền khai thác nếu các điều khoản của hợp đồng nhượng quyền bị vi
phạm.
1.1.2.4. Hợp đồng nhượng quyền đầu tư
Các hình thức BOT (xây dựng - vận hành - chuyển giao), BOO (xây
dựng - sở hữu - vận hành), BOOT (xây dựng - sở hữu - vận hành chuyển giao)... là những hình thức phổ biến của nhượng quyền đầu tư.
17
Theo đó, BOT và các thỏa thuận tương tự như trên là một hình thức nhượng
quyền được chuyên môn hóa trong đó có một công ty tư nhân cung cấp vốn
và xây dựng một dự án cơ sở hạ tầng mới hoặc một hợp phần chính của dự án
cơ sở hạ tầng căn cứ trên các tiêu chuẩn thực hiện do Chính phủ quy định.
Đối với các hình thức hợp đồng này thì đối tác tư nhân cung cấp vốn
đầu tư cần thiết để xây dựng cơ sở dịch vụ mới, nhà đầu tư được quyền sở
hữu tài sản trong một khoảng thời gian quy định trong hợp đồng mà các bên
đã tính toán hợp lý để cho đối tác tư nhân xây dựng cơ sở hạ tầng thu hồi chi
phí đầu tư thông qua việc thu phí của người sử dụng. Bên cạnh đó, khu vực
nhà nước đồng ý mua một tỷ lệ tối thiểu sản lượng mà cơ sở dịch vụ tạo ra, đủ
để nhà điều hành tư nhân thu hồi được chi phí trong quá trình hoạt động.
1.1.3. Vai trò của đầu tư theo hợp đồng PPP
Với việc tận dụng được những lợi thế của hai đối tác Nhà nước và tư
nhân, đầu tư theo hợp đồng PPP thể hiện vai trò rất to lớn trong việc mang lại lợi


ích cho cả Nhà nước, khu vực tư nhân và người dân sử dụng dịch vụ - sản phẩm.
* Vai trò của đầu tư theo hợp đồng PPP đối với Nhà nước
- Tạo điều kiện tốt để Nhà nước xây dựng cơ sở hạ tầng
Đi cùng với xây dựng kiến trúc thượng tầng là xây dựng cơ sở hạ tầng
phù hợp, đảm bảo cung ứng công cộng đầy đủ, cải thiện chất lượng cuộc sống
của người dân, đây là cam kết và là nhiệm vụ của bất kỳ nhà nước nào. Tuy
nhiên, việc duy trì phương thức đầu tư truyền thống là Nhà nước sử dụng
ngân sách, tự thiết kế, xây dựng và quản lý các công trình công cộng sẽ gây ra
sự lãng phí lớn và chắc chắn không hiệu quả, do những lối mòn trong tư duy
xây dựng và quản lý, chưa kể những hậu quả nghiêm trọng khác như tham
nhũng, nợ công tăng cao... Nếu áp dụng các hình thức đối tác công tư mà phổ
biến nhất là đầu tư theo hợp đồng BOT, BTO, BT, BOO, BLT, BTL... trong
xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng công cộng, Nhà nước sẽ không chỉ
giảm áp lực về Ngân sách đầu tư ban đầu, mà còn tận dụng được những lợi
thế từ khu vực tư nhân, từ quá trình nghiên cứu thiết kế cho đến quá trình khai
thác quản lý công trình. Hơn nữa, Nhà nước không trực tiếp tham gia xây dựng
18
mà chỉ tham gia giám sát và quản lý sẽ giúp Nhà nước tiết kiệm thời gian, do
đó cùng lúc có thể xây dựng nhiều công trình công cộng khác nhau, đồng thời
đảm bảo tính đồng bộ trong quy hoạch, kiến trúc.
- Phân bổ và quản lý rủi ro tốt hơn cho các bên tham gia ký kết
hợp đồng


Chìa khóa thành công cho các hình thức đầu tư theo mô hình PPP là
việc chia sẻ rủi ro, nhằm thiết lập cán cân lợi ích cân bằng giữa các bên. Khi
tham gia các dự án PPP, Nhà nước sẽ chia sẻ được những rủi ro liên quan đến
huy động, quản lý và sử dụng vốn cho nhà đầu tư tư nhân. Đây chính là một
trong những thế mạnh của khu vực tư nhân. Đổi lại, bản thân Nhà nước cũng
chia sẻ với Nhà đầu tư tư nhân các rủi ro liên quan đến thể chế, cộng đồng
hay bảo lãnh vay vốn.
- Tiết kiệm chi phí đầu tư
Hầu hết các dự án PPP, điển hình là đầu tư theo hình thức BOT, BTO
cần dịch vụ vận hành và bảo trì trong suốt vòng đời của dự án và việc này nên
được giao cho khu vực tư nhân đảm nhiệm. Do vậy, khu vực tư nhân sẽ có
động lực và các giải pháp (về công nghệ, quản lý, sử dụng nguồn lực...) nhằm
giảm thiểu chi phí (vận hành và bảo trì) trong suốt vòng đời của công trình.
Trong khi đó, Nhà nước khó có thể đảm bảo được điều này do những hạn chế
về ngân sách. Hơn nữa, việc giao cho đối tác tư nhân các công việc trên cũng
phản ánh bản chất tổng thể của một dự án PPP.
- Góp phần cải thiện chất lượng dịch vụ cung ứng
Các dự án đầu tư theo hợp đồng PPP phần lớn dựa vào nguồn vốn cũng
như kinh nghiệm quản lý của nhà đầu tư tư nhân, mà bản thân các nhà đầu tư
này vốn không hoạt động dựa vào ngân sách, nên họ biết cách quản lý và tận
dụng hiệu quả nguồn vốn, tránh xảy ra tham nhũng, lãng phí. Hơn hết, khi
tham gia vào các dự án đầu tư theo hợp đồng PPP, nhà đầu tư tư nhân chịu sự
ràng buộc về các cam kết hiệu suất, nên đây chính là động lực để họ thực hiện


x

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×