Tải bản đầy đủ

Bài giảng phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục mầm non

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
KHOA SP TIỂU HỌC – MẦM NON

BÀI GIẢNG
(Lưu hành nội bộ)

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
GIÁO DỤC MẦM NON
(Dành cho sinh viên ngành Giáo dục Mầm non)

Tác giả: Nguyễn Thị Thuỳ Vân

1


MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU............................................................................................................................................4
Chương 1 ....................................................................................................................................................5
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC......................................................................5


1. KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ..........................................................................5
1.1. Khoa học..............................................................................................................5
1.2. Công nghệ............................................................................................................6
2. KHÁI NIỆM VỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC..................................................6
2.1. Khái niệm nghiên cứu khoa học.........................................................................6
2.2. Đặc trưng của nghiên cứu khoa học...................................................................7
2.3. Phân loại khoa học ..............................................................................................7
3. CHỨC NĂNG CỦA NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GIÁO DỤC.......................8
3.1. Mô tả ....................................................................................................................8
3.2. Giải thích .............................................................................................................9
3.3. Tiên đoán .............................................................................................................9
3.4. Sáng tạo ...............................................................................................................9
5. KỸ NĂNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GIÁO DỤC ....................................10
6. CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GIÁO DỤC
MẦM NON.......................................................................................................................11
Chương 2 ..................................................................................................................................................14
CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GIÁO DỤC MẦM NON ...............................14

1. KHÁI NIỆM VỀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC..................14
1.1. Phương pháp nghiên cứu khoa học ..................................................................14
1.2. Đặc điểm của phương pháp nghiên cứu khoa học ..........................................14
1.3. Phân loại các phương pháp nghiên cứu khoa học ...........................................15
2. HỆ THỐNG CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GIÁO
DỤC MẦM NON .............................................................................................................15
2.1. Nhóm c¸c ph-¬ng ph¸p nghiªn cøu lý thuyết ...................................................15
2.2. Nhóm c¸c ph-¬ng ph¸p nghiªn cøu thùc tiÔn ..................................................18
Chương 3 ..................................................................................................................................................33

1. ĐIỂM XUẤT PHÁT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GIÁO DỤC
...........................................................................................................................................33
2. CÁCH TIẾN HÀNH MỘT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU........................................34
2.1. Cách tiến hành một đề tài nghiên cứu lý luận .................................................34
2.2. Cách tiến hành một đề tài nghiên cứu thực nghiệm........................................34
3. CẤU TRÚC LÔGIC QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN MỘT CÔNG TRÌNH
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GIÁO DỤC MẦM NON ...............................................35
3.1. Giai đoạn chuẩn bị ............................................................................................35
3.2. Giai đoạn thực hiện ...........................................................................................40
2



3.3. Giai đoạn hoàn thành ........................................................................................42
Chương 4...................................................................................................................45
ĐÁNH GIÁ MỘT CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GIÁO DỤC ..45
1. ĐÁNH GIÁ CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ..............................45
1.1. Thế nào là đánh giá công trình nghiên cứu khoa học ? ..................................45
1.2. Nội dung đánh giá...........................................................................................46
2. PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ MỘT CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
KHOA HỌC GIÁO DỤC...............................................................................................47
2.1. Phương pháp đánh giá bằng hội đồng nghiệm thu (PP hội đồng) .................47
2.2. Phương pháp thử nghiệm kết quả nghiên cứu trong thực tiễn .......................47

3


LỜI NÓI ĐẦU
Để đáp ứng yêu cầu giảng dạy và học tập học phần: Phương pháp nghiên khoa học
giáo dục mầm non, tài liệu biên soạn nhằm giúp sinh viên hiểu được những kiến thức cơ bản
về phương pháp luận, một số phương pháp nghiên cứu khoa học, logic tiến hành một đề tài
nghiên cứu khoa học; Rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức về Tâm lý học, giáo dục học,
phương pháp nghiên cứu, thâm nhập thực tế để thực hiện các đề tài nghiên cứu về trẻ em
lứa tuổi mầm non phục vụ cho việc nâng cao chất lượng chăm sóc- giáo dục trẻ lứa tuổi
này.
Trong quá trình biên soạn tài liệu không thể tránh khỏi những thiếu sót, kính mong
đồng nghiệp và sinh viên góp ý để tài liệu hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!

4


Chương 1

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
1. KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

1.1. Khoa học
Khoa học là một khái niệm có nội hàm khá rộng, tuỳ theo mục đích nghiên cứu và
cách tiếp cận, ta có thể xem xét dưới những góc độ sau đây:
1.1.1. Khoa học là một hình thái ý thức xã hội
Toàn bộ cuộc sống xã hội loài người gồm hai lĩnh vực: vật chất (tồn tại xã hội) và
tinh thần (ý thức), ý thức xã hội là sự phản ánh tồn tại xã hội. Sự phản ánh này được thực
hiện bằng các hình thái ý thức khác nhau như tôn giáo, đạo đức, khoa học ...
Khoa học phản ánh hiện thực dưới các hình thức khái niệm, phạm trù, nguyên lý,
được khái quát tạo thành các lý thuyết, học thuyết. Khoa học giải thích thế giới và hướng
cải tạo thế giới. Khoa học làm cho con ngơời mạnh mẽ hơn trước thiên nhiên.
Khoa học phản ánh thực tiễn, đây là sự phản ánh tích cực, có chọn lọc. Thực tiễn là
nguồn gốc, là tiêu chuẩn của nhận thức khoa học, đồng thời kích thích sự phát triển của
khoa học. Khoa học có sự tác động trở lại đối với thực tiễn. Ngày nay, khoa học trở thành
lực lượng sản xuất trực tiếp, là động lực của sự phát triển xã hội.
1.1.2. Khoa học là một hệ thống tri thức về thế giới khách quan, là sản phẩm quá
trình nhận thức của loài người
Quá trình nhận thức của con người được thực hiện với nhiều trình độ, bằng các
phương thức khác nhau và tạo ra hai hệ thống tri thức về thế giới: tri thức thông thường
và tri thức khoa học.
Tri thức khoa học là kết quả của quá trình nhận thức có mục đích, có kế hoạch, có
phương pháp và phương tiện đặc biệt, do đội ngũ các nhà khoa học thực hiện.
Ngày nay, người ta quan niệm khoa học là toàn bộ hệ thống tri thức mà loài người
đã tích lũy được về tự nhiên, về xã hội và tư duy, về những quy luật phát triển khách
quan của tự nhiên, xã hội và tư duy, về những biện pháp tác động có kế hoạch đến thế
giới xung quanh, đến nhận thức, làm biến đổi thế giới đó nhằm phục vụ cho lợi ích của
con người. Hệ thống tri thức này được hình thành trong lịch sử và không ngừng phát
triển trên cơ sở thực tiễn xã hội.
Khoa học có các đặc trưng sau:
- Đối tượng của khoa học là những hình thức khác nhau của vật chất đang vận động
và cả những hình thức phản ánh các hình thức vận động ấy vào ý thức của con người.
- Chức năng của khoa học là khám phá thế giới, giải thích nguồn gốc và sự phát
triển của thế giới, tìm ra những quy luật vận động của thế giới, hệ thống hóa những hiểu
biết ấy thành những lý thuyết, học thuyết để ứng dụng chúng vào thực tiễn đời sống.
5


- Thành phần của khoa học gồm:
+ Những tài liệu về thế giới do quan sát và thực nghiệm mà có.
+ Những nguyên lý dựa trên các sự kiện đã được thực nghiệm chứng minh.
+ Những lý thuyết, học thuyết do khái quát bằng tư duy lý luận mà có.
+ Những phương pháp nhận thức khoa học.
+ Những quy trình vận dụng kiến thức khoa học vào sản xuất và đời sống xã hội, tạo
ra công nghệ sản xuất v.v..
- Động lực của sự phát triển khoa học là nhu cầu của đời sống thực tiễn. Thực tiễn
không những là nguồn gốc của nhận thức mà còn là tiêu chuẩn xác minh tính chân thật
của nhận thức, là nơi ứng dụng kiến thức khoa học và là nơi cung cấp cho khoa học
những phương tiện nghiên cứu.
1.2. Công nghệ
Công nghệ là thuật ngữ gọi tắt của công nghệ sản xuất, bao gồm hai phần: phần kỹ
thuật và phần thông tin. Theo nguyên lý chung, công nghệ sản xuất là tất cả những gì có
liên quan đến việc biến đổi đầu vào thành đầu ra của quá trình sản xuất (hệ thống thiết bị,
máy móc; các bí quyết, các quy trình, các tài liệu hướng dẫn; trình độ tay nghề của người
sản xuất; trình độ tổ chức, quản lý, điều hành sản xuất của lãnh đạo ...).
Công nghệ về bản chất là thành quả của quá trình áp dụng khoa học vào sản xuất, là
sản phẩm của trí tuệ sáng tạo của loài người. Ngày nay, vai trò của công nghệ, đặc biệt là
công nghệ cao trở nên cực kỳ quan trọng, nó tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa, dịch vụ có
chất lượng phục vụ cho đời sống của con ng ười.
Khái niệm công nghệ luôn gắn chặt với công nghiệp. Công nghệ là nền tảng của
công nghiệp, công nghiệp là phương thức chuyển tải công nghệ vào cuộc sống. Công
nghệ và công nghiệp là hai mặt của một thực thể. Hiện đại hoá luôn gắn chặt với công
nghiệp hoá, công nghiệp hoá là nòng cốt của hiện đại hoá.
2. KHÁI NIỆM VỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

2.1. Khái niệm nghiên cứu khoa học
Nghiên cứu khoa học là hoạt động đặc biệt của con người. Đây là hoạt động có mục
đích, có kế hoạch, được tổ chức chặt chẽ bởi một đội ngũ các nhà nghiên cứu với năng
lực và phẩm chất đặc biệt (có khả năng sáng tạo, có tinh thần khoa học, trung thực, vô
tư, tinh thần tập thể ...).
Theo lý thuyết công nghệ, nghiên cứu khoa học là quá trình tìm tòi, phát hiện thông
tin mới, gia công chế biến, lưu trữ và sử dụng thông tin vào mục đích phục vụ và sản xuất.
Bản chất của nghiên cứu khoa học là hoạt động sáng tạo của con người nhằm nhận
thức thế giới, tạo ra hệ thống tri thức có giá trị để sử dụng vào cải tạo thế giới. Như vậy,
với ý nghĩa chung, nghiên cứu khoa học là hoạt động nhận thức thế giới khách quan, là
quá trình phát hiện chân lý và vận dụng chúng vào cuộc sống.

6


* Nghiên cứu khoa học giáo dục cũng là quá trình nhận thức thực tiễn khách quan.
Nó khác với học tập ở chỗ là nhằm phát hiện, sáng tạo những hiểu biết mới mà trước đó
chưa ai biết. Đó là những hiểu biết có tính quy luật, có ý nghĩa như một chân lý được vận
dụng sáng tạo vào lĩnh vực giáo dục đào tạo.
- Điều kiện để thực hiện tốt nghiên cứu khoa học giáo dục:
+ Có thực tế giáo dục;
+ Có hiểu biết lý luận cơ bản về Tâm lý học, Giáo dục học, Lý luận quản lý giáo
dục và quản lý nhà trường, Lý luận về phương pháp giảng dạy bộ môn...;
+ Nắm chắc các phương pháp nghiên cứu khoa học nói chung và phương pháp
nghiên cứu cụ thể thuộc lĩnh vực chuyên môn nói riêng.
2.2. Đặc trưng của nghiên cứu khoa học
- Mục đích của nghiên cứu khoa học là phát hiện, khám phá thế giới, tạo ra chân lý
mới để vận dụng những hiểu biết ấy vào cải tạo thế giới. Nghiên cứu khoa học luôn
hướng tới cái mới.
- Đối tượng nghiên cứu khoa học là thế giới khách quan đa dạng, phức tạp đang vận
động và phát triển. Mỗi bộ phận khoa học chọn cho mình một đối tượng riêng.
- Chủ thể nghiên cứu khoa học là nhà nghiên cứu có trình độ, am hiểu sâu sắc lĩnh
vực nghiên cứu và có những phẩm chất đặc biệt.
- Phương pháp nghiên cứu khoa học là phương pháp nhận thức thế giới, được tiến
hành theo những quy định đặc biệt, với những tiêu chuẩn kỹ thuật khắt khe.
- Phương tiện nghiên cứu khoa học là những thiết bị kỹ thuật hiện đại, tinh xảo.
- Nghiên cứu khoa học là hoạt động phức tạp, chứa đựng nhiều mâu thuẫn, nhiều
trường phái, nhiều xu hướng đấu tranh lẫn nhau, kết cục chân lý khoa học là cái phù hợp
với hiện thực, đem lại lợi ích cho cuộc sống của con ng ười.
- Nghiên cứu khoa học chứa đựng những yếu tố mạo hiểm, nghiên cứu có thể thành
công và có thể nếm trải thất bại.
- Giá trị của sản phẩm khoa học đơợc quyết định bởi tính thông tin, tính ứng dụng
và nhu cầu sử dụng của xã hội, cũng như tính kinh tế của nó.
2.3. Phân loại khoa học
Có nhiều quan điểm phân loại khoa học khác nhau. Dù phân loại theo quan điểm
nào cũng cần chú ý đến quan điểm tổng quát sau: Khoa học trước hết là quá trình chiếm
lĩnh chân lý. Trong thực tế, có các loại hình nghiên cứu khoa học sau đây:
2.3.1. Nghiên cứu cơ bản: Là loại hình nghiên cứu mà mục tiêu là khám phá những
đối tượng mới, tìm tòi các lý thuyết mới, những quy luật mới, tạo ra những tri thức mới
làm giàu thêm cho kho tàng kiến thức của nhân loại.
Nghiên cứu cơ bản tạo ra những tri thức cơ bản là nền tảng cho quá trình nghiên cứu
tiếp theo.

7


2.3.2. Nghiên cứu ứng dụng: Là loại hình nghiên cứu tìm ra những quy luật vận
dụng các kết quả nghiên cứu cơ bản vào thực tiễn nhằm tạo ra các quá trình công nghệ
mới, các nguyên lý quản lý xã hội, những con đường dạy học mới.
2.3.3. Nghiên cứu triển khai: Là loại hình nghiên cứu áp dụng các thành tựu của
nghiên cứu ứng dụng vào thực tiễn đại trà. Mục tiêu là tạo ra các quy trình chế biến vật
chất hoặc thông tin để tạo ra các sản phẩm mới.
2.3.4. Nghiên cứu thăm dò: Là loại hình nghiên cứu tìm phương hướng tiếp theo cho
hoạt động khoa học tìm thị trường, tìm khả năng ứng dụng và điều kiện thuận lợi nhất
cho khoa học phát triển, đó là maketing của khoa học.
2.3.5. Nghiên cứu dự báo: Là loại hình nghiên cứu phát hiện phương hướng phát
triển, khả năng đạt được những thành tựu mới trong tương lai; trên cơ sở phân tích những
thông tin khách quan, quy luật phát triển các khoa học và công nghệ, xây dựng các
chương trình, tổ chức nghiên cứu và phát triển các nguồn lực khoa học quốc gia.
* Trong nghiên cứu khoa học giáo dục thường gặp các dạng đề tài cơ bản sau:
- Đề tài có tính chất điều tra cơ bản hoặc phát hiện tình hình.
- Đề tài giải thích nguyên nhân thành công, thất bại của các hiện tượng giáo dục
cũng như nguyên nhân tâm lý trong hoạt động sư phạm, hoặc xác định những quy luật
của hiện tượng giáo dục và tâm lý đó.
- Đề tài cải tiến nội dung, phương pháp tổ chức, xây dựng sự kiện mới về giáo dục.
- Phát minh mới về nội dung giáo dục hoặc sáng tạo phương tiện giáo dục mới.
Các đề tài trên thường thâm nhập vào nhau, vì vậy việc phân loại trên chỉ có ý nghĩa
tương đối.
3. CHỨC NĂNG CỦA NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GIÁO DỤC

Nghiên cứu giáo dục nhằm thực hiện các chức năng cơ bản sau:
- Giải quyết các nhu cầu thực tiễn do công tác giáo dục đặt ra (tổng kết kinh nghiệm,
ứng dụng lý luận khoa học, tìm ra nhân tố mới, các giải pháp mới có tính sáng tạo...).
- Vận dụng các quy luật chung vào hoạt động thực tế, sáng tạo nên các giải pháp
mới có hiệu quả hơn, góp phần phát triển khoa học giáo dục.
- Trong thực tế có nhiều mức độ (cấp độ) nghiên cứu khác nhau nhằm nhận thức
đúng bản chất các hiện tượng và quá trình giáo dục để cải tiến, thay đổi cách làm nhằm
đạt hiệu quả cao hơn.
3.1. Mô tả
Mô tả một sự vật hay hiện tượng là sự trình bày bằng ngôn ngữ, hình ảnh chung
nhất về cấu trúc, các đặc điểm định tính hoặc định lượng, về trạng thái của sự vận động.
Mục đích của mô tả là đưa ra một hệ thống tri thức về sự vật hiện tượng, nhận diện, phân
biệt sự gống và khác nhau. Mô tả có thể chỉ rõ đặc trưng về chất hoặc lượng của sự vật
tùy vào mô tả định tính hay định lượng.

8


Khi ta có một sáng kiến mới, một kinh nghiệm hay trong giáo dục, để nhận thức sâu
sắc và có thể phổ biến cho mọi người cùng hưởng ứng, làm theo, ta phải mô tả cụ thể,
sinh động sự việc, hiện tượng một cách chuẩn xác, có trình tự, có hệ thống bằng cách
dùng ngôn ngữ để diễn đạt. Đó là cách mô tả trong nghiên cứu.
3.2. Giải thích
Giải thích một sự việc, sự vật là làm rõ nguyên nhân dẫn đến sự hình thành và tính
quy luật chi phối quá trình vận động, phát triển của nó. Muốn giải thích phải nhằm mục
đích cụ thể, xác định; phải có nội dung rõ ràng (nguồn gốc nảy sinh, các mối liên hệ qua lại
và hệ quả có thể rút ra; thể hiện tính quy luật chi phối quá trình vận động và phát triển).
Chức năng giải thích của nghiên cứu có mức độ cao hơn sự mô tả thuần tuý, bắt đầu
có yếu tố phát hiện tính quy luật chi phối sự vận động, phát triển của sự vật, giúp ta tiếp
cận được bản chất của sự vật, hiện tượng giáo dục.
3.3. Tiên đoán
Tiên đoán là sự nhìn thấy trước những sự vật hiện tượng tự nhiên, xã hội chưa quan
sát được, dựa trên kinh nghiệm và việc khái quát hóa những dữ kiện lí luận và thực
nghiệm trong sự tính đến những quy luật phát triển khách quan. Nhờ vào tiên đoán, việc
nhận thức thế giới khách quan được mở rộng ra nhiều hướng khác nhau và tiếp cậ nhanh
đến sự phát triển của sự vật hiện tượng.
Khi thực hiện quá trình giáo dục, ta phải dự đoán được quá trình hình thành và phát
triển của đối tượng trong hiện tại và tương lai ở cả hai xu hướng (tích cực hay tiêu cực).
Dựa vào mô tả và giải thích ta có thể ngoại suy, thấy trước được các xu thế vận động,
phát triển của sự vật và hiện tượng.
Dự báo, tiên đoán vẫn có khoảng cách so với thực tế, do đó không thể quá lạm dụng
tiên đoán hoặc dựa vào các ý kiến, các luận cứ để suy diễn thay cho hoạt động thực tế,
phải kiểm chứng thận trọng các quan điểm lý luận trong thực tiễn.
3.4. Sáng tạo
Sáng tạo là tạo ra cái mới chưa có trong thực tiễn. Chức năng sáng tạo phản ánh
mục tiêu cải tạo thế giới của nghiên cứu khoa học. Khoa học không bao giờ dừng lại ở
chức năng mô tả, giải thích, tiên đoán. Sứ mệnh có ý nghĩa lớn lao của khoa học là sáng
tạo các giải pháp cải tạo thế giới.
Trong hoạt động giáo dục từ lý luận, kinh nghiệm của ngơời khác, muốn áp dụng có
hiệu quả phải luôn luôn tìm tòi, sáng tạo, ít ra là sáng tạo cách làm riêng.
Các chức năng trên có quan hệ chặt chẽ với nhau và làm thành các nấc thang của
nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, một công trình khoa học cụ thể có mục tiêu riêng nên
việc thực hiện các chức năng trên cũng có những đặc trưng riêng.

Tất cả các cách nghiên cứu trên cho phép chúng ta tích lũy dần kinh nghiệm
sống, kinh nghiệm giáo dục của bản thân, phân tích, khái quát hoá, đúc kết thành lý
luận. Lý luận này sẽ giúp nhà nghiên cứu mô tả chính xác các hiện tượng, quá trình
giáo dục; giải thích đúng nguyên nhân phát triển của sự vật và hiện tượng, tiên đoán
9


xu th phỏt trin, nh ú m sỏng to nờn cỏc gii phỏp mi, phng phỏp mi phự
hp vi yờu cu cụng tỏc hng ngy.Hoạt động nghiên cứu khoa học có các đặc điểm
sau:
- Tính mới: Về bản chất, nghiên cứu khoa học quá trình thâm nhập, khám phá thế
giới sự vật, hiện tượng chưa biết, hoặc biết chưa rõ. Quá trình nghiên cứu khoa học luôn
là quá trình hướng tới những phát hiện, khám phá, hoặc sáng tạo mới. Do nghiên cứu
khoa học cũng là quá trình nhận thức bản chất của thế giới khách quan, luôn vận động và
phát triển nên dù cho đã đạt được một phát hiện mới, các nghiên cứu vẫn tiếp tục tìm
kiếm những phát hiện mới hơn, đầy đủ hơn.
- Tính tin cậy: Kết quả đạt được của đề tài phải có khả năng được nhiều người khác
kiểm chứng lại nhiều lần trong những điều kiện giống nhau và kết quả thu được không
khác nhau. Bởi vậy, một nguyên tắc mang tính phương pháp luận của nghiên cứu khoa
học là khi báo cáo kết quả nghiên cứu, các điều kiện, các nhân tố và phương tiện thực
hiện cần phải được chỉ ra.
- Tính thông tin: Sản phẩm của nghiên cứu khoa học rất đa dạng: bài báo, sách, báo
cáo khoa học, mô hình... Chúng luôn mang đặc trưng thông tin, có thể là thông tin về quy
luật vận động của sự vật hoặc hiện tượng, về quá trình công nghệ thông tin, về giải pháp,
kĩ thuật thực hiện...
- Tính khách quan: Trong nghiên cứu khoa học, các nhận định cần dựa trên cơ sở tư
liệu, số liệu cụ thể, tin cậy; các kết luận cần phải được xác nhận bằng kiểm chứng mới
đảm bảo tính khách quan. Cần tránh các nhận định nặng về cảm tính, thiếu cơ sở khoa
học tin cậy.
- Tính cá nhân: Dù một công trình nghiên cứu khoa học do một tập thể hay một cá
nhân thực hiện thì vai trò cá nhân thể hiện trong quá trình nghiên cứu rất rõ. Nó phụ
thuộc vào năng lực, trình độ, kinh nghiệm và các mối quan hệ trong hoạt động khoa học
của người nghiên cứu.
- Tính kế thừa: Ngày nay, khối lượng tri thức khoa học ngày càng tăng nhanh chóng
trong mọi lĩnh vực nên hầu như không có một công trình khoa học nào lại bắt đầu từ chỗ
hoàn toàn trống không về kiến thức. Mỗi công trình nghiên cứu đều phải kế thừa các kết
quả nghiên cứu trong những lĩnh vực khoa học khác nhau.
- Tính rủi ro: Trong nghiên cứu khoa học cũng như trong mọi hoạt động xã hội
khác, phải chấp nhận có lúc thất bại. Sự thất bại đó có thể do nhiều nguyên nhân với các
mức độ khác nhau. Các nguyên nhân đó có thể là do thiếu những thông tin tin cậy, do
thiếu thiết bị cần thiết, do khả năng có hạn của người nghiên cứu... Thấy trước thất bại có
thể có để đề phòng và thận trọng trong quá trình nghiên cứu là việc làm cần thiết của
người làm công tác nghiên cứu khoa học.
5. K NNG NGHIấN CU KHOA HC GIO DC

Kỹ năng nghiên cứu khoa học giáo dục là khả năng vận dụng có kết quả những tri
thức lý thuyết về nghiên cứu khoa học giáo dục để thực hiện các đề tài khoa học giáo dục
nhằm giải quyết những vấn đề mâu thuẫn trong lý luận cũng như thực tiễn giáo dục. Nói
cách khác, kỹ năng nghiên cứu khoa học giáo dục chính là khả năng thực hiện thành công
10


các đề tài nghiên cứu khoa học giáo dục trên cơ sở nắm vững lý thuyết khoa học giáo dục
(Các quan điểm phương pháp luận, sử dụng thành thạo phương pháp, kỹ thuật nghiên cứu,
logic tiến hành...).
Hệ thống kỹ năng nghiên cứu khoa học giáo dục bao gồm rất nhiều kỹ năng khác
nhau. Có thể phân thành 3 nhóm sau:
- Nhóm 1: Nhóm kỹ năng nắm vững lý luận khoa học và phương pháp luận nghiên
cứu. ở nhóm này các kỹ năng nghiên cứu thể hiện bắt đầu từ phát hiện đề tài, xây dựng
chiến lược và chiến thuật nghiên cứu. Xác định các cách tiếp cận đối tượng, các quan
điểm giải quyết vấn đề, lập đề cương, xây dựng giả thuyết, tìm logic mới, tạo hệ thống
mới.
- Nhóm 2: Nhóm kỹ năng sử dụng thành thạo các phương pháp nghiên cứu cụ thể.
Các nhà khoa học phải nắm vững các phương pháp nghiên cứu trong phạm vi chuyên môn
và biết sử dụng chúng một cách hợp lý vào đề tài của mình theo mục đích, nhiệm vụ và
đặc điểm của đề tài khoa học mà xây dựng các bước đi theo một quy trình chính xác và
tìm ra các phương pháp phù hợp để thực hiện đề tài.
- Nhóm 3: Nhóm kỹ năng sử dụng phương tiện kỹ thuật, thiết bị nghiên cứu để thu
thập, xử lý, lưu trữ và trình bày thông tin khoa học.
6. C S PHNG PHP LUN NGHIấN CU KHOA HC GIO DC MM NON

C s phng phỏp lun nghiờn cu khoa hc giỏo dc l nhng lun im chung,
cú tớnh cht phng hng ch o quỏ trỡnh nghiờn cu khoa hc giỏo dc. Nhng lun
im ny cũn c gi l phng phỏp tip cn hay quan im tip cn i tng.
Quan im phng phỏp lun cú ý ngha to ln i vi quỏ trỡnh nghiờn cu: thnh
cụng hay tht bi, cht lng cao hay thp ca cụng trỡnh khoa hc phn ln ph thuc
vo cỏch tip cn i tng.
i vi khoa hc giỏo dc mm non cn quỏn trit nhng quan im sau õy trong
quỏ trỡnh nghiờn cu:
6.1. Quan điểm hệ thống - cấu trúc trong nghiên cứu khoa hc giỏo dc mm
non
Hệ thống là tập hợp các thành tố tạo thành một chỉnh thể trọn vẹn, ổn định và vận
động theo quy luật tổng hợp.
Cu trỳc l ton b nhng quan h bờn trong gia cỏc thnh phn to nờn mt chnh
th
Một hệ thống bao giờ cũng có cấu trúc gồm nhiều thành tố, mỗi thành tố của hệ
thống là một bộ phận có vị trí độc lập, có chức năng riêng và luôn vận động theo quy luật
của toàn hệ thống. Các thành tố có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại với nhau tạo
thành một thể thống nhất.
Quan điểm hệ thống - cấu trúc là quan điểm quan trọng nhất của lôgic biện chứng,
yêu cầu xem xét đối tượng một cách toàn diện nhiều mặt, nhiều mối quan hệ khác nhau,
11


trong trạng thái vận động và phát triển, với việc phân tích những điều kiện nhất định để
tìm ra bản chất và quy luật vận động của đối tượng.
Quan điểm hệ thống là một luận điểm quan trọng chỉ dẫn quá trình nghiên cứu đối
tượng phức tạp, là cách tiếp cận đối tượng bằng phương pháp hệ thống để tìm ra cấu trúc
của đối tượng, phát hiện ra tính hệ thống, một thuộc tính quan trọng của đối tượng,
nghiên cứu đối tượng theo quy luật của cái toàn thể, có tính hệ thống với cái thành phần
có mối tương tác biện chứng hữu cơ.
Phương pháp hệ thống là con đường nghiên cứu một đối tượng phức tạp trên cơ sở
phân tích đối tượng thành các bộ phận, các thành phần để nghiên cứu chúng một cách sâu
sắc, tìm ra tính hệ thống của đối tượng. Phương pháp hệ thống là công cụ của phương
pháp luận, nó giúp ta nghiên cứu thành công một đối tượng phức tạp và cho ta một sản
phẩm khoa học mang tính lôgic chặt chẽ.
* Nghiên cứu khoa học theo quan điểm hệ thống - cấu trúc cần:
- Nghiên cứu đối tượng một cách toàn diện, nhiều mặt, dựa vào việc phân tích đối
tượng thành các bộ phận mà xem xét cụ thể.
- Xác định mối quan hệ hữu cơ giữa các yếu tố của hệ thống để tìm quy luật nội tại,
sự phát triển từng mặt và của toàn bộ hệ thống.
- Nghiên cứu đối tượng đó trong mối tương tác với các đối tượng xã hội khác, với
toàn bộ nền văn hóa xã hội nhằm tìm môi trường thuận lợi cho sự phát triển.
- Trình bày kết quả nghiên cứu khoa học rõ ràng, khúc chiết, theo một hệ thống chặt
chẽ, có tính lôgic cao.
Như vậy, nghiên cứu khoa học theo quan điểm hệ thống - cấu trúc cho phép nhìn
nhận một cách đầy đủ, sâu sắc, toàn diện, khách quan về đối tượng, thấy được mối quan
hệ của hệ thống với các đối tượng khác trong hệ thống lớn, từ đó thấy được cái triệt để,
khách quan của các tri thức khoa học.
Quan điểm hệ thống cấu trúc không chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn có ý nghĩa thực
tiễn quan trọng đối với việc xác định đối tượng nghiên cứu khoa học giáo dục mầm non,
hướng tới sự hoàn thiện việc chăm sóc và giáo dục trẻ, làm cho hai mặt đó quan hệ hữu cơ
với nhau, tạo ra một hệ thống những tác động mà hạt nhân trung tâm của hệ thống ấy giữ
vai trò đặc biệt- vai trò chủ đạo cho toàn bộ hệ thống.
6.2. Quan điểm tiếp cận lịch sử trong nghiên cứu khoa hc giỏo dc mm non
Mọi sự vật hiện tượng đều có nguồn gốc phát sinh và quá trình phát triển nên khi
nghiên cứu cần phải xem xét đối tượng một cách toàn diện trong suốt quá trình phát sinh,
phát triển của nó, cách nghiên cứu đó gọi là nghiên cứu theo quan điểm lịch sử.
Lịch sử là sự vận động có thực của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khác quan,
diễn biến của lịch sử bao giờ cũng chứa đựng đầy mâu thuẫn trong những hoàn cảnh cụ
thể nhất định. Tiến trình lịch sử phức tạp, chứa đựng thành công, thất bại, có những bước
nhảy vọt nhưng cũng có những bước lùi... song xu thế chung là phát triển đi lên. Lịch sử
bao giờ cũng có nguyên nhân dẫn đến kết quả, nếu điều kiện thuận lợi sẽ thúc đẩy nhanh
sự phát triển, ngược lại nếu có những nhân tố không thuận lợi sẽ kìm hãm sự phát triển.

12


Nghiên cứu khoa học theo quan điểm lịch sử là quá trình nghiên cứu đối tượng bằng
phương pháp lịch sử, là quá trình phân tích, tìm hiểu, phát hiện nguyên nhân sự nảy sinh,
diễn biến, phát triển của sự vật hiện tượng trong hoàn cảnh cụ thể, với những điều kiện cụ
thể, với thời gian, không gian xác định để phát hiện ra quy luật tất yếu của sự vận động,
phát triển đó.
Nguyên tắc lịch sử trong nghiên cứu khoa học giáo dục thực hiện nhiều chức
năng, có thể kể ra một số chức năng chủ yếu sau:
+ Chức năng làm cơ sở để xây dựng giả thuyết và chứng minh giả thuyết đó.
+ Chức năng minh hoạ, chứng minh làm sáng tỏ các luận điểm, học thuyết khoa học
hay kết quả nghiên cứu.
+ Chức năng đánh giá các kết luận khoa học bằng các sự kiện có thật trong lịch sử.
Tóm lại, quan điểm lịch sử trong nghiên cứu là quan điểm hướng dẫn quá trình tìm
tòi, sáng tạo khoa học cho phép ta nhìn thấy toàn cảnh quá trình phát triển của trẻ. Từ đó
giúp ta phát hiện ra quy luật tất yếu của sự phát triển ấy, đó là mục đích, điều cần đạt
được trong nghiên cứu.
6.3. Quan điểm tiếp cận thực tiễn trong nghiên cứu khoa hc giỏo dc mm non
Quan điểm thực tiễn là luận điểm quan trọng của phương pháp luận, yêu cầu nghiên
cứu khoa học phải bám sát thực tiễn sinh động. Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật
chất có tính chất lịch sử - xã hội của con người làm biến đổi tự nhiên và xã hội. Diễn biến
của hiện thực là điều kiện khách quan, với những sự kiện đa dạng, phức tạp, phát triển
theo nhiều khuynh hướng. Có những thực tiễn tiên tiến, có những thực tiễn yếu kém và có
những mâu thuẫn, những xu hướng chống đối nhau cần giải quyết, khắc phục. Thực tiễn
là nguồn gốc, động lực, tiêu chuẩn và mục đích của toàn bộ quá trình nghiên cứu khoa
học.
Quán triệt quan điểm thực tiễn, trong nghiên cứu cần phải:
- Phát hiện những mâu thuẫn, những khó khăn, những cản trở trong thực tiễn và lựa
chọn trong số những vấn đề nổi cộm, cấp thiết làm đề tài nghiên cứu. Như vậy, đối tượng
nghiên cứu sẽ là một trong những vấn đề của thực tiễn khách quan, có nhu cầu cấp thiết
phải nghiên cứu giải quyết.
- Phân tích tìm được bản chất của những vấn đề nảy sinh, phát triển trong thực tiễn.
Tài liệu thực tiễn có thể minh họa, chứng minh cho những nguyên lý, lý thuyết làm cho lý
thuyết trở nên sinh động, có sức sống. Những thông tin từ thực tiễn có thể trở thành lý
thuyết khoa học khi ta biết khái quát tìm ra quy luật phát triển của chúng.
- Luôn bám sát thực tiễn, làm sao cho lý luận và thực tiễn phải gắn bó song hành với
nhau. Tổ chức nghiên cứu, thực nghiệm những lý thuyết khoa học để kiểm nghiệm lý
thuyết, từ đó mà ứng dụng vào thực tiễn một cách có hiệu quả. Lý luận không được xa rời
thực tiễn, thực tiễn không thể chống đối, phủ định lý luận. Lý luận chỉ có giá trị khi nó
soi sáng thực tiễn, cải tạo thực tiễn, lý luận phải là những luận điểm có thể ứng dụng vào
và đem lại hiệu quả thiết thực. Thực tiễn đem lại sức sống cho lý luận. Quán triệt quan
điểm thực tiễn vừa có lợi cho khoa học vừa có lợi cho thực tiễn.

13


Nghiên cứu cần đứng vững trên quan điểm thực tiễn mới hy vọng đổi mới hoạt động
nghiên cứu khoa học về trẻ em, mang lại lợi ích thiết thực cho sự nghiệp chăm sóc và giáo
dục trẻ.

Cõu hi hng dn ụn tp
1/ Phõn bit khoa hc v cụng ngh.
2/ Nghiờn cu khoa hc l gỡ ? Phõn tớch nhng c trng c bn ca nghiờn cu
khoa hc.
3/ Phõn tớch cỏc chc nng ca nghiờn cu khoa hc giỏo dc.
4/ Phõn tớch lm rừ ni dung ca cỏc quan im ch o quỏ trỡnh nghiờn cu khoa
hc giỏo dc mm non.
Chng 2

CC PHNG PHP NGHIấN CU KHOA HC GIO DC MM NON
1. KHI NIM V PHNG PHP NGHIấN CU KHOA HC

1.1. Phng phỏp nghiờn cu khoa hc
Phng phỏp l con ng t mc ớch, l cỏch thc gii quyt mt cụng vic c
th. Nghiờn cu khoa hc cú mt h thng cỏc phng phỏp nghiờn cu riờng.
Phng phỏp nghiờn cu khoa hc l t hp cỏc thao tỏc, bin phỏp thc tin hoc
lý thuyt m nh nghiờn cu s dng nhn thc, khỏm phỏ i tng, to ra h thng
nhng kin thc v i tng.
1.2. c im ca phng phỏp nghiờn cu khoa hc
Phng phỏp nghiờn cu khoa hc cú nhng c im sau:
- Phng phỏp cú tớnh mc ớch: Mi hot ng u cú mc ớch. Mc ớch cụng
vic ch dn vic la chn phng phỏp. Phng phỏp cng chớnh xỏc, cng sỏng to lm
cho cụng vic t ti kt qu nhanh, cht lng tt v ụi khi vt xa hn c mc ớch d
kin ban u. Phng phỏp nghiờn cu khoa hc gn bú vi mc ớch sỏng to khoa hc.
- Phng phỏp l con ng vn ng ca ni dung: Mi hot ng u cú ni
dung. Ni dung cụng vic quy nh phng phỏp v phng phỏp l cỏch thc thc hin
ni dung, l yu t quyt nh cht lng ca cụng vic.
Trong nghiờn cu khoa hc mi chuyờn ngnh cú mt h thng phng phỏp c
thự, mi ti cú mt nhúm phng phỏp c th.
- Phng phỏp l t hp cỏc thao tỏc c sp xp theo mt chng trỡnh ti u.
Nu tng thao tỏc c thc hin chớnh xỏc thỡ phng phỏp t ti hon ho v cht
lng cụng vic l tt nht, nhanh nht.
- Phng phỏp l cỏch thc lm vic ca ch th, do ch th la chn. Phng phỏp
b quy nh bi trỡnh nhn thc v kinh nghim ó cú ca ch th. Do ú, phng
14


phỏp mang tớnh ch quan. Trong nghiờn cu khoa hc cỏc nh nghiờn cu phi cú hiu
bit nht nh v lnh vc nghiờn cu, cú kh nng sỏng to v kinh nghim dy dn.
- Phng phỏp nghiờn cu khoa hc ph thuc vo i tng nghiờn cu. i tng
nghiờn cu cng phc tp, cng cn cú phng phỏp tinh vi. Phng phỏp nghiờn cu cú
hiu qu khi nú phự hp vi c im ca i tng, phự hp vi quy lut vn ng
khỏch quan ca i tng. Vỡ vy, phng phỏp cú tớnh khỏch quan.
- Nghiờn cu khoa hc, c bit l khoa hc t nhiờn v khoa hc chớnh xỏc, ũi hi
cú phng tin k thut tinh xo, cú chớnh xỏc cao. Phng tin k thut l cụng c h
tr c lc cho phng phỏp nghiờn cu.
1.3. Phõn loi cỏc phng phỏp nghiờn cu khoa hc
Cú nhiu cỏch phõn loi khỏc nhau. Trong thc t, cỏch phõn loi da vo trỡnh
tip cn i tng c chp nhn rng rói. Theo cỏch phõn loi ny, cú cỏc nhúm
phng phỏp nghiờn cu sau: Cỏc phng phỏp nghiờn cu lý thuyt, cỏc phng phỏp
nghiờn cu thc tin, phng phỏp thống kê toỏn hc.
2. Hệ thống các phương pháp nghiên cứu KHOA HC GIO DC MM NON

2.1. Nhúm các phương pháp nghiên cứu lý thuyt
Trong nghiên cứu KHGDMN, các phương pháp nghiên cứu lí luận được sử dụng để
thu thập, xử lý thông tin khoa học trên cơ sở nghiên cứu các nguồn tài liệu khác nhau.
Bằng tư duy khoa học, người nghiên cứu có thể xây dựng hệ thống lý thuyết của mình
hoặc khẳng định hay phủ định những luận điểm khoa học đã có.
Đối với bất cứ một đề tài nào đều cần nghiên cứu các quan điểm lý luận nhằm định
hướng cho toàn bộ quá trình nghiên cứu, chỉ đạo việc lựa chọn phương pháp nghiên cứu
thực tiễn, khai thác và xử lý các cư liệu khoa học...
Đối với các công trình nghiên cứu thuần tuý lý luận thì các phương pháp nghiên cứu
lý luận đã chứa đựng trong nó những quan điểm cơ bản của nội dung đề tài.
Có nhiều phương pháp nghiên cứu lý luận, sau đây là một số phương pháp chủ yếu
thường được sử dụng trong nghiên cứu KHGDMN:
2.1.1. Phương pháp phân tích- tổng hợp
Phương pháp phân tích tổng hợp là hai thao tác tư duy khoa học, chúng trái ngược
nhau song quan hệ biện chứng với nhau.
Phân tích là thao tác phân chia tài liệu lý thuyết thành các đơn vị kiến thức, cho
phép ta tìm hiểu những dấu hiệu đặc thù, cấu trúc bên trong của lý thuyết. Từ đó nắm
được bản chất từng đơn vị kiến thức cũng như toàn bộ vấn đề nghiên cứu. Nói cách khác,
phân tích là tách đối tượng ra thành nhiều bộ phận, thành phần để xem xét đối tượng
nhiều mặt, dưới nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau.
Trên cơ sở lý thuyết đã phân tích ta tiến hành tổng hợp chúng để tạo ra một hệ
thống. Từ đó giúp ta thấy được mối quan hệ biện chứng giữa chúng với nhau, nhờ đó mà
hiểu đầy đủ, toàn diện, sâu sắc về lý thuyết nghiên cứu. Nói cách khác, tổng hợp là gộp
các bộ phận chi tiết đã được phân tích theo một hướng nhất định để tạo thành một chỉnh
thể để nhìn nhận một cách trọn vẹn hơn.
15


Trong nghiên cứu KHGDMN, phương pháp phân tích- tổng hợp là 2 phương pháp cơ
bản để xây dựng luận cứ khoa học, thông thường phương pháp này được sử dụng trong
bước khởi đầu của việc nghiên cứu lý luận hoặc cơ sở lý luận cho một công trình nghiên
cứu thực tiễn. Trong kho tàng khoa học có nhiều quan điểm, trường phái khác nhau. Vì
vậy, việc phân tích- tổng hợp lý thuyết để tìm hiểu mọi khía cạnh, xác định các thành
phần trong cấu trúc lý thuyết, trên cơ sở đó người nghiên cứu tổng hợp để nhìn nhận nó
trong một thể thống nhất theo quan điểm của mình.
2.1.2. Phương pháp phân loại và hệ thống hoá lý thuyết
Trên cơ sở phân tích, tổng hợp người ta lại thực hiện quá trình phân loại, hệ thống
hoá lý thuyết.
Phân loại là thao tác logic bằng cách sắp xếp tài liệu nghiên cứu theo những vấn đề,
những mặt, những đơn vị kiến thức... có cùng một dẫn luận, chung thuộc tính bản chất
hay cùng phương hướng phát triển.
Hệ thống hoá là thao tác được thực hiện sau khi phân loại tài liệu người nghiên cứu
sắp xếp chúng vào trong mối tương quan theo thứ bậc trên cơ sở một mô hình lý thuyết,
nghĩa là sắp xếp chúng vào một hệ thống nhất định.
Phân loại và hệ thống hoá lý thuyết là phương pháp luôn luôn hỗ trợ, bổ sung cho
nhau. Nhờ đó, các tài liệu dù phức tạp đến đâu cũng giúp ta nhận thấy và sử dụng theo
đúng mục đích đề tài.
Trong nghiên cứu KHGDMN, phương pháp phân loại và hệ thống hoá lý thuyết
đóng vai trò rất quan trọng. Nhờ đó mà các lý thuyết khoa học về trẻ em mang tính khái
quát cao, định hướng cho quá trình nghiên cứu thực tiễn cũng như chỉ đạo công tác nuụi
dng, chăm sóc, giáo dục trẻ.
2.1.3. Phương pháp cụ thể hoá lý thuyết
Lý thuyết khoa học bao giờ cũng tồn tại ở dạng trừu tượng được xây dựng bởi những
khái niệm khoa học.
Do vậy, muốn dễ hiểu, dễ ứng dụng người ta phải cụ thể hoá lý thuyết bằng phương
pháp minh hoạ và mô hình hoá.
Phương pháp minh hoạ là cách thức sử dụng những sự kiện sinh động có thực trong
thực tiễn để làm sáng tỏ lý thuyết làm cho cái trừu tượng trong khoa học trở thành sự vật
hiện tượng dễ thấy, dễ nắm bắt.
Những sự kiện điển hình trong thực tiễn cuộc sống không những là cái minh hoạ
một cách có hiệu quả cho lý thuyết mà còn bổ sung cái mới cho lý thuyết.
Phương pháp mô hình hoá là phương pháp nghiên cứu lý thuyết bằng cách xây dựng
mô hình giả định để nghiên cứu. Mô hình được xây dựng bằng yếu tố vật chất hay bằng
những ý niệm được hình thành trong quá trình tư duy và được biểu diễn dưới dạng trực
quan. Hệ thống mô hình cần xây dựng phải phản ánh trung thực những mối liên hệ cơ
cấu- chức năng hay những mối liên hệ nhân quả giữa các thành tố trong đối tượng nghiên
cứu. Có thể coi mô hình là sự tái hiện đối tượng nghiên cứu dưới dạng trực quan tương
ứng với nguyên bản của lý thuyết, nó trở thành đối tượng, phương tiện để nghiên cứu.

16


Mô hình lý thuyết còn có thể chứa đựng, phản ánh những yếu tố mới, chưa có trong
hiện thực (mô hình giả định)
Trong nghiên cứu KHGDMN, phương pháp cụ thể hoá được sử dụng khá rộng rãi.
Nhờ đó mà những lý luận khoa học về trẻ em đã gắn liền với thực tiễn chăm sóc giáo dục
trẻ. Nó có ý nghĩa cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn.
2.1.4. Phương pháp giả thuyết
Đây là phương pháp nghiên cứu bằng cách dự đoán những thuộc tính, quy luật phát
triển đối tượng để chỉ đường cho việc chứng minh những dự đoán ấy. Trên cơ sở đó mà
tìm kiếm, khám phá bản chất đối tượng nghiên cứu. Trong nghiên cứu khoa học phương
pháp này thực hiện 2 chức năng: Dự báo và định hướng.
Phương pháp giả thuyết thực chất là khâu đầu tiên của quá trình nhận thức về một
đối tượng nào đó. Khi những thông tin về đối tượng còn thiếu hụt và chưa rõ ràng buộc
người nghiên cứu khoa học phải huy động các quá trình nhận thức để hình dung ra những
hiểu biết về đối tượng. Song những hiểu biết ấy vẫn chỉ mang tính giả định cần phải được
chứng minh.
Nhiệm vụ của nhà khoa học là từ giả thuyết đi tìm chân lý. Từ giả thuyết đến chân
lý là một quãng đường dài, nhiều khi rất khó đạt tới, nhưng ở bất cứ công trình nào cũng
cần đến. Kể cả trong trường hợp giả thuyết bị bác bỏ nó cũng giúp ta từ bỏ hướng nghiên
cứu cũ để tìm kiếm hướng nghiên cứu mới đúng đắn hơn.
Trong nghiên cứu KHGDMN, phương pháp giả thuyết không những cần thiết cho áu
trình nghiên cứu lý luận mà còn rất cần thiết cho thực tiễn chăm sóc giáo dục trẻ. Đặc
biệt nó cần thiết cho việc dự báo trước sự phát triển của trẻ trong tương lai, định hướng
cho việc tìm kiếm phương pháp mới có hiệu quả hơn trong chăm sóc giáo dục trẻ.
2.1.5. Phương pháp chứng minh
Chứng minh là cách sử dụng lý luận hay sự kiện thực tiễn để làm sáng tỏ một nhận
định, một quan điểm là chân lý hay không.
Trong nghiên cứu khoa học việc dùng các sự kiện thực tiễn để chứng minh cho một
lý thuyết, một nhận định hay rút ra một kết luận khoa học người ta thường sử dụng các
phương pháp nghiên cứu thực tiễn. Nhưng chứng minh với tư cách là một phương pháp
nghiên cứu lý thuyết thì chỉ giới hạn ở việc dùng lý luận để khẳng định hay phủ định một
nhận định hay một quan điểm khoa học nào đó.
Phương pháp chứng minh có thể tiến hành nhiều cách:
- Chứng minh trực tiếp: Là phép chứng minh dựa vào những luận chứng chân thực
và bằng các quy tắc suy luận để rút ra kết luận cần thiết.
- Chứng minh gián tiếp: Là phương pháp chứng minh chưa nhằm thẳng vào luận đề
chính cần khẳng định mà bằng những luận chứng người nghiên cứu bác bỏ các luận đề
trái với luận đề chính (phản đề) để vạch rõ những sai lầm, những cái không hợp lý của
các phản đề ấy. Từ đó khẳng định tính đúng đắn của luận đề chính.
+ Phương pháp quy nạp: Là phương pháp chứng minh bằng cách đi từ những vấn đề
riêng lẻ đến những kết luận chung khái quát.

17


+ Phương pháp diễn dịch: Là phương pháp chứng minh bằng lối suy luận đi từ
nguyên lý chung đến những kết luận cho từng trường hợp riêng lẻ.
Trong nghiên cứu KHGDMN, việc xây dựng hệ thống lý luận khoa học về trê em
bằng phương pháp chứng minh chặt chẽ là hết sức cần thiết nhằm chỉ đạo công tác chăm
sóc giáo dục trẻ, đáp ứng được những yêu cầu mới đang đang ra trong giai đoạn hiện nay
đối với giáo dục mầm non.
Tóm lại, các phương pháp lý thuyết trên được vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo
trong mọi đề tài nghiên cứu. Nó làm chức năng định hướng và rút ra kết luận khoa học.
2.2. Nhúm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
õy l nhúm cỏc phng phỏp trc tip tỏc ng vo i tng trong thc tin
lm bc l bn cht, quy lut vn ng ca i tng. Nhúm phng phỏp ny c s
dng trong nghiờn cu thc tin nhm thu thp ti liu, s kin, thụng tin thc tin v
vn cn nghiờn cu, là cơ sở cho chúng ta hiểu biết thực trạng vấn đề nghiên cứu.
2.2.1. Phương pháp quan sát khoa học
a. Khái niệm
Dưới góc độ tâm lí, quan sát là qúa trình tri giác có chủ định về một đối tượng nào
đó để thu thập thông tin về đối tượng đó. Quá trình tri giác có chủ định được dùng trong
nghiên cứu khoa học với tư cách là một phương pháp gọi là phương pháp quan sát khoa
học.
Phương pháp quan sát khoa học là một hoạt động đặc biệt, có mục đích, có kế
hoạch, có phương tiện để tri giác các đối tượng được lựa chọn điển hình, nhằm phát hiện
các dấu hiệu đặc trưng và những quy luật phát triển của đối tượng.
Trong nghiên cứu KHGDMN, người nghiên cứu quan sát, theo dõi một cách có mục
đích, hành vi, trạng thái cuả trẻ trong điều kiện tự nhiên và ghi lại các sự kiện, biểu hiện
đã quan sát được (trực tiếp hoặc qua các phương tiện kỹ thuật hỗ trợ).
b. Chức năng
Trong nghiên cứu KHGDMN, quan sát khoa học thực hiện 2 chức năng chủ yếu:
- Thu thập thông tin thực tiễn về cuộc sống và hoạt động của trẻ biểu hiện qua hành
vi bên ngoài- đây là chức năng quan trọng nhất vì những cứ liệu do quan sát mang lại là
cơ sở cho các bước nghiên cứu cao hơn, sâu sắc hơn nhằm phát hiện đặc điểm và quy luật
phát triển của trẻ cng nh quỏ trỡnh chm súc giỏo dc tr.
- Kiểm chứng giả thuyết hay lý thuyết đã có. Trong nghiên cứu khoa học, khi cần
chứng minh tính đúng đắn của giả thuyết hay lý thuyết nào đó, người nghiên cứu thu thập
các cứ liệu từ thực tiễn để kiểm chứng (khẳng định hay phủ định). Trong quá trình kiểm
chúng đó, các lý thuyết khoa học đuệoc bổ sung để hoàn thiện dần.
c. Phân loại
Có nhiều cách phân loại khác nhau:
* Quan sát trực tiếp và quan sát gián tiếp:
- Quan sát trực tiếp: Là sử dụng các giác quan cũng như các phương tiện kỹ thuật để
thu thập thông tin về đối tượng nghiên cứu một cách trực tiếp.
18


- Quan sát gián tiếp: Là quan sát thông qua các đối tượng khác (nghĩa là quan sát
thông qua các tác động tương tác giữa đối tượng cần quan sát với đối tượng khác).
* Quan sát toàn diện và quan sát bộ phận:
- Quan sát toàn diện: Là quan sát cùng một lúc nhiều mặt của hành vi đứa trẻ và
được tiến hành trong cùng một thời gian dài. Tuy nhiên, quan sát toàn diện ít nhiều cũng
có tính chọn lọc, người quan sát chỉ ghi lại những điều quan trọng, có ý nghĩa đối với đề
tài nghiên cứu, đặc biệt là những biểu hiện của cái mới trong quá trình phát triển của trẻ.
- Quan sát bộ phận: Người nghiên cứu chỉ theo dõi, ghi lại một mặt nào đó hành vi
của trẻ trong một thời gian nhất định.
* Quan sỏt phỏt hin v quan sỏt kim nghim: quan sỏt phỏt hin l quan sỏt c
thc hin nhm bc u thu thp ti liu v nh hng a ra mt gi thuyt; quan
sỏt kim nghim l quan sỏt c thc hin nhm xỏc minh hoc loi b gi thuyt ú.
d. u, nhc im ca phng phỏp
- Mt mnh ca phng phỏp: n gin, khụng tn kộm, cú th thu thp c ti
liu thc t phong phỳ, trc tip t i sng v hot ng ca ngi m ta nghiờn cu.
- Mt yu ca phng phỏp: Khụng th can thip vo din bin t nhiờn ca hin
tng tõm lý hoc giỏo dc c nghiờn cu, khụng th lm thay i, tng nhanh hay
chm hoc lp li mt s ln cn thit; khụng th loi tr c nhng yu t ngu nhiờn,
nhiu khi phi b ng ch hin tng cn nghiờn cu din ra.
e. Tổ chức quá trình quan sát
* Các bước cần thực hiện trong tiến trình quan sát:
- Đặt mục đích nghiên cứu để định hướng cho quá trình quan sát. Trước hết phải xác
định đúng đối tượng quan sát, kiểu loại quan sát cho phù hợp với mục đích nghiên cứu.
- Lập kế hoạch quan sát: xác định thời gian, địa điểm, số lượng đối tượng, phương
tiện quan sát (thit b cn thit, phiu, mu biờn bn...)
- Tiến hành quan sát: Thận trọng theo dõi để kịp thời phát hiện các thuộc tính của
đối tượng, theo dõi diễn biến quá trình vận động của đối tượng cũng như những ảnh
hưởng của tác động bên ngoài tới đối tượng.
- Ghi lại các cứ liệu quan sát: Những biểu hiện, diễn biến của đối tượng đều phải ghi
lại một cách thận trọng bằng nhiều cách khác nhau (theo mẫu in sẵn, dạng biên bản, nhật
ký, bằng kí hiệu, ghi âm, chụp ảnh, quay phim...).
- Xử lý v kim tra li kt qu: Tài liệu quan sát phong phú, đa dạng, mang nặng
tính chất cảm tính cần phải được xử lý bằng cách phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống
hoá, bằng thống kê toán học... mới có được những thông tin đáng tin cậy, đảm bảo tính
khoa học.
* Khi tổ chức quá trình quan sát cần lưu ý:
- Về chủ quan: Người quan sát bao giờ cũng bị chi phối bởi các quy luật tâm lý, vì
tâm lý là sự phản ánh hiện thực khách quan thông qua lăng kính chủ quan của mỗi người.
Chính cái chủ quan có thể là nguyên nhân của sự sai lêch trong thu thập và xử lý kết quả
quan sát được. Vì vậy, khi tiến hành quan sát, người quan sát cần ý thức rõ vấn đề này,
19


rèn luyện các giác quan, đối chiếu cái mình quan sát được với người khác để tài liệu thu
thập được mang tính khách quan.
- Về khách quan: Đối tượng quan sát thường nằm trong những mối quan hệ phức tạp
với những sự vật hiện tượng khác và luôn luôn vận động, biến đổi. Do đó tài liệu thu được
thường bị biến dạng (nhiễu) bởi những tác động bên ngoài. Chính vì vậy, khi quan sát
cần tập trung chú ý vào đối tượng, đảm bảo tính tự nhiên của đối tượng để thu thập được
những thông tin chính xác, tin cậy.
Trong nghiên cứu KHGDMN, quan sát là phương pháp chủ yếu để thu thập những
biểu hiện về sự phát triển của trẻ v quỏ trỡnh chm súc, giỏo dc tr. Tuy nhiên, nó đòi
hỏi phải tốn nhiu thời gian, công sức, thụ động chờ đợi... Vì vậy, khi sử dụng ta phải kết
hợp với các phương pháp khác để có được những thông tin đầy đủ, chính xác về đối tượng
nghiên cứu dưới nhiều góc độ và khía cạnh khác nhau.
2.2.2. Phương pháp thực nghiệm khoa học
a. Khái niệm
Thực nghiệm là một phương pháp thuộc nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn,
trong đó, người nghiên cứu chủ động tác động vào đối tượng nhằm tạo ra sự biến đổi về
một mặt nào đó hay làm xuất hiện một nhân tố mới nào đó ở đối tượng nghiên cứu theo
giả thuyết đặt ra ban đầu của mình.
Kết quả thực nghiệm sẽ cho ta biết được giả thuyết đúng hay sai. Nếu kết quả thực
nghiệm phù hợp với giả thuyết thì thực nghiệm đã thành công. Ngược lại, kết quả thực
nghiệm trái với giả thuyết thì phủ định giả thuyết đó, xây dựng lại giả thuyết mới.
Phương pháp ny thường được tiến hành trong một thời gian nhất định, có khi lâu
dài, phải lặp đi lặp lại nhiều lần mới xác định được kết qủa. Đây là một phương pháp
quan trọng nhất, được coi là phương pháp chủ công của nghiên cứu khoa học vì bất cứ đề
tài nào cũng phải thực nghiệm khoa học mới khẳng định kết quả nghiên cứu có giá trị.
Trong nghiên cứu KHGDMN, thực nghiệm được coi là một phương pháp nghiên cứu
tích cực, cho phép ta khơi gợi ở trẻ những biểu hiện, những đặc điểm mà chủ thể đang
quan tâm nghiên cứu. Trong thực nghiệm, người nghiên cứu tạo ra và làm thay đổi một
cách có chủ định các điều kiện trong đó diễn ra các hoạt động của trẻ. Người thực nghiệm
đặt ra cho trẻ những nhiệm vụ nhất định mà trẻ cần giải quyết, rồi căn cứ vào cách giải
quyết của trẻ để tìm ra những đặc điểm về một mặt nào đó ở trẻ đang cần xác định.
b. Phân loại
* Cn c theo iu kin, hon cnh tin hnh thc nghim, có:
- Phương pháp thực nghiệm tự nhiên: Là phương pháp được tiến hành trong hoàn
cảnh tự nhiên, trong cuộc sống thực giúp đối tượng nghiên cứu được biểu hiện đặc tính
của mình một cách tự nhiên.
Phương pháp này được sử dụng khá rộng rãi trong các công trình nghiên cứu về trẻ
em, các thực nghiệm được diễn ra trong sinh hoạt hàng ngày, đặc biệt là các trò chơi và
trong các hoạt động mà trẻ ưa thích.
- Phương pháp thí nghiệm: Là phương pháp thực nghiệm được tiến hành trong
phòng thí nghiệm với những phương tiện kỹ thuật. Khi làm thí nghiệm người ta thay đổi
20


các dữ kiện hay các chỉ số về định tính cũng như định lượng của những thành phần tham
gia vào sự kiện được thí nghiệm. Việc này được lặp đi lặp lại nhiều lần nhằm phát hiện
tính ổn định của các thuộc tính cũng như quy luật vận động của đối tượng nghiên cứu.
Đây là phương pháp thường được dùng chủ yếu trong nghiên cứu khoa học tự nhiên.
Trong nghiên cứu KHGDMN, người ta cũng sử dụng phương pháp này để xác định
chỉ số tâm sinh lý cần thiết. Những điều kiện không quen thuộc trong phòng thí nghiệm
có thể làm cho trẻ hoảng sợ, biểu hiện hành vi không bình thường. Do đó, cần tạo bầu
không khí gần gũi, thân mật, vui vẻ để trẻ mất đi cảm giác sợ sệt, thiếu tự nhiên.
* Theo chức năng nghiên cứu, có:
- Thực nghiệm kiểm định: Phương pháp này được tiến hành trong điều kiện sống và
giáo dục bình thường, với chức năng là thăm dò một phẩm chất hay thuộc tính nào đó của
trẻ về thể chất, tinh thần đã xuất hiện chưa và đạt tới mức độ phát triển nào.
- Thực nghiệm hình thành: Nhằm để hình thành những phẩm chất hay những thuộc
tính nào đó ở trẻ trong những điều kiện nhất định. Loại thực nghiệm này được tiến hành
trong một khoảng thời gian cần thiết đủ cho một phẩm chất hay một thuộc tính nào đó
được hình thành.
- Thực nghiệm kiểm tra: Loại thực nghiệm này dùng để xác định xem trẻ em đã
được tiến bộ gì sau những tác động của thực nghiệm hình thành. Thực nghiệm này còn
được gọi là thực nghiệm kiểm chứng. Để đảm bảo tính chính xác, người ta tiến hành lại
thực nghiệm trên một nghiệm thể khác.
c. u, nhc im ca phng phỏp
- Mt mnh ca phng phỏp:
+ Thc nghim l phng phỏp c bn ca khoa hc giỏo dc cú kh nng i sõu
vo cỏc quan h bn cht, xỏc nh nhng quy lut v c ch, vch rừ cỏc thnh phn v
cu trỳc ca hin tng giỏo dc;
+ Cú th lp li nhiu ln vi nhng kt qu ging nhau, chng t mt quan h cú
tớnh cht quy lut.
- Mt yu ca phng phỏp:
+ Thc hin phng phỏp ny khụng n gin, ũi hi s chun b cụng phu c v
lý lun v cụng c, nhiu khi ũi hi nhng trang thit b c bit m ngi s dng phi
c o to nht nh.
+ Mt thc nghim ch kim nghim v xỏc nh mi quan h gia hai nhõn t,
trong khi ú cỏc nhim v ca ti nghiờn cu, dự ó gii hn, nhiu khi li ũi hi
kim nghim nhiu nhõn t.
+ Cỏc iu kin c to ra trong thc nghim nhiu khi cú th phỏ v din bin t
nhiờn ca cỏc hin tng c nghiờn cu: cú th gõy hi hp, lo lng hay mun chng
t mỡnh tt c v mi mt, ... do ú cú th lm sai lc cỏc s kin thu c.
d. Tiến trình tổ chức thực nghiệm

21


- Xác định mục đích thực nghiệm: có thể là hình thành hay phát triển một phẩm chất,
thuộc tính về thể chất hay về tâm lý của trẻ, cũng có thể là khẳng định tính đúng đắn của
một chương trình hay một phương pháp mới trong chăm sóc, giáo dục trẻ.
- Hình thành giả thuyết khoa học: nêu lên một sự phỏng đoán (tiên đoán, dự đoán...)
về diễn biến của đối tượng thực nghiệm trên cơ sở những tài liệu thu thập được trước đó
về vấn đề nghiên cứu.
- Phân tích đối tượng nghiên cứu: để thấy rõ bản chất và tìm kiếm những tiêu chí
biểu hiện các mặt (thông số) của đối tượng thực nghiệm để xem xét sự phát triển của đối
tượng.
- Tổ chức thực nghiệm kiểm định: trước lúc tổ chức thực nghiệm hình thành cần tổ
chức thực nghiệm kiểm định để thăm dò thực trạng. Nghĩa là để xác định vấn đề cần
nghiên cứu ở trẻ đã đạt tới trình độ nào (nghiên cứu hiện trạng).
- Xây dựng hệ thống tác động đến trẻ: tức là tạo ra những điều kiện hay phương pháp
chăm sóc, giáo dục mới dưới dạng một hệ thống những công việc hay một hệ thống
những bài tập cho trẻ theo hướng của mục đích thực nghiệm đặt ra.
- Chọn nhóm thực nghiệm: đối tượng thực nghiệm được chia thành 2 nhóm (nhóm
thực nghiệm và nhóm đối chứng). Hai nhóm này đều phải chọn một cách ngẫu nhiên với
số lượng với những đặc điểm tương đồng nhau để tiến hành so sánh kết quả sau khi tiến
hành thực nghiệm.
- Tiến hành thực nghiệm hình thành: nhằm tạo ra ở trẻ một trình độ phát triển mới
trong điều kiện mới do người thực nghiệm tạo ra. Thực chất là tổ chức cho trẻ thực hiện
hệ thống việc làm hay bài tập nhằm làm thay đổi thông số từ trình độ thấp đến trình độ
cao dần.
- Tiến hành thực nghiệm kiểm tra: mục đích là để biết kết quả thực nghiệm đến đâu
- Thu thập cứ liệu theo các tiêu chí biểu hiện sự phát triển của đối tượng nghiên cứu:
và xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê toán học để đi đến kết luận thực nghiệm.
- Rút ra kết luận khoa học của thực nghiệm: Sau khi đã có kết quả phân tích thực
nghiệm về mặt định tính cũng như định lượng, người nghiên cứu rút ra những kết luận
khoa học của thực nghiệm.
2.2.3. Phương pháp trắc nghiệm(Test)
a. Khái niệm
Cú nhiu khỏi nim khỏc nhau, sau õy l khỏi nim ph bin:
Trc nghim (Test) l mt cụng c ó c tiờu chun hoỏ o lng khỏch quan
mt hay nhiu mt ca nhõn cỏch ton din thụng qua nhng mu tr li di dng ngụn
ng, phi ngụn ng hay mt dng hnh vi khỏc.
Trc nghim cú nhng c im sau:
- Tớnh khỏch quan, ngha l kt qu trc nghim khụng ph thuc vo mi quan h
gia nghim viờn vi nghim th.
- Tớnh tiờu chun hoỏ, ngha l cỏch thc, th tc tin hnh trc nghim, cỏch cho
im, ỏnh giỏ u ưc tiờu chun hoỏ.
22


- Tớnh i chiu ca cỏc kt qu trc nghim trờn cỏ nhõn hay nhúm vi kt qu
chun mc, ú l nhng kt qu ó thu c trong nhng iu kin nh th mt nhúm
khỏ tiờu biu.
Mt trc nghim cú giỏ tr khoa hc phi ỏp ng ba yờu cu sau:
- Cú tin cy cao, ngha l cỏc kt qu ca nhiu ln trc nghim trờn cựng mt
nghim th phi ging nhau.
- Cú ng nghim cao, ngha l trc nghim phi o c cỏi cn o.
- c tiờu chun hoỏ, ngha l vic tin hnh v x lý kt qu trc nghim c
tiờu chun húa mt cỏch rừ rng, c th.
b. Phõn loi: Cú nhiu cỏch phõn loi trc nghim. Thng ngi ta phõn trc
nghim thnh hai nhúm ln:
- Trc nghim trớ tu (trc nghim trớ thụng minh; trc nghim cỏc nng lc; trc
nghim thnh tớch hc tp...). Cỏc trc nghim thng dựng cho tr la tui mm non
nh: Stanford-Binet, Buyse-Deroly, Raven(mu), V hỡnh ngi ca F.Goodenough,
Venger...
- Trc nghim nhõn cỏch (cỏc bng hi, cỏc bn kim kờ nhõn cỏch, cỏc trc nghim
phúng ngoi...). Cỏc trc nghim thng dựng cho tr la tui mm non nh: V tranh,
cỏc cõu chuyn ba t ca Louisa Duss...
Nhờ trắc nghiệm người ta có thể so sánh trẻ em về trình độ phát triển trí tuệ chung,
hay trình độ phát triển riêng sự so sánh đó được tiến hành trên cơ sở chuẩn theo lứa tuổi
vì được xác lập trước. Từ đó người ta xác định được một đứa trẻ nào đó phát triển bình
thường hay không.
c. u, nhc im ca phng phỏp
- Mt mnh ca phng phỏp:
+ Tớnh cht ngn gn ca trc nghim.
+ Tớnh tiờu chun húa ca nú.
+ Tớnh n gin v k thut v thit b.
+ S biu t kt qu di hỡnh thc nh lng.
+ Tớnh tin li i vi vic x lý toỏn hc.
- Mt yu ca phng phỏp:
+ Tớnh khụng rừ rng v bn cht tõm lý ca cỏi c xỏc nh bng trc nghim.
+ Ch quan tõm n kt qu thng kờ, khụng chỳ ý n quỏ trỡnh dn n kt qu.
+ D b ỏnh trỏo i tng nghiờn cu.
+ Khụng tớnh n s phỏt trin ca cỏc nng lc núi riờng, tõm lý núi chung.
+ Khụng tớnh n mi nhõn t a dng cú th nh hng n kt qu.
Tóm lại, phương pháp trắc nghiệm có thể được dùng như một phương pháp nghiên
cứu độc lập trong trường hợp cần nghiên cứu những chỉ tiêu phát triển tâm- sinh lý nào đó
của trẻ em lứa tuổi mầm non. Nó cũng được dùng như một công cụ hỗ trợ đắc lực cho các
phương pháp khác đặc biệt là thực nghiệm.
23


2.2.4. Phương pháp trò chuyện(m thoi)
a. Khái niệm
Là phương pháp thu thập thông tin về đối tượng nghiên cứu bằng cách phân tích
những phản ứng bằng lời của người được nghiên cứu diễn ra trong các cuộc trò chuyện
với những lời trao đổi đã được xác định của người nghiên cứu.
Nói cách khác, đây là phương pháp mà người nghiên cứu đặt ra những câu hỏi cho
người đối thoại và dựa vào câu trả lời để trao đổi hỏi thêm nhằm thu thập thông tin cần
nghiên cứu.
Trong nghiên cứu KHGDMN, có thể trò chuyện với trẻ, ngi thõn ca tr, cô
giáo để nghiên cứu về một vấn đề nào đó.
b. Phân loại
Trò chuyện có 2 loại cơ bản:
- Trò chuyện trực tiếp: Người nghiên cứu trực tiếp tiếp xúc, trò chuyện với đối tượng để
phát hiện ra những vấn đề nghiên cứu. Trong trò chuyện trực tiếp có 3 kiểu sau:
+ Trò chuyện thẳng: đi thẳng vấn đề với đối tượng được nghiên cứu về những vấn đề
mà mình quan tâm.
+ Trò chuyện đường vòng: đó là kiểu trò chuyện thay vì hỏi thẳng vấn đề bằng
những câu chuyện khác có liên quan đến những vấn đề nghiên cứu, qua đó mà phát hiện,
đánh giá vấn đề.
+ Trò chuyện kiểm nghiệm: sau khi tiến hành nghiên cứu, người nghiên cứu dùng
những câu chuyện tâm tình để kiểm tra, xác minh tính đúng đắn của kết luận khoa học.
- Trò chuyện gián tiếp: Là trò chuyện nghiên cứu đối tượng thông qua việc trò
chuyện với người khác, thông qua thư từ, điện thoại... phương pháp này tạo điều kiện để
nghiên cứu đối tượng phạm vi rộng về không gian cũng như thời gian.
c. u, nhc im ca phng phỏp:
- u im:
+ Tớnh linh hot, mm do. Khi trũ chuyn ngi nghiờn cu cú th dựng k thut
thm dũ, gi chuyn thu c thụng tin y . Vi nhng i tng khỏc nhau cú
th cú cỏch t cõu hi khỏc nhau cho thớch hp.
+ Kh nng tr li cao, phự hp vi tr em la tui mm non.
+ Khi trũ chuyn cú th quan sỏt c biu hin, din bin tõm trng, cm xỳc, hnh
vi ng x... ca ngi nghiờn cu, qua ú cú th ỏnh giỏ tin cy ca cõu tr li. i
vi tr, phn ng tr li thng rt t nhiờn, chõn tht.
+ Tớnh sinh ng v phong phỳ ca thụng tin thu c.
- Hn ch ca phng phỏp: Khú trỏnh c tớnh ch quan ca c ch th ln i
tng nghiờn cu m bo c tớnh chõn thc, khỏch quan.
d. Những yêu cầu khi sử dụng phương pháp trò chuyện
- Người nghiên cứu phải xác định rõ mục đích, yêu cầu trò chuyện. Từ đó xác định
nội dung, xây dựng kế hoạch, đặc biệt là xây dựng hệ thống câu hỏi phù hợp.
24


- Phải tiếp cận đối tượng một cách cởi mở để gây được thiện cảm với người được
nghiên cứu, nhất là trẻ nhỏ.
- Phải thuyết phục được đối tượng nghiên cứu để họ biết rằng cuộc trao đổi chỉ
nhằm vào mục đích khoa học và được giữ bí mật (nếu cần thiết)... Đối với trẻ em, không
nhất thiết phải cho trẻ hiểu mục đích mà quan trọng là phải tạo cho trẻ cảm giác thoải
mái, vui vẻ khi trò chuyện.
- Phải tìm hiểu đối tượng trước khi tiến hành trò chuyện. Nhận diện nhanh các biểu
hiện tâm lý để linh hoạt trong trò chuyện.
- Trong trò chuyện phải bám sát mục đích nghiên cứu. Tạo điều kiện, định hướng để
trò chuyện đúng hướng.
- Cần ghi chép một cách tỉ mỉ, hệ thống một cách tế nhị.
- Phải sử dụng phối hợp với các phương pháp nghiên cứu khác để kết quả nghiên
cứu có tính thuyết phục hơn.
2.2.5. Phương pháp điều tra viết (Ankét)
a. Khái niệm:
Phng phỏp iu tra l phng phỏp nghiờn cu, trong ú ngi nghiờn cu dựng
mt s cõu hi nht lot t ra cho mt s ln đối tượng nhm thu thp ý kin ch quan
ca h v vn cần nghiên cứu.
b. Các bước tiến hành:
* Xỏc nh mc ớch iu tra v xây dựng kế hoạch điều tra (Căn cứ vào mc ớch,
đối tượng, nhiệm vụ nghiờn cu của đề tài)
* Xây dựng mẫu, phiếu điều tra (bảng hỏi):
(D kin cõu hi Chớnh xỏc húa La chn Sp xp)
Trong điều tra viết có thể sử dụng các loại câu hỏi:
- Câu hỏi đóng: Là câu hỏi đã có sẵn câu trả lời (đáp án). Người được hỏi chỉ cần lựa
chọn phương án trả lời đúng để đánh dấu.
- Câu hỏi mở: Là câu hỏi mà người được hỏi tự viết ra những ý kiến trả lời của mình
theo yêu cầu của câu hỏi.
- Câu hỏi kết hợp vừa đóng vừa mở: Với câu hỏi này người được hỏi lựa chọn
phương án có sẵn và phải giải thích ngắn gọn về sự lựa chọn của mình hoặc trả lời theo
phương án khác.
- Yêu cầu khi xây dựng phiếu điều tra:
+ Cấu trúc của một phiếu điều tra thường có 3 phần: Phần mở đầu; phần nội dung và
phần cuối.
+ Mở đầu phải trình bày mục đích yêu cầu cuộc điều tra, phải giúp người được hỏi
hiểu ý nghĩa việc điều tra.
+ Trong phiếu điều tra không nên ghi tên để bảo đảm tính khách quan, bí mật. Nếu
thấy cần thiết có thể hỏi thêm các thông tin như: tuổi, giới tính, ngh nghip, trỡnh

25


x

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×