Tải bản đầy đủ

Một số kinh nghiệm về việc hướng dẫn học sinh lớp 6 làm tốt bài văn thể loại tự sự ở trường THCS thị trấn huyện thường xuân

Mục lục

Nội dung

Trang

1. Mở đầu

1

1.1. Lí do chọn đề tài

1

1.2. Mục đích nghiên cứu

2

1.3. Đối tượng nghiên cứu

2


1.4. Phương pháp nghiên cứu

2

2. Nội dung

2

2.1. Cơ sở lý luận

2

2.2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu

3

2.3. Giải pháp thực hiện

5

2.4. Hiệu quả của SKKN

13

3. Kết luận, kiến nghị

15

3.1. Kết luận

15

3.2. Kiến nghị

15

Tài liệu tham khảo

17



1. Mở đầu
1.1. Lý do chọn đề tài.
Dạy học là hoạt động đặc trưng của nhà trường, là con đường quan trọng
nhất để giáo dục thế hệ trẻ. Trong nhà trường Ngữ văn là môn học khoa học xã
hội rất quan trọng đối với các em học sinh đặc biệt là phân môn văn học. Văn
học giúp các em nắm bắt những tri thức của nhân loại, hiểu biết được quá khứ
của dân tộc, những cái hay, cái đẹp trong sáng tác của các nhà văn, từ đó có tác
dụng giáo dục rất lớn, hướng các em tới chân, thiện, mỹ. Đọc một bài văn, bài
thơ hay làm tâm hồn các em rung động, giúp các em biết yêu thương, biết sẻ
chia và từ đó thêm yêu quý quê hương đất nước mình! Nếu trong dạy và học mà
không có văn học tâm hồn học trò sẽ trở nên khô cằn. Văn học có vai trò vị trí
như vậy nên đòi hỏi giáo viên dạy văn phải có phương pháp giúp các em nắm
bắt kiến thức một cách ngắn gọn, đơn giản dễ hiểu nhất, (đặc biệt với học sinh
lớp 6 khi các em còn nhiều bỡ ngỡ với chương trình, cách học mới), đồng thời
qua những tác phẩm văn học phải để lại cho các em những ấn tượng, cảm xúc cụ
thể, thiết thực. Hơn nữa theo chương trình đổi mới của Bộ giáo dục và đào tạo
thì môn văn không còn đơn thuần là mình văn nữa. Nó đã được tích hợp bởi ba
phân môn (Văn- Tiếng việt- Tập làm văn) gộp lại được gọi chung là Ngữ văn.
Trong đó ba phân môn đều có vị trí ngang hàng. Trong Văn có Tiếng việt và
trong Tập làm văn cũng có Văn, có Tiếng việt. Quả thật đây là sự thay đổi có
tính thiết thực, học sinh được đến với kiến thức Tiếng việt thông qua các tác
phẩm và ứng dụng nó vào sáng tạo văn bản, đó là một vấn đề thuận lợi cho việc
học.
Tuy nhiên đối với các em học sinh lớp 6, việc tạo lập một văn bản tự sự quả
thật không đơn giản. Do vốn sống, kỹ năng tạo lập văn bản tự sự của các em
chưa tốt nên các em thường lúng túng, bị động trong quá trình làm bài, từ đó dẫn
đến kết quả học tập phân môn Tập làm văn nói riêng và môn Ngữ văn nói riêng
chưa cao. Xuất phát từ tình hình thực tế của học sinh, bản thân tôi qua quá trình
giảng dạy đã đúc rút được “Một số kinh nghiệm về việc hướng dẫn học sinh
lớp 6 làm tốt bài văn thể loại tự sự ở Trường THCS Thị Trấn huyện
2


Thường Xuân”. Vì vậy tôi đã chọn đề tài này mong muốn được góp phần nâng
cao chất lượng và niềm say mê hứng thú của học sinh khi đến với môn Ngữ văn
cấp THCS nói chung và lớp 6 nói riêng.
1.2. Mục đích nghiên cứu.
Nghiên cứu đề tài: “Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 6 làm tốt bài
văn tự sự ở Trường THCS Thị Trấn huyện Thường Xuân” tôi không ngoài mục
đích giúp học sinh hiểu sâu kiến thức trong từng tác phẩm văn học, có vốn sống
phong phú, có ý thức tích lũy để từ đó tạo nên những văn bản tự sự của riêng
mình. Mặt khác còn giúp học sinh biết cách trình bày vấn đề một cách rõ ràng,
khoa học… Thông qua thể loại này, các em thêm yêu Tiếng việt, yêu văn học,
yêu cuộc sống. Đặc biệt qua đề tài này, bản thân tôi muốn học sinh lớp 6 làm tốt
một thể loại trong chương trình Ngữ văn, một thể loại mở đầu cho chương trình
học cấp II, thể văn tự sự.
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
Nội dung và phương pháp dạy văn tự sự lớp 6 trong trường trung học cơ sở.
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
1.4.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
Phân tích, so sánh, hệ thống…
1.4.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tế, thực hành:
Khảo sát, thống kê, đánh giá để phục vụ cho bài viết tốt hơn.
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Cơ sở lý luận.
Văn tự sự (còn gọi là kể chuyện) là phương thức kể lại một chuỗi sự việc,
sự việc này dẫn đến sự việc khác cuối cùng dẫn đến một kết thúc, thể hiện một ý
nghĩa. Với thể loại này học sinh sẽ được tái hiện lại một sự việc một cách trình
tự, biết bắt chước, diễn đạt lại vấn đề mà bản thân tham gia, chứng kiến hoặc
được nghe. Vì vậy làm văn thể loại này không khó, học sinh chỉ cần nắm vững
vấn đề là có thể làm, trình bày được. Nhưng nếu không biết chắt lọc để xây dựng
thì sẽ biến bài văn thành sự kể lể dài dòng, khô khan hoặc chỉ là sự chắp nhặt

3


các chi tiết thông thường để tạo nên bài văn không có tính thẩm mỹ và tính giáo
dục.
Do đó, khi dạy thể loại này, giáo viên phải hướng dẫn học sinh tìm hiểu bản
chất của thể loại. Mục đích của tự sự có nghĩa là người kể phải trình bày diễn
biến sự việc nhằm giải thích sự việc, tìm hiểu con người, nêu vấn đề và bày tỏ
thái độ khen chê trước sự việc đó. Vì vậy học sinh phải gửi gắm được điều muốn
nói vào các nhân vật hay trong tác phẩm. Nhưng tất cả các vấn đề trên phải được
học sinh lớp 6 tuân thủ một cách nghiêm ngặt thông qua từng bước làm quen với
các kỹ năng: Tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn ý, dựng đoạn, luyện nói, luyện viết. Sau
khi học sinh đã tiếp cận các kỹ năng giáo viên phải hướng dẫn cho các em cách
viết từng phần: Mở bài, thân bài, kết bài và tất cả phải luyện thành kỹ năng. Nếu
học sinh không nắm vững các kỹ năng trên thì khi viết bài sẽ không tốt, bài văn
sẽ rối và không thành truyện.
Nói tóm lại, kết quả bài văn tự sự không chỉ nói nên năng lực cảm nhận tác
phẩm văn học, thể hiện vốn sống mà còn là cách dùng ngôn ngữ Tiếng Việt hiệu
quả để tạo lập văn bản. Hay nói cách khác các em sẽ biết “tích hợp” và “tích
cực” để làm được bài văn tự sự tốt nhất.
2.2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu.
2.2.1. Thực trạng.
Trong quá trình trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn 6, năm học 2014- 2015
tôi nhận thấy sau khi học xong phần văn tự sự, đa phần học sinh nắn kiến thức
và thể loại còn rất hời hợt, mơ hồ. Các em thường xây dựng câu chuyện mang
tính kể lể, chưa có cảm xúc, chưa ra chuyện. Những câu chuyện của các em
chưa có một chuỗi các sự việc hoặc chỉ là những chi tiết hời hợt, quá đơn giản,
nên khi kết thúc một câu truyện chưa có một ý nghĩa. Các phần trong bài viết rất
cứng nhắc, các em thường viết theo mô túyp chung của dàn ý, không có sự đầu
tư, sáng tạo trong khi làm bài. Bên cạnh đó trong quá trình làm văn tự sự các em
không có sự kết hợp giữa kể, tả, nêu cảm xúc, cho nên bài văn không hấp dẫn
hoặc có khi bắt chước máy móc, vì vậy kết quả không cao.

4


Đặc biệt với kiểu bài tự sự kể chuyện tưởng tượng, học sinh dường như
chưa biết viết, các em chưa tự nhập vai vào nhân vật hoặc tạo ra một cách kết
thúc mới cho câu chuyện có sẵn. Đối với học sinh lớp 6, kiểu bài này rất khó,
buộc học sinh phải tưởng tượng để xây dựng câu chuyện. Song câu chuyện đó
nhân vật đó phải phù hợp với thực tế cuộc sống, cho nên, thường ở kiểu bài này
kết quả làm bài của các em rất thấp. Tuy một số em đã biết kể sáng tạo nhưng
chưa hay và chưa độc đáo.
Từ việc tiếp thu kiến thức và kết quả đạt được thì ngay từ buổi ban đầu đã
làm mất đi hứng thú học tập của học sinh lớp 6. Chính vì thế các em ít và ngại
học văn, làm văn, nếu buộc phải làm các em thường dựa vào những bài văn mẫu
chứ không có sự suy nghĩ đầu tư hay thích thú.
2.2.2. Hậu quả của thực trạng trên.
Trước khi áp dụng đề tài tôi đã khảo sát chất lượng của học sinh khối lớp
6 năm học 2014 – 2015 và kết quả thu được như sau:
Lớp

Sĩ số

6A
6B
6C

33
29
28

Giỏi
10
3
1

%
30,3
10,3
3,5

Khá
15
8
4

%
45,5
27,6
14

Xếp loại
TB %
08 24,2
10 34,5
15 54

Yếu
0
8
6

%
0
27,6
21,5

Kém
0
0
2

%
0
0
7

Từ kết quả của một bài Tập làm văn phần văn tự sự cho thấy điểm làm bài
của các em chưa cao, điểm yếu và trung bình còn nhiều. Chứng tỏ năng lực tự
sáng tạo trong văn tự sự còn thấp. Do vậy tôi đặt ra tiêu chí và tìm hiểu những
nguyên nhân dẫn đến thực tiễn trên.
2.2.3. Nguyên nhân.
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến kết quả bài làm văn của các em chưa
cao, theo tôi có cả những nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan, cả nguyên nhân
từ phía thầy lẫn nguyên nhân từ phía trò.
Có thể nói nếu việc học và làm văn ở bậc Tiểu học còn đơn giản, thì lên cấp
II các em phải làm quen với cách học mới, phương pháp mới, kỹ năng có phần
nâng cao hơn. Do đó “sản phẩm” tự sự do các em tạo ra không còn đơn giản,

5


máy moc, mô tuýp nữa mà đòi hỏi ở mức độ cao hơn. Vì vậy các em có sự lúng
túng chưa nắm bắt kịp thời.
Học sinh dành thời gian cho việc ôn luyện còn quá ít, chưa có thời gian
thực hành nhiều. Chưa biết lập dàn ý, dựng đoạn, luyện viết, thậm chí các em
còn không tìm ý, lập dàn ý mà nghĩ gì viết ấy dẫn đến bài viết thiếu ý, thừa ý
hoặc trùng lặp ý, sắp xếp lộn xộn là điều không tránh khỏi.
Bên cạnh đó có rất nhiều em không thuộc truyện, cốt truyện, nhân vật, tình
tiết. Chưa biết biến kiến thức đó thành của mình hoặc sáng tạo, tưởng tượng
thêm. Vốn sống, vốn hiểu biết còn hạn chế, ít có sự sáng tạo trong việc dùng
ngôn từ để biểu đạt nội dung.
Khi giao bài tập về nhà các em còn sao chép trong sách học tốt, những bài
văn mẫu để nộp cho giáo viên. Nếu chúng ta không thẳng thắn phạt hay cho
điểm kém thì sẽ tạo đường mòn cho các em làm theo, từ đó tạo ra thói ỷ lại, lười
suy nghĩ.
Trên đây là một số nguyên nhân chính dẫn đến việc viết loại thể bài tự sự
chưa có hiệu quả. Đứng trước thực tiễn trên, bản thân tôi trong quá trình giảng
dạy đã đúc rút được một số kinh nghiệm để giúp các em học sinh lớp 6 làm tốt
hơn bài văn tự sự của mình.
2.3. Giải pháp thực hiện.
2.3.1. Phương pháp chung.
Khi nắm vững lý thuyết thể loại văn tự sự, học sinh được thực hành viết bài
và kết quả chính là căn cứ để đánh giá khả năng tiếp thu cũng như năng lực sáng
tạo của các em. Đồng thời kết quả đó cũng một phần nói lên trình độ và phương
pháp giảng dạy của giáo viên Ngữ văn, vì vậy để học sinh biết cách viết đúng,
từng bước tiến đến viết hay một bài văn tự sự, giáo viên cần:
Nghiên cứu đầy đủ, sâu sắc về các đơn vị kiến thức, phải đọc những tài
liệu liên quan về văn tự sự để bản thân thực sự hiểu hơn về thể loại đó, phải biến
những kiến thức trong sách vở thành những kiến thức, kinh nghiệm của bản
thân, để không phụ thuộc vào sách giáo khoa. Có như vậy giáo viên mới có

6


phương pháp phù hợp chủ động với đơn vị kiến thức mà mình đang trực tiếp
giảng dạy.
Giáo viên cần truyền đạt thấu đáo mỗi tiết dạy về kỹ năng làm bài văn tự sự
qua các bước: Tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn ý, dựng đoạn, từ đó học sinh được làm
quen qua các bài tập thực hành.
Ví dụ: Khi dạy bài: Tìm hiểu đề, tìm ý cho bài văn tự sự, sau khi dùng hệ
thống câu hỏi để tìm hiểu, khám phá nội dung bài tập giáo viên cần rút ra vấn đề
mấu chốt cho việc tìm hiểu đề, tìm ý như: Gạch chân dưới những từ ngữ quan
trọng trong đề thể hiện nội dung yêu cầu, hoặc đặt câu hỏi để tìm ý.
Trong quá trình truyền đạt kiến thức, giáo viên cần linh hoạt trong hệ thống
bài tập, phải tìm một hướng đi gọn, rõ, dễ hiểu nhất không nhất thiết phải lấy
toàn bộ đề ở sách giáo khoa.
Bên cạnh đó giáo viên phải thực sự đổi mới về phương pháp, buộc học sinh
phải làm việc bằng nhiều hệ thống câu hỏi của người dạy, biết sử dụng những
thiết bị dạy học phù hợp trong dạy học để tạo sự chú ý và nâng cao việc nhận
diện đơn vị kiến thức mới. Từ đó học sinh được làm chủ các đơn vị kiến thức,
không do sự gò ép hoặc làm việc hộ cho học sinh.
Ngoài ra giáo viên phải phân biệt và hướng dẫn một cách cụ thể, cách làm
của mỗi kiểu bài tự sự đời thường và tự sự tưởng tượng để học sinh thành thạo
từng dạng bài. Như vậy, khâu viết bài là khâu cuối cùng hoàn thiện các kỹ năng,
nó tổng hợp kiến thức mà học sinh đã tiếp nhận được. Giáo viên hướng dẫn tốt
kỹ năng kết hợp ý thức tự giác, chủ động, ham học hỏi ở học sinh thì bài làm của
các em sẽ tốt.
2.3.2. Phương pháp cụ thể.
2.3.2.1. Phương pháp làm bài văn tự sự kể chuyện đời thường.
Với kiểu bài này học sinh dễ làm hơn. Bởi lẽ các em chỉ cần kể lại sự vật,
sự việc mà bản thân mình được chứng kiến, được nghe hàng ngày, không phải
sáng tạo hay tìm tòi những vấn đề mới. Cũng chính vì vậy mà bài viết thường
rơi vào kể lể, hoặc chắp nhặt những chi tiết không đáng đưa vào bài, biến bài

7


văn tự sự trở nên rời rạc, khô khan. Thế nên trong quá trình giảng dạy tôi đã
thực hiện bằng các hình thức sau để bài làm của học sinh được tốt hơn.
Đầu tiên, giáo viên phải cho học sinh hiểu kỹ lưỡng lý thuyết của thể loại
bằng những dẫn chứng minh họa, bằng những hệ thống bài tập ở tiết học và với
từng bài tập giáo viên chỉ ra cho học sinh cách chọn từng ngôi kể, thứ tự kể như
thế nào cho phù hợp.
Ví dụ: Khi dạy tiết học: Đặc điểm của nhân vật trong văn tự sự giáo viên
phải lấy một nhân vật cụ thể trong tác phẩm như “ Sơn Tinh, Thủy Tinh” và
bằng hệ thống câu hỏi giáo viên hướng dẫn học sinh tìm ra từng đặc điểm của
nhân vật đó.
- Nhân vật được gọi tên, đặt tên như thế nào?
- Được giới thiệu lai lịch, tính tình, tài năng ra sao?
- Được kể các việc làm, hành động, ý nghĩa, lời nói?
- Được miêu tả chân dung, trang phục, trang bị, dáng điệu…?
- Trong truyện nhân vật có nhiệm vụ gì?
- Rút ra đặc điểm, vai trò của nhân vật trong văn tự sự?
Tiếp đến học sinh cần nắm kỹ dàn ý của kiểu bài này. Sau khi dạy lý thuyết
ở lớp, giáo viên cần giao bài tập về nhà để các em được thực hành, kiểm tra,
đánh giá. Với viêc làm này sẽ giúp học sinh nắm kỹ lưỡng về nội dung của từng
phần, từ đó áp dụng linh hoạt cho từng đề. Sau đó giáo viên phải kiểm tra để uốn
nắn kị thời học sinh cách viết, cách diễn đạt và dùng từ trong từng bài. Cần
giảng sâu vào bản chất của kiểu bài tự sự đời thường để học sinh hiểu, đó là: kể
lại, thuật lại những chuyện có thật diễn ra xung quanh mình, diễn ra trong cuộc
sống sinh hoạt, lao động, học tập và giải trí hàng ngày.
Ví dụ: Khi kể về mẹ
Giáo viên cần định hướng cho các em, phải biết lựa chọn quá trình kể, biết dựa
vào những hình ảnh hư cấu, tưởng tượng thì bài văn mới hay, mới có cảm xúc.
Chẳng hạn:
- Tình thương của mẹ mênh mông như biển rộng.
- Mẹ là con tàu đưa đến những giấc mơ .
8


- Hay, mẹ là tất cả của cuộc đời con… Đó là hư cấu nhưng hư cấu phù hợp
với tình cảm mà người mẹ dành cho con.
Khi làm bài, giáo viên phải hướng dẫn cách chọn từ, chọn hình ảnh thật
tiêu biểu, chính xác để lột tả đặc điểm của con người hay sự vật được kể, đó
chính là bộc lộ cảm xúc của người viết trong bài. Tình cảm phải thật tự nhiên,
chân thực, không gò bó.
Ví dụ: Khi kể về chị mà chị không có nhà cần sử dụng các từ ngữ:
- Trống trải khi vắng chị.
- Nơi ngủ lạnh lẽo, căn phòng không rộn tiếng cười.
- Chồng sách ủ rủ vì không có chị nâng niu.
Đặc biệt không cho học sinh viết dài dòng, lan man, tràn lan mà bài viết
phải cô đọng, các sự việc phải làm toát lên trong bản chất của một người, một sự
việc nào đó. Bài viết hay là bài viết mà kết thúc người đọc hình dung được phẩm
chất của đối tượng và câu chuyện phải có ý nghĩa, vì vậy giáo viên phải hướng
dẫn cách trình bày, sắp xếp các sự việc trong bài văn, đây là vấn đề khó đối với
học sinh. Bởi lẽ các em thường viết rất tùy tiện, bạ đâu viết đó, nghĩ gì viết ấy, vì
vậy bài văn lộn xộn, chỗ lặp, chỗ thừa chỗ lại thiếu. Để giúp các em biết cách
sắp xếp, giáo viên buộc học sinh đọc kỹ đề xác định dúng nội dung đúng yêu
cầu sau đó hình dung đối tượng, sự việc đó như thế nào (đặc điểm, tính cách,
việc làm...) ra sao để mà xây dựng thành hệ thống.
Giáo viên cần giúp các em viết từng phần thật cặn kẽ thông qua những tiết
dạy lý thuyết và bài tập ở nhà, phải đưa các em vào thế giới văn chương, biến
những sự việc vốn dĩ đời thường thành những tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao.
Viết phần mở bài.
Yêu cầu viết ngắn gọn, cô đọng, giàu tình cảm nhưng phải đảm bảo yêu cầu
cầu đề bài, phải thực sự thể hiện được thái độ đối với vấn đề tự sự. Trước khi
viết mở bài, giáo viên có thể đưa ra câu hỏi để nhận thức lại, yêu cầu của đề bài
thường làm gì? Học sinh trả lời được: Mở bài là giới thiệu về nhân vật và sự
việc.

9


Ví dụ: Đề bài: Kể về người bà kính yêu của mình? Thì phần mở bài học
sinh có thể viết như sau:
“Bà tôi năm nay đã 70 tuổi rồi, bà thường hay thức khuya, dậy sớm để
theo dõi, chăm chút chị em tôi, nhưng trong mắt tôi, bà vẫn khỏe, đẹp như xưa.
Tôi yêu bà vô cùng!” Với đề bài này học sinh càng mở bài tự nhiên thì càng
hay.
Để làm tốt được điều đó yêu cầu trên lớp giáo viên phải ra nhiều bài cho
học sinh bắt chước, tập nói, tập viết, chữa lỗi trên lớp trong các tiết luyện nói để
tránh lặp lại sai lầm trong quá trình viết bài.
Viết phần thân bài.
Giáo viên cho học sinh luyện nói ở lớp, phải chú ý hướng dẫn từng chi
tiết nhỏ: Dùng từ, đặt câu, sắp xếp thứ tự. Cho các em tự do phát biểu ý kiến
từng vấn đề, đặc biệt nhắc lại xem phần thân bài yêu cầu những gì? Thân bài kể
lại diễn biến sự việc theo một trình tự hợp lý. Có thể kể theo trình tự diễn biến tự
nhiên, việc gì xảy ra trước kể trước, việc gì xảy ra sau kể sau, cứ như vậy kể đến
khi kết thúc.
Nhưng để gây hứng thú, tạo sự bất ngờ hoặc để thể hiện tình cảm nhân vật, có
thể đảo ngược trật tự thời gian: Đem kết quả và sự việc hiện tại kể ra trước, sau
đó mới dùng cách kể bổ sung để nhân vật nhớ lại và kể tiếp các sự việc đã xảy
ra. Từ đó để các em biết viết ý nào trước, ý nào sau.
Mặt khác, khi các em trình bày, giáo viên cần chú ý đến việc liên kết các
ý, các đoạn giữa các phần. Vì đa phần học sinh lớp 6 chỉ chú ý đến nội dung mà
không chú ý đến hình thức của văn bản, do vậy, bài viết thường rời rạc, giữa các
sự việc. Giáo viên cần cung cấp những từ ngữ liên kết, giới thiệu một số cách
liên kết để học sinh bắt chước.
Ví dụ: Em hãy kể về một chuyến về quê? Giáo viên cần hướng dẫn học sinh
tìm được một số ý sau:
Ý 1: Tâm trạng được về quê.
Ý 2: Những cảnh tượng hiện ra trên đường về quê…

10


Giữa ý 1 và ý 2 cần phải bắt nhịp vào nhau bằng các từ, các câu liên kết… để
tránh bị rời rạc. Chẳng hạn để liên kết ý 1 và ý 2 giáo viên hướng dẫn các em có
thể liên kết như sau:
“Cả đêm nằm không sao ngủ được, em thao thức đến từng canh giờ,
thời gian cứ trôi đi chầm chậm … , bao hình ảnh liên tiếp hiện ra làm em bồn
chồn. Nhưng rồi giây phút ấy đã đến!...”
Giáo viên cần chỉ ra cho học sinh thấy, từ “Nhưng” là từ để liên kết hai ý trong
bài văn trên. Có như vậy học sinh mới biết mà áp dụng vào bài làm của mình.
Viết phần kết luận.
Nhiều khi người dạy và người học viết qua loa, đơn giản hoặc chỉ cho bài
viết thêm phần hoàn chỉnh. Do đó khi dạy, giáo viên cần dạy học sinh viết phần
này như thế nào cho hàm súc, ngắn gọn nhưng mang tính tổng hợp cao. Đặc biệt
phải thể hiện rõ thái độ của mình đối với nhân vật, sự việc trong đề bài, chứ
không đơn giản chỉ là kể lại kết cục của sự việc, muốn làm được điều đó giáo
viên cần hướng dẫn học sinh dựa vào đề bài mà đưa ra kết luận hay và sắc sảo.
Ví dụ: Khi kể về ông em, phần kết bài một học sinh đã viết: “ Nhìn cái dáng
vẻ lặng lẽ, nhẹ nhàng, mái tóc bạc như cước, nụ cười hiền hậu của ông, em
mong ông sống lâu, sống mãi như loài cây xương rồng mà ông em yêu mến! ”
Chính cụm từ: “loài cây xương rồng” đã hàm súc và ẩn chứa bao ý nghĩa,
phẩm chất của một con người đáng kính như ông!
Có thể nói, luyện viết cho học sinh từng phần là rất quan trọng. Bởi lẽ khi
viết các em sẽ huy động được vốn kiến thức tiếp thu qua môn học và tiếp thu
qua kiến thức cuộc sống, biết vận dụng từ ngữ để diễn đạt được nội dung, như
vậy, thành quả của quá trình học tập là thành công của người viết.
2.3.2.2. Phương pháp làm bài văn tự sự kể chuyện tưởng tượng.
Qua thực tế trực tiếp giảng dạy các em tôi nhận thấy: Đây là kiểu bài khó
trong văn tự sự, vì học sinh phải tưởng tượng ra các tình huống, tình tiết, sáng
tạo nhưng phải phù hợp với tực tế cuộc sống. Do vậy kiểu bài này đa phần học
sinh chưa làm được.

11


Để nâng cao chất lượng, giúp học sinh đỡ lúng túng trong khi tiếp cận kiểu
bài này thì trước hết giáo viên phải hướng dẫn để học sinh nắm vững được bản
chất của “tưởng tượng”, đó là những sự việc chưa có thực ở hiện tại và chưa
xảy ra thậm chí không thể xảy ra, từ đó các em biết cách mà thực hiện.
Ví dụ: Giáo viên đưa ra những tình huống phát huy trí tưởng tượng ở các em:
- Em bé hai, ba tuổi ru búp bê ngủ, nói chuyện với búp bê.
- Nhìn sách giáo khoa Ngữ văn năm nay em nghĩ gì về nó sau 6 năm nữa?
- Mười năm nữa em trở về trường thì ngôi trường sẽ thay đổi như thế nào? Bản
thân em lúc đó ra sao?
- Kể lại lời tâm sự của hai cái bàn trong lớp em?
- Do một lỗi lầm nào đó em bị buộc phải biến thành một chú mèo con trong ba
ngày. Trong ba ngày đó em gặp những rắc rối gì? Em mong chóng hết hạn để
trở lại thành người như thế nào? Hãy kể lại câu chuyện ấy?
Giáo viên cho học sinh tự do trả lời những suy nghĩ của mình và rút ra khái niệm
cũng như đặc điểm của văn tưởng tượng. Dù tưởng tượng nhưng không thể tùy
tiện mà phải dựa vào những điều có thật trong cuộc sống đời thường rồi bổ sung,
tưởng tượng thêm cho lý thú. Điều quan trọng là câu chuyện phải diễn biến tự
nhiên, có lý và mang một ý nghĩa xã hội.
Muốn làm được điều đó, trước hết giáo viên phải phân biệt các kiểu bài
trong văn kể chuyện tưởng tượng gồm ba kiểu sau: ( Trên cơ sở dựa vào những
điều có thật tưởng tượng ra)
- Một là: Mượn lời đồ vật, con vật.( Nhân hóa để nó kể chuyện)
- Hai là: Thay ngôi kể để kể chuyện đã được đọc ở sách, truyện.
- Ba là: Tưởng tượng một đoạn kết mới cho một câu chuyện có sẵn.
Trong ba kiểu trên thì kiểu một và kiểu ba khó hơn, kiểu hai dễ hơn, do đó
giáo viên cần dành nhiều thời gian để học sinh làm quen với các kiểu bài này.
Muốn tưởng tượng tốt các em thực sự phải có cảm xúc mạnh, có lối sống phong
phú, hiểu được đặc điểm, bản chất của sự vật, sự việc mà mình phải tưởng
tượng.

12


Ví dụ: Khi cây bàng kể về cuộc đời mình, học sinh phải nghĩ và tưởng
tượng được:
- Những ngày đầu đem trồng như thế nào?
- Lớn lên ra sao?
- Hiện tại cây bàng có dáng vẻ như thế nào? (To lớn, thân mình xù
xì, có những cánh tay rắn chắc hàng ngày khoác trên mình chiếc áo màu xanh để
đón ánh sáng của ông mặt trời… )
Hay khi nói về những giọt sương thì học sinh phải tưởng tượng được:
- Sinh ra từ nước, rồi lại trở về với nước.
- Đời sống ngắn ngủi.
- Phẩm chất, tâm hồn trong sạch….
Như vậy, làm kiểu bài này, các em cần tìm ra bản chất, đặc điểm của sự vật.
Muốn vậy các em phải có trí tưởng tượng tốt thông qua các biện pháp tu từ đã
học như nhân hóa, so sánh, ẩn dụ. Sau đó phải xây dựng thành dàn ý để từ đó tạo
ra một câu chuyện hợp lý.
Đối với kiểu bài tưởng tượng đoạn kết cho câu chuyện hoặc đóng vai một
đồ vật, sự vật nhân hóa kể chuyện, giáo viên cần định hướng cho học sinh đi vào
câu truyện, gợi mở lối suy nghĩ phù hợp để câu chuyện bắt nhịp một cách tự
nhiên.
Ví dụ: Khi viết đoạn kết mới cho câu câu truyện “ Cây bút thần ”, một
học sinh đã viết: “Xin chào các bạn lớp 6, tôi là Mã Lương đây. Mã Lương
trong câu truyện “Cây bút thần” ở sách giáo khoa Ngữ văn 6 tập một của các
bạn đây mà…”
Hoặc một kết thúc của một học sinh khác như: “ Sau khi vua chết, câu chuyên
về Mã Lương dùng cây bút thần trừ gian diệt ác, cứu giúp dân lành vang khắp
đất nước. Nhân dân vui mừng, họp nhau lại và lập Mã Lương lên làm vua. Mã
Lương một mực từ chối nhưng không được. Chàng đành cất bút thần và lên ngôi
trị vì đất nước. Vào thời ấy, đâu đâu cũng yên bình, nhà nhà đều no đủ, người
người đều ca ngợi công đức cửa Mã Lương. ”

13


Như vậy sau mỗi phần, giáo viên cần có những bài mẫu để các em học tập,
bắt chước và để biến thành kiến thức của mình. Giáo viên cần dành nhiều thời
gian để tạo ra những cách tưởng tượng khác nhau và như vậy học sinh sẽ rất
thích, các em sẽ tự mình nhập vào nhân vật để có thể xây dựng nên câu chuyện.
Đặc biệt, khi chấm bài giáo viên cần chỉ ra cái được và cái chưa được cho
từng bài, phải nâng niu trân trọng những sáng tạo mới của các em, động viên
khích lệ những em cảm nhận, sáng tạo còn chưa tốt. Có như vậy mới tạo cho học
sinh niềm đam mê, hứng thú khi đến với môn Ngữ văn nói chung và kiểu bài tự
sự nói riêng.
Tóm lại: Kiểu bài tự sự là kiểu bài không mới với các em học sinh lớp 6,
tuy nhiên để viết đúng, viết hay kiểu bài này đòi hỏi sự đầu tư, hướng dẫn tận
tâm của giáo viên trong từng tiết dạy, tích cực đổi mới phương pháp để có cách
dạy phù hợp cho từng kiểu bài ( tự sự đời thường và tự sự tưởng tượng ) cũng
như phù hợp với từng đối tượng học sinh. Bên cạnh đó rất cần tới vốn sống, vốn
hiểu biết, tình yêu đối với môn học, đặc biệt là sự nỗ lực của các em để “sản
phẩm” do các em tạo ra ngày một chất lượng hơn!
2.4. Hiệu quả của SKKN.
Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy trên lớp, hằng ngày tiếp cận với nhiều
đối tượng học sinh, tôi hiểu rằng: Việc duy trì và phát huy tinh thần hăng say tạo
lập văn bản ở học sinh là rất cần thiết nếu giáo viên muốn nâng cao chất lượng
học tập của học sinh. Tuy tuổi nghề chưa nhiều, song từ ngày ra trường về công
tác tại Trường THCS Thị Trấn, tôi đã được nhà trường phân công giảng dạy
nhiều khối lớp. Trải qua nhiều lần sinh hoạt chuyên môn tại trường, tại cụm, tôi
thấy việc tạo lập một văn bản tự sự hay không chỉ cần sự tận tâm ở giáo viên mà
còn phải rèn cho học sinh thói quen tích lũy vốn sống, kỹ năng tạo lập văn bản
tự sự qua từng bước cụ thể.
Khi áp dụng đề tài này vào quá trình giảng dạy tôi đã nhận thấy những tín
hiệu đáng mừng. Cụ thể như:
Trước tiên các em đã hiểu và nắm được thể loại văn tự sự ( trong đó có kể
chuyện đời thường và kể chuyện sáng tạo). Bài làm của các em đã có bố cục rõ
14


ràng, đã sáng rõ về nội dung và câu chuyện đã thể hiện một ý nghĩa cụ thể. Bước
đầu các em đã xây dựng được một hệ thống sự việc để tạo nên đặc điểm, bản
chất của sự việc, con người mà các em kể trong bài viết.
Điều đáng mừng nữa là bài viết của các em không còn lan man, liệt kê như
trước mà đã biết lựa chọn những gì cần nói để làm rõ câu chuyện, con người
theo yêu cầu của đề bài. Vì vậy bài viết đã cô đọng và có sức lôi cuốn hơn.
Đặc biệt với kiểu bài tưởng tượng, học sinh đã thực sự nhập tâm vào nhân
vật, có cảm xúc, đã biết hòa mình vào nhân vật, dựa vào đặc điểm của nhân vật
mà tạo nên những ý nghĩa rất mới lạ, hợp với sự tưởng tượng, hợp với cuộc
sống. Vì vậy bài viết vừa đảm bảo về số lượng, vừa đảm bảo về chất lượng. Và
hơn thế trong các tiết học bản thân tôi cảm nhận thấy học sinh đã thích học môn
Ngữ văn và tiếp thu bài nhanh hơn. Đó cũng chính là niềm vui lớn nhất ở mỗi
“ kỹ sư tâm hồn ”, từ đó tôi đã thấy mình đã và đang bồi dưỡng cho học sinh
" những tình cảm sẵn có" và nhen nhóm ở các em những " tình cảm chưa có"
qua từng bài văn tự sự, đúng như M.Gorki đã từng nói "Văn học là nhân học",
điều đó thật đáng tự hào!
Kết quả đạt được học kỳ 1 năm học 2016 - 2017 cụ thể như sau:
Lớp Sĩ số
6A

35

6B
6C

26
27

Xếp loại
Giỏi % Khá
17 48,6 18
6
6

23,1
22,2

10
9

%
51,4
38,4

TB
0

%
0
38,4

Yếu
0

%
0

Kém
0

%
0

5
33,3

10
10

5
37,1

0
2

0
7,4

0
0

0
0

Thông qua bảng kết quả đạt được sau khi áp dụng “Một số kinh nghiệm
giúp học sinh lớp 6 làm tốt bài văn tự sự ở trường THCS Thị Trấn huyện
Thường Xuân”, có thể thấy con số giỏi, khá, TB, yếu, kém đã có sự thay đổi
đáng kể sau khi dạy thực nghiệm và qua kinh nghiệm dạy trên lớp. Nếu nỗ lực
cố gắng và duy trì phương pháp trên thì kết quả sẽ rất khả quan.

15


3. Kết luận, kiến nghị
3.1. Kết luận:
Như vậy, việc đổi mới sách giáo khoa Ngữ văn 6 ở trường THCS theo
hướng đổi mới tích hợp, tích cực đã góp phần không nhỏ vào sự chuyển mình
của nền giáo dục nước nhà. Bản thân tôi trong quá trình giảng dạy đã nhận thức
đầy đủ vấn đề này, vì vậy trong quá trình thực tế giảng dạy đã tự nghiên cứu,
học hỏi đồng nghiệp, sách vở để tự tìm cho mình một hướng đi mới, nhằm đem
lại hiệu quả khách quan hơn cho môn học Ngữ văn này.
Đặc biệt giúp học sinh nhận thức đầy đủ hơn về thể loại đầu tiên của bậc
THCS, đó là văn bản tự sự ( kể chuyện đời thường và tưởng tượng ). Chi tiết và
cụ thể của từng bước đi của một bài văn tự sự, từ đó giúp các em làm tốt hơn, có
hồn hơn, mạch lạc hơn trong trình bày, rõ ràng trong bố cục. Mặc dù trước mắt
đã đạt được kết quả tương đối khả quan nhưng bản thân cả thầy và trò luôn nỗ
lực cố gắng hơn nữa.
3.2. Kiến nghị
3.2.1. Đối với học sinh:
Học sinh phải đọc kỹ các tác phẩm truyện có trong sách giáo khoa, soạn bài
tự giác, chủ động chứ không phải sao chép từ sách để học tốt, từ đó các em học
cách xây dựng nhân vât, sự việc, tình huống… một cách linh hoạt, sáng tạo.
Trước mỗi đề bài, các em cần đọc kỹ đề, xác định những từ ngữ quan trọng,
sau đó phải tìm ý, lập dàn bài, dựng đoạn. Trong quá trình tạo lập văm bản các
em phải có ý thức học tập và sử dụng các từ ngữ có tính liên kết, tránh bài văn tự
sự rơi vào liệt kê, kể lể đơn thuần.
Để có vốn làm bài văn tự sự các em không chỉ nắm vững kiến thức trong sách
vở, mà quan trọng hơn các em cần có vốn sống, vốn hiểu biết từ thực tế, có óc
quan sát và tưởng tượng phù hợp. Có được điều đó đòi hỏi ở mỗi em cần quan
sát, tích lũy để bài văn tự sự trở nên sinh động và hấp dẫn hơn.
Ngoài ra trong các giờ học trên lớp các em phải mạnh dạn trình bày ý kiến,
quan điểm của mình trước khi thầy cô đưa ra một đáp án hoàn chỉnh.
3.2.2. Đối với giáo viên:
16


Bằng bất cứ giá nào thì người giáo viên cũng phải luôn luôn nỗ lực đổi mới
phương pháp phù hợp với từng kiểu bài và đối tượng học sinh.
Trong quá trình giảng dạy giáo viên cần nghiêm khắc, chặt chẽ trong việc
kiểm tra vở soạn, vở ghi, vở bài tập của các em. Có biện pháp xử phạt phù hợp
với những em không học bài cũ, chép tài liệu có sẵn. Hướng dẫn học sinh cách
tìm hiểu từng thể loại tự sự trong chương trình Ngữ văn 6 THCS một cách đầy
đủ, sáng tạo và dễ hiểu nhất.
Cho học sinh thi kể chuyện, đọc diễn cảm, đọc phân vai tác phẩm, phát hiện
ra ưu nhược điểm trong việc tìm ý, viết bài văn tự sự của nhau. Ngoài ra giáo
viên cần có nhiều hình thức tổ chức ngoại khóa để các em có dịp quan sát, tưởng
tượng, từ đó các em có vốn sống, vốn ngôn ngữ phong phú giúp quá trình viết
bài được dễ dàng hơn. Tạo ra không khí vui vẻ để các em yêu và say mê môn
Ngữ văn hơn.
Tuy nhiên để làm được điều đó đòi hỏi mỗi giáo viên phải nỗ lực, tâm huyết với
nghề dìu dắt học sinh tiếp cận, chiếm lĩnh tác phẩm văn chương trong quá trình
dạy - học Văn cũng như tạo lập thành công những văn bản tự sự của riêng mình.
Do thời gian, khuôn khổ đề tài và năng lực bản thân có hạn. Mặt khác,
mỗi giáo viên có quan niệm, cách thức, phương pháp truyền đạt kiến thức văn tự
sự khác nhau cho học sinh. Trong đề tài này, tôi chỉ xin đưa ra một số ý kiến,
kinh nghiệm riêng của mình mà theo tôi nó góp phần quan trọng trong việc nâng
cao kết quả dạy - học văn tự sự ở lớp 6. Rất mong được các đồng nghiệp trao đổi
và góp ý kiến để đề tài tôi được hoàn chỉnh, đầy đủ hơn nhằm đưa chất lượng
môn Ngữ văn trong nhà trường THCS Thị Trấn ngày càng được nâng cao!
Xác nhận của thủ trưởng đơn vị

Thường Xuân, ngày 20 tháng 3 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của người
khác.
(Kí, ghi rõ họ tên)

Nguyễn Thị Phương
17


Tài liệu tham khảo
1. Nâng cao Ngữ văn 6 – Nhà xuất bản Giáo dục, năm 2004.
2. Các dạng bài tập làm văn và cảm thụ thơ văn 6 – Nhà xuất bản Giáo dục,
năm 2005.
3. Sách giáo khoa Ngữ văn 6, tập 1 – Nhà xuất bản Giáo dục, năm 2002.
4. Sách giáo viên Ngữ văn 6, tập 1– Nhà xuất bản Giáo dục, năm 2002.
5. 446 câu trả lời Ngữ văn 6 – Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh,
năm 2008.

18


DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Nguyễn Thị Phương
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên trường THCS Thị Trấn Thường Xuân.

TT

Tên đề tài SKKN

1.

Dạy học văn chương bằng
con đường cảm xúc
Một số kinh nghiệm dạy từ
láy cho học sinh lớp 6,7
trường THCS Tân Thành.
Một số giải pháp nâng cao
chất lượng dạy học văn nghị
luận ở lớp 9.
Nâng cao chất lượng dạy học
văn nghị luận thông qua tìm
hiểu những đổi mới của đề
văn Nghị luận trong sách Ngữ
văn THCS

2.
3.
4.

Kết quả
Cấp đánh
đánh giá
giá xếp loại
xếp loại
(Phòng, Sở,
(A, B,
Tỉnh...)
hoặc C)
Phòng
C
GD&ĐT
Phòng
C
GD&ĐT

Năm học
đánh giá xếp
loại
2001 - 2002
2005 - 2006

Phòng
GD&ĐT

B

2011 - 2012

Phòng
GD&ĐT

B

2014 - 2015

19



x

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×