Tải bản đầy đủ

Bài giảng quản lý hành chính nhà nước, quản lý ngành giáo dục đào tạo

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH

KHOA: SƯ PHẠM TIỂU HỌC MẦM NON

BÀI GIẢNG
(Lưu hành nội bộ)
QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
QUẢN LÝ NGÀNH GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO
(DÙNG CHO SINH VIÊN CÁC LỚP ĐẠI HỌC SƯ PHẠM)

GV: HOÀNG THỊ TƯỜNG VI

Năm học: 2016 - 2017

1


LỜI NÓI ĐẦU
Nhằm phục vụ cho công tác giảng dạy và học tập tại Trường Đại học Quảng
Bình, chúng tôi biên soạn Bài giảng Quản lý hành chính Nhà nước Quản lý ngành
Giáo dục và Đào tạo cho đối tượng là sinh viên các ngành ĐHSP.

Trong quá trình biên soạn sẽ không tránh khỏi sai sót, rất mong quý đọc giả và
sinh viên góp ý để giáo trình ngày càng hoàn thiện.

2


MỤC LỤC
CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ HCNN, CÔNG VỤ,
VIÊN CHỨC
1.1. Một số vấn đề cơ bản về tổ chức và hoạt động của Nhà nước CHXHCN Việt Nam
4
1.2. Giới thiệu Luật viên chức
13
1.3. Viên chức ngành Giáo dục và Đào tạo (Giáo viên Trung học)
19
CHƯƠNG 2. ĐƯỜNG LỐI, QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VIỆT
NAM VỀ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
2.1. Những vấn đề đặt ra cần giải quyết trong Giáo dục và Đào tạo hiện nay
21
2.2. Những quan điểm chỉ đạo về sự nghiệp đổi mới Giáo dục và Đào tạo
29
2.3. Các giải pháp phát triển Giáo dục giai đoạn 2011 - 2020
30
CHƯƠNG 3. LUẬT GIÁO DỤC
3.1. Sự cần thiết phải ban hành Luật giáo dục
35
3.2. Nội dung cơ bản của Luật Giáo dục
36
CHƯƠNG 4. ĐIỀU LỆ, QUY CHẾ CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ GIÁO DỤC VÀ
ĐÀO TẠO ĐỐI VỚI BẬC TRUNG HỌC
4.1. Điều lệ trường Trung học
38
38
4.2. Các quy chế, quy định về hoạt động giảng dạy ở bậc Trung học
46
4.3. Các quy chế, quy định về thanh tra, kiểm tra bậc Trung học
4.4. Quy chế công nhận trường Trung học đạt chuẩn quốc gia
52
CHƯƠNG 5. THỰC TIỄN GIÁO DỤC ĐỊA PHƯƠNG
5.1.Thành tựu và yêu cầu phát triển chất lượng nguồn nhân lực của đất nước và tỉnh

Quảng Bình
54
5.2. Cập nhật các các quyết định, văn bản, chiến lược của tỉnh Quảng Bình về phát triển
64
và thu hút nguồn nhân lực

3


CHƯƠNG I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN
VỀ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC, CÔNG VỤ, VIÊN CHỨC

1.1.MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA NHÀ
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
1.1.1. Khái niệm Quản l‎ý hành chính nhà nước
Để nắm vững nội hàm khái niệm quản lí hành chính nhà nước chúng ta lần lượt
nghiên cứu các khái niệm quan trọng sau đây:
- Quản l‎ý
- Quản l‎ý nhà nước
- Nền hành chính nhà nước
- Quản l‎ý hành chính nhà nước
a.Quản lí
Quản lí là khái niệm được xem xét theo hai góc độ:
+ Theo góc độ chính trị – xã hội, quản lí được hiểu là sự kết hợp giữa tri thức với
lao động. Vận hành sự kết hợp này cần có cơ chế quản lí phù hợp. Cơ chế đúng, hợp lí thì
xã hội phát triển, ngược lại thì xã hội phát triển chậm hoặc rối ren.
+ Theo góc độ hành động, quản lí được hiểu là chỉ huy, điều khiển, điều hành.
Theo C. Mác, quản lí (quản lí xã hội) là chức năng được sinh ra từ tính chất xã hội
hoá loa động. Nó có tầm quan trọng đặc biệt vì mọi sự phát triển của xã hội đều thông
qua hoạt động của con người và thông qua quản lí (con người điều khiển con người).
Người viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên
quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những
hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của
toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một
người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc
trưởng” (C. Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, T.23, trang 480).
Từ phân tích cơ sở lí luận trên, ta có thể đi đến định nghĩa như sau:
Quản lí là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lí lên đối tượng quản lí nhằm chỉ
huy điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân hướng đến mục
đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan.
Quản lí là một yếu tố không thể thiếu được trong đời sống xã hội. Xã hội phát triển
càng cao thì vai trò của quản lí càng lớn, phạm vi càng rộng và nội dung càng phong phú,
phức tạp.
b. Quản lí nhà nước
Quản lí nhà nước ra đời cùng với sự xuất hiện của Nhà nước, là sự quản lí của Nhà
nước đối với xã hội và công dân. Quản lí nhà nước là sự chỉ huy, điều hành xã hội để
thực thi quyền lực Nhà nước; là tổng thể về thể chế, về tổ chức và cán bộ của bộ máy nhà
nước có trách nhiệm quản lí công việc hàng ngày của nhà nước, do các cơ quan nhà nước
(lập pháp,hành pháp và tư pháp) có tư cách pháp nhân công pháp (công quyền) tiến hành
4


bằng các văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và quyền
hạn mà nhà nước đã giao cho trong việc tổ chức và điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành
vi của công dân.
Cần lưu ý phân biệt hai khái niệm “Quản lí nhà nước” và “Nhà nước quản lí”:
+ “Quản lí nhà nước” là dạng quản lí xã hội thực thi quyền lực Nhà nước; dạng quản
lí này được thể hiện trong các cơ quan hành chính Nhà nước. Điều 12, Hiến pháp 1992 đã
ghi: “Nhà nước quản lí xã hội theo pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội
chủ nghĩa”. Theo định nghĩa của Liên hiệp quốc, quản lí nhà nước tương đồng với khái
niệm quản lí quốc gia (Govermance), nghĩa là: quản lí nhà nước một cách hợp lí, có hiệu
quả, công khai, minh bạch và có sự tham gia của các chủ thể liên quan.
+ “Nhà nước quản lí” là nói đến các chủ thể quản lí; đó là hệ thống tổ chức của các
cơ quan nhà nước, trong đó có các cơ quan hành chính Nhà nước.
c. Hành chính nhà nước
Hành chính là một hoạt động xã hội rộng và rất phức tạp.
Trong cuộc sống, mọi hoạt động của con người đều mang tính xã hội; các cá nhân
luôn có quan hệ hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau. Khi hoạt động có từ hai người trở lên để thực
hiện một mục tiêu chung, mà nếu chỉ có một người không thể làm được, thì sẽ xuất hiện
yếu tố tổ chức và quản lí hoạt động. Hành chính là một dạng của sự quản lí các hoạt động
đó.
Thuật ngữ “hành chính” (Tiếng Anh là Administration).
+ Theo nghĩa rộng, hành chính là sự thi hành chính sách và pháp luật của Chính phủ
tức là hoạt động quản lí hành chính Nhà nước. Quản lí hành chính nhà nước là một hình
thức quản lí, mà chủ thể quản lí là Nhà nước. Hành chính nhà nước là một bộ phận quản
lí của Nhà nước – nó là hoạt động của cơ quan hành pháp, thực thi quyền hành pháp bằng
quyền lập quy và quyền hành chính.
+ Theo nghĩa hẹp, hành chính là công tác hành chính của các cơ quan nhà nước ở
địa phương như: quản lí hộ khẩu, trật tự, an ninh công cộng, quản lí công văn giấy tờ
không thuộc văn bản pháp luật,… và có cả nghĩa thông thường như hỗ trợ, dịch vụ hành
chính,…
Hành chính quan hệ mật thiết với quản lí, tổ chức, chính trị tạo nên các phạm trù:
hành chính và quản lí, hành chính và tổ chức, hành chính và chính trị, hành chính và pháp
luật.
Nhà nước quản lí hành chính bằng pháp luật. Còn hành chính nhà nước là “hành
pháp trong hành động”, là sự thực thi pháp luật trong quản lí, điều hành mọi lĩnh vực đời
sống của đất nước.
Từ những phân tích trên ta có thể định nghĩa: Hành chính là hoạt động quản lí nhà
nước, trong đó cơ quan quyền lực nhà nước tác động lên các đối tượng quản lí (cơ quan,
tổ chức, cá nhân) trong lĩnh vực hành pháp, nhằm thực hiện chức năng đối nội và đối
ngoại quản lí hành chính nhà nước do các cơ quan hành chính Nhà nước thực hiện.
d. Nền hành chính nhà nước
Nền hành chính nhà nước (hành chính công) là tổng thể cơ chế được cấu thành bởi
ba yếu tố sau đây:
5


Một là, hệ thông thể chế quản lí xã hội theo Pháp luật bao gồm: Hiến pháp, Luật,
Pháp lệnh và các văn bản, Quyết định, Nghị định, Thông tư của Chính phủ, Bộ, Ủy ban
nhân dân tỉnh, quy phạm pháp luật của các cơ quan hành pháp và quản lí nhà nước. Xây
dựng thể chế của nền hành chính nhà nước dân chủ, thực hiện quyền lực nhà nước thuộc
về nhân dân, phục vụ lợi ích và nguyện vọng của dân, thiết lập kỷ cương Nhà nước, ý
thức và trật tự pháp luật, cải cách và hoàn thiện thủ tục hành chính… Xây dựng thể chế
quản lí kinh tế của Nhà nước phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa có sự quản lí của Nhà nước và tạo sự thích nghi về thể chế trong quan hệ đối ngoại,
với luật pháp và tập quán quốc tế.
Hai là, cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành bộ máy nhà nước từ trung ương đến cơ
sở. Quy định thẩm quyền của từng cấp, từng cơ quan, mối quan hệ dọc, ngang, trung
ương và địa phương. Vận dụng tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc kết hợp quản
lí theo ngành và quản lí theo lãnh thổ. Các cơ quan trong hệ thống phải đủ mạnh về uy
tín, năng lực và phẩm chất để phát huy hiệu lực và hiệu quả quản lí nhà nước.
Ba là, đội ngũ cán bộ và công chức nhà nước, chế độ công vụ và quy chế công
chức, các quy định về hệ thống ngạch, bậc, tiêu chuẩn chức danh và chế độ tiền lương,
các quy chế bổ nhiệm, tuyển dụng, miễn nhiệm, bãi nhiệm, khen thưởng, đãi ngộ… là
những cơ sở để nâng cao chất lượng công tác, nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động và
làm căn cứ cho đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ công chức nhà nước.
Thực tế hoạt động của nền hành chính nhà nước xuất phát từ bản chất nhà nước
pháp quyền, sống và làm việc theo khuôn khổ pháp luật để quản lí xã hội, đưa đường lối
chính sách của Đảng và Nhà nước vào cuộc sống, là tạo lập môi trường cho mọi tổ chức
và công dân sống và làm việc theo Hiến pháp và Pháp luật.
đ. Quản lí hành chính Nhà nước
Bộ máy Nhà nước được cấu thành bởi ba tổ chức giữ ba quyền: quyền lập pháp,
quyền hành pháp và quyền tư pháp, trong đó quyền hành pháp là quyền chấp hành luật
(lập quy), tổ chức thực hiện luật (quản lí hành chính). Hai quyền này đều tập trung vào
Chính phủ và hệ thống cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương, được
thực hiện bằng các văn bản quy phạm pháp luật hành chính.
Bộ máy hành chính Nhà nước còn được gọi là bộ máy quản lí Nhà nước.
Hành pháp mang tính quyền lực chính trị (quyền lực nhà nước), còn quản lí hành
chính nhà nước là “Hành pháp hành động”, là quyền thực thi quyền hành pháp. Bản thân
quản lí hành chính nhà nước không chỉ là chính trị, mà còn là hành chính.
Ví dụ: Bộ trưởng có vai trò:
– Là thành viên của Chính phủ (chính trị).
– Là người đứng đầu về quản lí hành chính nhà nước của một bộ, ngành hay lĩnh
vực (quản lí hành chính).
Chủ tịch Ủy ban nhân dân có vai trò:
– Là thành viên của Hội đồng nhân dân bầu ra để chấp hành các nghị quyết của Hội
đồng nhân dân (chính trị).
– Là người đứng đầu về quản lí hành chính nhà nước ở địa phương (quản lí hành
chính).
6


Từ phân tích trên, có thể định nghĩa quản lí hành chính Nhà nước như sau:
Quản lí hành chính Nhà nước là sự tác động có tổ chức, và điều chỉnh bằng quyền
lực Nhà nước đối với các quá trình và hành vi hoạt động của công dân do các cơ quan có
tư cách pháp nhân công pháp trong hệ thống hành pháp và quản lí hành chính nhà nước
tiến hành bằng những văn bản quy phạm pháp luật dưới luật để thực hiện những chức
năng và nhiệm vụ của Nhà nước, phát triển các mối quan hệ xã hội, duy trì trật tự an
ninh công, bảo vệ quyền lợi công và phục vụ nhu cầu hàng ngày của nhân dân.
Nói một cách đơn giản hơn, quản lí hành chính nhà nước là việc tổ chức thực thi
quyền hành pháp để quản lí, điều hành các lĩnh vực đời sống xã hội bằng pháp luật và
theo pháp luật.
Như vậy, có thể thấy ba nội dung chính của khái niệm quản lí hành chính nhà nước:
Một là, quản lí hành chính nhà nước với tư cách là quyền lực nhà nước được gọi là
quyền quản lí hành chính, tức là “quyền hành pháp trong hành động”.
Hai là, quản lí hành chính nhà nước với tư cách là hoạt động thực tiễn hàng ngày, tổ
chức và điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của công dân bằng việc ra
các quyết định hành chính mang tính quy phạm hành chính, phục vụ cho các nhà cầm
quyền, các nhà lãnh đạo và quản lí đất nước.
Ba là, quản lí hành chính nhà nước, với tư cách là pháp nhân công pháp, chính là hệ
thống thiết chế tổ chức hành chính nhà nước. Trong hệ thống này, đứng đầu là Chính phủ
và Thủ tướng Chính phủ, các bộ, các cơ quan quản lí hành chính nhà nước trung ương,
các cấp quản lí hành chính nhà nước địa phương và các tổ chức công quyền khác có chức
năng tổ chức và điều hành các quá trình kinh tế kỹ thuật, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an
ninh, nội vụ, ngoại giao… và các hoạt động của tổ chức và công dân.
1.1.2. Những quan điểm cơ bản về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước
- Quan điểm 1. Xây dựng nhà nước XHCN Việt Nam của dân, do dân và vì dân, lấy
liên minh giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức làm nền tảng do Đảng
cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
Quan điểm này định hướng, chỉ đạo cho nhận thức về tư tưởng của Nhà nước ta là
nhà nước của dân, do dân và vì dân, nhân dân là chủ thể, là người làm chủ, tổ chức, giám
sát hoạt động của bộ máy nhà nước.
- Quan điểm 2. Tổ chức bộ máy nhà nước trên cơ sở học thuyết pháp quyền Việt
Nam, có sự nghiên cứu, vận dụng có chọn lọc các mô hình tổ chức bộ máy của các nước
có thể chế dân chủ khác nhau và những biến thể của chúng. Vì vậy, xâ dựng bộ máy nhà
nước theo quan điểm: Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp chặt
chẽ giữa cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
- Quan điểm 3. Tăng cường hơn nữa quản l‎ xã hội bằng pháp luật và theo pháp luật,
sử dụng tối đa các phương pháp giáo dục, thuyết phục, rèn luyện các phẩm chất đạo đức
cho công dân
1.1.3. Các nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước
CHXHCN Việt Nam
a. Nguyên tắc nhân dân tham gia vào công việc quản lí nhà nước, quản lí xã hội
7


Nguyên tắc này xuất phát từ bản chất dân chủ của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Ở
nước ta, thắng lợi của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ đã làm thay đổi chủ thể quyền lực
nhà nước. Nhân dân từ vị trí người nô lệ phụ thuộc bởi chế độ thuộc địa nửa phong kiến
trở thành người chủ đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Thực hiện nguyên tắc này, Hiến pháp nước ta ghi nhận: “công dân có quyền tham
gia quản lí nhà nước và xã hội, thảo luận, kiến nghị với nhà nước và địa phương, biểu
quyết khi nhà nước tổ chức trưng cầu dân ý” (điều 53 Hiến pháp 1992). Đây là sự bảo
đảm bằng pháp luật khả năng nhân dân tham gia quản lí nhà nước và quản lí xã hội, Hiến
pháp là văn bản có giá trị pháp lí cao nhất.
Hiến pháp còn ghi nhận quyền của công dân tham gia quản lí nhà nước và quản lí xã
hội qua việc ghi nhận quyền bầu cử, ứng cử vào Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất và
Hội đồng nhân dân các cấp là cơ quan đại diện ở địa phương (điều 54). Ghi nhận quyền
khiếu nại, tố cáo những hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan nhà nước và của các cá
nhân trong bộ máy nhà nước (điều 74). Những người làm việc trong cơ quan bảo vệ pháp
luật làm trái pháp luật đều phải chịu trách nhiệm trước pháp luật (điều 74).
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tạo ra những khả năng, điều kiện và phương
tiện để nhân dân tham gia vào quản lí nhà nước và quản lí xã hội. Trong quá trình phát
triển xã hội các chức năng quản lí ngày càng đơn giản hơn và ngược lại trình độ dân trí
ngày một nâng cao hơn, do vậy mọi người đều có thể làm được nó không còn là chức
năng riêng của một lớp người đặc biệt nữa, chức năng quản lí sẽ được mọi người thay
nhau đảm nhiệm.
b. Nguyên tắc Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam chịu sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam
Nguyên tắc này xuất phát từ bản chất giai cấp công nhân của nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa, nó được thể hiện trong tổ chức và hoạt động của nhà nước. Vai trò đó
đã được ghi nhận ở hai bản Hiến pháp gần nhất: bản Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992
(đều ở điều 4).
Đảng lãnh đạo nhà nước trước hết thông qua việc xây dựng và hoàn chỉnh cương
lĩnh, chiến lược, định ra các chủ trương chính sách cho hoạt động của nhà nước và toàn
xã hội để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu “dân giàu
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Đảng lãnh đạo bằng tuyên truyền, thuyết phục, bằng công tác tư tưởng và tổ chức,
bằng vai trò gương mẫu của đảng viên và tổ chức Đảng. Đảng xây dựng đường lối phù
hợp với lợi ích của nhân dân, được nhân dân ủng hộ và thực hiện. Như vậy, thực chất sự
lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước là sự lãnh đạo chính trị mang tính định hướng, tạo
điều kiện để nhà nước tổ chức bộ máy, bố trí cán bộ, thực hiện chức năng quản lí bằng
những công cụ, biện pháp của mình.
Đảng lãnh đạo nhà nước thông qua công tác cán bộ. Là Đảng cầm quyền nên Đảng
ta lựa chọn những đảng viên ưu tú của mình tham gia vào các cơ quan nhà nước trước hết
là Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp bằng con đường giới thiệu để nhân dân lựa
chọn bầu ra. Vì vậy, cơ chế dân chủ cũng là thước đo uy tín và năng lực của Đảng trước
xã hội và nhân dân. Đảng lãnh đạo nhà nước nhưng không “hoá thân thành nhà nước”, do
vậy việc phân định rõ chức năng lãnh đạo của Đảng với vai trò quản lí của nhà nước là
8


yêu cầu khách quan. Song, cũng cần phải đề phòng và đấu tranh chống lại những quan
điểm sai lầm muốn tách Đảng ra khỏi nhà nước, cần phải cảnh giác trước bọn cơ hội và
các thế lực thù địch âm mưu xoá bỏ sự lãnh đạo của Đảng, xoá bỏ chủ nghĩa Mác –
Lêmn, đưa đất nước đi chệch khỏi mục tiêu chủ nghĩa xã hội.
c. Nguyên tắc tập trung dân chủ
Nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc quan trọng trong tổ chức và hoạt động
của nhà nước ta. Nguyên tắc này đã được ghi ở điều 4 các bản Hiến pháp 1959, 1980 và
1992. Nguyên tắc tập trung dân chủ chi phối tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước.
Một nhà nước “của dân, do dân” được thể hiện từ mục đích đến tổ chức hoạt động.
Bộ máy nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo quy định của Hiến pháp bao
gồm ba cơ quan thực hiện ba chức năng khác nhau: Quốc hội thực hiện quyền lập pháp,
Chính phủ thực hiện quyền hành pháp và Toà án nhân dân thực hiện quyền tư pháp. Hoạt
động của các cơ quan này theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Nhưng ở mỗi cơ quan
nguyên tắc tập trung dân chủ thể hiện khác nhau.
Đối với Quốc hội khi phải quyết định những vấn đề hệ trọng, các đại biểu thường
cân nhắc đến:
– Lợi ích của cả nước khi biểu quyết lựa chọn một phương án trong nhiều phương
án được đề xuất.
– Lợi ích của địa phương, ngành, khi biểu quyết các đại biểu không chỉ thể hiện ý
chí của cả nước mà còn chú ý tới nguyện vọng của cử tri nơi đã bầu ra họ.
Do những chi phối đó nên Quốc hội không có cách nào tốt hơn là biểu quyết theo
nguyên tắc đa số. Nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt của Quốc hội là thiểu số
phục tùng đa số trong mọi trường hợp.
Đối với Chính phủ: Chính phủ vừa là thiết chế làm việc với chế độ tập thể quyết
định theo đa số về những vấn đề quan trọng, vừa đề cao vai trò cá nhân của Thủ tướng
Chính phủ - người quyết định những vấn đề trong điều hành công việc thường xuyên của
Chính phủ. Nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động của Chính phủ vừa đảm bảo sự
lãnh đạo tập thể, vừa đảm bảo sự quản lí của người đứng đầu Chính phủ.
Đối với cơ quan tư pháp: Trong các hoạt động xét xử, nguyên tắc tập trung dân
chủ đòi hỏi thực hành đúng quan hệ làm việc giữa thẩm phán, hội thẩm và các thành viên
khác trong hoạt động tố tụng, xác lập quan hệ giữa các cấp xét xử, quan hệ giữa các cơ
quan điều tra v.v…
Quán triệt nguyên tắc tập trung dân chủ là yếu tố đảm bảo hiệu lực quản lí của bộ
máy nhà nước ta trên cơ sở phát huy tính chủ động sáng tạo của các cơ quan trung ương
cũng như ở địa phương.
d.Nguyên tắc pháp chế
Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, vì thế tổ chức và hoạt động
của nó phải tuân theo nguyên tắc pháp chế.
Pháp chế là sự hiện diện của một hệ thống pháp luật cần và đủ để điều chỉnh các
quan hệ xã hội làm cơ sở một trật tự pháp luật và kỷ luật, là sự tuân thủ và thực hiện đầy
đủ pháp luật trong tổ chức và hoạt động của nhà nước, của các cơ quan đơn vị, tổ chức và
đối với công dân. Khi nói tới một trật tự pháp chế đòi hỏi phải có:
9


– Một hệ thống pháp luật cần và đủ để điều chỉnh các quan hệ xã hội.
– Pháp luật phải được thực hiện nghiêm minh trong cuộc sống, từ các cơ quan nhà
nước, các tổ chức xã hội và công dân.
Như vậy, không phải cứ có nhà nước, có pháp luật là có pháp chế, nhưng pháp luật
lại đóng vai trò tiền đề, cơ sở cho một trật tự pháp chế. Bởi vì pháp luật là thước đo, là
tiêu chuẩn thẩm định trật tự xã hội và tình trạng pháp chế cụ thể trong từng thời kỳ. Để
nhận ra một xã hội có pháp chế trước hết người ta xem xét pháp luật đã có hay chưa, có
đầy đủ hay không? Pháp luật được thực hiện hay chỉ là hình thức; tính xã hội của pháp
luật ra sao?
Để đảm bảo thực hiện nguyên tắc pháp chế trong tổ chức và hoạt động của nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa đòi hỏi:
– Thứ nhất, nhà nước phải ban hành các văn bản pháp luật một cách kịp thời và có
hệ thống. Nhà nước và pháp luật là hai mặt thống nhất, thống nhất giữa chủ thể và
phương tiện. Để nhà nước hoạt động đảm bảo nguyên tắc pháp chế, các văn bản luật và
các văn bản pháp quy để thi hành luật (văn bản dưới luật) phải được ban hành kịp thời và
đồng bộ.
– Thứ hai, các cơ quan nhà nước được lập ra và hoạt động trong khuôn khổ pháp
luật quy định về địa vị pháp lí, quy mô và thẩm quyền. Nguyên tắc này không chấp nhận
hai khả năng thường xảy ra ở những nơi mà tình trạng pháp chế bị vi phạm: khả năng thứ
nhất là các hoạt động quản lí vượt thẩm quyền được giao, khả năng thứ hai là buông lỏng,
bỏ trống một số lĩnh vực thuộc thẩm quyền được giao.
– Thứ ba, sự tôn trọng hiến pháp, pháp luật của cơ quan nhà nước. Nhà nước thay
mặt nhân dân ban hành luật pháp, nhưng nhà nước cũng bị luật pháp điều chỉnh. Nghĩa
là: nếu cơ quan nhà nước trong hoạt động phạm sai lầm, vi phạm pháp luật thì phải chịu
trách nhiệm về những sai lầm đó trước pháp luật. Nhà nước vì vậy vừa là chủ thể của luật
pháp nhưng cũng vừa là đối tượng để luật pháp điều chỉnh. Đây là đòi hỏi sự tôn trọng
của nguyên tắc pháp chế, đồng thời thể hiện tính dân chủ của nhà nước ta, cũng là yêu
cầu rất quan trọng trong quản lí hành chính, trong hoạt động của các cơ quan tư pháp ở
nước ta hiện nay.
Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của nhà nước có mối quan hệ biện chứng với
nhau, tác động qua lại lẫn nhau, thực hiện tốt các nguyên tắc trên nhằm đảm bảo cho nhà
nước ta là “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của dân, do dân và vì dân” trong tổ
chức và hoạt động.
1.1.4. Cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Theo Hiến pháp 1992 cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước ta gồm có: Quốc hội, Ủy ban
Thường vụ Quốc hội; Chủ tịch nước; Chính phủ; Toà án nhân dân và Viện Kiểm sát nhân
dân; Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân.
a. Quốc hội
“Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực cao nhất
của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” (Điều 83, Hiến pháp 1992); Quốc hội
do nhân dân trực tiếp bầu ra bằng chế độ bầu cử phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ

10


phiếu kín; Quốc hội thống nhất mọi quyền lực (thống nhất ba quyền lập pháp, hành pháp
và tư pháp). Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp.
Quốc hội là cơ quan cao nhất quyết định những chính sách về đối nội, đối ngoại,
nhiệm vụ kinh tế – xã hội, quốc phòng và an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ
yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của
công dân.
Quốc hội là cơ quan giám sát tối cao đối với hoạt động của nhà nước. Hoạt động cơ
bản nhất, quan trọng nhất của Quốc hội là các kỳ họp Quốc hội. Đại biểu Quốc hội về
nguyên tắc cũng phải hoạt động thường xuyên trong cả nhiệm kỳ, chịu sự giám sát và có
thể bị cử tri hoặc Quốc hội bãi miễn bất cứ lúc nào nếu tỏ ra không còn xứng đáng. Quốc
hội có các Hội đồng và Ủy ban. Trong điều kiện hiện nay ở các Hội đồng và Ủy ban của
Quốc hội có một bộ phận cán bộ làm việc theo chế độ chuyên trách còn phần lớn đại biểu
Quốc hội là kiêm nhiệm, phải dành thời gian để làm nhiệm vụ đại biểu.
Ở nước ta hiện nay, Quốc hội chưa hoạt động thường xuyên nên Quốc hội lập ra Ủy
ban Thường vụ Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc
hội do Quốc hội bầu ra và chịu trách nhiệm trước Quốc hội. Ủy ban thường vụ Quốc hội
được giao một số quyền hạn theo quy định của Hiến pháp như: quyền quyết định ra pháp
lệnh do Quốc hội giao, quyền trong thời gian Quốc hội không họp phê chuẩn đề nghị của
Thủ tướng Chính phủ về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ
trưởng, các thành viên của Chính phủ và báo cáo với Quốc hội tại kỳ họp gần nhất; quyền
giám sát các hoạt động của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân
tối cao; quyền đình chỉ việc thi hành các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ,
Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao trái với hiến pháp và luật…
Quyền quyết định trong thời gian Quốc hội không họp tuyên bố tình trạng chiến tranh khi
nhà nước bị xâm lược: quyền quyết định tổng động viên hoặc động viên cục bộ.
b. Chủ tịch nước
Chủ tịch nước “là người đứng đầu nhà nước thay mặt nước Cộng hoà Xã hội Chủ
nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại” (Điều 101 Hiến pháp 1992). Chủ tịch nước do
Quốc hội bầu ra, nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước được quy định ở điều 103 Hiến
pháp 1992, theo đó người đứng đầu quốc gia là một cá nhân. Chủ tịch nước ký công bố
các văn bản luật pháp (của Quốc hội) và pháp lệnh (của Ủy ban thường vụ Quốc hội)
nhưng Chủ tịch nước có quyền đề nghị xem xét lại pháp lệnh của Ủy ban thường vụ
Quốc hội và nếu không nhất trí thì trình ra Quốc hội quyết định. Chủ tịch nước đề nghị
Quốc hội miễn nhiệm, bãi nhiệm Thủ tướng chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối
cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Chủ tịch nước có quyền tham dự phiên
họp của Ủy ban thường vụ Quốc hội, cũng như xét thấy cần thiết thì có quyền tham dự
các phiên họp của Chính phủ. Với quy chế của Hiến pháp 1992 thiết chế Chủ tịch nước
cùng với thiết chế Ủy ban thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội, vừa
đảm bảo tính tập thể trong việc quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước trong khi
Quốc hội không họp, vừa đảm bảo vị trí của người đứng đầu nhà nước.
c. Chính phủ
Theo quan điểm quyền lực nhà nước thống nhất và phân công ba quyền, thì Quốc
hợi là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và nắm quyền lập pháp. Dưới quyền lực tối
11


cao và thống nhất đó của Quốc hội là những cơ quan quyền lực nhà nước về hành pháp
và tư pháp. Chính phủ là cơ quan quyền lực hành pháp cao nhất. Chính phủ gồm có Thủ
tướng, các Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng và các thành viên khác. Chính phủ do Quốc hội
bầu ra trong kỳ họp thứ nhất của mỗi khoá Quốc hội. Trong kỳ họp này Quốc hội bầu
Thủ tướng Chính phủ theo đề nghị của Chủ tịch nước và giao cho Thủ tướng đề nghị
danh sách các Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ để Quốc hội phê chuẩn.
Chính phủ vừa là cơ quan chấp hành của Quốc hội vừa là cơ quan hành chính nhà
nước cao nhất. Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác với Quốc
hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước và chịu sự giám sát của Quốc hội, Ủy
ban Thường vụ quốc hội. Đứng đầu Chính phủ là Thủ tướng Chỉnh phủ.
Theo điều 112 Hiến pháp 1992 và chương II Luật Tổ chức Chính phủ, thì thẩm
quyền của Chính phủ bao gồm:
– Quyền kiến nghị lập pháp: Dự thảo các văn bản luật trình Quốc hội, và dự thảo
pháp lệnh trình bày Ban Thường vụ Quốc hội. Dự thảo kế hoạch nhà nước, ngân sách,
các chính sách lớn về đối nội, đối ngoại của nhà nước trên cơ sở đường lối của Đảng để
trình Quốc hội.
– Quyền lập quy: Ban hành các văn bản pháp quy có giá trị pháp lí trong cả nước.
– Quyền quản lí và điều hành toàn bộ công việc của đất nước: Xây dựng kinh tế,
văn hoá, xã hội theo đúng đường lối của Đảng, pháp luật của nhà nước và hệ thống pháp
quy của Chính phủ.
– Quyền xây dựng và lãnh đạo toàn bộ hệ thống tổ chức cơ quan quản lí nhà nước,
thành lập các cơ quan thuộc Chính phủ và cơ quan giúp Thủ tướng, lãnh đạo Ủy ban nhân
dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, chỉ đạo việc tổ chức các cơ quan chuyên môn
ở địa phương.
– Quyền hướng dẫn, kiểm tra hội đồng nhân dân các cấp.
Chính phủ hoạt động bằng các hình thức cơ bản sau:
Một là: Hoạt động tập thể là các phiên họp của Chính phủ.
Hai là: Sự chỉ đạo, điều hành của Thủ tướng và các Phó Thủ tướng là những người
giúp Thủ tướng theo sự phân công của Thủ tướng, khi Thủ tướng vắng mặt thì một Phó
Thủ tướng được Thủ tướng ủy nhiệm thay mặt lãnh đạo công tác của Chính phủ.
Ba là: Hoạt động của Bộ trưởng với tư cách là thành viên của chính phủ đứng đầu
một Bộ hay cơ quan ngang Bộ.
d. Toà án nhân dân và Viện Kiểm sát nhân dân là hệ thông tổ chức thực hiện quyền
tư pháp
– Cơ cấu tổ chức toà án gồm: Toà án nhân dân tối cao, các Toà án nhân dân địa
phương, Toà án quân sự và các Toà án khác do luật định. Toà án nhân dân là cơ quan xét
xử của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (điều 127 – Hiến pháp 1992). Trong
hệ thống toà án thì Toà án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của nước Cộng hoà
Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Có chức năng và quyền giám đốc việc xét xử của Toà án
nhân dân địa phương và Toà án quân sự, giám đốc việc xét xử của Toà án đặc biệt và các
Toà án khác, trừ trường hợp Quốc hội quy định khác khi thành lập Toà án đó. Chánh án
Toà án nhân dân tối cao do Quốc hội bầu và chịu trách nhiệm báo cáo công việc trước
12


Quốc hội, trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm báo cáo công tác
trước Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Nguyên tắc hoạt động của Toà án là “khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và
chỉ tuân theo pháp luật” (điều 130 – Hiến pháp 1992) và “Toà án nhân dân xét xử công
khai, trừ trường hợp do luật định. Toà án xét xử tập thể và quyết định theo đa số” (điều
131 – Hiến pháp 1992).
– Cơ cấu tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân. Theo quy định của Hiến pháp “Viện
Kiểm sát nhân dân tối cao kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các Bộ, cơ quan ngang
Bộ, các cơ quan khác thuộc Chính phủ, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức
kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, thực hiện quyền công tố, đảm bảo cho
pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất” (điều 137 – Hiến pháp 1992).
Để đảm bảo cho pháp luật được thi hành nghiêm minh, thống nhất, Viện Kiểm sát
nhân dân được tổ chức thành một hệ thống. Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp
dưới chịu Sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên; các Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân và Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự chịu sự lãnh đạo thống
nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Viện trưởng, các Phó Viện trưởng,
kiểm sát viên nhân dân địa phương và Viện Kiểm sát quân sự do Viện trưởng Viện Kiểm
sát nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức.
Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao do Quốc hội bầu, chịu trách nhiệm và
báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách
nhiệm báo cáo trước Ủy ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước. Viện trưởng các Viện
Kiểm sát nhân dân địa phương chịu trách nhiệm báo cáo trước Hội đồng nhân dân về tình
hình thi hành pháp luật ở địa phương và trả lời chất vấn của Hội đồng nhân dân.
đ. Cơ quan chính quyền địa phương: Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân
Hội đồng nhân dân địa phương là “cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương; đại
diện ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra,
chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên” (điều 118 –
Hiến pháp 1992). Hội đồng nhân dân địa phương phải chấp hành Hiến pháp, luật, các quy
định và nhiệm vụ của cấp trên giao cho và vận dụng phù hợp với điều kiện địa phương tự
quyết định những vấn đề thuộc quyền lợi của nhân dân địa phương trong phạm vi được
phân cấp theo luật định. Vì vậy, Hội đồng nhân dân phải đặt dưới sự giám sát, hướng dẫn
của Quốc hội, sự hướng dẫn kiểm tra của Chính phủ.
Ủy ban nhân dân nhân theo quy định của Hiến pháp do Hội đồng nhân dân bầu ra, là
cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương,
chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên
và nghị quyết của Hội đồng nhân dân (điều 123 – Hiến pháp 1992).
Ủy ban nhân dân là cơ quan hành chính nhà nước hoạt động thường xuyên, thực
hiện chức năng quản lí nhà nước ở địa phương, vừa do Hội đồng nhân dân cùng cấp, vừa
do Ủy ban nhân dân cấp trên giao cho và chịu sự lãnh đạo thống nhất của Chính phủ.
1.2. GIỚI THIỆU LUẬT VIÊN CHỨC

13


Luật viên chức được Quốc hội nước CHXHCNVN khóa VII, kỳ họp thứ 8 thông
qua ngày 15 tháng 11 năm 2010 và có hiệu lực ngày 01/1/2012. Luật này gồm 07 chương
và 62 điều.
1.2.1. Những quy định chung
1.2.2. Quyền và nghĩa vụ của viên chức
a. Quyền của viên chức
Quyền của viên chức được quy định tại Điều 11 đến Điều 15 như sau:
Điều 11. Quyền của viên chức về hoạt động nghề nghiệp
1. Được pháp luật bảo vệ trong hoạt động nghề nghiệp.
2. Được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ.
3. Được bảo đảm trang bị, thiết bị và các điều kiện làm việc.
4. Được cung cấp thông tin liên quan đến công việc hoặc nhiệm vụ được giao.
5. Được quyết định vấn đề mang tính chuyên môn gắn với công việc hoặc nhiệm vụ
được giao.
6. Được quyền từ chối thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ trái với quy định của
pháp luật.
7. Được hưởng các quyền khác về hoạt động nghề nghiệp theo quy định của pháp
luật.
Điều 12. Quyền của viên chức về tiền lương và các chế độ liên quan đến tiền
lương
1. Được trả lương tương xứng với vị trí việc làm, chức danh nghề nghiệp, chức vụ
quản lý và kết quả thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ được giao; được hưởng phụ cấp và
chính sách ưu đãi trong trường hợp làm việc ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu,
vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn hoặc
làm việc trong ngành nghề có môi trường độc hại, nguy hiểm, lĩnh vực sự nghiệp đặc thù.
2. Được hưởng tiền làm thêm giờ, tiền làm đêm, công tác phí và chế độ khác theo
quy định của pháp luật và quy chế của đơn vị sự nghiệp công lập.
3. Được hưởng tiền thưởng, được xét nâng lương theo quy định của pháp luật và
quy chế của đơn vị sự nghiệp công lập.
Điều 13. Quyền của viên chức về nghỉ ngơi
1. Được nghỉ hàng năm, nghỉ lễ, nghỉ việc riêng theo quy định của pháp luật về lao
động. Do yêu cầu công việc, viên chức không sử dụng hoặc sử dụng không hết số ngày
nghỉ hàng năm thì được thanh toán một khoản tiền cho những ngày không nghỉ.
2. Viên chức làm việc ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa hoặc trường
hợp đặc biệt khác, nếu có yêu cầu, được gộp số ngày nghỉ phép của 02 năm để nghỉ một
lần; nếu gộp số ngày nghỉ phép của 03 năm để nghỉ một lần thì phải được sự đồng ý của
người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập.
3. Đối với lĩnh vực sự nghiệp đặc thù, viên chức được nghỉ việc và hưởng lương
theo quy định của pháp luật.
4. Được nghỉ không hưởng lương trong trường hợp có lý do chính đáng và được sự
đồng ý của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập.
14


Điều 14. Quyền của viên chức về hoạt động kinh doanh và làm việc ngoài thời
gian quy định
1. Được hoạt động nghề nghiệp ngoài thời gian làm việc quy định trong hợp đồng
làm việc, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Được ký hợp đồng vụ, việc với cơ quan, tổ chức, đơn vị khác mà pháp luật không
cấm nhưng phải hoàn thành nhiệm vụ được giao và có sự đồng ý của người đứng đầu đơn
vị sự nghiệp công lập.
3. Được góp vốn nhưng không tham gia quản lý, điều hành công ty trách nhiệm hữu
hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã, bệnh viện tư, trường học tư và tổ
chức nghiên cứu khoa học tư, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định khác.
Điều 15. Các quyền khác của viên chức
Viên chức được khen thưởng, tôn vinh, được tham gia hoạt động kinh tế xã hội;
được hưởng chính sách ưu đãi về nhà ở; được tạo điều kiện học tập hoạt động nghề
nghiệp ở trong nước và nước ngoài theo quy định của pháp luật. Trường hợp bị thương
hoặc chết do thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ được giao thì được xét hưởng chính sách
như thương binh hoặc được xét để công nhận là liệt sĩ theo quy định của pháp luật.
b. Nghĩa vụ của viên chức
Nghĩa vụ của viên chức được quy định tại Điều 16 đến Điều 19 như sau:
Điều 16. Nghĩa vụ chung của viên chức
1. Chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam và
pháp luật của Nhà nước.
2. Có nếp sống lành mạnh, trung thực, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.
3. Có ý thức tổ chức kỷ luật và trách nhiệm trong hoạt động nghề nghiệp; thực hiện
đúng các quy định, nội quy, quy chế làm việc của đơn vị sự nghiệp công lập.
4. Bảo vệ bí mật nhà nước; giữ gìn và bảo vệ của công, sử dụng hiệu quả tiết kiệm
tài sản được giao.
5. Tu dưỡng, rèn luyện đạo đức nghề nghiệp, thực hiện quy tắc ứng xử của viên
chức.
Điều 17. Nghĩa vụ của viên chức trong hoạt động nghề nghiệp
1. Thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ được giao bảo đảm yêu cầu về thời gian và
chất lượng.
2. Phối hợp tốt với đồng nghiệp trong thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ.
3. Chấp hành sự phân công công tác của người có thẩm quyền.
4. Thường xuyên học tập nâng cao trình độ, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ.
5. Khi phục vụ nhân dân, viên chức phải tuân thủ các quy định sau:
a) Có thái độ lịch sự, tôn trọng nhân dân;
b) Có tinh thần hợp tác, tác phong khiêm tốn;
c) Không hách dịch, cửa quyền, gây khó khăn, phiền hà đối với nhân dân;
d) Chấp hành các quy định về đạo đức nghề nghiệp.
6. Chịu trách nhiệm về việc thực hiện hoạt động nghề nghiệp.
15


7. Thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
Điều 18. Nghĩa vụ của viên chức quản lý
Viên chức quản lý thực hiện các nghĩa vụ quy định tại Điều 16, Điều 17 của Luật
này và các nghĩa vụ sau:
1. Chỉ đạo và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ của đơn vị theo đúng chức trách, thẩm
quyền được giao;
2. Thực hiện dân chủ, giữ gìn sự đoàn kết, đạo đức nghề nghiệp trong đơn vị được
giao quản lý, phụ trách;
3. Chịu trách nhiệm hoặc liên đới chịu trách nhiệm về việc thực hiện hoạt động nghề
nghiệp của viên chức thuộc quyền quản lý, phụ trách;
4. Xây dựng và phát triển nguồn nhân lực; quản lý, sử dụng có hiệu quả cơ sở vật
chất, tài chính trong đơn vị được giao quản lý, phụ trách;
5. Tổ chức thực hiện các biện pháp phòng, chống tham nhũng và thực hành tiết
kiệm, chống lãng phí trong đơn vị được giao quản lý, phụ trách.
1.2.3. Những việc viên chức không được làm
Điều 19. Những việc viên chức không được làm
1. Trốn tránh trách nhiệm, thoái thác công việc hoặc nhiệm vụ được giao; gây bè
phái, mất đoàn kết; tự ý bỏ việc; tham gia đình công.
2. Sử dụng tài sản của cơ quan, tổ chức, đơn vị và của nhân dân trái với quy định
của pháp luật.
3. Phân biệt đối xử dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo dưới
mọi hình thức.
4. Lợi dụng hoạt động nghề nghiệp để tuyên truyền chống lại chủ trương đường lối,
chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước hoặc gây phương hại đối với thuần phong,
mỹ tục, đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân và xã hội.
5. Xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác trong khi thực hiện hoạt
động nghề nghiệp.
6. Những việc khác viên chức không được làm theo quy định của Luật phòng, chống
tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và các quy định khác của pháp luật
có liên quan.
1.2.4. Tuyển dụng, sử dụng viên chức
a. Tuyển dụng:
Điều 20. Căn cứ tuyển dụng
Việc tuyển dụng viên chức phải căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí việc làm, tiêu
chuẩn chức danh nghề nghiệp và quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập.
Điều 21. Nguyên tắc tuyển dụng
1. Bảo đảm công khai, minh bạch, công bằng, khách quan và đúng pháp luật.
2. Bảo đảm tính cạnh tranh.
3. Tuyển chọn đúng người đáp ứng yêu cầu của vị trí việc làm.
4. Đề cao trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập.
16


5. Ưu tiên người có tài năng, người có công với cách mạng, người dân tộc thiểu số.
Điều 22. Điều kiện đăng ký dự tuyển
1. Người có đủ các điều kiện sau đây không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần
xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo được đăng ký dự tuyển viên chức:
a) Có quốc tịch Việt Nam và cư trú tại Việt Nam;
b) Từ đủ 18 tuổi trở lên. Đối với một số lĩnh vực hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể
dục, thể thao, tuổi dự tuyển có thể thấp hơn theo quy định của pháp luật; đồng thời, phải
có sự đồng ý bằng văn bản của người đại diện theo pháp luật;
c) Có đơn đăng ký dự tuyển;
d) Có lý lịch rõ ràng;
đ) Có văn bằng, chứng chỉ đào tạo, chứng chỉ hành nghề hoặc có năng khiếu kỹ
năng phù hợp với vị trí việc làm;
e) Đủ sức khoẻ để thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ;
g) Đáp ứng các điều kiện khác theo yêu cầu của vị trí việc làm do đơn vị sự nghiệp
công lập xác định nhưng không được trái với quy định của pháp luật.
2. Những người sau đây không được đăng ký dự tuyển viên chức:
a) Mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;
b) Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đang chấp hành bản án, quyết định về hình
sự của Tòa án; đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ
sở giáo dục, trường giáo dưỡng.
Điều 23. Phương thức tuyển dụng
Việc tuyển dụng viên chức được thực hiện thông qua thi tuyển hoặc xét tuyển.
Điều 24. Tổ chức thực hiện tuyển dụng
1. Đối với đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ, người đứng đầu đơn
vị sự nghiệp công lập thực hiện việc tuyển dụng viên chức và chịu trách nhiệm về quyết
định của mình.
Đối với đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ, cơ quan có thẩm
quyền quản lý đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện việc tuyển dụng viên chức hoặc phân
cấp cho người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện việc tuyển dụng.
2. Căn cứ vào kết quả tuyển dụng, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập ký kết
hợp đồng làm việc với người trúng tuyển vào viên chức.
3. Chính phủ quy định chi tiết các nội dung liên quan đến tuyển dụng viên chức quy
định tại Luật này.
b. Sử dụng viên chức
Hợp đồng làm việc
Điều 25. Các loại hợp đồng làm việc
1. Hợp đồng làm việc xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định
thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong khoảng thời gian từ đủ 12
tháng đến 36 tháng. Hợp đồng làm việc xác định thời hạn áp dụng đối với người trúng
17


tuyển vào viên chức, trừ trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều 58 của
Luật này.
2. Hợp đồng làm việc không xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên
không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng. Hợp đồng làm việc
không xác định thời hạn áp dụng đối với trường hợp đã thực hiện xong hợp đồng làm
việc xác định thời hạn và trường hợp cán bộ, công chức chuyển thành viên chức theo quy
định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều 58 của Luật này.
Điều 26. Nội dung và hình thức của hợp đồng làm việc
1. Hợp đồng làm việc có những nội dung chủ yếu sau:
a) Tên, địa chỉ của đơn vị sự nghiệp công lập và người đứng đầu đơn vị sự nghiệp
công lập;
b) Họ tên, địa chỉ, ngày, tháng, năm sinh của người được tuyển dụng.
Trường hợp người được tuyển dụng là người dưới 18 tuổi thì phải có họ tên, địa chỉ,
ngày, tháng, năm sinh của người đại diện theo pháp luật của người được tuyển dụng;
c) Công việc hoặc nhiệm vụ, vị trí việc làm và địa điểm làm việc;
d) Quyền và nghĩa vụ của các bên;
đ) Loại hợp đồng, thời hạn và điều kiện chấm dứt của hợp đồng làm việc;
e) Tiền lương, tiền thưởng và chế độ đãi ngộ khác (nếu có);
g) Thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi;
h) Chế độ tập sự (nếu có);
i) Điều kiện làm việc và các vấn đề liên quan đến bảo hộ lao động;
k) Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế;
l) Hiệu lực của hợp đồng làm việc;
m) Các cam kết khác gắn với tính chất, đặc điểm của ngành, lĩnh vực và điều kiện
đặc thù của đơn vị sự nghiệp công lập nhưng không trái với quy định của Luật này và các
quy định khác của pháp luật có liên quan.
2. Hợp đồng làm việc được ký kết bằng văn bản giữa người đứng đầu đơn vị sự
nghiệp công lập với người được tuyển dụng làm viên chức và được lập thành ba bản,
trong đó một bản giao cho viên chức.
3. Đối với các chức danh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật do cấp trên của
người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập bổ nhiệm thì trước khi ký kết hợp đồng làm
việc phải được sự đồng ý của cấp đó.
Điều 27. Chế độ tập sự
1. Người trúng tuyển viên chức phải thực hiện chế độ tập sự, trừ trường hợp đã có
thời gian từ đủ 12 tháng trở lên thực hiện chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với yêu cầu
của vị trí việc làm được tuyển dụng.
2. Thời gian tập sự từ 03 tháng đến 12 tháng và phải được quy định trong hợp đồng
làm việc.
3. Chính phủ quy định chi tiết chế độ tập sự.
1.2.5. Khen thưởng và xử l‎ý‎ vi phạm
18


Điều 51. Khen thưởng
1. Viên chức có công trạng, thành tích và cống hiến trong công tác, hoạt động nghề
nghiệp thì được khen thưởng, tôn vinh theo quy định của pháp luật về thi đua, khen
thưởng.
2. Viên chức được khen thưởng do có công trạng, thành tích đặc biệt được xét nâng
lương trước thời hạn, nâng lương vượt bậc theo quy định của Chính phủ.
Điều 52. Các hình thức kỷ luật đối với viên chức
1. Viên chức vi phạm các quy định của pháp luật trong quá trình thực hiện công việc
hoặc nhiệm vụ thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm, phải chịu một trong các hình thức
kỷ luật sau:
a) Khiển trách;
b) Cảnh cáo;
c) Cách chức;
d) Buộc thôi việc.
2. Viên chức bị kỷ luật bằng một trong các hình thức quy định tại khoản 1 Điều này
còn có thể bị hạn chế thực hiện hoạt động nghề nghiệp theo quy định của pháp luật có
liên quan.
3. Hình thức kỷ luật cách chức chỉ áp dụng đối với viên chức quản lý.
4. Quyết định kỷ luật được lưu vào hồ sơ viên chức.
5. Chính phủ quy định việc áp dụng các hình thức kỷ luật, trình tự, thủ tục và thẩm
quyền xử lý kỷ luật đối với viên chức.
1.3. VIÊN CHỨC NGÀNH GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO: GIÁO VIÊN TRUNG
HỌC
1.3.1. Khái quát chung về viên chức ngành Giáo dục và Đào tạo
Viên chức ngành giáo dục và đào tạo là một trong 18 ngành chuyên môn của phân
loại công chức. Theo tiêu chuẩn nghiệp vụ thì viên chức ngành giáo dục và đào tạo gồm
có các ngạch như sau:
1. Giảng viên cao cấp.
2. Giảng viên chính.
3. Giảng viên.
4. Giáo viên trung học cao cấp.
5. Giáo viên trung học.
6. Giáo viên tiểu học.
7. Giáo viên mầm non (nhà trẻ và mẫu giáo).
Tiêu chuẩn nghiệp vụ của các ngạch nêu trên là căn cứ để các Bộ, ngành, địa
phương thực hiện sử dụng, tuyển dụng, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao bậc
lương và chuyển ngạch cho công chức ngành giáo dục và đào tạo theo quy định của Nhà
nước.
1.3.2. Giáo viên trung học
19


Là viên chức chuyên môn chuyên trách giảng dạy và giáo dục học sinh ở trường
trung học công lập (gồm trung học cơ sở và trung học phổ thông).
– Giảng dạy các môn học theo mục tiêu, nội dung chương trình và kế hoạch đạo tạo
cấp học do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.
– Thực hiện đầy đủ các quy chế chuyên môn như soạn bài, giảng dạy, chấm bài,
chuẩn bị thí nghiệm, phụ đạo, coi thi, chấm thi, đánh giá xếp loại học sinh và các chế độ,
nội quy, các quy định khác của ngành…
– Thực hiện chức năng, nhiệm vụ, nguyên lý giáo dục… theo quy định của Luật
Giáo dục và Đào tạo, Điều lệ Trường trung học.
CÂU HỎI HƯỚNG DẪN ÔN TẬP
1. Phân biệt quản l‎Ý nhà nước và quản lÝ hành chính nhà nước
2. Phân tích các nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước
CHXHCN Việt Nam
3. Trình bày những quy định chung của Luật viên chức
4. Viên chức có những quyền và nghĩa vụ gì? Xác định hướng phấn đấu của bản
thân để thự hiện tốt những nghĩa và quyền lợi đó.
5. Hãy cho biết những điều viên chức không được làm theo quy định tại Luật viên
chức.
6. Phân tích tiêu chuẩn chức danh nghiệp vụ của giáo viên trung học và xác định
hướng phấn đấu của bản thân để đạt được tiêu chuẩn chức danh nghiệp vụ đó.

20


CHƯƠNG II. ĐƯỜNG LỐI, QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC
VIỆT NAM VỀ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

2.1. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN GIẢI QUYẾT TRONG GIÁO DỤC VÀ
ĐÀO TẠO HIỆN NAY
2.1.1. Tình hình giáo dục Việt Nam hiện nay
a. Thành tựu
Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, mặc dù đất nước còn nghèo và có chiến
tranh liên tiếp, sự nghiệp GD – ĐT nước ta đã đạt những thành tựu quan trọng.
Thực hiện Nghị quyết các Đại hội VI, VII và Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban
chấp hành Trung ương khóa VII, trong những năm gần đây, GD – ĐT có những mặt tiến
bộ:
– Mạng lưới trường học phát triển rộng khắp. Hầu hết các xã trong cả nước, kể cả
các xã vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo đã có trường, lớp tiểu học. Phần
lớn các xã ở vùng đồng bằng có trường trung học cơ sở. Hầu hết các huyện có trường
trung học phổ thông. Các tỉnh và nhiều huyện đồng bào dân tộc đã có hệ thống trường
dân tộc nội trú.
– Đã ngăn chặn được sự giảm sút quy mô và có bước tăng trưởng khá. Giáo dục
mầm non, nhất là mẫu giáo 5 tuổi, đang phát triển. Công cuộc chống mù chữ được triển
khai trong cả nước. Năm 2000 đã phổ cập tiểu học trong cả nước. Số học sinh phổ thông
và số sinh viên đại học không ngừng tăng. Tỉ lệ học sinh lưu ban, bỏ học đã giảm nhiều.
Giáo dục sau đại học đã đào tạo được số lượng đáng kể cán bộ có trình độ cao mà trước
đây chủ yếu phải dựa vào nước ngoài. GD – ĐT đã góp phần quan trọng trong nâng cao
dân trí, đào tạo đội ngũ lao động có trình độ học vấn tiểu học, trung học và đội ngũ cán
bộ đông đảo phục vụ các nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội và an ninh, quốc phòng.
Trong nông nghiệp, công nghiệp và một số ngành khác, đội ngũ cán bộ và công nhân
nước ta có khả năng nắm bắt và ứng dụng nhanh chóng một số công nghệ mới.
– Chất lượng GD – ĐT có tiến bộ bước đầu trên một số mặt về các môn khoa học tự
nhiên và kỹ thuật, ở bậc phổ thông và đại học hệ tập trung. Số học sinh khá giỏi, số học
sinh đạt giải trong các kỳ thi quốc gia và quốc tế ngày càng tăng.
– Trong GD – ĐT đã xuất hiện một số nhân tố mới. Ở nhiều nơi đã hình thành phong
trào học tập sôi nổi của cán bộ và nhân dân, nhất là thanh niên. Các loại hình trường lớp,
từ phổ thông đến đại học, đa dạng hơn, tạo thêm cơ hội học tập cho nhân dân. Đã huy
động được thêm các nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước để phát triển GD – ĐT. Các gia
đình, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội đã chăm lo cho giáo dục nhiều hơn trước.
Các phương tiện thông tin đại chúng đã xây dựng các chuyên mục phục vụ GD – ĐT.
Hợp tác quốc tế về GD – ĐT bước đầu được mở rộng…
Nguyên nhân của các thành tựu nói trên là:
– Do đường lối GD – ĐT đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, chính sách đổi mới,
trực tiếp là chính sách đổi mới trong GD ĐT, thể hiện tập trung ở Nghị quyết Trung ương
4 (khóa VII).
21


– Truyền thống hiếu học của dân tộc ta được phát huy, nhu cầu học tập của nhân dân
không ngừng tăng lên. Nhân dân đóng góp rất nhiều công, của xây dựng trường lớp và
chăm lo sự nghiệp giáo dục.
– Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lí giáo dục và số đông học sinh, sinh viên có
những cố gắng rất lớn; đại bộ phận thầy, cô giáo có tâm huyết, gắn bó với nghề. Các giáo
viên ở vùng cao, vùng câu, vùng xa nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh…
– Các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể và nhân dân nhận thức rõ hơn về vai trò
của giáo dục đối với tương lai của đất nước, đã khắc phục những khó khăn, tích cực tổ
chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển giáo dục.
– Những thành quả phát triển kinh tế, ổn định chính trị, nâng cao đời sống nhân dân
qua mười năm đổi mới đã tạo điều kiện thuận lợi cho giáo dục.
b. Yếu kém
GD – ĐT nước ta còn nhiều yếu kém bất cập cả về quy mô, cơ cấu, và nhất là về
chất lượng và hiệu quả; chưa đáp ứng kịp những đòi hỏi lớn và ngày càng cao về nhân
lực của công cuộc đổi mới kinh tế – xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện CNH,
HĐH đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
– Hiện nay nước ta còn khoảng 7% dân số mù chữ; chưa phổ cập được giáo dục
THCS; tỉ lệ sinh viên trên dân số còn thấp; tỉ lệ lao động qua đào tạo mới đạt hơn 22%;
nền kinh tế quốc dân còn thiếu nhiều lao động và cán bộ có tay nghề và trình độ kỹ thuật,
nghiệp vụ cao.
– Cơ cấu ngành nghề, trình độ, cơ cấu xã hội và cơ cấu vùng của đội ngũ sinh viên,
học sinh các trường đại học và chuyên nghiệp chưa hợp lí. Mấy năm gần đây ở một số
ngành rất cần thiết cho sự phát triển đất nước lại có quá ít học sinh đăng ký theo học.
Giáo dục chuyên nghiệp, nhất là đào tạo công nhân kỹ thuật có lúc suy giảm mạnh, mất
cân đối lớn về cơ cấu trình độ trong đội ngũ lao động ở nhiều ngành sản xuất. Quy mô
đào tạo nghề hiện nay vẫn quá nhỏ bé; trình độ, thiết bị đào tạo lạc hậu, không đáp ứng
được yêu cầu CNH, HĐH.
– Đáng quan tâm nhất là chất lượng và hiệu quả giáo GD - ĐT còn thấp. Trình độ
kiến thức, kỹ năng thực hành, phương pháp tư duy khoa học, trình độ ngoại ngữ và thể
lực của đa số sinh viên còn yếu. Ở nhiều học sinh ra trường, khả năng vận dụng kiến thức
vào sản xuất và đời sống còn hạn chế. Số đông sinh viên tốt nghiệp chưa có khả năng
thích ứng với những biến đổi nhanh chóng trong ngành nghề và công nghệ. Đặc biệt đáng
lo ngại là trong một bộ phận học sinh, sinh viên có tình trạng suy thoái đạo đức, mờ nhạt
về lí tưởng, theo lối sống thực dụng, thiếu hoài bão lập thân, lập nghiệp vì tương lai của
bản thân và đất nước. Đào tạo chưa gắn với sử dụng. Một số sinh viên tốt nghiệp không
chịu đi làm việc ở những vùng khó khăn, trong khi ở các thành phố còn nhiều sinh viên
tốt nghiệp không có việc làm hoặc làm không đúng nghề đã được đào tạo.
– Có những biểu hiện tiêu cực trong giáo dục:
Dạy thêm và học thêm tràn lan, tốn nhiều thời gian và tiền bạc của học sinh, ảnh
hưởng xấu đến sự phát triển toàn diện của học sinh và quan hệ thầy trò. Nhiều trường đã
tăng quy mô tuyển sinh vượt quá khả năng đào tạo, mở quá nhiều lớp tại chức ở các địa
phương mà không thực hiện đúng quy chế, đúng chương trình, không đảm bảo chất
lượng đào tạo. Tệ nạn xã hội, ma túy đang thâm nhập một số trường học.
22


– Chưa thực hiện tốt công bằng xã hội trong giáo dục. Cụ thể: Con em gia đình
nghèo gặp nhiều khó khăn khi muốn học lên cao; ở các trường đại học, tỉ lệ sinh viên là
con em nhà nghèo, con em xuất thân công nông, nhất là nông dân ở vùng sâu, vùng xa,
vùng dân tộc thiểu số còn ít.
– Đội ngũ giáo viên vừa thừa, vừa thiếu. Năm học 1995 –1996 cả nước còn thiếu
gần 120.000 giáo viên phổ thông. Nhìn chung, chất lượng đội ngũ giáo viên chưa đáp
ứng yêu cầu phát triển GD – ĐT trong giai đoạn mới. Ở bậc đại học, tỉ lệ giáo viên có
trình độ sau đại học còn thấp và trong những năm trước mắt sẽ có tình trạng hẫng hụt,
thiếu người thay thế cho các cán bộ có trình độ cao sắp nghỉ hưu.
Nguyên nhân của những yếu kém nói trên là:
– Công tác quản lý GD – ĐT có những mặt yếu kém, bất cập.
Chủ trương đổi mới về giáo dục, chưa được nghiên cứu, chuẩn bị chu đáo, tổ chức
thực hiện có nhiều thiếu sót. Mở rộng quy mô và phát triển nhiều loại hình GD – ĐT
nhưng có nhiều thiếu sót trong việc quản lí chương trình, nội dung và chất lượng. Công
tác thanh tra giáo dục còn, thiếu những biện pháp hữu hiệu để kiểm tra, đánh giá chất
lượng đào tạo, đặc biệt là đối với các hình thức trường “mở”, bán công, dân lập, tư thục
và không tập trung. Chậm phát hiện và xử lí các biểu hiện tiêu cực.
Cơ chế quản lí của ngành GD – ĐT chưa hợp lí, chưa phát huy quyền chủ động và
trách nhiệm của địa phương và nhà trường.
Nội dung GD – ĐT vừa thừa, vừa thiếu, nhiều phần chưa gắn với cuộc sống.
Phương pháp GD – ĐT chậm đổi mới, chưa phát huy được tính chủ động, sáng tạo
của người học.
– GD – ĐT chưa kết hợp chặt chẽ với lao động sản xuất nhà trường chưa gắn với
gia đình và xã hội. Hoạt động GD – ĐT chưa gắn mật thiết với các hoạt động sản xuất và
nghiên cứu khoa học. Gia đình và các tập thể, cộng đồng xã hội chưa phối hợp chặt chẽ
với nhà trường giáo dục thế hệ trẻ.
Các chính sách chưa đủ khuyến khích nghề dạy học và giáo viên đến dạy ở những
vùng khó khăn, chưa động viên được những giáo viên dạy giỏi và giảng viên có trình độ
cao. Hệ thống các trường sư phạm tuy đã được quan tâm đầu tư hơn trước nhưng vẫn
chưa đủ sức làm tốt công tác đào tạo và bồi dưỡng giáo viên. Phương tiện dạy và học của
các trường nhìn chung chậm được cải thiện.
Bên cạnh những nguyên nhân chủ quan cũng cần thấy những nguyên nhân khách
quan như tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội từ những năm trước, tác động
tiêu cực từ mặt trái của cơ chế thị trường.
Hiện nay sự nghiệp GD – ĐT đang đứng trước mâu thuẫn lớn giữa yêu cầu vừa phải
phát triển nhanh quy mô GD – ĐT, vừa phải gấp rút nâng cao chất lượng GD – ĐT, trong
khi khả năng và điều kiện đáp ứng yêu cầu còn nhiều hạn chế. Đó là mâu thuẫn trong quá
trình phát triển. Định hướng chiến lược phát triển GD – ĐT trong thời kỳ CNH, HĐH,
đặc biệt là những chủ trương, giải pháp từ nay đến năm 2010 phải được thực hiện với
tinh thần cách mạng sâu sắc để giải quyết có hiệu quả mâu thuẫn nói trên.
2.1.2. Bối cảnh và thời cơ, thách thức đối với giáo dục nước ta trong vài thập kỷ
tới
23


a. Những xu thế của thế giới có liên quan đến phát triển giáo dục
– Sự bùng nổ giáo dục
Sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật, công nghệ và sự phát triển mạnh mẽ của lực
lượng sản xuất là nguyên nhân làm nảy sinh cuộc vận động cải cách giáo dục có tính chất
thế giới lần thứ hai, diễn ra vào cuối những năm 50 đến đầu những năm 70 của thế kỷ 20.
Khác với cuộc cải cách giáo dục lần thứ nhất đầu thế kỷ 20, trọng tâm lần này là cải cách
quan niệm và kỹ thuật xây dựng chương trình, thiết kế lại hệ thống các môn học, đổi mới
phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người
học, “hướng vào học sinh”.
Trong thời kỳ này, ở các nước công nghiệp và các nước đang phát triển, sĩ số đều
tăng lên một cách chưa từng thấy, có thể xem là một sự bùng nổ sĩ số. Năm 1950, dân số
thế giới khoảng 2,5 tỷ người, số người đi học trên thế giới đạt khoảng 300 triệu (12%),
trong đó hơn một nửa thuộc các nước công nghiệp phát triển. Nhưng đến năm 1998, dân
số thế giới đạt gần 6 tỷ người. Tổng số người đi học trên thế giới đã tăng lên khoảng 1 tỷ
(17%) mà 3/4 trong đó thuộc về các nước đang phát triển. Riêng đại học, năm 1960, thế
giới có khoảng 15 triệu sinh viên, năm 1995 (35 năm sau) đã tăng lên 82 triệu (5,5 lần),
những năm tiếp theo của thập kỷ 90 còn tăng nhanh hơn nữa.
Từ sau những năm 80, với sự xuất hiện nền kinh tế tri thức, hình thành xã hội thông
tin và xu thế toàn cầu hóa đã là những nhân tố tác động mạnh mẽ đến giáo dục, tạo nên
một làn sóng đổi mới, cải cách giáo dục trên thế giới lần thứ ba. Đặc điểm quan trọng của
trào lưu cải cách, đổi mới giáo dục lần này là: xuất phát điểm để xem xét các vấn đề chủ
yếu của giáo dục ở các nước tương đối giống nhau, trọng tâm của giáo dục đều là:
Giáo dục đại chúng dần thay thế cho giáo dục tinh hoa;
Quan tâm đến việc hình thành các phẩm chất và năng lực cho thế hệ trẻ và người
lao động về ý thức trách nhiệm, tính tích cực chủ động; năng lực sáng tạo, thích ứng
nhanh với những sự đổi mới; phát huy cá tính, bản sắc của người học;
Thực hiện chương trình cốt lõi thống nhất trên toàn quốc, đồng thời trao quyền tự
chủ cho địa phương, trường học, nhà giáo.
Đầu tư mạnh mẽ cho giáo dục, giúp người học tiếp cận với những thành tựu hiện đại
của khoa học công nghệ. Trong trào lưu cải cách, hiện nay, ở các nước phát triển người ta
đã nới đến việc đại chúng hóa đại học (theo UNESCO, số người học đại học trong độ tuổi
dân số 18 – 23 đạt đến dưới 10%).
Đối với giáo dục phổ thông, trước những năm 60 (thế kỷ 20), các nước chủ yếu tập
trung nâng cao chất lượng tiểu học. Từ những năm 80 đến nay, xu thế chung là nâng cao
chất lượng, mở rộng quy mô và phổ cập giáo dục trung học. Từ năm 1965 đến 1985, quy
mô học sinh trung học trên thế giới tăng 300% - 153 triệu năm 1982.
Tỉ lệ học sinh trung học phổ thông học lên đại học ở một số nước phát triển và đang
phát triển trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương những năm 1986 – 1988 khá cao:
Ấn Độ, In–đô-nê–xia, Ma–lai–xia dưới 10%; Nhật Bản 28,2%; Niu Dilân 36,35%;
Philippin 37,9%; Hàn Quốc, Thái Lan có tỉ lệ cao hơn. Một số nước, tuy tỉ lệ học sinh lên
đại học thấp nhưng tỉ lệ học sinh tiểu học học lên hết bậc trung học lại khá cao như:
Trung Quốc 43%, Iran 48%, Việt Nam 50–60%.
24


Việc xóa mù chữ được đẩy mạnh ở các nước kém phát triển. Tuy vậy, cho đến nay
vẫn chưa có khả năng xóa xong nạn mù chữ trên toàn thế giới. Đến năm 1995 mới đạt
đến 8/10 đàn ông và 7/10 đàn bà biết chữ, vẫn còn khoảng 900 triệu người không biết
đọc, biết viết.
Sự bùng nổ sĩ số có thể có nguyên nhân là: do sự bùng nổ dân số thế giới sau chiến
tranh; do những biến đổi kinh tế, mức sống được nâng cao, những người trẻ tuổi có điều
kiện lưu lại lâu hơn trong hệ thống giáo dục; do nguyện vọng dân chủ hóa được nâng cao
đòi hỏi giáo dục phát triển.
Sự bùng nổ sĩ số khiến cho chi phí giáo dục chiếm phần quan trọng trong ngân sách;
nhân sự và bộ máy quản lí phình to ra làm cho giáo dục trở thành một ngành quan trọng
của quốc gia. Sự tăng nhanh quy mô trong hệ thống giáo dục làm nảy sinh nhiều vấn đề
cho xã hội và sự quản lí của nhà nước. Những khó khăn về cơ sở vật chất trường lớp,
thầy giáo cũng xuất hiện: giáo dục đã phải dùng đến biện pháp tình thế như học 2, 3 ca;
dựng các trường lớp lắp ghép sẵn và tạm bợ; huy động cả các thầy giáo chưa được huấn
luyện tốt v.v… Điều này xảy ra ngay cả ở các nước công nghiệp phát triển.
Tình trạng bất bình đẳng trong giáo dục, kể cả ở tầm quốc gia và quốc tế cũng trở
nên căng thẳng hơn. Năm 1990 ước tính toàn thế giới còn khoảng 100 triệu trẻ em không
được đi học, khoảng 1 tỷ người lớn còn mù chữ.
Đội ngũ thầy giáo đông đảo hơn, quan hệ giữa thầy giáo và học sinh cũng thay đổi.
Thầy giáo không còn là người cung cấp thông tin duy nhất. Vai trò chủ yếu của thầy giáo
chỉ còn ở việc tổ chức, hướng dẫn, khuyến khích học sinh tham gia tích cực vào quá trình
học tập. Ở các nước phát triển có đến 80% ở tiểu học, 58% ở trung học nhà giáo là phụ
nữ, còn ở các nước đang phát triển, con số này tương ứng là 50% và 39%.
Tăng trưởng kinh tế cùng với sự phát triển nhanh và liên tục của khoa học công
nghệ đã làm biến đổi giáo dục một cách cơ bản và thực chất, đồng thời có yêu cầu càng
cao hơn đối với giáo dục. Các ngành khoa học tự nhiên và công nghệ trở nên nổi trội và
trở thành yếu tố quyết định của sự tăng trưởng và cạnh tranh. Nhiều quốc gia đã tăng
cường các môn khoa học, công nghệ trong các bậc học. Trong xã hội xuất hiện sự chuyển
dịch lao động từ tính vực công nghiệp chế tạo sang lĩnh vực công nghiệp công nghệ cao:
công nghệ thông tin, công nghệ năng lượng, công nghệ vật liệu mới, công nghệ tự động
hóa, công nghệ sinh học…
Trong khi quy mô tăng đột biến, thì tổ chức hệ thống giáo dục vẫn giữ cơ bản như
cũ đã trở nên không còn thích hợp. Các mục tiêu của giáo dục cũng cần được thẩm định
lại để đáp ứng với các thách thức mới phát sinh. Rõ ràng là, để giải quyết những vấn đề
đó đòi hỏi phải đổi mới tư duy về giáo dục, phải nghĩ tới việc giáo dục suốt đời, giáo dục
cho mọi người và một xã hội học tập.
– Kinh tế tri thức
Trong khoảng từ những năm 80 của thế kỷ qua, đến nay cuộc cách mạng khoa học
công nghệ hiện đại đã có bước phát triển đặc biệt, tạo ra những biến đổi mạnh mẽ, sâu
sắc chưa từng có trong lịch sử nhân loại, với thành tựu của các ngành công nghệ cao trụ
cột chính như: công nghệ thông tin (siêu xa lộ thông tin, internet, multimedia, thực tế
ảo…), công nghệ sinh học (công nghệ gen, công nghệ tế bào…), công nghệ vật liệu (vật
25


x

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×