Tải bản đầy đủ

Rèn kỹ năng kể chuyện cho học sinh lớp 5 theo hướng tích cực

A. MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Bậc tiểu học là bậc học nền móng cho việc hình thành nhân cách cho học
sinh, bậc học coi là nền tảng của hệ thống giáo dục phổ thông. Đây là bậc học
được cung cấp những tri thức khoa học ban đầu về tự nhiên và xã hội, trang bị
những phương pháp và kĩ năng ban đầu về hoạt động nhân cách và hoạt động
thực tiễn. Trong giáo dục tiểu học các môn học đều có quan hệ với nhau, hỗ trợ
cho nhau. Vì vậy các môn học ở bậc tiểu học đều góp phần trong quá trình giáo
dục học sinh trở thành con người phát triển toàn diện
Trong chương trình tiểu học mới, môn Tiếng Việt được chia thành nhiều
phân môn: Tập đọc, tập làm văn, luyện từ và câu, kể chuyện. Mỗi phân môn đều
có chức năng riêng rèn cho học một sinh kĩ năng nhất định nhưng đều hỗ trợ,
giúp đỡ nhau hoàn thành nhiệm vụ khi dạy Tiếng việt ở nhà trường.
Cùng với sự phát triển của xã hội, giáo dục nhà trường được xuất hiện như
một điều tất yếu, đón bước thiếu nhi cắp sách tới trường. Cả thế giới đang mở ra
trước mắt các em. Kho tàng văn minh nhân loại được chuyển giao từ những điều
sơ đẳng nhất.Quá trình giáo dục được thực hiện ở mọi lúc, mọi nơi.
Mục tiêu của giáo dục Tiểu học hiện nay là nâng cao chất lượng toàn diện
nên môn Tiếng Việt đóng vai trò vô cùng quan trọng. Trong các phân môn của
môn Tiếng Việt thì phân môn Kể chuyện có liên quan đến nhu cầu nghe kể
chuyện của trẻ, góp phần hình thành nhân cách, đem lại những cảm xúc thẩm mĩ

lành mạnh cho tâm hồn học sinh. Kể chuyện góp phần tích luỹ vốn văn học, mở
rộng vốn sống cho trẻ em. Kể chuyện góp phần rèn luyện và phát triển kỹ năng
nói và kể trước đám đông một cách tự nhiên, có nghệ thuật, góp phần khêu gợi
tư duy hình tượng của trẻ.
Trong giảng dạy cũng như trong thực tế, phân môn Kể chuyện vẫn là một
môn học mà học sinh rất yêu thích. Bởi các em thích được nghe cô giáo kể
chuyện. Nhưng đến phần luyện kỹ năng kể của học sinh thì nhiều em còn e dè,
sợ sệt chưa dám mạnh dạn kể trước lớp. Một số em khác khi kể vẫn mang tính
chất đọc lại truyện trong sách giáo khoa chưa có sự sáng tạo trong cử chỉ, lời
nói, hành động. Nguyên nhân chính là do phần lớn giáo viên vẫn coi nhẹ môn
học này, thậm chí chỉ đọc lại truyện cho học sinh nghe mà chưa thực hiện đầy đủ
các bước của một giờ kể chuyện. Chính điều này đã làm hạn chế khả năng kể
chuyện của học sinh, không phát huy được tính tích cực, chủ động sáng tạo của
học sinh. Xác định được tầm quan trọng của môn học đồng thời cũng thấy được
lòng yêu thích, ham mê của trẻ đối với môn học này, tôi thiết nghĩ là người giáo
viên Tiểu học cần phải làm tốt trách nhiệm của mình trong công tác giảng dạy.
Vậy làm thế nào để học sinh được học tốt phân môn Kể chuyện? Làm thế nào để
mọi học sinh đều biết kể chuyện bằng ngôn ngữ của mình? Đó là điều mà tôi
luôn trăn trở, suy nghĩ. Cũng chính vì lẽ đó đã thôi thúc tôi đi sâu nghiên cứu đề
tài: “Rèn kỹ năng kể chuyện cho học sinh lớp 5 theo hướng tích cực ”
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU


Với đề tài này mục đích nghiên cứu chính là rèn kĩ năng kể chuyện trong
quá trình dạy các dạng bài học kể chuyện. Từ đó vận dụng linh hoạt vào hướng
dẫn các dạng bài kể chuyện cho học sinh một cách có hiệu quả.
3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đốí tượng nghiên cứu: Kĩ năng kể chuyện ở học sinh lớp 5 theo hướng
tích cực.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Phương pháp nghiên cứu lí luận ( đọc tài liệu).
2. Phương pháp phân tích tổng hợp.
3. Phương pháp điều tra.
4. Phương pháp thực nghiệm .
5. Phương pháp đàm thoại .
6. Phương pháp tổng kết rút kinh nghiệm.

B. NỘI DUNG
1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
Như chúng ta đã biết, phân môn Kể chuyện lớp 5 tiếp tục củng cố, rèn các

kỹ năng kể chuyện đã được hình thành ở lớp 4 với ba kiểu bài tập cơ bản và một
kiểu bài tập kể bằng trí tưởng tượng (dành cho HS có năng khiếu kể chuyện). Cụ
thể như sau:
- Bài tập Nghe – kể lại câu chuyện vừa nghe thầy (cô) kể trên lớp.
- Bài tập Kể chuyện đã nghe, đã đọc .
- Bài tập Kể chuyện được chứng kiến hoặc tham gia.
- Bài tập kể bằng trí tưởng tượng của mình( HS có năng khiếu)
So với các câu chuyện ở lớp 4, trong 10 câu chuyện học sinh được nghe
giáo viên kể ở lớp 5 có tình tiết phức tạp, nội dung sâu sắc hơn, nói về đất nước
và con người Việt Nam, những vấn đề lớn đặt ra cho đất nước, dân tộc và loài
người gắn với 10 chủ điểm học tập trong sách giáo khoa. Những câu chuyện hấp
dẫn, cảm động, giàu ý nghĩa này sẽ tác động mạnh đến học sinh, giúp các em rút
ra được những bài học đạo đức sâu sắc cho bản thân. Được nghe những câu
chuyện đó, được kể lại, học sinh sẽ được bồi dưỡng về nhận thức, tình cảm,
được làm giàu vốn từ, tư duy lôgic và đặc biệt tư duy hình tượng của các em sẽ
được phát triển, giúp cho tâm hồn các em trong sáng hơn.
Bên cạnh kiểu bài đã nói ở trên, hai kiểu bài Kể chuyện đã nghe, đã đọc
và Kể chuyện được chứng kiến hoặc tham gia vừa kích thích học sinh đọc sách
ngoài nhà trường vừa rèn cho các em thói quen suy nghĩ về mình, quan sát và
suy nghĩ về những người xung quanh, về cuộc sống trong gia đình, lớp học,
trường học, nơi các em ở hay ngoài xã hội. Qua gợi ý tìm hiểu câu chuyện trong
sách giáo khoa và sự giúp đỡ của giáo viên, học sinh sẽ tìm được đề tài cho các
bài kể chuyện, hiểu sâu sắc hơn nội dung mỗi chủ điểm trong sách. Nội dung kể
chuyện sẽ mở rộng tầm hiểu biết của các em. Văn học trong nhà trường theo
cách đó sẽ gắn với văn học ngoài đời sống, cuộc sống trong khuôn viên nhà
trường gắn với cuộc sống mở rộng ngoài xã hội. Đó là điều kiện tốt, góp phần


giúp nhà trường đào tạo những con người năng động, có khả năng thích ứng với
đời sống xã hội luôn biến đổi.
Trong tiết Kể chuyện, hoạt động chính của tiết học là hoạt động kể, nghe cô
giáo kể mẫu – học sinh theo dõi, học sinh tự kể, kể trong nhóm, kể trước lớp. Do
đó, phương pháp dạy tiết Kể chuyện cần xem xét cả hai mặt: Kỹ năng kể chuyện
và phương pháp điểu khiển tiết Kể chuyện của giáo viên; phương pháp rèn kỹ
năng nghe và kể của học sinh. Trong kỹ năng kể chuyện và kỹ năng điều khiển
tiết Kể chuyện của giáo viên thì nghệ thuật kể chuyện của giáo viên có vai trò
quan trọng. Nó là yếu tố hấp dẫn, lôi cuốn học sinh, là phương tiện đầu tiên để
chuyển nội dung câu chuyện cần kể tới học sinh, là các mẫu mực về kể chuyện
cho học sinh noi theo. Muốn rèn kỹ năng kể chuyện cho học sinh thì yếu tố đầu
tiên là học sinh phải nắm được nội dung câu chuyện. Từ việc nắm vững được nội
dung câu chuyện sẽ giúp cho học sinh cảm nhận sâu sắc về từng nhân vật trong
truyện từ đó các em mới có thể kể lại được câu chuyện theo đúng nội dung bằng
ngôn ngữ và cử chỉ của mình. Như vậy muốn rèn được kỹ năng kể chuyện cho
học sinh thì đòi hỏi phải có sự nỗ lực của cả thầy và trò. Thầy cũng phải tập luyện
để có nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn, sinh động, thu hút sự chú ý của học sinh và
nghệ thuật tổ chức tiết dạy. Trò phải nắm được nội dung câu chuyện và dùng ngôn
ngữ, cử chỉ của mình để kể lại truyện. Làm tốt hai nhiệm vụ này là góp phần quan
trọng để tiết dạy kể chuyện thành công.
2. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ GIẢNG DẠY PHÂN MÔN KỂ CHUYỆN
CHO HỌC SINH HIỆN NAY.
Qua thực tế giảng dạy bộ môn Tiếng Việt thì phân môn Kể chuyện có vai
trò quan trọng trong nhà trường tiểu học. Việc tổ chức dạy kể chuyện cho học
sinh trong trường tiểu học chính là quá trình làm việc của thầy và trò, giúp cho
học sinh thực hiện tốt hai hình thức: Nhớ hiểu nội dung truyện và kể tự nhiên.
Trong thực tế hai hình thức này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Nhiệm vụ của
người giáo viên là phải rèn cho học sinh có thói quen nghe, kể, quan sát và ghi
nhớ thông qua hai hình thức trên. Nhưng trong thực tế hiện nay, nhiều giáo viên
vẫn coi nhẹ phân môn Kể chuyện. Do đó, những tiết kể chuyện họ chỉ dạy qua
loa, thậm chí chỉ đọc cho học sinh nghe câu chuyện là xong tiết dạy. Chính vì
vậy, hiệu quả của giờ kể chuyện không thể đạt được như ý muốn. Cũng chính
xuất phát từ tư tưởng coi nhẹ môn học này mà giáo viên cũng ít quan tâm đến
việc đọc sách báo, đọc truyện thiếu nhi để làm giàu vốn truyện của mình. Một số
khác họ cũng đã quan tâm đến tiết kể chuyện nhưng bản thân giáo viên cũng
chưa quan tâm trau dồi, tập luyện nên lời kể của giáo viên khô khan, thiếu
truyền cảm nên không thu hút được sự chú ý của học sinh. Đây thực sự là một
điều thiệt thòi lớn đối với học sinh, đẩy học sinh vào thế bị động khi học môn
học này.
* Đối với giáo viên: Hầu hết số giáo viên được hỏi cho rằng: Đối với những câu
chuyện vừa nghe thầy cô kể trên lớp thì phần lớn học sinh nắm được cốt truyện
và kể lại được nội dung câu chuyện. Nhưng khi dạy những tiết kể chuyện đã
được nghe, được đọc ngoài sách giáo khoa thì phần lớn học sinh kể rất hời hợt,


không hình dung để thể hiện rõ được nội dung câu chuyện chính điều đó làm
giảm hứng thú dạy học của giáo viên. Đối với dạng bài chứng kiến hoặc tham
gia thì hầu hết các em chưa biết xây dựng cốt truyện.
* Đối với học sinh:
- Hầu hết học sinh thích được nghe giáo viên kể chuyện nhưng không
muốn kể cho người khác nghe.
- Khi hỏi về việc tìm đọc các câu chuyện trong các loại sách báo ngoài
chương trình thì chỉ có 20% học sinh có thói quen này số còn lại chỉ đọc các câu
chuyện có trong sách giáo khoa nên khi kể lại những câu chuyện ngoài sách giáo
khoa và những câu chuyện đã được chứng kiến, tham gia thì các em thực hiện
không tốt.
Từ thực trạng trên,trong quá trình giảng dạy, tôi đã áp dụng một số biện
pháp sau:
3. BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
3.1. Điều tra thực tiễn
Trong năm học 2016 - 2017, tôi được Ban giám hiệu Nhà trường phân
công chủ nhiệm giảng dạy môn Tiếng Việt lớp 5B. Ngay từ khi nhận lớp, qua
một số tiết kể chuyện, tôi đã chú ý theo dõi và phân loại khả năng kể chuyện của
các em như sau:
Kể chuyện còn ấp
Kể chuyện ở dạng
Kể chuyện có cảm
Sĩ số
úng
nhớ nội dung truyện
xúc, có sự sáng tạo
SL
TL
SL
TL
SL
TL
25
16
64%
7
28%
2
8%
Từ việc điều tra trên, tôi phân học sinh thành các nhóm khác nhau bố trí, sắp
xếp chỗ ngồi để tiện việc theo dõi, kèm cặp, giúp đỡ và tương trợ lẫn nhau.
3.2. Tìm hiểu nguyên nhân
Sau khi phân các mức năng khiếu kể chuyện của học sinh, tôi chú ý theo
dõi các em để tìm hiểu nguyên nhân vì sao các em kể yếu hoặc không kể được.
Có nhiều nguyên nhân như: Phần nhiều các em ít đọc sách báo, truyện thiếu nhi,
do mải chơi, không ham đọc, đọc truyện nhưng chưa biết cách ghi nhớ cốt
truyện, dẫn tới đọc được nhưng không kể được. Ngoài ra, có nhiều em phải học
nhiều, bố mẹ cấm đọc truyện vì sợ bị cận thị, không nghiên cứu một số tài liệu
tham khảo để kể chuyện. Bên cạnh đó một số em có thói quen học thuộc lòng
truyện, vì vậy khi kể các em gần như chỉ mới đọc thuộc truyện như trong sách
giáo khoa, có những em vừa kể vừa cố nhớ từng từ, từng tiếng trong truyện nếu
quên là lúng túng không kể được, một số em trí nhớ kém... Với tình trạng kể
chuyện như vậy thì khó mà các em phối hợp được ngôn ngữ, cử chỉ của nhân vật
trong truyện. Từ những nguyên nhân trên, tôi đã tìm ra cách khắc phục.
3.3. Rèn luyện từng đối tượng học sinh đối với từng dạng bài
Đối với từng dạng bài kể chuyện trong chương trình lớp 5, tôi luôn chú ý
đến từng đối tượng học sinh trong lớp để giúp đỡ các em, cụ thể là:
3.3.1. Đối với dạng bài nghe - kể


* Với những em kể còn yếu và lúng túng:
Đối với dạng bài “Nghe - kể”, đây là dạng bài mà học sinh được quan sát
tranh minh họa và nghe thầy cô kể. Với dạng bài này rất gần gũi và quen thuộc
với các em vì các em đã được làm quen ở các lớp dưới, song vẫn còn nhiều em
lúng túng .Khả năng nhớ truyện của các em còn nhiều hạn chế. Để giúp các em
nhớ được truyện thì điều đầu tiên là phải giúp các em nắm được nội dung câu
chuyện. Để làm được điều này, tôi yêu cầu các em khi cô giáo kể các em phải
chú ý lắng nghe, không làm việc riêng. Đồng thời, kể lần một xong, lần hai tôi
kể thật chậm, kể đến đâu tôi chỉ vào từng tranh có nội dung gắn với lời kể, lần
thứ ba tôi gợi ý bằng những câu hỏi và cũng chỉ vào tranh. Đó chính là các điểm
tựa giúp cho các em học sinh yếu nắm được vững nội dung câu chuyện.
Ví dụ: Khi kể câu chuyện “Ông Nguyễn Khoa Đăng”. Nội dung câu
chuyện trong sách giáo khoa chỉ có bốn bức tranh sau:

Người này ra sức chối...
Quan sai người múc một chậu nước

Quân sĩ cải trang thành dân phu
Các võ sĩ bất ngờ xông ra
Mỗi bức tranh là một chuỗi sự việc được ghi tóm tắt bằng những câu hỏi gợi ý
như sau:
- Ông Nguyễn Khoa Đăng là người như thế nào?
- Nội dung bức tranh thứ nhất vẽ cảnh gì?


- Bằng cách nào mà ông đã làm cho tên trộm tiền lộ nguyên hình?(tranh 2)
-

Ông đã làm gì để bắt được bọn cướp? (tranh 3,4)
Ông còn làm gì để phát triển làng xóm?
Hay ví dụ: Khi dạy bài “ Chiếc đồng hồ”. Nội dung câu chuyện trong sách
giáo khoa được thể hiện trong bốn bức tranh .
Để giúp học sinh nắm được nội dung câu chuyện tôi đưa ra những câu hỏi
gợi ý sau:
- Câu chuyện xảy ra vào thời gian nào?
- Mọi người dự hội nghị bàn tán về chuyện gì? (tranh 1)
- Khi thấy Bác đến, mọi người đã làm gì? (tranh 2)
- Bác Hồ mượn câu chuyện về chiếc đồng hồ để làm gì? ( tranh 3)
- Qua câu chuyện về chiếc đồng hồ của Bác mọi người đã nhận ra điều gì?
Sau khi nghe giáo viên kể, tôi gọi 1 - 2 học sinh yếu nhìn vào tranh và trả
lời câu hỏi theo gợi ý của cô giáo. Mục đích giúp các em nhận biết được nội dung
mỗi tranh nói lên điều gì để từ đó các em nhớ được nội dung câu chuyện. Sau đó
tôi cho học sinh tập kể trong nhóm bốn, mỗi nhóm tôi quan tâm sắp xếp có các
đối tượng học sinh như sau: Những em kể còn ngắt ngứ, những em kể theo kiểu
thuộc lòng, những em kể tốt, kể diễn cảm, những em có năng khiếu kể chuyện,
mỗi em tập kể một nội dung tranh và nghe các bạn kể lần lượt cho đến hết. Nhiệm
vụ của các em kể tốt là lắng nghe để sửa cho các em còn ngắt ngứ, còn nhiệm vụ
của các em kể còn ngắt ngứ là lắng nghe để học tập các bạn kể tốt, sửa theo lời
góp ý của các bạn để kể được tốt hơn. Sau đó tôi mời các nhóm lên kể lại truyện.
Những học sinh kể còn ngắt ngứ sẽ kể những đoạn ngắn, dễ nhớ. Nếu các em còn
lúng túng thì có thể nhìn tranh để kể. Trong quá trình các em kể, tôi và các em học
sinh khác chú ý lắng nghe, nếu thấy các em lúng túng tôi sử dụng các câu hỏi gợi
ý để các em nhớ lại nội dung truyện và kể. Khi các em kể xong, cho dù các em kể
chưa được hay nhưng tôi luôn động viên khen ngợi các em để lần sau các em
mạnh dạn, tự tin xung phong kể trước lớp.
* Với những học sinh kể ở mức khá hơn
Đối với những học sinh có trí nhớ tốt, nắm bắt được nội dung câu chuyện
nhanh hơn, tôi yêu cầu ở các em mức độ cao hơn. Tôi yêu cầu các em không
những thuộc truyện, kể đúng trình tự mà phải tái tạo lại được câu chuyện bằng
chính ngôn ngữ, cử chỉ của mình sao cho phù hợp với từng nhân vật trong
truyện làm cho câu chuyện sống động hơn để thu hút người nghe.
Ví dụ: Trong truyện “Ông Nguyễn Khoa Đăng” có đoạn:
“ Vụ án tưởng đã xong, không ngờ quan lại phán:
- Tên ăn cắp này là kẻ giả mù vì nếu mù thật thì hắn làm sao biết người bán
hàng để tiền ở đâu mà lấy…..”, đối với những em kể tốt, các em có thể dùng
ngôn ngữ của mình nhưng vẫn đảm bảo nội dung: “Tìm được kẻ ăn cắp rồi, vụ
án tưởng đã khép lại, nào ngờ quan lại phán tiếp:
- Tên ăn cắp này còn là kẻ giả mù nữa vì nếu mù thật thì hắn làm sao biết
người bán hàng để tiền ở đâu mà lấy….”


Để câu chuyện hấp dẫn người nghe thì khi kể cần thay đổi giọng điệu sao
cho có sự lôi cuốn. Chẳng hạn, khi kể lời dẫn chuyện thì lời kể phải rõ ràng,
mạch lạc, tạo sự hồi hộp, cuốn hút người nghe. Còn lời nhân vật phải thể hiện
được tính cách, tâm trạng của nhân vật trong thời điểm đó.
Ví dụ: Khi kể chuyện“Lớp trưởng lớp tôi”, trong truyện có tình tiết như sau:
“Trống xếp hàng được một lúc, Quốc mới hớt hải từ đâu chạy đến, miệng lắp bắp:
- Chết…. chết tớ rồi. Hôm nay đến phiên trực nhật, tớ… tớ lại ngủ quên.”
Học sinh có thể kể là:
“Thế rồi một hôm, khi trống xếp hàng được một lúc, Quốc mới hớt hải từ đâu
chạy đến, vẻ mặt hốt hoảng, miệng lắp bắp:
- Chết… chết tớ rồi. Hôm nay… hôm nay đến phiên tớ trực nhật. Thế mà
tớ… tớ lại ngủ quên”.
Cũng cùng một câu chuyện nhưng có học sinh kể hay, có học sinh kể chưa
hay, điều đó mỗi chúng ta ai cũng thấy được. Để kể chuyện không những chỉ
thuộc truyện và cần có nghệ thuật biểu cảm qua giọng kể, nét mặt, cử chỉ, thái
độ phù hợp với nhân vật trong truyện thì người nghe mới cảm nhận được sâu sắc
về câu chuyện đó.
3.3.2. Với dạng bài kể chuyện đã nghe, đã đọc
Đây là dạng bài tương đối khó đối với học sinh. Yêu cầu học sinh phải chịu
khó tìm tòi, đọc nhiều sách báo, xem ti vi hoặc nghe người khác kể lại… Để dạy
dạng bài này, học sinh phải thực hiện được 2 bước cơ bản:
- Bước 1: Học sinh xác định được trọng tâm của đề bài, xác định được nội
dung truyện mà mình định kể. Cần phải có thời gian, có sự chuẩn bị trước để
học sinh có thời gian đọc truyện.
- Bước 2: Rèn kỹ năng kể chuyện cho học sinh.
Dù ở dạng bài kể chuyện nào thì cũng có mục tiêu chung là rèn kỹ năng kể
chuyện cho học sinh. Với dạng bài kể chuyện này thì nó khác ở dạng bài nghe kể là bản thân học sinh phải tự lựa chọn cho mình một câu chuyện đúng chủ
điểm. Sau khi lựa chọn được câu chuyện xong, học sinh phải đọc lại hoặc nhớ
lại thật kỹ nội dung câu chuyện. Từ sự ghi nhớ đó thì mới giúp học sinh kể được
tự nhiên hơn và mới dùng ngôn ngữ, cử chỉ, điệu bộ của mình để thể hiện nội
dung câu chuyện cho người khác nghe. Khi dạy dạng bài này, tôi yêu cầu học
sinh xác định kỹ yêu cầu của đề bài bằng cách đọc kỹ các gợi ý trong sách giáo
khoa. Các phần gợi ý giúp các em biết tìm đọc truyện ở đâu? Nếu trong sách
giáo khoa thì là những truyện nào? Qua phần gợi ý này sẽ giúp các em tìm đọc
truyện rất thuận lợi. Ngoài ra, tôi luôn khuyến khích động viên các em tìm đọc
thêm những truyện ở ngoài sách giáo khoa để làm giàu vốn truyện của mình.
* Đối với những em kể còn yếu: khi dạy dạng bài này tôi có biện pháp như
sau:
Những nguyên nhân dẫn đến các em kể yếu như tôi đã phân tích ở trên.
Do học sinh ít đọc truyện, lười tìm tòi đọc sách báo. Với những em học sinh này
tôi không đòi hỏi học sinh phải tìm đọc ở đâu xa, mà các em hãy cố gắng đọc tốt


các câu chuyện trong sách giáo khoa và những gợi ý hướng dẫn của sách giáo
khoa.
Ví dụ: Khi dạy bài “Em hãy kể một câu chuyện mà em đã nghe, đã đọc về
những tấm gương sống, làm việc theo pháp luật, theo nếp sống văn minh”. Tôi
hướng dẫn học sinh xác định trọng tâm của đề bài bằng cách gạch dưới những từ
ngữ quan trọng như: Đã nghe, đã đọc tấm gương sống, làm việc theo pháp luật,
nếp sống văn minh.
Để giúp các em hiểu kỹ đề bài, tôi đưa ra câu hỏi:
- Thế nào là sống, làm việc theo pháp luật, theo nếp sống văn minh? (tôi yêu
cầu các em lưu ý đến các suy nghĩ, hành động của nhân vật thể hiện ý thức
sống, làm việc theo pháp luật, theo nếp sống văn minh như:
+ Thực hiện đúng quy định của pháp luật, quy ước của cộng đồng; giữ trật
tự, vệ sinh nơi công cộng, chấp hành luật lệ giao thông.
+ Yêu chuộng công lí, đấu tranh thực hiện công lí, đem lại sự công bằng cho
người dân.
+ Đấu tranh chống vi phạm pháp luật; thiếu nhi tham gia bảo vệ các công
trình công cộng, các di tích lịch sử - văn hóa, bảo vệ môi trường....)
- Kể một số suy nghĩ, hành động thể hiện ý thức sống, làm việc theo pháp
luật, theo nếp sống văn minh? (vứt giấy rác đúng nơi quy định, bảo vệ đường sắt
quê em, bảo vệ cây xanh ….)
- Kể một vài tấm gương mà con biết. (Đó là nhân vật nào? Trong câu chuyện
nào?)
Ngoài gợi ý ở sách giáo khoa, tôi yêu cầu các em tìm kể lại những truyện
đã học như: Người gác rừng tí hon ( Tiếng Việt 5- tập 1); Phân xử tài tình
(Tiếng Việt 5 - tập 2); Mồ Côi xử kiện ( Tiếng Việt 3- tập 1); Bảo vệ như thế là
rất tốt ( Tiếng Việt 2- tập 2);...
Hay ví dụ: Khi dạy bài “ Hãy kể một câu chuyện em đã nghe hay đã đọc
nói về những người đã góp sức mình chống lại đói nghèo, lạc hậu, vì hạnh phúc
của nhân dân”. Để học sinh xác định được trọng tâm của đề bài, tôi đưa ra câu
hỏi gợi ý để học sinh trả lời, tôi gạch chân dưới những từ ngữ chính:
- Đề bài yêu cầu gì? ( Kể một câu chuyện đã nghe hay đã đọc nói về những
người đã góp sức mình chống lại đói nghèo, lạc hậu, vì hạnh phúc của nhân
dân.)
Để giúp các em hiểu kỹ đề bài, tôi yêu cầu các em phải nắm được:
- Chống lại đói nghèo, lạc hậu được biểu hiện qua những việc làm nào?
(+ Làm kinh tế giỏi, nâng cao đời sống của gia đình và địa phương.
+ Lai tạo được những giống lúa, giống cây cho năng suất cao, ….
+ Bài trừ các hủ tục mê tín dị đoan như cúng bái trừ tà ma,kiêng kị vô lí,…
+ Bài trừ các tệ nạn xã hội như cờ bạc, rượu chè, trộm cắp,…
+ Dạy học, mở mang dân trí ở những vùng khó khăn.)
- Hãy nêu những tấm gương mà con biết? ( ông Lương Định Của trong bài
“Nâng niu từng hạt giống” – sách Tiếng Việt 3, tập một ; cô Y Hoa trong bài
“Buôn Chư Lênh đón cô giáo” – sách Tiếng Việt 5, tập một ; …….)


Hình thức tổ chức cho học sinh kể trong nhóm, kể trước lớp cũng tương
tự như dạng bài kể chuyện nghe - kể. Đối với dạng bài này yêu cầu đối với các
em yếu cũng ở mức là các em nhớ nội dung truyện và kể được đúng trình tự câu
chuyện và cuối cùng nêu được ý nghĩa câu chuyện mà mình vừa kể. Nếu các em
có chút tiến bộ hơn thì tôi mới bắt đầu nâng cao ở mức kể như học sinh khác.
Trong mỗi giờ kể chuyện trên lớp, tôi thường dành nhiều thời gian cho các em
kể trước lớp, tạo cho các em sự mạnh dạn hơn.
* Đối với những em kể tốt, có năng khiếu kể:
Nếu các em chọn cùng một câu chuyện, phần rèn kỹ năng kể cho học sinh, tôi
động viên các em sắm vai. Ví dụ: Nếu các em cùng chọn chuyện “Phân xử tài
tình” tôi cho các em sắm vai. Truyện gồm có bốn vai: Người dẫn truyện, quan án,
hai người đàn bà bán vải. Tôi cho các em tự thảo luận nhóm 4 và tự nhận vai để
kể.Trước hết, tôi cho các em kể trong nhóm, sau đó trình bày trước lớp. Các bạn
khác nhận xét qua những cử chỉ, giọng điệu, ngôn ngữ đối với từng nhân vật như:
- Người dẫn truyện giọng dẫn truyện cần rõ ràng, mạch lạc, biểu thị cảm xúc
khâm phục.
- Quan án với giọng ôn tồn, đĩnh đạc, trang nghiêm.
- Hai người đàn bà: giọng mếu máo, ấm ức.
Hay ví dụ: Nếu các em cùng chọn chuyện “Lập làng giữ biển”. Truyện có
bốn vai: Người dẫn chuyện, ông Nhụ, bố Nhụ và Nhụ. Tôi cho các em tự thảo
luận nhóm và tự nhận vai để kể trong nhóm sau đó kể trước lớp. Tôi thấy một số
em nhập vai rất tốt, thể hiện được giọng điệu, ngôn ngữ, cử chỉ từng nhân vật
phù hợp với không khí gia đình trong thời điểm đó như:
- Người dẫn chuyện thì rõ ràng, mạch lạc thể hiện được không khí lúc trầm
lắng, lúc hào hứng, sôi nổi.
- Lời bố Nhụ ( nói với ông của Nhụ) lúc đầu : rành rẽ, điềm tĩnh, dứt khoát;
sau đó: hào hứng, sôi nổi khi nghĩ về một ngôi làng mới như mọi ngôi làng trên
đất liền.
- Lời bố Nhụ ( nói với Nhụ): vui vẻ, thân mật.
- Lời ông Nhụ ( nói với bố Nhụ): kiên quyết, gay gắt.
- Lời đáp của Nhụ: nhẹ nhàng.
Tuỳ theo từng nội dung truyện, tuỳ từng nhân vật, từng hoàn cảnh trong
truyện mà ta có giọng kể sao cho phù hợp (vui, buồn, trang nghiêm, giận dữ,…).
Nếu như câu chuyện có nhiều nhân vật thì học sinh phải hiểu được tính cách của
từng nhân vật mà có giọng kể cho thích hợp.
3.3.3. Với dạng bài kể chuyện đã được chứng kiến hoặc tham gia.
Đây là dạng bài nhìn chung khó với mọi đối tượng học sinh. Yêu cầu của
chuyện phải có thật (người thật, việc thật) nhân vật có thể là bạn em, hàng xóm
nhà em, người thân hoặc có thể là chính bản thân em trong chuyện mà em muốn
kể ra. Để dạy dạng bài này, tôi thực hiện theo quy trình ba bước:
Bước 1: Xác định đề bài.
Tôi yêu cầu học sinh phân tích đề bài, gạch chân dưới các từ ngữ quan
trọng (tương tự như dạng bài kể chuyện đã nghe - đã đọc).


Bước 2: Các hướng xây dựng cốt truyện.
Tôi đưa ra các câu hỏi theo một dàn ý chung ghi ra bảng phụ như sau:
- Em kể chuyện mình tham gia hay chứng kiến?
- Câu chuyện đó nói về điều gì?
- Chuyện xảy ra khi nào, ở đâu?
- Câu chuyện có sự việc gì xảy ra?
- Sự việc diễn biến như thế nào và kết thúc ra sao?
- Em có suy nghĩ gì về câu chuyện đó?
Tôi yêu cầu học sinh đọc nội dung dàn ý đó để có hướng xây dựng cốt
truyện. (Lưu ý: Nhân vật, cốt truyện phải là có thật.)
Bước 3: Thực hành kỹ năng kể (tương tự các dạng bài kể chuyện nêu ở trên).
Ví dụ: Dạy bài kể chuyện chứng kiến hoặc tham gia.
Đề bài: Kể một việc làm tốt góp phần xây dựng quê hương, đất nước.
Để dạy bài này tôi áp dụng ba bước như sau:
Bước 1: Phân tích đề bài.
Tôi đưa ra câu hỏi gợi ý học sinh trả lời, tôi gạch chân dưới từ ngữ:
- Câu chuyện mà chúng ta kể thuộc dạng bài kể chuyện nào? (đã được
chứng kiến hoặc tham gia). Đề bài yêu cầu gì? (Kể một việc làm tốt góp phần
xây dựng quê hương, đất nước).
Bước 2: Hướng xây dựng cốt chuyện.
- Để giúp các em biết xây dựng cốt chuyện theo các hướng, tôi đưa ra dàn
ý ghi bảng phụ.
* Những việc làm thể hiện ý thức xây dựng quê hương, đất nước.
+ Góp công, góp của xây dựng đường sá, cầu cống,…
+ Giữ gìn vệ sinh, trật tự đường phố, xóm làng.
+ Trồng cây, trồng hoa, bảo vệ môi trường.
+ Vận động nhân dân xây dựng nếp sống mới.
* Kể những truyện gì?
+ Có thể kể câu chuyện em thấy trong gia đình, ở trường, ở làng xóm,
phố phường, nơi công cộng (trên đường, trong bệnh viện, bưu điện, cửa hàng,
bến xe,…); cũng có thể kể những câu chuyện em thấy trên ti vi.
+ Có thể kể câu chuyện về việc làm tốt của một người thân, của một
người xa lạ hay kể việc làm của chính em.
* Kể như thế nào?
+ Em có thể kể một câu chuyện có đầu có cuối (diễn ra trong một thời
gian nhất định, ở địa điểm nhất định). Muốn vậy, cần cho biết:
. Câu chuyện bắt đầu như thế nào?
. Diễn biến chính của câu chuyện.
. Suy nghĩ của em về hành động của người trong câu chuyện.
+ Cũng có thể kể theo cách nói những điều em biết về một người
(không cần kể thành một câu chuyện có đầu có cuối). Muốn thế, em cần giới
thiệu:
. Người ấy là ai?
. Người ấy có lời nói hoặc hành động gì đẹp?


. Suy nghĩ của em về lời nói hoặc hành động của người đó.
Với những gợi ý trên, em xây dựng cốt truyện theo hướng nào? Hãy giới
thiệu cho các bạn cùng nghe.
Bước 3: Thực hành kỹ năng kể.
Học sinh thực hành kể như các dạng bài trước.
* Với những học sinh kể còn lúng túng:
Ở dạng bài này các em thường lúng túng khó xác định được cốt truyện,
không biết kể như thế nào vì đây là dạng bài tự xây dựng truyện theo đúng yêu
cầu đề ra, phải dựa trên thực tế. Không đơn giản là các em phải đọc sách báo
nhiều hay nghe thầy cô kể để nhớ truyện mà các em còn phải biết quan sát thực
tế về cuộc sống xung quanh mình: về bạn bè, về người thân, gia đình hay nhà
trường… Nếu các em vô tâm thì sẽ không tìm được nhân vật mà mình định kể.
Có nhiều em khi gặp dạng bài này rất lúng túng. Tôi gợi ý cho các em
hướng xây dựng cốt truyện có thể lấy chính bản thân mình hoặc người thân
trong gia đình mình làm nhân vật chính trong câu chuyện. Ngoài ra, có thể lấy
các tấm gương bạn bè trong lớp, trong trường…Ví dụ: Khi dạy bài “Kể một việc
làm tốt của em hoặc của những người xung quanh để bảo vệ môi trường”. Tôi
có thể gợi ý học sinh bằng một số câu hỏi sau:
- Em hiểu bảo vệ môi trường là như thế nào?
- Trong lớp mình, trường mình, những người thân của em đã có ý thức bảo vệ
môi trường như thế nào?
- Hoặc bản thân em, người thân của em bảo vệ môi trường bằng những việc
làm gì?
Sau khi nghe tôi gợi ý, học sinh lớp tôi đã kể được như sau: Một hôm, em
đến trường sớm hơn mọi khi, em thấy một em lớp Một ăn sáng xong liền vứt vỏ
bánh vào bồn hoa. Thấy vậy, em liền chạy lại và nhặt vỏ bánh vứt vào thùng
rác. Sau đó, em nói với em bé lần sau em đừng vứt bừa bãi như vậy mà nên vứt
vào thùng rác. Nếu ai cũng như em thì chẳng mấy sân trường ngập rác. Em bé
biết lỗi và hứa với em lần sâu em không tái phạm nữa.
Hay có học sinh khác lại kể như sau: Ở cạnh nhà em có bác Hải rất có ý
thức bảo vệ môi trường. Hằng tuần bác luôn khơi thông cống rãnh và vận động
mọi người cùng tham gia vệ sinh chung. Chính ví thế mà khu phố nhà em luôn
sạch sẽ, không bị ứ đọng nước. Em và mọi người trong khu phố rất yêu quý bác.
Bác là tấm gương đáng để mội người học tập và noi theo.
Bằng cách làm như vậy, trong giờ kể chuyện tất cả học sinh lớp tôi đều
được kể. Nhờ vậy, kĩ năng nói, kể chuyện của các em ngày càng tiến bộ.
* Với những học sinh kể ở mức khá hơn:
Đối với những học sinh có trí nhớ tốt, xác định trọng tâm đề bài xây dựng
được cốt truyện nhanh hơn. Tôi yêu cầu các em không những kể được câu
chuyện theo yêu cầu mà còn phải kể sao cho hấp dẫn.
Vẫn với đề bài trên nhưng có bạn khá hơn lại kể như sau: Trong lớp mình
có bạn Hà 5 năm liền là học sinh giỏi. Bạn có hoàn cảnh gia đình rất khó khăn.
Sinh ra trong một gia đình đông con, mẹ bị bệnh nặng và mất sớm. Một mình bố


bươn trải nuôi mấy chị em ăn học.Hà là con cả, ngoài việc học ở trường, bạn
lại phải ra đồng giúp cha… Vậy mà việc học hành của bạn không hề bị bê trễ.
Không những thế, bạn còn là một lớp phó lao động rất gương mẫu. Bạn thường
xuyên nhắc nhở các bạn giữ vệ sinh chung. Để các bạn trong lớp làm theo bao
giờ bạn cũng là người thực hiện chăm chỉ nhất. Chính vì thế lớp em luôn được
nhà trường khen là lớp ngăn nắp, vệ sinh sạch sẽ….
Hay bản thân em có là gương tốt trong việc bảo vệ môi trường không? Hãy tự kể
về việc bảo vệ môi trường của mình trong suốt 5 năm. Nguyên nhân nào đã giúp
em có ý thức đó?
Bằng cách làm như vậy, nhiều em trong lớp tôi đã kể được những câu
chuyện hay, hấp dẫn người nghe. Thông qua đó các em đã học được nhiều điều
hay, những tấm gương tốt trong cuộc sống và cũng nhờ đó mà kĩ năng diễn đạt
của các em ngày một tốt hơn.
Ở dạng bài kể chuyện này chủ yếu là giúp học sinh xây dựng được cốt
truyện. Sau khi xác định được cốt truyện rồi, giáo viên giúp học sinh kể sao cho
thật tự nhiên. Chú ý khi kể chuyện phải có mở đầu, diễn biến và kết thúc câu
chuyện thì người nghe mới hiểu được nội dung câu chuyện mà chúng ta kể ra.
3.3.4. Với dạng bài kể chuyện theo trí tưởng tượng (Dành cho HS năng
khiếu)
Ngoài ra tôi còn hướng dẫn cho học sinh năng khiếu một số bài kể bằng
trí tưởng tượng qua bài thơ: Nàng tiên ốc; Đoạn thơ Con Cáo và tổ ong; hay
những đề mở như: Một buổi sáng tới trường, em nhìn thấy một cây non mới
trồng bị bẻ ngọn. Cây non đã kể lại câu chuyện của nó với em, mong em cùng
chia sẻ nỗi buồn. Em hãy tưởng tượng và viết lại câu chuyện trên... Vì đây là
loại đề khó học sinh đọc hiểu đề, tư duy bằng trí tưởng tượng của mình để kể
được câu chuyện hay, hấp dẫn. Tôi hướng dẫn các em vào yêu cầu chính của đề;
bố cục rõ ràng, lời văn có cảm xúc; cách diễn đạt tự nhiên, gợi cảm thể hiện tính
cách nhân vật đó thật sâu sắc để lôi cuốn người đọc. Cũng từ đó các em có thể
vận dụng vào từng dạng bài tập làm văn theo trí tưởng tượng của mình đạt kết
quả cao.
3.4. Kết hợp hài hoà phương pháp trực quan và kỹ năng kể chuyện.
Trong quá trình kể chuyện, dù ở bất kỳ dạng bài kể chuyện nào chăng đi
nữa, tôi đều chú ý đến đồ dùng trực quan là tranh ảnh. Ngoài tranh ảnh ra thì lời
kể của giáo viên, động tác, cử chỉ của giáo viên cũng là đồ dùng trực quan rất
hữu ích đối với học sinh.
3.4.1. Sử dụng tranh ảnh trong quá trình dạy kể chuyện.
Tranh ảnh có tác dụng gợi trí tưởng tượng cụ thể, gián tiếp mở rộng vốn
sống cho học sinh. Tranh ảnh giúp cho học sinh có những biểu tượng cụ thể về
nhân vật trong truyện. Tranh ảnh còn là điểm tựa cho học sinh ghi nhớ diễn biến
câu chuyện ở bước ban đầu.
Đối với dạng bài kể chuyện đã được chứng kiến hoặc tham gia. Ví dụ đề
bài: “Kể về một hành động lòng dũng cảm bảo vệ môi trường mà em được
chứng kiến hoặc tham gia.” Để giúp học sinh tìm hiểu về hành động dũng cảm,


tôi đưa ra một số bức tranh như: Các chú bộ đội (cán bộ kiểm lâm và cả những
người dân) ngày đêm vất vả, nguy hiểm để theo dõi và bắt bọn chặt phá rừng.
Hoặc có một học sinh dũng cảm đã dám ngăn chặn một nhóm học sinh đã có
hành động bẻ cành, phá hoại cây xanh...
Sau đó tôi đưa ra câu hỏi để tìm hiểu xem các em đã cảm nhận được gì sau
khi quan sát tranh:
- Mỗi bức tranh nói về cảnh gì?
- Những hành động nào đáng khâm phục?. Qua gợi ý các em đã được tìm
hiểu ở mỗi bức tranh, em có thể tìm thêm một số ví dụ về sự dũng cảm mà em
đã được chứng kiến hoặc tham gia. Nhờ có tranh gợi ý mà các em có thể hiểu và
tìm thêm được một số ví dụ khác về lòng dũng cảm.Ngoài tranh ảnh được trang
bị sẵn trong bộ đồ dùng, tôi còn vẽ thêm một số bức tranh phục vụ các bài kể
chuyện để tạo hứng thú cho các em trong quá trình học môn học này và giúp các
em có thêm điểm tựa, có thêm biểu tượng về các nhân vật.
Ngoài tranh ảnh là đồ dùng trực quan thì tài kể chuyện của giáo viên cũng
chính là một phương tiện trực quan quan trọng đối với học sinh.
3.4.2. Tài kể chuyện của giáo viên - một phương tiện trực quan quan trọng
trong giờ kể chuyện.
Tài kể chuyện của giáo viên là yếu tố hấp dẫn, lôi cuốn học sinh, là
phương tiện đầu tiên để chuyển nội dung câu chuyện cần kể tới học sinh, là các
mẫu thực tế về kể chuyện cho học sinh noi theo. Tài kể chuyện tuy có phụ thuộc
vào năng khiếu (có người tuy không được hướng dẫn, rèn luyện gì nhưng họ kể
rất có duyên lôi cuốn được người xung quanh…) song chủ yếu lại do công phu
luyện tập mà có được. Để có được năng lực kể chuyện, tôi thường tập luyện về
nhiều mặt:
-Trước tiên tôi tập luyện để nắm vững câu chuyện cần kể về hai phương diện:
+ Nắm vững tinh thần chung, ý nghĩa chung của câu chuyện.
+ Nắm vững toàn bộ diến biến của câu chuyện, của tình tiết chính (đặc biệt
chi tiết có ý nghĩa then chốt, quyết định trong cốt chuyện) cụ thể (các nhân vật
với hành động, lời nói, tâm trạng…).
- Lựa chọn giọng kể và ngôn từ:
Mỗi câu chuyện, tuỳ theo nội dung sẽ có giọng điệu kể riêng. Chọn được
giọng điệu kể thích hợp đã tạo cho người kể một ưu thế. Có nhiều giọng điệu:
Tha thiết, trang trọng, âu yếm, dịu dàng, châm chọc, chanh chua, ác độc, mệt
mỏi… Trong quá trình kể chuyện cho học sinh nghe, tôi đặc biệt tránh lối kể
chuyện đều đều, buồn buồn hoặc giữ một giọng điệu suốt buổi để tạo cho người
nghe tâm trạng chán ngán, buồn ngủ hoặc căng thẳng. Trong truyện có lời kể, lời
nhân vật. Tôi chú ý thay đổi giọng kể để học sinh phân biệt đâu là lời kể, đâu là
lời (hoặc tâm trạng) của nhân vật; để học sinh phân biệt đâu là lời của nhân vật
này, đâu là lời của nhân vật khác. Khi kể chuyện cho học sinh tôi không quá lệ
thuộc vào lời của văn bản mà sử dụng ngôn từ của mình để làm thu hút học sinh.
Trong quá trình kể chuyện, tôi chú ý lựa chọn điểm nhấn, điểm dừng nhằm kích
thích hứng thú của học sinh. Ngoài ra, tôi còn sử dụng các yếu tốt phi ngôn ngữ


phụ trợ cho lời kể. Các yếu tố phi ngôn ngữ đó là: nét mặt, ánh mắt, cử chỉ, điệu
bộ. Toàn bộ các yếu tố này sẽ tác động đến học sinh, ánh mắt tươi vui hay lo sợ,
nét mặt rạng rỡ hay u buồn, rồi đến một cái phất tay, một cái nhún vai… đúng
lúc sẽ phụ trợ có hiệu quả cho lời kể. Kết hợp hài hoà tranh ảnh trực quan và
giọng kể, cử chỉ, điệu bộ… tôi đã làm cho tiết kể chuyện thực sự lôi cuốn học
sinh, từ đó, kỹ năng kể chuyện của các em được nâng lên một bước.
- Gây hứng thú cho các em qua các hình thức thi đua.
Khi kể chuyện, để tiết kể chuyện có không khí vui tươi không bị nhàm chán,
tôi luôn tạo không khí “Học mà vui, vui mà học”. Tôi dành thời gian cho học
sinh thi kể chuyện trước lớp theo hình thức: Kể sắm vai, đóng kịch… Các bạn
dưới lớp là khán giả cổ vũ, sau đó nhận xét, bình chọn theo các tiêu chí:
+ Bạn có cốt truyện đầy đủ, lô gíc.
+ Bạn có giọng kể hay nhất, hấp dẫn nhất.
+ Bạn có thái độ, cử chỉ phù hợp với tính cách nhân vật.
+ Bạn có câu trả lời hay nhất.
Sau đó, trên cơ sở nhận xét mà các cổ động viên đã cho bằng hình thức các
bông hoa thì giáo viên sẽ cùng học sinh tổng hợp lại để xem ai là người đạt giải
cao nhất với các tiêu chí trên. Tóm lại, qua các trò chơi thi kể chuyện cá nhân
hay đóng vai tôi đều thấy các em tham gia sôi nổi, hào hứng, phát huy hết khả
năng của mình. Nhiều học sinh kể còn lúng túng cũng rất thích thú và học tập
được rất nhiều ở các bạn kể tốt, kể có năng khiếu.
3.5. Những biện pháp khác
Muốn rèn luyện cho các em có kỹ năng kể chuyện tốt, trước hết tôi giúp
các em phải học tốt, đọc hay ở những giờ tập đọc. Tôi thành lập đôi bạn cùng
tiến để các em giúp nhau cùng tiến bộ. Những giờ học tập đọc trên lớp tôi tổ
chức cho học sinh đọc phân vai với bài thuộc dạng truyện kể. Với cách làm trên,
tôi thấy các em có tiến bộ rõ rệt. Nhiều em không những có tiến bộ về kể chuyện
hay mà còn trong tiết tập đọc các em còn biết đọc diễn cảm và khả năng nói của
các em trong tiết tập làm văn miệng đã được nâng lên rõ rệt.
4. Kết quả đạt được
Qua các tiết dạy mẫu, dạy cho đồng nghiệp dự tôi đã đạt kết quả cao trong
các tiết dạy. Sau một năm thực hiện và triển khai, phổ biến kinh nghiệm trong
trường thì hiệu quả rất khả quan chất lượng giờ dạy được nâng lên; học sinh yêu
thích môn kể chuyện hơn; Riêng lớp tôi kết quả học tập tăng lên rõ rệt. Nhiều
em biết cách kể chuyện đúng nội dung, rõ ràng, mạch lạc, có sáng tạo thu hút
người nghe, cụ thể:
Thời gian

Kể chuyện hay, Kể nguyên văn
Kể yếu, ấp úng
hấp dẫn
như SGK
Số lượng %
Số lượng %
Số lượng %

Đầu năm

2

8%

7

28%

16

64 %

Giữa kỳ I

4

16%

10

40 %

11

44 %


Cuối kỳ I
Giữa kỳ II

6
10

24%
40 %

14
13

56%
52 %

5
2

20 %
8%

C. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Kể chuyện nói riêng, nhờ vào sự
rèn luyện về kỹ năng đọc và kỹ năng kể mà các em có nhiều tiến bộ như: Tập
đọc lưu loát và diễn cảm hơn, viết chính tả ít mắc lỗi, giờ tập làm văn miệng học
sinh nói lưu loát, biết sử dụng nhiều câu văn giàu hình ảnh hơn.
Qua việc rèn kỹ năng kể chuyện cho học sinh các em ham đọc sách, báo
hơn cho nên học được nhiều điều hay qua sách báo. Từ đó, các em ngoan hơn,
yêu bạn bè, thầy cô hơn và đặc biệt các em mạnh dạn hơn và yêu thích môn
Tiếng Việt hơn.
* Bài học kinh nghiệm: Từ những việc làm nêu trên và kết quả đạt được trong
quá trình rèn luyện kỹ năng kể chuyện cho học sinh, tôi thấy: Để nâng cao chất
lượng giờ kể chuyện ở bậc tiểu học nói chung và giờ kể chuyện ở lớp 5 nói riêng
cần làm tốt các vấn đề sau:
- Ngay từ đầu năm học, phải tìm hiểu, điều tra, phân loại học sinh để có
những biện pháp phù hợp.
- Sử dụng tốt phương pháp trực quan trong phân môn Kể chuyện.
- Kết hợp hài hoà các phương pháp dạy học, tổ chức các hình thức dạy học
gây hứng thú cho học sinh trong quá trình học tập. Bản thân mỗi giáo viên phải
rèn cho mình có được kỹ năng kể chuyện tốt để thực sự thu hút học sinh.
Qua những năm giảng dạy ở lớp 5, tôi đã tìm ra một số biện pháp nâng
cao chất lượng giờ kể chuyện ở lớp 5 trường tiểu học Hoằng Quang đã thu hút
được một số kết quả như trên, tuy chưa phải là cao song phần nào đã góp phần
nâng cao chất lượng giảng dạy môn Tiếng Việt trong nhà trường.
2. Kiến nghị
a. Đối với giáo viên
- Để đạt được kết quả cao chất lượng dạy học kể chuyện cho học sinh,
giáo viên phải không ngừng học tập, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ,
tìm tòi, học hỏi tìm ra những phương pháp giảng dạy tốt nhất nhằm giúp học
sinh yêu thích môn học.
- Có lòng yêu nghề mến trẻ, hết lòng vì học sinh thân yêu.
b. Đối với học sinh
- Học sinh phải chăm chỉ học tập, tự giác ôn bài và chuẩn bị bài tốt.
- Ở lớp phải chủ động, tự tin, tìm toifkhams phá ra những kiến thức mới.
- Tìm hiểu thêm trên các tài liệu, sách tham khảo, ti vi ...qua lời truyền thụ
của cô.
c. Đối với phụ huynh


- Phụ huynh phải trang bị cho các con đầy đủ sách vở nhất là sách tham
khảo kể chuyện để bổ sung kiến thức cho môn kể chuyện nói riêng, môn Tiếng
Việt nói chung.
- Thường xuyên nhắc nhở, đôn đốc, kiểm tra sự chuẩn bị bài và ôn bài ở nhà
của con mình.
- Kèm cặp con mình thời gian học ở nhà.
d. Đối vớ nhà trường
- Tạo điều kiện cơ sở vật chất phục vụ cho học tập.
- Tổ chức các buổi chuyên đề để lan rộng môn học kể chuyện cho học
sinh yêu thích.
- Tổ chức cho học sinh buổi ngoại khóa Tiếng Việt, nghe nói chuyện về
nhà văn, nhà thơ, nói chuyện về các di tích lịch sử... Để khuyến khích học sinh
học tập, yêu thích phân môn kể chuyện nói riêng và môn Tiếng Việt nói chung.
Trên đây là một số kinh nghiệm về “Rèn kỹ năng kể chuyện cho học
sinh lớp 5 theo hướng tích cực ”. Do vốn kinh nghiệm còn ít, tôi rất mong được
sự góp ý của đồng nghiêp, các cấp để tôi có hướng giải quyết tiếp theo cho việc
nâng cao chất lượng dạy học phân môn "Kể chuyện" nói riêng và phân môn
Tiếng việt nói chung, góp phần giáo dục học sinh trở thành con người phát triển
toàn diện.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VI

Thanh Hóa, ngày 10 tháng 4 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác.

Lê Thị Xuyên


NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CÁC CẤP
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................


MỤC LỤC
Trang
A. MỞ ĐẦU.........................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài.............................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu.......................................................................................2
3. Đối tượng nghiên cứu......................................................................................2
4. Phương pháp nghiên cứu.................................................................................2
B. NỘI DUNG .....................................................................................................2
1. Cơ sở lý
luận....................................................................................................2
2. Thực trạng của vấn đề giảng dạy phân môn kể
chuyện...................................3
3. Biện pháp thực hiện ........................................................................................4
3.1. Biện pháp điều
tra .......................................................................................4


3.2. Tìm hiểu nguyên nhân ................................................................................4
3.3. Rèn luyện từng đối tượng học sinh đối với từng dạng bài .........................4
3.4. Kết hợp hài hoà phương pháp trực quan và kỹ năng kể chuyện ..............12
3.5. Những biện pháp khác .............................................................................13
4. Kết quả đạt được ..........................................................................................14
C. KẾT LUẬN ..................................................................................................15



x

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×