Tải bản đầy đủ

Một số kinh nghiệm luyện đọc góp phần rèn đọc diễn cảm cho học sinh lớp 3

MỤC LỤC

TT MỤC

NỘI DUNG
MỞ ĐẦU.

TRANG

1

1

2

1.1

Lý do chọn đề tài

1


3

1.2

Mục đích nghiên cứu

2

4

1.3

Đối tượng nghiên cứu.

2

5

1.4

Phương pháp nghiên cứu

2

6

1.5

Những điểm mới của SKKN

2

7

2

8

2.1


Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm

2

9

2.2

Thực trạng của việc rèn đọc cho HS lớp
3C

3

10

2.3

Các sáng kiến kinh nghiệm

4

11

2.4

Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm

4

12

3.

13

3.1

Kết luận

14

14

3.2

Kiến nghị, đề xuất

16

GHI CHÚ

1

NỘI DUNG SKKN

KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ

14

1


1. MỞ ĐẦU
1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Trong chương trình giáo dục Tiểu học, bộ môn tiếng Việt chiếm một vị trí
rất quan trọng. Học tốt bộ môn này là điều kiện cần để các em có thể tiếp thu
nhanh hơn các môn còn lại.
Vậy nhiệm vụ đặt ra để cả thầy và trò cùng hoàn thành tốt việc dạy và học
đối với bộ môn này là gì? Trong các giờ Tập đọc, học thuộc lòng, học sinh biết
đọc diễn cảm bài văn, bài thơ sẽ tạo cho các em hứng thú, say mê và khắc sâu
một vốn văn học đáng kể cho các em. Cũng thông qua các bài văn, bài thơ, học
sinh được hiểu thêm các vùng miền của Đất nước, hiểu được công sức của các
tầng lớp nhân dân đã xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc ta tươi đẹp như ngày hôm
nay, hiểu được các truyền thống quý báu của dân tộc. Mặt khác, nó còn có tác
dụng giúp các em hiểu được cái đúng, cái đẹp, cái tinh tế của nghệ thuật ngôn
từ. Học đọc, các em đồng thời học cách nói, cách viết một cách chính xác, trong
sáng, góp phần không nhỏ vào việc rèn luyện cách suy nghĩ, diễn đạt. Dạy tập
đọc không những rèn kỹ năng đọc mà còn phát triển ở các em vốn từ ngữ tiếng
Việt phong phú.
Ở bậc Tiểu học nói chung, lớp 3 nói riêng, phân môn Tập đọc có ba yêu
cầu chính: - Rèn kỹ năng đọc đúng.
- Rèn kỹ năng đọc hiểu( trả câu lời hỏi).
- Rèn kỹ năng đọc diễn cảm.
Học môn Tập đọc, việc đọc đúng, đọc hiểu và đọc diễn cảm là có quan hệ
mật thiết với nhau, gắn bó, hỗ trợ đắc lực cho nhau. Cảm thụ tốt sẽ giúp cho việc
đọc hay được tốt. Ngược lại, việc đọc hay giúp cho việc cảm thụ bài văn thêm
sâu sắc.
Thật vậy, học sinh có đọc thông thạo và trên cơ sở đã hiểu nội dung câu
thơ, câu văn, đoạn thơ, đoạn văn thì các em mới thể hiện cảm xúc, có nghĩa là đã
hiểu tường tận về nội dung và nắm được ý nghĩa giáo dục của bài. Điều đó
khẳng định rằng trong tiết dạy tập đọc lớp 3, việc rèn kỹ năng đọc hay cho học
sinh là vô cùng cần thiết. Trong giờ học, học sinh biết đọc hay thì tiết học đó
mới đem lại hiệu quả cao và tạo niềm hứng thú, say mê cho các em ở các tiết
học sau.
Trong quá trình dự giờ và thực nghiệm dạy tập đọc lớp 3, tôi nhận thấy
chất lượng đọc của học sinh còn chưa tốt. Các em đọc sai nhiều do lỗi phát âm
tiếng địa phương(chủ yếu là lỗi dấu hỏi, dấu ngã, nguyên âm đôi). Khi gặp các
tiếng chứa những dấu ngã các em thường đọc thành dấu hỏi hoặc khi đọc các
tiếng chứa nguyên âm đôi iê, các em thường hay đọc khuyết đi âm ê. Trên thực
tế, bất kì người người thầy, người cô nào khi đứng trên bục giảng đều nhận ra
những lỗi trên ở học sinh, thậm chí một số thầy cô còn nhận thấy mình phát âm
sai nhưng không sao sửa được.
2


Nhận thấy được những khó khăn trên và bản thân đồng nghiệp mình chưa
đưa ra được những biện pháp hay, thuyết phục về lĩnh vực này nên tôi đã mạnh
dạn chọn và nghiên cứu đề tài: “Một số kinh nghiệm luyện đọc góp phần rèn
đọc diễn cảm cho học sinh lớp 3”
1. 2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:

Bản thân tôi khi đi sâu vào nghiên cứu đề tài này đã xác định những mục
đích cơ bản sau:
- Tự tìm tòi khả năng sáng tạo của bản thân.
- Vận dụng những sáng tạo đó để giúp học sinh đọc diễn cảm một cách
tốt nhất có thể.
- Giúp học sinh có niềm say mê khi học bộ môn tiếng Việt.
1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:

Đối tượng tôi chọn để nghiên cứu là học sinh lớp 3C trường Tiểu học
Xuân Du. Khi nghiên cứu đề tài này, tôi đã chọn nội dung chương trình một số
bài dạy trong sách TV3 để làm minh chứng cụ thể nhằm giúp các em học tốt hơn
ở bộ môn tiếng Việt.
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Qua một quá trình nghiên cứu, tôi đã tiến hành sử dụng nhiều phương
pháp nghiên cứu như: Phương pháp điều tra, phương pháp đối chứng và
phương pháp khái quát hoá. Có thể nói ở đây, phương pháp điều tra không chỉ
dừng lại ở việc điều tra thực trạng mà phải điều tra từng giai đoạn trong suốt
năm học. Ở mỗi giai đoạn, tôi đều lấy kết quả đã đạt được để đối chứng với kết
quả của giai đoạn trước. Cuối cùng, tôi đã tổng hợp số liệu và rút ra bài học kinh
nghiệm.
1.5 NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Khi đứng trên bục giảng, tôi đam mê tất cả các môn học ở Tiểu học. Tuy
nhiên, môn học mà tôi muốn nghiên cứu nhiều hơn cả là bộ môn tiếng Việt.
Năm học 2011-2012 ; 2013-2014, tôi đã viết về đề tài này và được phòng GDĐT Như Thanh xếp loại C cấp huyện. Trong năm học này, tôi vẫn tâm huyết với
đề tài này nên tiếp tục nghiên cứu. Trong những năm học trước, tôi nhận thấy
một số biện pháp tôi đưa ra đã có hiệu quả tuy nhiên chưa cao. Chính vì vậy tôi
đã đưa ra 1 số biện pháp mới, hy vọng sẽ đem lại kết quả cao hơn, góp phần
giúp các em học tốt hơn ở bộ môn tiếng Việt.

3


2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:

Đọc là một hoạt động trí tuệ phức tạp mà cơ sở là việc tiếp nhận thông tin
chữ viết dựa vào các hoạt động của cơ quan thị giác.
Kĩ năng đọc là kĩ năng khó, đòi hỏi một quá trình luyện tập lâu dài, được
chia làm 3 giai đoạn: phân tích, tổng hợp, tự động hoá. Chỉ khi nào học sinh hiểu
được điều mình đọc thì khi đó mới gọi là biết đọc.
Phân môn Tập đọc rèn cho học sinh các kĩ năng đọc (đọc thành tiếng, đọc
thầm, đọc hiểu, đọc diễn cảm), nghe và nói.
- Đọc thành tiếng: là đọc to, rõ ràng, phát âm đúng, ngắt nghỉ hợp lí.
- Đọc thầm: là đọc không thành tiếng, không mấp máy môi.
- Đọc hiểu: là đọc để hiểu được nghĩa của từ và hiểu nội dung bài.
- Đọc diễn cảm: là đọc hay, biết nhấn giọng ở những từ ngữ gợi tả, gợi
cảm, giọng đọc thay đổi phù hợp với nội dung bài và với từng nhân vật trong
bài, cuốn hút được người nghe.
Từ những khái niệm trên, có thể nói đọc diễn cảm là đọc văn bản sao cho
có hồn để có thể cảm thụ văn bản một cách toàn diện. Đọc diễn cảm là ‘biện
pháp hoạt động đặc thù” nhằm tăng cường sự đồng sáng tạo của người đọc, tạo
điều kiện cho sự đồng thể nghiệm và phát triển trí tưởng tượng của người đọc.
Hiểu rộng hơn, đọc diễn cảm có thể trở thành một hình thức “phân tích tác
phẩm”, giúp người đọc, người nghe hiểu sâu hơn tác phẩm.
* Đối với học sinh Tiểu học nói chung, yêu cầu đọc là:
- Đọc đúng, rõ ràng, rành mạch các đoạn đối thoại, các văn bản nghệ
thuật, hành chính, báo chí,...
- Đọc thầm có tốc độ nhanh hơn dần bắt đầu từ lớp 2.
- Nắm được ý chính của đoạn văn, biết đặt đầu đề cho đoạn văn, biết nhận
xét một số hình ảnh, nhân vật hoặc chi tiết trong bài đọc,... (1)
* Đối với học sinh lớp 3 nói riêng, yêu cầu đọc được cụ thể hoá hơn là:
Học sinh đọc đúng và rành mạch bài văn, bài thơ... nhận biết được ý chính của
bài.
- Việc đọc diễn cảm chủ yếu thể hiện ở hoạt động luyện đọc lại. Đối với
học sinh lớp 3, dựa vào trình độ của đa số học sinh trong lớp và đặc điểm của
bài tập đọc, giáo viên lựa chọn mức độ và hình thức luyện đọc sao cho phù hợp:
luyện tập và thi đọc tốt một, hai đoạn hoặc cả bài; đọc truyện theo vai, tổ chức
Ghi chú: Trong trang này phần (1) Trích Tài liệu bồi dưỡng các môn học lớp 3- Tập
hai- Nhà xuất bản GD- 2004

4


trò chơi học tập có tác dụng luyện đọc và bước đầu hướng dẫn học sinh đọc diễn
cảm. Nhưng nếu ta xem thường việc đọc diễn cảm thì có lẽ giờ học tập đọc sẽ
giảm đi khá nhiều hứng thú.
2.2 THỰC TRẠNG CỦA VIỆC RÈN ĐỌC CHO HỌC SINH LỚP 3C.

1.Thực trạng:
Lớp 3C tôi dạy có tổng số học sinh là 22 em. Ngay từ đầu năm học, tôi đã tiến
hành khảo sát chất lượng đọc của học sinh lớp và thu được kết quả như sau:
Tổng số học
sinh

Đọc nhỏ, ấp úng

Đọc to, rõ, lưu loát

Đọc diễn cảm

22 em

9 em

10 em

3 em

Như vậy chất lượng đọc thực tế cho thấy còn rất thấp,đặc biệt là đọc hay
(diễn cảm). Tôi đã trăn trở và suy nghĩ để tìm ra đâu là nguyên nhân đang tồn tại
thực trạng trên?
2.Nguyên nhân:
+ Về người dạy:
Giáo viên đã chú trọng phương pháp dạy học mới: ‘‘Thầy thiết kế, trò thi
công’’, lấy học sinh làm trung tâm. Giáo viên cố gắng tìm tòi nghiên cứu để
giảng dạy phân môn Tập đọc nhưng chất lượng chưa cao. Bởi vì giáo viên chỉ
coi trọng một vấn đề đọc to, rõ hoặc có hướng dẫn đọc hay nhưng chỉ lướt qua,
ít sử dụng đồ dùng dạy học để giới thiệu bài tạo hứng thú cho học sinh.
+ Về người học:
Học sinh đã biết đọc thành tiếng bài văn, bài thơ, đã để ý và đọc tương đối
đúng các phụ âm khó. Nhưng đọc hiểu nắm nội dung bài còn gặp nhiều khó
khăn, do vậy nên khó khăn trong việc nêu được ý chính của bài, chưa đọc hay
toàn bài văn. Khi đọc, gặp các dấu phẩy, dấu chấm còn ngừng nghỉ như nhau,
chưa đọc đúng giọng câu hỏi, câu cảm. Chưa có thói quen chuẩn bị bài và cảm
thụ bài ở nhà trước khi đến lớp. Về khả năng ngôn ngữ của học sinh còn chậm,
tư duy của các em chưa cao.
Sau khi tìm hiểu nguyên nhân thực trạng về chất lượng đọc của học sinh
tôi đã tiến hành một số biện pháp cụ thể sau:
2.3 : CÁC SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

2.3.1: Hướng dẫn học sinh đọc đúng:
- Khắc phục lỗi phát âm:
+ Đối với học sinh ở trường tôi dạy, đọc sai cơ bản của các em là không
phân biệt được thanh hỏi/ thanh ngã; chưa phân biệt được các tiếng có âm đôi và
âm đơn (iê; uô; ươ); sai do thói quen,...
5


*Đối với trường hợp sai do chưa phân biệt được tiếng có thanh hỏi/
thanh ngã:
Ví dụ:

Gió thổi (thỗi) từng cơn lạnh buốt. Đã hơn một tuần nay, Lan thấy

Hoà có chiếc áo len màu vàng thật đẹp. áo có dây kéo ở (ỡ) giữa (giửa), lại có
cả (cã) mũ (mủ) để (đễ) đội khi có gió lạnh hoặc mưa lất phất. Lan đã (đả) mặc
thử (thữ), ấm ơi là ấm....
(Chiếc áo len - Tiếng Việt 3 – tập 1- trang 20)
Trường hợp sai về thanh hỏi/ thanh ngã, tôi hướng dẫn các em: Khi đọc
tiếng có thanh hỏi, các em cần đọc thấp giọng hơn, nhẹ nhàng hơn. Còn khi đọc
tiếng có thanh ngã, các em cần hơi cao giọng một chút. Với những từ ngữ có
thanh hỏi và thanh ngã đi liền nhau (ở giữa; lại có cả mũ để đội...;...) thì các em
càng dễ mắc, càng cố đọc thì lại càng sai, có khi đọc đúng được tiếng này thì
tiếng kia lại sai. Đối với những trường hợp như thế này, tôi tách nhỏ từng tiếng
độc lập ra để luyện cho các em đọc đúng: ở; giữa; cả; mũ; để, sau đó mới ghép
lại nguyên từ ngữ (ở giữa; lại có cả mũ để đội...; ...) để các em đọc.
*Bên cạnh việc sửa lỗi đọc sai thanh hỏi/ thanh ngã thì việc sửa lỗi đọc
sai những tiếng có âm đôi iê; uô; ươ cũng rất cần thiết. Đây là lỗi thứ hai sau
lỗi về thanh hỏi/ thanh ngã mà các em hay mắc trong khi đọc. Có lẽ do bản chất
phương ngữ nên cách nói thường ngày đã ảnh hưởng không ít đến việc rèn đọc
cho các em.
Ví dụ:
- Trước ngưỡng cửa của trường tiểu học, tôi đã may mắn có ông ngoạithầy giáo đầu tiên của tôi.
(Ông ngoại - Tiếng Việt 3 – Tập 1)

(2)

Khi đọc, học sinh thường đọc sai: ngưỡng/ngững; tiểu/tỉu; tiên/tin; ...
- Hoặc khi đọc: Khi tất cả túa ra khỏi lớp, chú lính nhỏ đợi viên tướng ở
cửa nói khẽ: “Ra vườn đi!”.
(Người lính dũng cảm- Tiếng Việt 3 – Tập I) (2)
học sinh thường đọc sai: “viên tướng” thành “vin tướng”.
- Hay khi đọc: Lần này Quang quyết định chơi bóng bổng.
... Một bác đứng tuổi vội đỡ lấy cụ....

(2)

(Trận bóng dưới lòng đường- Tiếng Việt 3 – Tập 1)
học sinh thường đọc : “quyết” thành quýt”; “tuổi” thanh tủi”;...
Trong những trường hợp trên, trước hết, giáo viên phải đọc mẫu và yêu
cầu học sinh chú ý lắng nghe để phát hiện cách đọc của giáo viên đối với những
Ghi chú: Trong trang này phần (2) Tham khảo tài liệu SGK- SGV lớp 3- Tập1- Nhà
xuất bản GDVN

6


tiếng có chứa âm đôi iê; ươ; uô, sau đó cho những học sinh thường mắc lỗi
luyện đọc đúng. GV có thể nêu một số câu hỏi như:
Ví dụ: “Viên” – Nếu nhấn giọng vào “i”, ta sẽ đọc thành tiếng gì? “vin”;
- Nếu nhấn giọng vào “ê’ ta sẽ đọc thành tiếng gì? “vên”
- Nếu đọc lướt đều ở 2 âm “i” và “ê” (nguyên âm đôi iê), ta sẽ
đọc thành tiếng gì? “viên”.
Tương tự, giáo viên hướng dẫn học sinh phát âm khi gặp những tiếng có
âm đôi iê; uô; ươ.
* Ngoài hai lỗi cơ bản trên, học sinh còn mắc một lỗi đọc sai do thói quen
mà chưa hiểu được nghĩa của tiếng mình đọc. Ví dụ: “Sản xuất” đọc là “xản
xuất”; “trình bày” đọc là “trình bầy”; “cảm ơn” đọc là “cám ơn”;...
Để khắc phục lỗi phát âm trên, giáo viên phải nhắc nhở học sinh tập trung
chú ý vào bài đọc trong sách giáo khoa, không đọc tuỳ tiện theo thói quen. Nếu
học sinh nào đọc sai, cần cho chính học sinh đó sửa ngay lại, tránh tình trạng
giáo viên chỉ nêu cái sai nhưng không yêu cầu học sinh sửa lại. Đồng thời, giáo
viên cũng cần cho học sinh tìm hiểu nghĩa của các từ mà các em vừa sửa cho
đúng, như vậy học sinh sẽ nhớ lâu hơn, ít mắc lỗi lại.
Ví dụ: “Bày tỏ” khác với ‘bầy tỏ”. Vì :
“Bầy” dùng để chỉ nhiều động vật cùng loại, cùng sống với nhau như: bầy
thú; bầy chim,...
“Bày tỏ” là biểu lộ một điều gì đó.
Như vậy, “bầy tỏ” sẽ không có nghĩa nên không thể đọc là “bầy tỏ” được.
Có thể nói những cách đọc trên là do ảnh hưởng theo cách nói địa
phương. Nhiều em, khi đọc đúng và muốn thể hiện mình thì còn bị bạn bè cho
là “điệu”. Trong trường hợp này, giáo viên cần nghiêm khắc phê bình và cần
phân tích cho các em hiểu ý nghĩa của việc đọc đúng sẽ giúp các em hiểu đúng
và viết đúng. Bên cạnh đó, cần cho học sinh đọc các câu trong bài đọc có chứa
các từ đúng để học sinh đọc đúng. Nhắc các em không được đọc theo thói quen
nói tiếng địa phương, từ đó để các em có ý thức đọc đúng tốt hơn.
- Luyện đọc văn xuôi (câu văn dài); ngắt nhịp thơ:
*Đối với những câu văn dài:
Giờ Tập đọc phải hướng các em đến giáo dục lòng yêu Tiếng Việt bằng
cách nêu bật sức mạnh biểu đạt của Tiếng Việt, sự giàu đẹp của âm thanh, sự
phong phú của ngữ điệu trong việc biểu đạt nội dung. Khi đọc các bài văn xuôi,
chỗ ngắt giọng cần phải phù hợp với ranh giới của quan hệ ngữ pháp, ngữ nghĩa.
Nếu ngắt giọng sai cũng tức là đã hiểu sai nội dung văn bản. Đọc sai chỗ ngắt
giọng chính là phản ánh một cách hiểu sai về nghĩa, đọc mà không để ý đến
7


nghĩa. Cho nên ngắt giọng đúng vừa là mục đích của dạy đọc thành tiếng, vừa là
phương tiện giúp học sinh chiếm lĩnh nội dung bài đọc.
Thực tế qua những năm giảng dạy cho thấy ở những bài văn xuôi, học
sinh thường mắc lỗi ngắt giọng ở những câu văn dài có cấu trúc ngữ pháp phức
tạp hoặc mắc lỗi ngay cả những câu văn ngắn nhưng các em chưa nắm được
quan hệ ngữ pháp giữa các từ. Khi đó, các em thường ngắt giọng để lấy hơi một
cách tuỳ tiện mà không tính đến nghĩa. Một số lỗi sai mà học sinh của tôi thường
mắc phải như sau:
Ví dụ 1: Thành phố sắp vào thu.// Những cơn gió/ nóng mùa hè đã
nhường/ chỗ cho luồng không khí mát dịu/ dịu buổi tối.// Trời xanh ngắt trên
cao,/ xanh như dòng/ sông trong trôi lặng lẽ giữa những ngọn/ cây hè phố.//
(Ông ngoại- TV3 Tập 1)

(2)

Ví dụ 2: Tiếng hát bay lượn trên/ mặt suối, tràn qua lớp lớp cây/ rừng,
bừng lên như/ ngọn lửa rực rỡ giữa đêm/ rừng lạnh tối, làm cho lòng người/ chỉ
huy ấm hẳn lên.//
(ở lại với chiến khu – TV3 – Tập 2)

(2)

Cùng một câu văn, nếu chúng ta ngắt giọng khác nhau thì nội dung được
hiểu sẽ khác nhau. Điều đó chứng tỏ việc ngắt giọng sai thì sẽ hiểu sai về nội
dung ý nghĩa. Vì vậy, trước khi dạy một bài tập đọc cụ thể, giáo viên cần xác
định cách ngắt giọng phù hợp nhất, dự tính chỗ có thể ngắt giọng để hướng dẫn
học sinh bằng cách hiểu đúng nội dung ý nghĩa câu văn, đoạn văn, từ đó giúp
các em ngắt giọng một cách có ý thức.
Ví dụ: Ông chậm rãi nhấn từng nhịp chân trên chiếc xe đạp cũ, đèo tôi
đến trường.
(Ông ngoại- TV 3 – Tập 1) (2)
- Nếu ngắt giọng sai: “Ông chậm rãi nhấn từng nhịp chân trên/ chiếc xe
đạp cũ, đèo tôi đến trường.//” thì nội dung của câu văn sẽ là: Chiếc xe đạp cũ ấy
đã đưa tôi đến trường.
Nội dung câu này ngắt đúng như sau: “Ông chậm rãi nhấn từng nhịp chân
trên chiếc xe đạp cũ,// đèo tôi đến trường.//” và nội dung đúng của câu văn lúc
này sẽ là: Ông đưa tôi đến trường bằng chiếc xe đạp cũ.
Để luyện đọc câu văn dài cho học sinh, ngoài việc ngắt giọng phù hợp,
giáo viên cần hướng dẫn học sinh hiểu cách đọc: khi gặp dấu phẩy, các em có
thói quen ngắt giọng trong mỗi bài đọc.
* Đối với việc ngắt nhịp thơ:
- Nhịp, vần là những yếu tố tạo nên cái hay, cái đặc sắc, cái nhạc điệu của
Ghi chú: Trong trang này phần (2) Tham khảo tài liệu SGK- SGV lớp 3- Tập1,2- Nhà
xuất bản GDVN

8


thơ ca. Khi đọc thơ, cần chú ý đến đặc trưng này. Cần chú ý đọc ngắt nhịp thơ
phải tương ứng với chỗ kết thúc một ý dài hay ngắn. Bởi đôi khi trong mỗi câu
thơ, tác giả đã lược bỏ các dấu câu dẫn đến tình trạng học sinh ngắt nhịp sai.
Qua thực tế cho thấy, khi đọc thơ, học sinh mắc lỗi ngắt nhịp sai là do các
em không để ý đến nghĩa mà chỉ đọc theo nhạc thơ. Các em thường tạo ra sự cân
đối về mặt âm thanh khi đọc từng dòng thơ hoặc câu thơ. Với thơ 4 tiếng, các
em thường ngắt nhịp 2/2. Với thơ 5 tiếng, các em sẽ ngắt nhịp 2/3 hoặc 3/2; thơ
lục bát sẽ được ngắt nhịp chẵn 2/2/2 và 4/2 hoặc 2/2/2/2 và 4/4, vì vậy, các em
đã ngắt nhịp sai.
Ví dụ:
Đối với thể thơ 4 chữ:
- Các em thường mắc lỗi sau:
Hoa cam,/ hoa khế/
Chín lặng/ trong vườn/
Bà mơ/ tay cháu/
Quạt đầy/ hương thơm.//
(Quạt cho bà ngủ – TV3 Tập 1)

(2)

Nếu các em ngắt nhịp thơ sai thì sẽ làm giảm sức biểu cảm và làm mất đi
tính nhạc điệu cùng những nét đặc sắc của thơ ca. Vì vậy, cách sửa là:
Hoa cam,/ hoa khế/

( nhịp 2/2 )

Chín lặng trong vườn/

(ngắt nhịp cuối dòng thơ)

Bà mơ tay cháu/

(ngắt nhịp cuối dòng thơ)

Quạt đầy hương thơm.//

(ngắt nhịp cuối dòng thơ)

Đối với thể thơ 7 chữ:
- Các em thường mắc lỗi sau:
ở tận/ sông Hồng/ em có biết/
Quê hương anh/ cũng có/ dòng sông?/
Anh mãi gọi/ với lòng/ tha thiết/
Vàm Cỏ Đông!/ Ơi Vàm/ Cỏ Đông!//
(Vàm Cỏ Đông – TV3 – Tập 1)

(2)

Mắc lỗi trên là do học sinh thường có thói quen đọc thơ theo kiểu “giật
cục” mà không nắm được giá trị biểu cảm của thơ ca biểu hiện qua nhịp và vần.
Cách sửa là:
ở tận sông Hồng/ em có biết/

(nhịp 4/3)
9


Quê hương anh/ cũng có dòng sông?/

(nhịp 3/4)

Anh mãi gọi/ với lòng tha thiết/

(nhịp 3/4)

Vàm Cỏ Đông! / Ơi Vàm Cỏ Đông!//

(nhịp 3/4 )

Đối với thể thơ lục bát:
- Cũng do thói quen đọc thơ theo kiểu ‘giật cục” như đã nói ở trên, các em
thường mắc lỗi sau:
Bạn bè/ ríu rít/ tìm nhau
Qua con/ đường đất / rực màu/ rơm phơi/
Bóng tre/ mát rợp/ vai người
Vầng trăng/ như lá / thuyền trôi / êm đềm.//
(Về quê ngoại- TV3 – Tập 1) (2)
Cách sửa là:
Bạn bè ríu rít tìm nhau/ ( ngắt nhịp cuối dòng thơ)
Qua con đường đất / rực màu rơm phơi/
Bóng tre/ mát rợp vai người

( nhịp 4/4 )

(nhịp 2/4)

Vầng trăng/ như lá thuyền trôi êm đềm.//

(nhịp 2/6)

Vì lẽ đó, khi dạy tập đọc thơ, giáo viên cần dự tính các tình huống khi đọc
của học sinh để khi lên lớp không bị động, kịp thời có cách xử lí tình huống một
cách hợp lí, đúng đắn nhất.
Tóm lại, đối với những bài văn xuôi, khi đọc, ngoài việc tìm những dấu
câu đặc biệt (câu hỏi, câu cảm) để hướng dẫn học sinh luyện đọc, giáo viên còn
phải chú trọng cách nghỉ hơi ở dấu chấm, ngắt hơi ở dấu phẩy, dấu hai chấm.
Đặc biệt, cần hướng dẫn học sinh biết ngắt hơi ở những chỗ không có dấu câu
nhưng đó lại là chỗ tách ý.
Còn đối với các bài thơ, tuỳ theo từng thể loại thơ mà giáo viên hướng
dẫn học sinh cách đọc sao cho đúng nhịp, hiểu đúng nội dung câu thơ.
2.3.2: Hướng dẫn học sinh đọc hiểu:
Trong một giờ luyện đọc, việc các em đọc đúng rất quan trọng nhưng nếu
đúng mà không hiểu thì khi rèn kĩ năng đọc diễn cảm cho các em quả là một
điều không dễ dàng chút nào bởi vì khi hiểu văn bản, các em sẽ truyền tải văn
bản đó đến người nghe một cách hiệu quả nhất.
Sự thực đọc thầm có ưu thế hơn hẳn đọc thành tiếng ở chỗ nhanh hơn đọc
thành tiếng từ 1,5 đến 2 lần. Nó có ưu thế hơn hẳn để tiếp nhận, thông hiểu nội
dung văn bản vì người ta không phải chú ý đến việc phát âm chỉ tập trung để
Ghi chú: Trong trang này phần (2) Tham khảo tài liệu SGK- SGV lớp 3- Tập1- Nhà
xuất bản GDVN

10


hiểu nội dung điều mình đọc. Hiệu quả của đọc thầm được đo bằng khả năng
thông hiểu nội dung văn bản đọc. Do đó, dạy đọc thầm chính là dạy đọc có ý
thức, đọc hiểu. Kết quả đọc thầm phải giúp học sinh hiểu nghĩa của từ, cụm từ,
câu, đoạn, bài tức là toàn bộ những gì mà các em đọc được.
*. Cách thực hiện:
- Kết hợp chặt chẽ việc tìm hiểu bài với việc luyện đọc. Tôi cho học sinh
đọc đến đâu tìm hiểu bài đến đó. Không tách rời hai khâu tìm hiểu bài và rèn
đọc.
Ví dụ: Khi dạy bài : “Tiếng ru” của nhà thơ Tố Hữu ( TV3 – T1) (2)
Sau khi cho học sinh lần lượt đọc thầm từng khổ thơ, tôi cho học sinh tìm
hiểu nội dung:
Khổ1, tôi kết hợp đặt câu hỏi sau: Em hãy cho cô biết khổ thơ đầu nhắc
đến tên những con vật nào? Những con vật đó yêu những gì? Vì sao?( Tôi sẽ
hướng học sinh có câu trả lời hay nhất: đó là con ong, con cá, con chim ca. Con
ong thì yêu hoa vì muốn làm được mật thì phải cần có hoa, con cá yêu nước vì
nếu thiếu nước cá sẽ chết, con chim ca yêu trời vì đó là không gian sống lí tưởng
của chúng)
Tôi tiếp tục khai thác nội dung bằng câu hỏi: Câu 3 và câu 4 nhắc đến ai?
( Học sinh: nhắc đến con người.) Vậy con người muốn sống tốt thì phải
làm thế nào?( Học sinh: phải yêu đồng chí, yêu người anh em.)
Sau khi học sinh trả lời, tôi kết hợp giảng: Là con người, chúng phải biết
yêu thương, quý trong lẫn nhau thì cuộc sống sẽ trở nên tốt đẹp hơn rất nhiều.
Ở khổ 2, tôi bám vào câu hỏi 2 của sách giáo khoa để hỏi học sinh: Hãy
nêu cách hiểu của em về mỗi câu thơ trong khổ 2? Học trả lời theo cách hiểu
riêng của từng em sau đó tôi đưa ra kết luận: Một ngôi sao không làm sáng được
bầu trời ban đêm, một thân lúa chín không làm nên một mùa vàng bội thu và
một con người không thể tạo được một nhân gian.
Sang đến khổ 3, tôi đặt câu hỏi: Vì sao núi không nên chê đất thấp, biển
không nên chê sông nhỏ? Học sinh bám vào các câu thơ trong khổ thơ để trả lời
(vì nhờ có đất bồi đắp mới có những ngọn núi cao; nhờ có nước từ các
con sông mới có biển khơi vô tận)
Ở mỗi khổ thơ, tôi kết hợp giúp học sinh hiểu nghĩa của các từ khó hiểu
trong bài. Ví dụ: Khổ 1: Em hiểu từ ‘‘đồng chí’’ nghĩa là gì?(Học sinh trả lời: là
người cùng đứng trong tổ chức cách mạng hoặc cùng chí hướng.)
Ghi chú: Trong trang này phần (2) Tham khảo tài liệu SGK- SGV lớp 3- Tập1- Nhà
xuất bản GDVN

11


Khổ 2: Em hiểu từ “nhân gian” nghĩa là gì?( Học sinh trả lời: nhân gian ý
chỉ loài người.
Khổ 3: Em hiểu từ “bồi” nghĩa là gì?( Học sinh trả lời: nghĩa là thêm vào,
đắp nên)
Cuối cùng tôi gọi một học sinh có khả năng tiếp thu bài nhanh nhất nêu
nội dung của bài rồi gọi nhiều học sinh nhắc lại( Nội dung: Con người sống giữa
cộng đồng phải yêu thương anh em, bạn bè, đồng chí.)
Từ việc các em đọc đúng, đọc hiểu,tôi tiếp tục giúp các em hoàn thành tốt
bài học bằng việc rèn kĩ năng đọc diễn cảm.
2.3.3: Hướng dẫn học sinh đọc diễn cảm:
- Hướng dẫn học sinh có giọng đọc phù hợp với nhân vật:
Như đã biết: Các loại hình văn bản xuất hiện ở Tập đọc lớp 3 gồm: Văn
miêu tả, thơ, truyện kể, báo cáo kết quả thi đua,... Trong đó, truyện kể thường là
bài tập đọc đầu tuần, xuất hiện nhiều nhân vật vì nó gắn liền với 0,5 tiết Kể
chuyện kèm theo.
Để nâng cao chất lượng đọc cho học sinh lớp 3, phục vụ tốt hơn cho tiết
Kể chuyện thì không thể xem nhẹ mà dừng lại ở việc luyện cho học sinh có
giọng đọc phù hợp với từng nhân vật. Sau khi các em được luyện đọc và tìm
hiểu bài có nội dung, ý nghĩa như thế nào? Tính cách của từng nhân vật ra sao?
Giáo viên cóthể gợi ý để học sinh phát hiện cách đọc diễn cảm để thể hiện giọng
đọc của từng nhân vật. Để thể hiện được đúng giọng của nhân vật, cần yêu cầu
các em phải nắm vững tính cách của nhân vật. Nếu không, trước khi đọc, giáo
viên phải nói rõ cho học sinh biết tính cách của từng nhân vật cho học sinh hiểu
một cách cụ thể mà có giọng đọc phù hợp.
Ví dụ: Khi đọc bài Cuộc chạy đua trong rừng, muốn phục vụ cho tiết kể
chuyện tốt thì ở phần luyện đọc lại (đọc diễn cảm), giáo viên phải gợi ý để học
sinh nắm được: Ngựa Cha có tính cách như thế nào? Ngựa Con tính cách ra
sao? Khi đọc, cần phải thể hiện như thế nào cho phù hợp? Khi thể hiện, giọng
đọc phải rõ ràng, tự tin. Nếu các em chưa đọc được thì giáo viên có thể đọc mẫu
một vài lần cho các em nghe và biết cách đọc đúng giọng nhân vật. Cụ thể:
Giọng Ngựa Cha: (âu yếm, ân cần. Lưu ý nhấn giọng vào các từ ngữ gạch
chân):
- Con trai à, / con phải đến bác thợ rèn xem lại bộ móng.// Nó cần thiết
cho cuộc đua hơn là bộ đồ đẹp.//
Còn giọng Ngựa Con: (Tự tin, ngúng nguẩy, chú ý nhấn giọng các từ ngữ
gạch chân):
- Cha yên tâm đi.// Móng của con chắc chắn lắm.// Con nhất định sẽ
thắng mà!//
12


(Cuộc chạy đua trong rừng- TV 3 – Tập 2)

(2)

- Tương tự với giọng kể thể hiện tính cách của nhân vật thì giọng của
người dẫn chuyện cũng rất quan trọng. Giọng của người dẫn chuyện cũng phải
Ghi chú: Trong trang này phần (11);(12) Tham khảo tài liệu SGK- SGV lớp 3- Tập1Nhà xuất bản GDVN

phù hợp với hoàn cảnh của đoạn dẫn chuyện để người nghe cảm thụ được sự
thương cảm hay xúc động của đoạn dẫn.
Ví dụ: “Đời Hùng Vương thứ 18, ở làng Chử Xá bên bờ sông Hồng, có
một chàng trai tên là Chử Đồng Tử. Nhà nghèo, mẹ mất sớm, hai cha con chàng
chỉ có một chiếc khố mặc chung, khi cha mất, chàng thương cha nên đã quấn
khố chôn cha, còn mình đành ở không.”.
(Sự tích lễ hội Chử Đồng Tử- TV3 –Tập 2) (2)
Đọc tức là thể hiện sự cảm thụ nội dung văn bản của người đọc. Do đó,
ngoài việc ngắt giọng thì việc nhấn giọng phải phù hợp với từng nhân vật có
trong bài. Ngoài ra, giáo viên cũng cần hướng dẫn học sinh phân biệt từng loại
câu theo mục đích nói để có cách đọc từng loại câu cho phù hợp. Cụ thể:
+ Khi đọc câu kể giọng đọc bình thường; câu hỏi thì phải cao giọng ở cuối
câu, nhấn giọng vào từ cần hỏi; câu cầu khiến thì giọng đọc dõng dạc hơn, chú ý
nhấn mạnh vào từ thể hiện “lệnh”; riêng đối với câu cảm thì cần có giọng đọc
phụ thuộc vào cảm xúc nhân vật thể hiện trong câu ấy.
Việc đọc diễn cảm thường gắn liền với ngữ điệu nên tôi cũng thường
xuyên dùng cử chỉ, nét mặt để làm tăng thêm tính gợi cảm của câu văn, làm cho
câu hoặc văn thân mật, vui vẻ hoặc ngạc nhiên, hoặc căm giận. Bởi vậy, khi học
sinh luyện đọc, giáo viên phải tạo được một không khí thoải mái để học sinh dễ
trực cảm với bài văn, có tâm trạng chờ đợi và chú ý nghe giáo viên đọc và cũng
từ đó giúp các em có thể học tập thầy hoặc bạn một cách chủ động.
- Song song với các biện pháp trên, tôi còn thực hiện một số biện pháp
hỗ trợ cho việc rèn học sinh đọc diễn cảm như:
* Tổ chức cho học sinh luyện đọc theo vai, tạo không khí thi đua trong
tiết học:
Bước đầu, tôi có thể chọn học sinh đọc tốt làm mẫu trước. Có thể kết hợp
cả giáo viên và học sinh đọc tốt làm mẫu lần thứ nhất. Sau đó chọn nhóm học
sinh có cùng trình độ làm mẫu lần thứ hai. Cả lớp quan sát, theo dõi, nhận xét.
Lần thứ ba là lần chọn nhóm ngẫu nhiên (có tất cả các đối tượng học sinh)
Ghi chú: Trong trang này phần (2) Tham khảo tài liệu SGK- SGV lớp 3- Tập1- Nhà
xuất bản GDVN

13


cùng đọc phân vai. Các em đọc tốt sẽ hỗ trợ các em đọc chưa tốt, giúp bạn mình
bạo dạn, tự tin hơn trong học tập.
Cuối cùng là bước cho các em thi đua thể hiện mình. Đây là bước để giáo
viên có thể kiểm tra một cách kĩ nhất chất lượng đọc của các em. Bước này rất
quan trọng vì nó chính là cơ hội để các em có dịp “khoe” thành tính của mình
với các bạn. Lần lượt trong từng tiết học, tôi sẽ luân phiên cho các em có cơ hội
thể hiện mình trước lớp.
* Phối kết hợp các hình thức khác như: luyện đọc trong sinh hoạt 15 phút
đầu giờ, trong giờ ra chơi;...
Ngoài tiết học chính khoá, trong sinh hoạt 15 phút đầu giờ, tôi đã khuyến
khích các em mượn những cuốn truyện hay, bổ ích có trong thư viện nhà trường
như: Sơn Tinh- Thuỷ Tinh; Âu Cơ và Lạc Long Quân; Bó củi biết bay; Dế mèn
phiêu lưu kí; Ông quan thông minh; Sọ dừa; Đám cưới chuột; Ba chú lợn con;
Vua Heo; Ba chiếc lông chim; Anh lính kẹp hạt dẻ; Hên-xen và Grê-ten;... để
các em thay nhau đọc. Những học sinh cú những có tiến bộ vượt bậc sẽ được các
em bình bầu và tham gia đọc truyện trong 15 phút đầu giờ cho các bạn trong lớp
cùng nghe và có nhận xét, đánh giá, tuyên dương học sinh đó.
Giờ ra chơi, ngoài các trò chơi, các em cũng có thể đọc truyện hoặc đọc
thơ theo nhóm nhỏ. Hình thức này vừa rèn cho các em sự say mê văn học, lại
vừa là yếu tố để kích thích tinh thần học tập của các em. Việc đọc những bài thơ
hay, những câu chuyện lí thú, bổ ích cũng giúp các em tích luỹ thêm được vốn từ
ngữ vốn còn nghèo nàn của các em, đồng thời cũng có cơ hội học tập nhiều hình
thức diễn đạt thơ, văn qua sách báo. Công việc này cũng giúp các em tự rèn rũa
việc đọc đúng, đọc diễn cảm cho chính mình, làm cho bản thân có thể đọc nhanh
hơn, hay hơn. Hình thức này cũng là một cách giúp các em quên đi những căng
thẳng sau giờ học Toán với những con số cứng nhắc.
* Hướng dẫn học sinh biết tự tìm hiểu cách đọc diễn cảm một văn bản
qua các phương tiện thông tin đại chúng:
Ví dụ: Nghe các phát thanh viên đọc truyện trên đài; thi đua để được tham
gia vào hội thi đọc diễn cảm, kể chuyện do nhà trường tổ chức,...
* Cần khen, chê đúng lúc, kịp thời, phù hợp với tâm lý từng học sinh.
Học sinh tiểu học thích được khen hơn là chê. Cho nên giáo viên cần
khen, chê kịp thời, đúng lúc, đúng chỗ để động viên khuyến khích các em có kết
quả học tập tốt.
Đối với những em có tính cách “rụt rè” thì phải khen khi các em có tiến
bộ dù là rất nhỏ để các em có động lực tự tin vượt lên trong học tập. Đối với
những học sinh còn CHT thì một tiến bộ nho nhỏ như: thể hiện được giọng của
một nhân vật hay hơn bình thường thì đó cũng là một cố gắng đáng động viên
các em. Còn những học sinh HTT thì phải có biểu hiện vượt bậc trong học tập
14


thì mới khen. Tuy vậy, tôi vẫn luôn lấy các em đó làm gương để các em khác soi
vào để rèn luyện mình.
2.4 HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:

Trên đây là những kinh nghiệm, những biện pháp mà tôi đã áp dụng trong
thời gian qua. Khi áp dụng các sáng kiến này vào các giờ dạy có đồng nghiệp dự
giờ, tôi đã được đồng nghiệp đánh giá cao.Bảnthân tôi rất tâm đắc sau hànhkhi
tiến khảo sát chất lượng giữa kìII của lớp 3C( đối tượng tôi đang nghiên cứu)
với kết quả như sau:
Tổng
số HS

Các giai đoạn
trong năm học
Đầu năm

22 em

Giữa HKII

Đọc nhỏ, ấp úng

Đọc to, rõ,
lưu loát

9 em

10 em

3 em

3 em

10 em

9 em

Đọc diễn cảm

3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1 Kết luận:
Có thể nói đạt được kết quả trên là cả một quá trình bền bỉ rèn luyện cho
các em. Bản thân tôi luôn bám trường, bám lớp, theo sát từng bước chuyển mình
của các em để có phương pháp rèn đọc cho các em phù hợp. Cho đến nay, lớp
3C hầu như em nào cũng có ý thức đọc diễn cảm sau mỗi bài tập đọc. Các em
rất thích được “thể hiện mình” trước lớp bởi các em đã nhận thức được đúng
đắn mục đích của việc rèn đọc, đặc biệt là đọc diễn cảm. Bản thân tôi là giáo
viên trực tiếp giảng dạy, rèn luyện cho các em cũng rất vui mừng.
Sau quá trình nghiên cứu trong nhiều năm và qua thực tiễn giảng dạy của
năm học này, để việc rèn đọc, đặc biệt là đọc diễn cảm có hiệu quả, cần các yêu
cầu sau:
1. Các mục tiêu luyện đọc diễn cảm phải rõ ràng.
2. Cường độ luyện tập phải được nâng cao dần, luyện đọc càng nhiều
càng tốt và một nội dung luyện tập phải cần được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trên
những ngữ liệu khác nhau, được củng cố nhiều lần để tạo thành kĩ năng, kĩ xảo.
3. Phải lựa chọn ngữ liệu (từ ngữ, câu, đoạn) để luyện đọc sao cho tiết
kiệm thời gian luyện tập mà hiệu quả vẫn cao.
4. Muốn học sinh đọc đúng, diễn cảm, trước hết giáo viên phải đọc đúng,
đọc hay.
5. Để đọc đúng, đọc diễn cảm, giáo viên cần có lòng ham muốn đọc hay
và có ý thức tự điều chỉnh mình đọc đúng hơn, hay hơn, có ý thức trau chuốt
giọng đọc của mình hơn. Người thầy ở Tiểu học là người đặt nền móng trang bị
cho các em về chuẩn ngôn ngữ. Cho nên, giáo viên cần có ý thức quan tâm dến
15


cách phát âm của mình: Đó là tự quan sát, tự đánh giá kĩ lưỡng hơn đến cách
nói, cách đọc của mình để dạy học có hiệu quả.
6. Giáo viên cần có vốn sống, năng lực cảm thụ văn học để có thể hoà
mình vào tác phẩm, thấm được vào cái gọi là “máu thịt” của bài văn, bài thơ, tái
hiện được hình tượng của tác phẩm văn học. Nói cách khác, muốn đọc tốt, trước
hết phải hiểu và cảm được văn bản, biết được văn bản muốn nói gì.
7. Giáo viên phải biết được trình độ của học sinh:
Sau khi đã giọng đọc mẫu chắc chắn, công việc tiếp theo giáo viên phải
làm là quan sát, theo dõi giọng đọc của học sinh, biết nghe các em đọc để nhanh
chóng nhận ra những gì các em làm được và chưa làm được để điều chỉnh kịp
thời. Bởi trong thực tế, có nhiều giáo viên khi học sinh đọc thì vẫn chưa thực sự
chú ý theo dõi học sinh đọc hoặc chưa biết “nghe” học sinh đọc nên chỉ đưa ra
nhận xét chung chung: “Em đọc chưa tốt”; hoặc “chưa hay”; hoặc “tương đối
tốt, lần sau cần cố gắng hơn”. Và như vậy thì việc định hướng cho học sinh biết
đọc diễn cảm vẫn còn rất mơ hồ, chung chung.
8. Để rèn đọc diễn cảm cho học sinh, giáo viên phải tạo điều kiện cho học
sinh biết tự lắng nghe, tự nhận xét chính giọng đọc của mình một cách khách
quan. Muốn vậy, người thầy phải có khả năng thay thế một máy ghi âm: Ghi và
phát lại lời đọc của học sinh, tức là biết tái hiện lại cách đọc của học sinh hoặc
biết mô phỏng để khi cần thiết có thể trình lại trước học sinh, sửa lại cho học
sinh đọc tốt hơn.
9. Để tôn trọng người nghe, người đọc phải làm chủ âm lượng giọng đọc
của mình sao cho tất cả người nghe trong một phạm vi lớp học cùng được nghe
rõ. Đọc diễn cảm là giao tiếp một cách có văn hoá trước đông người. Do vậy,
giáo viên cần hướng dẫn học sinh biết nâng giọng cao hơn để đọc to hơn, nghĩa
là cần biết thở sâu để lấy hơi và giữ hơi trong quá trình đọc, tránh việc đọc như
“cuốc kêu mùa hè” mà lại mệt người, phản tác dụng.
10. Cuối cùng, giáo viên không được quên rằng việc đánh giá, nhận xét,
động viên, tuyên dương học sinh chính là bước không thể thiếu được trong quá
trình rèn đọc diễn cảm. Thiếu đi điều này thì sẽ không kích thích được ham
muốn của các em. Cho nên để rèn đọc diễn cảm một cách có hiệu quả, giáo viên
cần nhớ rằng: Động viên, tuyên dương học sinh đúng lúc, đúng chỗ sẽ là động
lực thúc đẩy các em có cơ hội để thể hiện mình, có ý thức rèn đọc diễn cảm tốt
hơn
Trên đây cũng là một số bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn nghiên
cứu và dạy học. Tuy nhiên, ở góc độ nghiên cứu của cá nhân, sẽ không tránh
khỏi những hạn chế và thiếu sót. Tôi rất mong được sự góp ý của cấp trên và
đồng nghiệp để sáng kiến được hoàn thiện hơn.
3.2 Kiến nghị, Đề xuất:
- Qua thực tế giảng dạy và dự giờ đồng nghiệp, lại có điều kiện đã từng
công tác ở một số vùng trong tỉnh, tôi thấy phần đa giáo viên do đặc thù phương
16


ngữ của tỉnh Thanh Hoá nên thường phát âm sai rất nhiều: VD: Lẫn lộn giữa
thanh hỏi/ thanh ngã; lẫn lộn các tiếng có âm đôi/ âm đơn,... Chính vì vậy, nhà
trường và các cấp trên có thể tổ chức các cuộc thi, các chuyên đề cho giáo viên
như: Thi đọc đúng; thi đọc diễn cảm để làm tăng hiệu quả của việc dạy học sinh
đọc đúng; đọc diễn cảm.
Như Thanh, ngày 15 tháng 03 năm 2017
Xác nhận của Hiệu Trưởng

Tôi xin cam đoan sáng kiến này là
của tôi viết, không sao chép nội dung của người
khác.
Người viết

TRƯƠNG THỊ HÀ

17


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tài liệu bồi dưỡng các môn học lớp3-Tập 2- NXB Giáo dục 2004
2. SGK,SGV Tiếng Việt lớp 3 – Tập 1,2- NXB Giáo dục Việt Nam

18



x

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×