Tải bản đầy đủ

Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 3 học tốt biện pháp tu từ so sánh

A .MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài
Khi vừa lọt lòng ta đã được nghe câu hát ru ầu ơ của bà của mẹ :
“ Ơn cha nặng lắm ai ơi
Nghĩa mẹ bằng trời chín tháng cưu mang ”
Rồi thì :
“Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra ”
Vậy là khi vừa chào đời, mỗi chúng ta đã được trò chuyện giao tiếp với những
người xung quanh mà không ai không một lần sử dụng phép tu từ so sánh.
“So sánh” là “cách nói” rất quen thuộc và phổ biến trong cuộc sống cũng như
trong sáng tạo văn chương. Nhờ phép so sánh, người viết có thể gợi ra những hình
ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mĩ lành mạnh, đẹp đẽ cho người đọc, người nghe.
So sánh được coi là một trong những phương thức tạo hình, gợi cảm hiệu quả nhất,
có tác dụng lớn trong việc tái hiện đời sống, hình thành và phát triển trí tưởng
tượng, óc quan sát và khả năng nhận xét, đánh giá của con người. Mặt khác, nó còn
làm cho tâm hồn và trí tuệ của con người thêm phong phú, giúp con người cảm
nhận văn học và cuộc sống một cách tinh tế hơn, sâu sắc hơn.
Chỉ cần sử dụng biện pháp so sánh trong câu ca dao trên , tâm tư tình cảm
của con người sẽ được bộc lộ một cách kín đáo và tế nhị.
Xuất phát từ vai trò và tác dụng của phép tu từ so sánh, từ mục tiêu của môn

Tiếng Việt ở tiểu học, ngay từ lớp 1, các bài học của sách giáo khoa đã đưa vào khá
nhiều hình ảnh so sánh... Tuy nhiên, đến lớp 3 HS mới chính thức được học về
phép tu từ so sánh trong phân môn Luyện từ và câu.
Sách giáo khoa Tiếng Việt 3 đã giới thiệu sơ bộ về phép so sánh, hình thành
những hiểu biết và kĩ năng ban đầu về so sánh cho HS thông qua các bài tập thực
hành. Từ đó, giúp HS cảm nhận được cái hay của một số câu văn, câu thơ và vận
dụng phép so sánh vào quan sát sự vật, hiện tượng xung quanh và thể hiện vào bài
tập làm văn được tốt hơn. Mặt khác, việc dạy phép tu từ so sánh cho HS lớp 3 cũng
là một cách chuẩn bị dần để các em sử dụng thành thạo hơn phép tu từ này khi làm
các bài văn kể chuyện, miêu tả ở lớp 4, lớp 5.
Trong thực tế, GV và HS lớp 3 còn gặp nhiều khó khăn khi dạy học về phép
tu từ so sánh, hiệu quả dạy học về phép tu từ so sánh chưa cao. HS lớp 3 nhận biết
được các hình ảnh so sánh nhưng việc vận dụng kiến thức về phép so sánh vào nói,
viết thì còn nhiều hạn chế. GV còn lúng túng khi lựa chọn các phương pháp hướng
dẫn HS tìm hiểu cách so sánh và tác dụng của phép so sánh. Việc đánh giá kỹ năng
sử dụng phép so sánh của HS cũng chưa có các tiêu chí cụ thể, nhiều khi, sự đánh
giá của GV còn mang tính chất cảm tính và kinh nghiệm chủ nghĩa. Bên cạnh đó,
các công trình nghiên cứu về vấn đề này hầu như chưa có, vì vậy, GV tiểu học còn
gặp nhiều khó khăn trong việc tìm các tài liệu tham khảo.
1


Xuất phát từ những lí do trên, trong quá trình dạy học nhiều năm qua, tôi đã
rút ra: “Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 3 học tốt biện pháp tu từ so sánh”.
Điều đó khẳng định vai trò trách nhiệm của mỗi giáo viên trong việc hình thành
cho học sinh kĩ năng nhận biết và sử dụng biện pháp tu từ so sánh. Giúp học sinh
phát triển kĩ năng giao tiếp, tạo điều kiện để học sinh phát triển một cách toàn diện
đồng thời giúp giáo viên có được các phương pháp rèn luyện học sinh về kỹ năng
sử dụng biện pháp tu từ so sánh. Đó chính là mục đích của Sáng kiến kinh nghiệm
này.
II. Mục đích nghiên cứu
Góp phần giúp học sinh củng cố lý thuyết về cách dùng từ so sánh, từ đó học
sinh biết phân biệt, biết cách so sánh tu từ.
Giúp học sinh tiếp cận kịp thời với sách giáo khoa đồng thời giúp giáo viên có
được các phương pháp rèn luyện học sinh kỹ năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh
ở lớp 3.
III. Đối tượng nghiên cứu
- Phương pháp và quá trình dạy học phép tu từ so sánh ở lớp 3.
- Tìm hiểu các vấn đề lý thuyết về phép tu từ so sánh trong Tiếng Việt.
- Tìm hiểu nội dung dạy học về phép tu từ so sánh và thực trạng của việc dạy

học phép tu từ so sánh ở lớp 3.
- Đưa ra Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 3 học tốt biện pháp tu từ so
sánh
- Tổ chức dạy học thực nghiệm để kiểm tra tính hiệu quả và tính khả thi của
Sáng kiến kinh nghiệm.
-Thực nghiệm với học sinh lớp 3 .
IV. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nhiệm vụ nêu trên, tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên
cứu sau đây:
- Phương pháp nghiên cứu lí luận nhằm thu thập các thông tin lí luận có liên
quan đến đề tài nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn nhằm điều tra thực trạng dạy và học các
phép tu từ để phát hiện những vấn đề cần nghiên cứu, cần tìm ra giải pháp.
- Phương pháp thực nghiệm dạy học.

2


B .NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
I. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm :
+ Mục tiêu của việc dạy học phép tu từ so sánh ở tiểu học
Thống nhất với mục tiêu của chương trình Tiếng Việt ở tiểu học, mục tiêu
của việc dạy biện pháp tu từ so sánh ở lớp 3 là rèn luyện kĩ năng. Thông qua việc
giải bài tập, HS nhận diện phép tu từ so sánh tức là chỉ ra được hình ảnh, nhân vật
hoặc chi tiết được sử dụng trong bài đồng thời hiểu được tác dụng của phép tu từ so
sánh.
Ngoài việc nắm được dấu hiệu và hiểu được giá trị biểu cảm của phép tu từ
so sánh, chương trình còn yêu cầu HS biết vận dụng so sánh tu từ vào việc nói viết,
như biết dùng những hình ảnh so sánh sinh động trong giao tiếp, trong làm văn hay
khi kể lại một câu chuyện mà các em được nghe, được đọc. Đây cũng là một cách
chuẩn bị dần để các em sử dụng thành thạo hơn phép so sánh tu từ khi làm các bài
văn kể chuyện, miêu tả ở lớp 4 hoặc lớp 5.
Mặc dù những kiến thức về so sánh được dạy cho HS lớp 3 còn ở mức độ sơ
giản song thông qua đó chương trình còn muốn bước đầu trang bị cho HS những
cách nói, cách nhìn giản dị mà sâu sắc, tinh tế về đời sống, văn hoá, văn học của
con người Việt Nam. Từ đó, góp phần hình thành và phát triển tư tưởng, tình cảm
và nhân cách HS.
+ Nội dung dạy học biện pháp tu từ so sánh ở lớp 3
Nội dung về biện pháp tu từ so sánh chiếm một dung lượng không lớn
trong chương trình Tiếng Việt lớp 3. Tất cả chỉ có 7 tiết học, khoảng 1/5 tổng số
thời gian của phân môn Luyện từ và câu và 1/35 tổng số thời gian của môn
Tiếng Việt.
Phép tu từ so sánh được dạy ở học kì I, cứ 2 tuần một tiết. Có thể thống kê
nội dung dạy học về phép tu từ so sánh cụ thể như sau:
Thống kê nội dung dạy học phép tu từ so sánh trong phân môn Luyện từ
và câu:
Tuần Chủ điểm
Nội dung dạy học
Trang
1
Măng non
Làm quen với phép so sánh
8
3
Mái ấm
Tìm hình ảnh so sánh và nhận biết các
24
từ chỉ sự so sánh
5
Tới trường
So sánh hơn kém, cách thêm các từ so
43
sánh vào những câu chưa có từ so sánh
7
Cộng đồng
So sánh sự vật với con người
58
10 Quê hương
Làm quen so sánh âm thanh với âm
79
thanh
12 Bắc- Trung-Nam
So sánh hoạt động với hoạt động
98
15 Anh em một nhà
Đặt câu có hình ảnh so sánh
126

3


Qua phân tích nội dung dạy học, chúng ta thấy rằng, lớp 3 dạy phép tu từ
cho HS thông qua hệ thống các bài tập, Sách giáo khoa Tiếng Việt 3 có hai loại bài
tập sau:
a. Bài tập nhận biết phép tu từ so sánh
Dạng 1: Tìm những sự vật được so sánh:
Dạng 2: Tìm những hình ảnh so sánh:
Dạng 3: Tìm các từ so sánh
Dạng 4: Tìm các đặc điểm so sánh
b. Bài tập vận dụng phép tu từ so sánh
Dạng 1: Bài tập nhận biết tác dụng của phép tu từ so sánh ( Bài tập điền
khuyết)
Dạng 2: Bài tập đặt câu có dùng phép tu từ so sánh ( Nhìn tranh đặt câu)
II. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm .
+ Thực trạng dạy học của giáo viên
Nhìn chung, nhiều GV đã nắm được mục đích của việc dạy phép tu từ so
sánh cho HS. Biết sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học mới nhằm phát huy
tính tích cực, chủ động của HS; biết phối hợp nhiều hình thức dạy học để tổ chức
các hoạt động học tập giúp HS tự tin và bộc lộ được năng lực của mình. GV biết sử
dụng linh hoạt các phương tiện dạy học giúp các em tiếp cận với phép so sánh một
cách dễ dàng hơn. Tuy nhiên, một số giáo viên còn gặp khó khăn như cơ sở vật
chất, phương tiện dạy học và tài liệu tham khảo còn ít. Một số bộ phận nhỏ giáo
viên vẫn chưa chú trọng quan tâm đến việc lồng ghép trong quá trình dạy học giữa
các phân môn của môn Tiếng Việt với nhau, để khơi dậy sự hứng thú học tập và sự
tò mò của phân môn này với phân môn khác trong môn Tiếng Việt.
+ Thực trạng học của học sinh
Do khả năng tư duy của học sinh còn dừng lại ở mức độ tư duy đơn giản, trực
quan nên việc cảm thụ nghệ thuật tu từ so sánh còn hạn chế. Vốn kiến thức văn học
của học sinh còn nghèo .Một số em chưa có khả năng nhận biết về nghệ thuật, học
sinh chỉ mới biết các sự vật một cách cụ thể. Nên khi tiếp thu về nghệ thuật so sánh
tu từ rất khó khăn. Vì vậy đòi hỏi người giáo viên cần hướng dẫn một cách tỷ mỉ
thực tế.
Trong quá trình dạy học tôi thấy HS thường mắc các lỗi về phép tu từ so
sánh sau đây:
- Tìm sai từ so sánh
- Nhận diện sai các yếu tố so sánh
- Tạo hình ảnh so sánh chưa hợp lí
- Chưa cảm nhận được giá trị của phép so sánh.
Qua khảo sát chất lượng về kỹ năng nhận biết biện pháp so sánh của học
sinh lớp 3B năm học 2015 - 2016 tôi đã thu được kết quả như sau:
Tổng số học sinh
Số học sinh đạt yêu
Số học sinh chưa
Số học sinh
4


lớp 3B
34 em

cầu về nhận biết tu từ
so sánh
13/34 ≈ 38,2%

có kỹ năng nhận
biết tu từ so sánh
11/34 ≈ 32,3%

không nhận biết
tu từ so sánh
10/34 ≈ 29,5%

III. Giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề :
1. Dạy học theo quy trình
Để học sinh học tốt dạng bài tu từ so sánh ,bất cứ một bài tập nào, GV cần
dạy theo quy trình sau:
- Bước 1: Đọc kỹ đề bài; xác định đúng yêu cầu; phân tích yêu cầu của bài
- Bước 2: Hướng dẫn học sinh giải một phần bài tập để làm mẫu
- Bước 3: Học sinh làm bài vào vở bài tập, phiếu hoặc bảng con
- Bước 4: Tổ chức cho học sinh trao đổi, nhận xét về kết quả, so sánh đối
chiếu kết quả của học sinh với đáp án ( HS phải lí giải được đáp án của mình )
- Bước 5: GV phải giải thích cho học sinh rõ vì sao có đáp án đó và kết luận
đáp án đúng.
- Bước 6:. Học sinh rút ra những điều cần ghi nhớ về bài học.
* Ví dụ : Bài tập 2 (Trang 8 Sách Tiếng Việt 3 tập 1): Tìm sự vật được so sánh
trong khổ thơ sau:
Ơ cái dấu hỏi
Trông ngộ ngộ nghê
Như vành tai nhỏ
Hỏi rồi lắng nghe
- Giáo viên yêu cầu HS đọc yêu cầu, xác định đúng yêu cầu của đề bài; phân
tích yêu cầu của bài
- Giải thích cho học sinh hiểu từ ngữ chỉ sự vật.
- HS gạch chân bằng bút chì từ chỉ sự vật vào SGK
- Học sinh trình bày bài làm, trao đổi, nhận xét về kết quả, so sánh đối chiếu
kết quả của học sinh với đáp án.
- Giáo viên có thể hỏi vì sao để học sinh giải thích lí do lại sao em chọn từ đó
- Giáo viên đưa ra đáp án
Sự vật so sánh
Từ so sánh
Sự vật được so sánh
Cái dấu hỏi
như
vành tai nhỏ
+ Giáo viên có thể vẽ lên bảng hoặc giải thích cho học sinh hiểu Dấu hỏi
cong cong, nở rộng ở hai phía trên rồi nhỏ dần chẳng khác gì vành tai. (Giáo viên
có thể cho học sinh nhìn vào vành tai bạn).
* Chú ý : Phương pháp này có hiệu quả nhất là sử dụng khi tìm hiểu bài .
2. Dạy theo dạng bài tập
Bài tập về so sánh lớp 3 được chia làm 2 loại:
Loại 1: Bài tập theo mẫu (Bài tập nhận diện) gồm các dạng bài tập sau:
Dạng 1: Tìm những sự vật được so sánh:
5


Dạng 2: Tìm những hình ảnh so sánh:
Dạng 3: Tìm các từ so sánh
Dạng 4: Tìm các đặc điểm so sánh
Loại 2: Bài tập sáng tạo ( Bài tập vận dụng ) gồm các dạng bài tập sau:
Dạng 1: Bài tập nhận biết tác dụng của phép tu từ so sánh (bài tập điền
khuyết)
Dạng 2: Bài tập đặt câu có dùng phép tu từ so sánh ( Nhìn tranh đặt câu)
a . Đối với loại bài tập nhận diện
- Mục tiêu : Giúp học sinh nhận biết các từ chỉ sự vật được so sánh; những
hình ảnh so sánh; các từ so sánh và các đặc điểm so sánh .
Dạng bài tập này rất đơn giản, nhận dạng rất dễ vì trong câu thường xuất hiện các
từ so sánh (như, là , giống , tựa, chẳng bằng ...). Chủ yếu là nhận biết các sự vật so
sánh thông qua các bài tập . Dạng này chiếm đa số trong chương trình . Nó được
xây dựng dựa trên 4 mô hình sau:.
a) Mô hình 1: So sánh: Sự vật - Sự vật.
b) Mô hình 2: So sánh: Sự vật - Con người.
c) Mô hình 3: So sánh: Hoạt động - Hoạt động.
d) Mô hình 4: So sánh: Âm thanh - Âm thanh.
Muốn học sinh của mình có một kĩ năng nhận biết biện pháp tu từ so sánh
vững vàng đòi hỏi người giáo viên phải có nghệ thuật khi hướng dẫn bài mới.
- Cách tiến hành
Bước 1: GV nêu nhiệm vụ và phổ biến hình thức tổ chức hoạt động .
Bước 2: HS tiến hành phân tích ngữ liệu và ghi kết quả vào phiếu hoặc vở
bài tập.
Bước 3: Tổ chức cho HS báo cáo kết quả
Bước 4: GV tổ chức cho HS rút ra bài học, thông qua các câu hỏi dẫn dắt,
gợi ý.
Đây là loại bài tập thực hành, nhưng mục đích là hình thành kiến thức mới về
phép tu từ so sánh nên tiến hành phân tích - phát hiện là chủ yếu. Hướng phân tích
tập trung vào cấu trúc cơ bản của phép so sánh và nhận diện ra 2 yếu tố quan trọng
của phép tu từ so sánh là cái so sánh và cái được so sánh.
- Hình thức tổ chức
Khi sử dụng phương pháp này với hướng tích cực hoá hoạt động nhận thức
của HS, GV cần phối hợp vận dụng các hình thức dạy học như: dạy học theo nhóm,
học cá nhân có sự hỗ trợ của phiếu giao việc.
Ví dụ: Tiết luyện từ và câu tuần 1(Tiếng Việt 3)
Bài tập 2: Tìm những sự vật được so sánh với nhau trong các câu thơ, câu
văn dưới đây:
a. Hai bàn tay em
Như hoa đầu cành.
6


b. Mặt biển sáng trong như tấm thảm khổng lồ bằng ngọc thạch.
c. Cánh diều như dấu “á”
Ai vừa tung lên trời.
d. Ơ, cái dấu hỏi
Trông ngồ ngộ ghê,
Như vành tai nhỏ
Hỏi rồi lắng nghe.
(TV3, T.1, Tr.8)
Để giúp HS làm bài tập này GV có thể tiến hành như sau:
Hoạt động của GV
Hoạt động của HS
- Đọc yêu cầu bài tập?
- 2 HS đọc to bài tập
- Bài tập yêu cầu tìm gì?
- Tìm những sự vật được
so sánh với nhau.
- Muốn tìm được những sự vật được so sánh với
nhau, các em phải làm gì?
- Tìm các từ chỉ sự vật
GV yêu cầu HS làm mẫu BT a.
GV kẻ sẵn lên bảng:
Sự vật so sánh
Sự vật được so sánh
Hai bàn tay em
Hoa đầu cành
? Nhận xét xem bạn tìm đúng chưa?

- 1 HS lên bảng điền.

- HS nhận xét, GV bổ
sung.
GV yêu cầu HS thảo luận theo cặp về các câu còn - HS thảo luận theo cặp.
lại.
GV yêu cầu 3 HS lần lượt điền từng câu vào bảng.
- HS nhận xét.
GV tổ chức cho HS nhận xét bài làm trên bảng.
GV chốt lại lời giải đúng:
Câu b: mặt biển được so sánh với tấm thảm khổng
lồ.
Câu c: cánh diều được so sánh với dấu “ á”.
Câu d: dấu hỏi được so sánh với vành tai nhỏ.
GV lưu ý HS về cách trả lời:
ở câu b, các em có thể nói “ mặt biển” hoặc “mặt
biển sáng trong” hay “tấm thảm khổng lồ” hoặc “
tấm thảm khổng lồ bằng ngọc thạch”. Tương tự với
các câu còn lại.
GV kết hợp nêu câu hỏi cho cả lớp suy nghĩ, trả lời
để hiểu vì sao các sự vật nói trên được so sánh với
nhau. Ví dụ:
? Vì sao hai bàn tay em được so sánh với hoa đầu - Vì hai bàn tay của bé
7


cành? (Câu a)
? Vì sao nói mặt biển như một tấm thảm khổng lồ?
Mặt biển và tấm thảm có gì giống nhau? (Câu b)
- Màu ngọc thạch là màu thế nào?
(GV cho HS xem một chiếc vòng ngọc thạch hoặc
ảnh một đồ vật bằng ngọc thạch, nếu có.)
GV: Khi gió lặng, không có dông bão, mặt biển
phẳng lặng, sáng trong như một tấm thảm khổng lồ
bằng ngọc thạch.
(GV cho HS xem tranh minh hoạ cảnh biển lúc bình
yên, nếu có.)
? Vì sao cánh diều được so sánh với dấu “á”?
(GV treo bảng tranh minh họa cánh diều, mời 1 HS
lên bảng vẽ một dấu “á” thật to để các em thấy sự
giống nhau giữa cánh diều và dấu “á”.)
? Vì sao dấu hỏi được so sánh với vành tai nhỏ?
(GV viết bảng một dấu hỏi rất to, giúp HS thấy sự
giống nhau giữa cánh diều và dấu hỏi và vành tai.)
GV kết luận: Các tác giả quan sát rất tài tình nên đã
phát hiện ra sự giống nhau giữa các sự vật trong thế
giới xung quanh ta.

nhỏ, xinh như một bông
hoa.
- Đều phẳng, êm và đẹp
- Xanh biếc, sáng trong

- Vì cánh diều hình cong
cong, võng xuống, giống
hệt một dấu “á”.
- Vì dấu hỏi cong cong, nở
rộng ở phía trên rồi nhỏ
dần chẳng khác gì một
vành tai.
- Cả lớp chữa bài tập vào
vở.

b .Đối với loại bài tập vận dụng
Mục tiêu: Giúp học sinh nhận biết tác dụng của biện pháp tu từ so sánh và
biết đặt câu có dùng phép tu từ so sánh.
Với loại bài này, khi sử dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ chủ yếu là
thao tác phân tích chứng minh và phân tích phán đoán. Vì vậy, GV cần hướng dẫn
HS các điều kiện cần thiết khi tiến hành các mức độ phân tích đó.
Cách tiến hành
Bước 1: Xác định rõ yêu cầu bài tập
Bước 2: Quan sát kĩ các cặp từ trong tranh, viết tên từng cặp sự vật được so
sánh trong tranh hoặc đọc thầm ngữ liệu bài tập.
Bước 3: Nhớ lại những kiến thức về phép tu từ so sánh (cách so sánh)
Bước 4: HS tiến hành làm việc và ghi kết quả vào phiếu
Bước 5: HS trình bày kết quả
- Hình thức tổ chức
Khi sử dụng phương pháp này với hướng tích cực hoá hoạt động nhận thức
của HS, GV cần phối hợp vận dụng các hình thức dạy học như: dạy học theo nhóm,
học cá nhân có sự hỗ trợ của phiếu giao việc.

8


Loại bài tập này có tính tư duy, sáng tạo cao hơn .Tuy nhiên , nó tập trung ở
cuối chương trình Học kì 1 gồm 2 dạng bài tập .
b1: Bài tập đặt câu có dùng phép tu từ so sánh (Nhìn tranh đặt câu)
Tương tự Bài tập 3/SGKtrang126: Ta có thể đưa ra bài tập sau:
Ví dụ : Quan sát từng cặp tranh rồi viết các câu có hình ảnh so sánh

Cây thông cao như ngọn tháp .

Nụ cười của cô ấy xinh như hoa hồng

- Thỏ thì hiền hơn hổ.

b2:Bài tập nhận biết tác dụng của phép tu từ so sánh ( Dạng bài tập điền
khuyết)
Ví dụ: Bài tập 4 / SGKtrang 126: Tìm những từ ngữ thích hợp để điền vào chỗ
trống:
a.Công cha nghĩa mẹ được so sánh như..., như...
b.Trời mưa, đường đất sét trơn như...
9


c. Ở thành phố có nhiều toà nhà cao như ....
Ở mỗi câu, giáo viên nên để học sinh xác định sự vật đã cho để cho học sinh
có thể tìm nhiều từ cần điền .
Ví dụ: a. như núi Thái Sơn, như nước trong nguồn chảy, như sông như biển
b. như bôi mỡ, xà phòng, đổ dầu ...
c. núi, những ngọn tháp ...
Các bài tập mang tính sáng tạo này rất ít nên trong quá trình dạy, nhất là các
tiết Tiếng Việt (Tăng cường) Giáo viên nên đưa thêm những bài tập tương tự hai
dạng trên để học sinh khắc sâu kiến thức .
3. Dạy biện pháp tu từ so sánh tích hợp vào các môn học :
a) Tích hợp dạy học phép tu từ so sánh trong môn Tiếng Việt:
Khi dạy các phân môn thuộc bộ môn Tiếng Việt, giáo viên cần lồng ghép
giữa các phân môn trong môn Tiếng Việt với nhau.
* Tích hợp dạy học phép tu từ so sánh trong phân môn Tập đọc ở lớp 3
Ví dụ: Khi dạy bài Tập đọc “ Cửa Tùng ”, để giải thích từ ngữ (chiếc thau
đồng ,bờ biển Cửa Tùng) GV có thể cho học sinh tìm câu văn có sử dụng biện
pháp so sánh. học sinh sẽ rất dễ dàng tìm ra câu:
- Mặt trời như chiếc thau đồng đỏ ối chiếu xuống mặt biển.
- Người xưa đã ví bờ biển Cửa Tùng giống như một chiếc lược đồi mồi cài
vào mái tóc bạch kim của sóng biển.
Với những câu văn hay như thế, học sinh đã tìm được thì sẽ nhớ rất lâu và sẽ
áp dụng tốt trong việc viết văn của mình .
*Tích hợp dạy học phép tu từ so sánh trong phân môn Tập làm văn ở lớp 3:
Một tiết Tập làm văn thuộc kiểu bài Nói viết theo chủ điểm thường có 2 bài
tập: một bài tập rèn kĩ năng nói, một bài tập rèn kĩ năng viết.
Sau đây, là ví dụ minh hoạ các bước dạy bài tập nói, viết có vận dụng phép tu
từ so sánh.
Ví dụ: Tiết Tập làm văn tuần 12 (Tiếng Việt 3)
Bài 1: Mang tới lớp tranh ảnh về một cảnh đẹp nước ta (ảnh chụp, bưu ảnh,
tranh ảnh cắt từ báo chí,... ). Nói những điều em biết theo gợi ý dưới đây:
a. Tranh (ảnh) vẽ (chụp) cảnh gì? Cảnh đó ở nơi nào?
b. Màu sắc của tranh (ảnh) như thế nào?
c. Cảnh trong tranh (ảnh) có gì đẹp?
d. Cảnh trong tranh (ảnh) gợi cho em những suy nghĩ gì?
Sau khi cho học sinh quan sát tranh và trả lời các câu hỏi gợi ý trên, Giáo
viên yêu cầu học sinh:
- Em hãy viết những câu văn trên cho sinh động, gợi cảm bằng cách sử dụng
phép so sánh?
M: Những dãy núi xanh uốn lượn như những nét vẽ mềm mại của người
họa sĩ.
10


- Học sinh đặt câu
GV hướng dẫn cả lớp nhận xét:
- Cách dùng từ đặt câu có gì hay? Bạn đã sử dụng phép so sánh như thế nào?
HS phát biểu, GV chốt lại.
b) Tích hợp Biện pháp tu từ so sánh qua các môn học khác:
* Dạy Tự nhiên xã hội :
Khi dạy bài “ Các thế hệ trong gia đình’’ Giáo viên có thể cho học sinh tìm
những câu tục ngữ, ca dao, thành ngữ nói về tình cảm của những người thân trong
gia đình. Học sinh đại trà tìm tự do. Học sinh hoàn thành mức độ cao, giáo viên có
thể yêu cầu cao hơn( có sử dụng biện pháp so sánh )
- Anh em như thể tay chân.
- Con hơn cha là nhà có phúc.
- Công cha như núi Thái Sơn.
- Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
4. Sử dụng Trò chơi học tập Tiếng Việt
Đây là hình thức hấp dẫn nhất trong đó chơi là phương tiện, học là mục đích.
Thông qua hình thức chơi mà học ,học sinh sẽ được hoạt động, tự củng cố kiến
thức .Tuy nhiên, muốn tổ chức trò chơi có hiệu quả, cần xác định mục đích của trò
chơi, hình thức chơi cũng phải đa dạng, cách chơi cần phải đơn giản, dễ hiểu.
Yêu cầu khi xây dựng trò chơi học tập
- Về mục đích: Trò chơi phải hướng vào việc củng cố kiến thức về phép tu từ
so sánh, rèn luyện kĩ năng vận dụng phép so sánh trong giao tiếp.
- Về nội dung: Trò chơi phải chứa nội dung về phép so sánh. Thực chất, đây
là những bài tập vui và nhẹ nhàng về phép so sánh.
- Hình thức chơi: Các trò chơi thường được tiến hành thi theo nhóm hay cả
lớp tuỳ vào nội dung trò chơi. Trò chơi có thể do GV hướng dẫn hoặc do HS tự tổ
chức, góp phần rèn luyện tinh thần tập thể và sự hỗ trợ lẫn nhau trong học tập.
- Về cách chơi: Cách chơi đơn giản, dễ nhớ, dễ thực hiện.
Tuỳ hoàn cảnh và điều kiện cụ thể, GV có thể tổ chức cho HS thực hiện trò
chơi đơn giản (không cần chuẩn bị công phu) hay trò chơi có phần phức tạp (phải
chuẩn bị trước) song phải đạt được cái đích cuối cùng là củng cố kiến thức và tăng
hứng thú học tập.
Ví dụ : Trò chơi “ Thử tài so sánh”
Mục đích:
- Rèn kĩ năng sử dụng từ ngữ bằng cách tạo nhanh các cụm từ có hình ảnh so
sánh đúng.
- Luyện phản ứng nhanh, trau dồi trí tưởng tượng, liên tưởng về hoạt động
hay đặc điểm, tính chất ...của sự vật.
Chuẩn bị :
- Làm các bộ phiếu bằng giấy ( Kích thước: 3 x 4 cm)
11


- Mỗi bộ phiếu gồm 3-5 từ chỉ hoạt động, trạng thái, đặc điểm, màu
sắc ... của sự vật ( Tuỳ thời gian chơi, nội dung bài học ). Lớp 3 chủ yếu là từ chỉ
hoạt động, trạng thái, đặc điểm, tính chất .
Ví dụ :
+ Bộ phiếu A( 5 từ chỉ hoạt động ,trạng thái) : đọc, viết, cười, nói, khóc .
( Dành cho Tiết 7: Ôn tập từ chỉ trạng thái, tính chất )
+ Bộ phiếu B ( 5 từ chỉ màu sắc ) trắng, xanh, đỏ, vàng, đen .
( Dành cho tiết 15: Luyện đặt câu có hình ảnh so sánh )
+ Bộ phiếu C ( 5 từ chỉ đặc điểm , tính chất): đẹp, cao, khoẻ, nhanh, chậm ( Dành
cho tiết 14, 17: Ôn tập từ chỉ đặc điểm )
- Các Bông hoa để tính lúc làm đúng .
- Phiếu được gấp tư để “bốc thăm”
- Cử trọng tài, thư kí theo dõi cuộc thi .
Tiến hành :
- Trọng tài để một bộ phiếu lên bàn cho học sinh xung phong lên thử tài so
sánh ( 1 bộ phiếu 5 từ thì dành cho 5 người “thử tài”).
- Học sinh 1 (HS1) lên “bốc thăm”, mở phiếu đọc từ cho các bạn nghe rồi nêu
thật nhanh cụm từ có hình ảnh so sánh để làm rõ nghĩa từ đó.
- Ví dụ: HS1: “bốc thăm” được từ trắng – Có thể nêu cụm từ so sánh: trắng
như tuyết, trắng như vôi, ( hoặc : trắng như trứng gà bóc ).
- Trọng tài cùng cả lớp chứng kiến và xác nhận kết quả Đúng- Sai
+ Đúng được bao nhiêu kết quả được bấy nhiêu Hoa .
+ Trọng tài đếm từ 1-5 vẫn không nêu được kết quả thì không có Hoa .
- Lần lượt 5 học sinh lên bốc thăm thử tài. Hết 5 phiếu thì về chỗ, thư kí công
bố kết quả .
- Mỗi bộ phiếu sẽ chọn ra 1người có tài so sánh cao nhất là người thắng cuộc.
Cách tiến hành này có thể thay đổi tùy sự linh động của giáo viên. Cũng có
thể mỗi học sinh lần lược bốc cả 5 phiếu . Mỗi phiếu chỉ cần nêu 1 cụm từ . Người
sau không được nêu lặp cụm từ của người trước . Hoặc cũng có thể bốc cả 5 phiếu
và tiến hành theo nhóm . Nhóm nào tìm được nhiều cụm từ nhất thì nhóm đó thắng
Tham khảo:
Gợi ý các cụm từ có hình ảnh so sánh nêu ở mục chuẩn bị
Bộ phiếu A: ( 5 từ chỉ hoạt động, trạng thái)
- Đọc: Đọc như đọc kinh, đọc như rên rỉ, đọc như cuốc kêu, đọc như nói
thầm ...
- Viết: viết như gà bới, viết như giun bò, viết như rồng bay phượng múa,
viết như in,...
- Cười: cười như nắc nẻ, cười như pháo nổ, cười như mếu, ...
- Nói: nói như khướu, nói như vẹt, nói như Trạng Quỳnh, nói như thánh
tướng ,...
12


- Khóc: khóc như mưa, khóc như ri, khóc như cha chết, ...
Bộ phiếu B ( 5 phiếu từ chỉ màu sắc ):
- Trắng: trắng như trứng gà bóc, trắng như tuyết, trắng như vôi, trắng như
bột lọc, trắng như ngà voi ,...
- Xanh: xanh như tàu lá, xanh như pha mực, xanh như nước biển ...
- Đỏ: Đỏ như máu, đỏ như son, đỏ như gấc, đỏ như mận chín, đỏ như ớt,
đỏ như quả cà chua,...
- Đen: đen như than, đen như gỗ mun, đen như cột nhà cháy, đen như bồ
hóng, đen như quạ, đen như cuốc ,...
- Vàng: vàng như nghệ, vàng như mật ong, vàng như tơ, vàng như nắng
,...
Bộ phiếu C: ( 5 phiếu từ chỉ đặc điểm, tính chất )
- Đẹp: đẹp như tiên, đẹp như hoa, đẹp như tranh, đẹp như mơ,...
- Cao: cao như núi, cáo như ngọn tháp, cao như sếu, cao như cây sào ,..
- Khoẻ: khoẻ như voi, khoẻ như trâu, khoẻ như bò mộng , khoẻ như hổ,
khoẻ như lực sĩ ,...
- Nhanh: nhanh như sóc, nhanh như điện, nhanh như cắt, nhanh như gió
nhanh như chớp ,...
- Chậm: chậm như sên, chậm như rùa, ...
IV. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với
bản thân,đồng nghiệp và nhà trường .
Trong chương trình Tiếng Việt ở tiểu học, nội dung dạy học về phép tu từ so
sánh được trình bày qua hệ thống bài tập. Trong quá trình dạy học, tôi đã linh hoạt
vận dụng và sử dụng triệt để các biện pháp dạy học nêu trên vào bài dạy. Tập trung
trò chơi ở phần củng cố và các tiết tăng cường,kết quả học sinh rất say sưa và hứng thú
trong học phân môn Luyện từ và câu . Sau khi áp dụng Sáng kiến kinh nghiệm ,tôi
khảo sát học sinh lớp 3B cuối năm học 2016-2017 đạt kết quả như sau:

Tổng số học sinh
34 em

Số học sinh có kĩ
năng nhận dạng
và sử dụng tốt tu
từ so sánh
24/34 = 70,6%

Số học sinh có kỹ
năng nhận dạng
và sử dụng được .

Số học sinh chưa
có kỹ năng nhận
dạng

10/34=29,4%

Không

Riêng bản thân tôi rất mừng khi áp dụng sáng kiến vào dạy học phân môn
luyện từ và câu lớp 3 . Những kết quả trên đã khẳng định được tính hiệu quả của
Sáng kiến kinh nghiệm đề ra. Việc nắm vững cấu trúc chương trình sách giáo khoa,
phối hợp các phương pháp dạy học tích cực, cách hướng dẫn HS vận dụng phép so
sánh trong các giờ học của các phân môn khác của môn Tiếng Việt hoặc môn học
khác cộng với sự nhiệt tình của giáo viên sẽ đem lại hiệu quả cao trong giờ học.
13


Bởi vậy tôi mạnh dạn chia sẻ kinh nghiệm này với đồng nghiệp và được đông đảo
giáo viên trong trường ủng hộ , nhà trường khuyến khích và giúp đỡ tôi để ứng
dụng sáng kiến vào dạy học trong nhà trường .

14


C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận:
Qua kinh nghiệm rèn kỹ năng nhận biết biện pháp tu từ so sánh cho học sinh
lớp 3. Bản thân tôi thấy rằng cần hướng và rèn cho học sinh những kỹ năng sau:
* Về phía học sinh:
- Chuẩn bị kĩ bài trước khi đến lớp .
- Học sinh tự củng cố vốn kiến thức của mình bằng cách đọc nhiều sách báo
phù hợp với lứa tuổi, xem băng hình, quan sát tranh...
- Cho học sinh giao lưu trực tiếp với các bạn trong lớp, trong trường sau mỗi
bài học: "Luyện từ và câu" dạng này để học sinh khắc sâu kiến thức.
- Khi làm bài tập yêu cầu học sinh đọc kỹ đề bài, xác định đúng yêu cầu của
bài, phân biệt được chúng thuộc kiểu bài so sánh dạng nào rồi mới bắt tay vào làm
bài.
- Khi quan sát sự vật, cần quan sát thận tinh tế để tìm ra những điểm giống
nhau, những nét tương đồng .
* Về phía giáo viên:
- Sau mỗi bài học, giáo viên phải dành thời gian cho phần dặn dò bài sau
thật cụ thể. Có như vậy học sinh mới chuẩn bị tốt bài mới.
- Luôn có sự kiểm tra phần chuẩn bị bài của học sinh. Nhận xét cụ thể.
- Chuẩn bị tốt nội dung bài dạy. Định hướng cụ thể phương pháp và hình
thức tổ chức cho từng hoạt động. Phân bố thời gian hợp lí cho từng hoạt động.
- Luôn gắn lí thuyết với thực hành.
- Phải trực quan, không thể thiếu đồ dùng dạy học ( Mô hình, kí hiệu, đồ
dùng,)
- Hệ thống ngôn ngữ phải trong sáng, gần gũi, dễ hiểu
- Nếu dự định tổ chức trò chơi học tập thì phải chuẩn bị kĩ. Lường trước các
tình huống sư phạm có thể xảy ra. ( Học sinh có thể dùng từ thiếu tính sư phạm ,...)
không chơi ngẫu hứng, tuỳ tiện.
2. Kiến nghị:
- Từ kết quả nghiên cứu đã đạt được, tôi xin nêu một số kiến nghị sau:
- Tổ chức các đợt tập huấn bổ túc kiến thức về phong cách học cho GV tiểu
học, đặc biệt là kiến thức về các biện pháp tu từ. Có như vậy, GV mới thấy tầm
quan trọng của so sánh tu từ và nắm được cơ sở phương pháp luận của việc dạy
phép so sánh tu từ ở Tiểu học.
- Ứng dụng các kết quả nghiên cứu của Sáng kiến kinh nghiệm đạt hiệu quả
cao vào quá trình dạy học ở các trường Tiểu học.
Sau một thời gian nghiên cứu, làm việc miệt mài và tích cực, đúc rút kinh
nghiệm dạy học, đến nay Sáng kiến kinh nghiệm của tôi đã được hoàn thành. Tôi
xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Hội đồng khoa học nhà trường đã góp ý, gỡ rối cho
tôi trong quá trình viết Sáng kiến kinh nghiệm. Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban
15


Giám hiệu và tập thể giáo viên Trường Tiểu học Xuân Hòa đã nhiệt tình ủng hộ và
bày tỏ mối quan tâm chung đến việc cần thiết phải tìm ra các biện pháp để giúp học
sinh lớp 4-5 viết văn miêu tả được tốt hơn.
Dù đã cố gắng rất nhiều nhưng Sáng kiến kinh nghiệm này không tránh khỏi
những thiếu sót và hạn chế. Tôi mong nhận được sự nhận xét, đánh giá của Hội
đồng Khoa học cấp trên cũng như sự đóng góp ý kiến, chia sẻ kinh nghiệm của các
bạn đồng nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Xuân Hòa, ngày 10 tháng 04 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của tôi viết
không sao chép nội dung của người khác.

Nguyễn Thị Nội

16


MỤC LỤC
STT

NỘI DUNG
A . Mở đầu.
I. Lí do chọn đề tài
II. Mục đích nghiên cứu.
1
III . Đối tượng nghiên cứu
IV. Phương pháp nghiên cứu
B. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
I. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
II. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
III. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề giúp học
2
sinh học tốt biện pháp tu từ so sánh
IV .Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo

TRANG
1
1
2
2
2
3
3
4
5
13

dục của nhà trường .
C. Phần kết luận
3

I.
II.

Kết luận
Kiến nghị

15
15
15

17



x

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×