Tải bản đầy đủ

Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 2 giải toán có lời văn

PHỤ LỤC
STT
1
2
3
4

5
7
8
9
10
11

Nội dung
Phụ lục
A. Phần mở đầu
I. Lí do chọn đề tài
II. Mục đích nghiên cứu.
III. Đối tượng nghiên cứu.
IV. Phương pháp nghiên cứu.

B. Nội dung
I. Cơ sở lí luận
II. Cơ sở thực tiễn
III. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến.
1. Thực trạng về kinh nghiệm giải toán có lời văn ở
lớp2.
2. Kết quả của thực trạng ban đầu.
III. Các biện pháp cụ thể.
1. Họp phụ huynh - Thống nhất biện pháp giáo dục
2. Chuẩn bị cho việc giải toán.
3. Vận dụng qua các tiết dạy.
4. Khích lệ học sinh tạo hứng thú khi học tập.
IV. Hiệu quả của sáng kiến.
C. Kết luận - Kiến nghị

1

Trang
1
2
2
3
4
5
8
8
10
13
14
15


A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Toán học là một lĩnh vực rất phong phú, đa dạng; vừa cụ thể và vừa trừu
tượng; là một kho tàng tri thức vô tận. Đặc biệt chương trình Toán tiểu học
có vai trò vô cùng quan trọng, nó giúp học sinh nhận biết được số lượng và
hình dạng không gian của thế giới hiện thực. Nhờ đó mà học sinh có những
phương pháp, kĩ năng nhận thức một số mặt của thế giới xung quanh, góp

phần rèn luyện phương pháp suy luận, suy nghĩ đặt vấn đề và giải quyết
vấn đề; góp phần phát triển óc thông minh, suy nghĩ độc lập, linh động,
sáng tạo cho học sinh. Mặt khác, các kiến thức, kĩ năng môn Toán ở Tiểu
học còn có nhiều ứng dụng trong đời sống thực tế. Hiện nay trong các
trường đã và đang vận dụng phương pháp dạy học đổi mới, đó là cách dạy
hướng vào người học hay còn gọi là “Lấy học sinh làm trung tâm”. Người
thầy là người hướng dẫn chỉ đạo trong quá trình chiến lĩnh kiến thức của
học sinh. Với các môn học nói chung và môn Toán nói riêng, để vận dụng
tốt được cách dạy học mới này đòi hỏi người giáo viên phải tâm huyết với
nghề, phải dày công nghiên cứu tìm ra giải pháp thích hợp với đối tượng
mình dạy.
Trong chương trình Toán ở tiểu học, giải toán có lời văn có vị trí rất quan
trọng. Các em được làm quen với toán có lời văn ngay từ lớp 1, đặc biệt ở
lớp 2 yêu cầu các em viết lời giải cho phép tính. Có thể nói, đây quả thực là
một khó khăn đối với học sinh khi học giải toán có lời văn. Đọc một đề
toán đang còn là khó đối với các em vậy mà còn tiếp tục phải: Tìm hiểu đề
toán, tóm tắt đề, đặt câu lời giải, phép tính, đáp số. Vì vậy, đây cũng là một
vấn đề mà chúng tôi luôn luôn trao đổi, thảo luận trong những buổi sinh
hoạt chuyên môn, tích luỹ nghiệp vụ do nhà trường tổ chức. Làm thế nào
để học sinh hiểu được đề toán, viết được tóm tắt, nêu được câu lời giải hay,
phép tính đúng. Điều đó đòi hỏi rất nhiều công sức và sự nỗ lực không biết
mệt mỏi của người giáo viên đứng lớp.
Qua kinh nghiệm của bản thân và học hỏi, trao đổi kinh nghiệm cùng đồng
nghiệp, tôi rút ra : “Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 2 giải toán có
lời văn” để góp phần nâng cao chất lượng dạy và học của nhà trường nói
chung và đối với học sinh lớp 2 nói riêng.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:

- Tìm hiểu thực trạng, nguyên nhân dẫn đến những sai lầm của học sinh lớp 2
khi giải toán có lời văn.
- Đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy dạng toán có
lời văn cho học sinh lớp 2.
III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:

- Học sinh lớp 2A năm học 2014 - 2015. Học sinh lớp 2A năm học 2015 2016. Học sinh lớp 2C năm học 2016 - 2017.
- Các tổ chuyên môn.

2


IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

- Phương pháp nghiên cứu về lý luận.
- Phương pháp quan sát, thực nghiệm.
- Phương pháp nghiên cứu bằng điều tra, tổng hợp.
- Phương pháp so sánh.

3


B. NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN.

Giải toán luôn là hoạt động trí tuệ, sáng tạo, rất hấp dẫn với nhiều
học sinh và thầy cô giáo. Với mong muốn sao cho giờ học Toán diễn ra nhẹ
nhàng và mỗi học sinh phát huy được hết năng lực học tập của mình cùng
với suy nghĩ dạy học môn Toán ở lớp 2 không chỉ trang bị cho học sinh vốn
tri thức toán học trong chương trình mà còn giúp học sinh nắm được chìa
khoá để đi tới nhận thức, rèn luyện con người và dạy học sinh biết cách học
bởi vì giải toán có lời văn thực chất là những bài toán thực tế, nội dung bài
toán được thông qua những câu văn nói về những quan hệ, tương quan và
phụ thuộc, có liên quan tới cuộc sống thường xảy ra hàng ngày. Cái khó
của bài toán có lời văn chính là ở chỗ làm thế nào để lược bỏ được những
yếu tố về lời văn đã che đậy bản chất toán học của bài toán. Hay nói một
cách khác là làm sao phải chỉ ra được các mối quan hệ giữa các yếu tố toán
học chứa đựng trong bài toán và tìm được những câu lời giải phép tính
thích hợp để từ đó tìm được đáp số của bài toán.
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN

Ta thấy rằng, giải toán ở tiểu học trước hết là giúp các em luyện tập,
vận dụng kiến thức, các thao tác thực hành vào thực tiễn. Qua đó, từng
bước giúp học sinh phát triển năng lực tư duy, rèn luyện phương pháp suy
luận lôgíc. Thông qua giải toán mà học sinh rèn luyện được phong cách của
người lao động mới: Làm việc có ý thức, có kế hoạch, sáng tạo và hăng
say, miệt mài trong công việc.
Thực tế qua nhiều năm trực tiếp giảng dạy ở khối lớp 2, tôi nhận thấy
học sinh khi giải các bài toán có lời văn thường rất chậm so với các dạng
bài tập khác. Các em thường lúng túng khi đặt câu lời giải cho phép tính,
có nhiều em làm phép tính chính xác và nhanh chóng nhưng không làm sao
tìm được lời giải đúng hoặc đặt lời giải không phù hợp với đề toán đặt ra.
Chính vì thế nhiều khi dạy học sinh đặt câu lời giải còn vất vả hơn nhiều so
với dạy trẻ thực hiện các phép tính ấy để tìm ra đáp số.
Việc đặt lời giải ngay từ lớp 1, 2 sẽ là một khó khăn lớn đối với mỗi
giáo viên trực tiếp giảng dạy ở lớp 1, 2 nhất là những tuần đầu dạy toán có
lời văn ngay ở việc giúp các em đọc đề, tìm hiểu đề. Một số em mới chỉ
đọc được đề toán chứ chưa hiểu được đề, chưa trả lời các câu hỏi thầy nêu:
Bài toán cho biết gì ?... Đến khi giải toán thì đặt câu lời giải chưa đúng,
chưa hay hoặc không có câu lời giải. Những nguyên nhân trên không thể đổ
lỗi hoàn toàn về phía học sinh mà một phần là do các phương pháp, cách áp
dụng, truyền đạt của những người thầy.
Đây cũng là lý do mà tôi chọn đề tài này, mong tìm ra những giải
pháp nhằm góp phần nâng cao kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp
2 nói riêng và trong môn toán 2 nói chung. Để từ đó, các em có thể thành
thạo hơn với những bài toán có lời văn khó và phức tạp ở các lớp trên.

4


III. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ TRƯỚC KHI ÁP DỤNG SÁNG KIẾN

1. Thực trạng về kĩ năng giải toán có lời văn của học sinh lớp 2.
a. Thực trạng:
Trong năm học vừa qua, dựa vào quá trình dạy học và bài làm của
học sinh. Nhìn chung kết quả giải toán có lời văn đạt tỉ lệ chưa cao, lí do là
các bài toán có lời văn các em chưa hiểu, chưa nắm vững cách tiến hành
thực hiện giải toán nên các em có thái độ lơ là. Đặc biệt các em còn lúng
túng ở câu lời giải không biết đặt như thế nào cho đúng, không xác định
được yêu cầu của đề bài toán hỏi gì . Chính vì vậy, chất lượng học tập của
các em còn hạn chế nên cần có biện pháp khắc phục.
* Thuận lợi:
- Các thầy cô giáo, các bậc phụ huynh học sinh luôn quan tâm đến việc học
đặc biệt là việc giải toán của con em mình.
- Ban giám hiệu nhà trường năng nổ nhiệt tình, sáng tạo luôn chỉ đạo sát
sao việc dạy học của giáo viên và học sinh không ngừng cải tiến, nâng cao
phương pháp dạy học.
- Đội ngũ giáo viên trong trường luôn nhiệt tình giảng dạy, yêu nghề mến
trẻ.
- Giáo viên được tham dự những chuyên đề về cách dạy các dạng toán ở
lớp 2 để học hỏi, trau rồi kiến thức, kinh nghiệm.
- Về học sinh: Nhìn chung các em đều ngoan, có ý thức vươn lên trong học
tập. Trong giải toán nhiều học sinh đã hiểu được yêu cầu đề toán.
* Khó khăn:
- Do tâm lý chung của học sinh tiểu học còn ham chơi nên việc học hành
của các em nếu không có sự giám sát chặt chẽ của gia đình thì khó có hiệu
quả cao.
- Nhiều gia đình đi làm ăn xa gửi con cho ông bà chăm sóc, do ông bà đã
già yếu nên không quán xuyến được việc học hành của các cháu.
- Các em ở rải rác khắp các thôn trong xã, có nhiều học sinh ở xa trường
nên việc đi lại của các em gặp rất nhiều khó khăn điều đó cũng ảnh hưởng
không nhỏ đến chất lượng học tập của các em.
- Về cơ sở vật chất của nhà trường: Tuy nhà trường đã có đủ phòng học
nhưng thiết bị nhà trường còn có nhiều hạn chế.
- Về giáo viên: Một số giáo viên chưa cẩn thận khi sửa lỗi trong bài làm
của học sinh. Khi dạy các bài toán giải có đơn vị đo lường, học sinh thường
trình bày sai, nhưng giáo viên không sửa.
Chẳng hạn bài 3 tiết 92.
Mỗi can đựng được 3 lít dầu. Hỏi có 5 can như thế đựng được bao nhiêu lít
dầu.
Học sinh trình bày:

5


Giải:
Số l dầu đựng trong can là:
3 x 5 = 15 (l)
Đáp số: 15 (l).
Nhiều giáo viên có thói quen không cho học sinh tìm hiểu kỹ đề nên
thường đi đến kết quả sai.
Các bài toán giải bằng một phép tính nhân hoặc chia, chưa khái quát
thành dạng cơ bản ở các tiết hình thành bảng nhân, các bài toán có lời văn
thường không có hình vẽ cụ thể nên giáo viên khó hướng dẫn học sinh tìm
hiểu đề.
Ví dụ: Khi dạy tiết 91 bài “Bảng nhân 3” có bài 3 “Mỗi nhóm có 3 học
sinh, có 10 nhóm như vậy. Hỏi có tất cả bao nhiêu học sinh”.
Giáo viên khó hiển thị cho học sinh của 10 nhóm, trong khi ở các tiết luyện
tập, các bài toán thường được thể hiện bằng hình vẽ cụ thể. Ví dụ: Tiết 92
bài 4.
Mỗi túi có 3kg gạo. Hỏi 8 túi như thế có bao nhiêu kg gạo?
Bài giải
3k
g

3k
g

3k
g

3k
g

3k
g

3k
g

3k
g

3k
g

- Với nội dung sách giáo khoa đòi hỏi phải sử dụng nhiều đồ dùng trực
quan. Song một số giáo viên ít sử dụng đồ dùng trực quan.
b. Thực trạng của lớp:
* Thuận lợi:
Do đặc điểm của học sinh đầu cấp nhanh nhớ nhưng chóng quên nên
khi tập trung vào một dạng thì các em dễ khắc sâu và rèn được kỹ năng tính
toán. Các bài toán có lời văn ở lớp 2 thường thể hiện một cách tường minh,
các tình huống trong đề gần gũi với học sinh. Vì vậy với vốn ngôn ngữ còn ít
của mình các em có thể đọc và hiểu đề một cách dễ dàng.
Đặc biệt với phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm hiện
nay giúp các em có điều kiện hoạt động và chủ động nắm kiến thức.
Thời lượng dành cho luyện tập thực hành nhiều nên các em được tham gia
giải quyết nhiều tình huống khác nhau và bộc lộ khả năng của mình.
Các bài toán được trình bày với nhiều hình thức khác nhau, giúp các
em hứng thú học tập phát huy được tính sáng tạo của mình.
* Khó khăn:
Bên cạnh những thuận lợi nói trên học sinh vẫn gặp một số khó khăn
khi học phần này.
+ Về tìm hiểu đề:
Như chúng ta đã biết, muốn giải được bài toán được bài toán có lời văn học
sinh phải đọc kỹ đề bài, hiểu được cách diễn đạt bằng lời văn của bài toán,

6


song do trình độ ngôn ngữ của các em còn kém, một số học sinh lúng túng
khi tìm hiểu đề.
Mặt khác nội dung các bài toán thường nêu lên một tình huống quen
thuộc, gần gũi với học sinh. Trong đó các dữ kiện thường là các đại lượng
(danh số), khi tìm hiểu đề các em thường bị phân tán vào nội dung cụ thể
của đại lượng hơn là các số cần thiết cho việc diễn tả điều kiện của các bài
toán theo yêu cầu của đề.
Ví dụ ở bài 3, trang 45: “ Một lớp học có 35 học sinh, trong đó có 20 học
sinh trai. Hỏi lớp đó có bao nhiêu học sinh gái?”.
Hoặc bài 4, trang 64: “Một cửa hàng đồ chơi, có 84 ô tô và máy bay, trong
đó có 45 ô tô. Hỏi cửa hàng đó có bao nhiêu máy bay?”.
Đặc điểm tư duy lứa tuổi của các em là tư duy cụ thể nên tiếp xúc với
các bài giải bằng một phép tính nhân hoặc chia thường gặp khó khăn trong
suy luận.Bên cạnh một số khó khăn khi tìm hiểu đề, các em còn gặp một số
khó khăn trong quá trình giải.
Nắm vững nội dung nhất là các yếu tố cơ bản của bài toán là yêu cầu
đầu tiên nhưng chưa đủ, nếu học sinh chưa có hứng thú và quyết tâm giải
nó. Để giải đúng bài toán còn đòi hỏi các em tìm ra phương pháp giải là
một hoạt động tư duy hết sức phức tạp, vừa đòi hỏi kinh nghiệm thực hành,
sự linh hoạt sáng tạo. Song ở lứa tuổi các em thường có sự nhầm lẫn yếu tố
không thuộc bản chất. Các em thường nhầm lẫn phương pháp giải giữa
dạng này và dạng khác.
Ví dụ: “Mẹ mua con lợn nặng 28kg về nuôi. Sau một tháng nó tăng thêm
13kg, hỏi sau một tháng con lợn nặng bao nhiều kg?”.
Đây là bài toán về ít hơn một số đơn vị nhưng các em lại nhầm là bài
toán tìm số trừ chưa biết nên có phép tính giải.
Ngoài ra khi trình bày bài giải các em diễn đạt câu, lời văn thường
không rõ ràng hoặc mắc các lỗi ghi chữ viết tắt các đơn vị đo đại lượng.
Ví dụ: bài 4 trang 129: “Có một số lít dầu đựng trong 6 can, mỗi can 3 lít.
Hỏi có tất cả bao nhiêu lít dầu?”.
Học sinh viết câu lời giải “có số lít dầu là:”
* Đối với học sinh cá biệt:
Trong lớp học thường có tới 4 loại đối tượng học sinh với mức hoàn
thành bài khác nhau. Các đối tượng này học cùng một chương trình với
những yêu cầu đặt ra theo mục tiêu đào tạo. Phần giải toán có lời văn chưa
đáp ứng được đối tượng học sinh có năng khiếu bởi chưa có bài toán giải
bằng nhiều cách hoặc bằng nhiều phép tính.
Đối với học sinh yếu kém do tư duy thiếu linh hoạt, sự chú ý, óc
quan sát, trí tưởng tượng phát triển chậm hay thiếu tự tin nên trong giải
toán đạt được kết quả là một khó khăn.
- Qua thực tế giảng dạy và thảo luận cùng đồng nghiệp, tôi nhận thấy:
+ Việc đọc đề, tìm hiểu đề đang còn nhiều khó khăn đối với học sinh lớp 2.

7


+ Vì kĩ năng đọc thành thạo của các em chưa cao, nên các em đọc được đề
toán và hiểu đề còn thụ động, chậm chạp.
+ Thực tế trong một tiết dạy 40 phút, thời gian dạy kiến thức mới mất nhiều,
phần bài tập hầu hết là ở cuối bài nên thời gian để luyện nêu đề, nêu câu trả
lời không được nhiều mà học sinh chỉ thành thạo việc đọc đề toán.
2. Kết quả của thực trạng ban đầu các năm.
Tôi đã khảo sát kĩ năng giải toán của học sinh lớp tôi dạy vào đầu
năm của 3 năm học gần đây thu được kết quả như sau:
Giải toán có lời Kĩ năng giải
Chưa nắm
văn thành thạo
chậm
được cách giải
Năm học Lớp Sĩ số
Số
Số
Số
Tỉ lệ
Tỉ lệ
Tỉ lệ
lượng
lượng
lượng
2014-2015 2 A
28
5
17,8
17
60,8
6
21.4
2015-2016 2 A
26
5
19,2
16
61,6
5
19,2
2016-2017 2C
28
8
28,5
17
60,8
3
10,7
Từ thực trạng trên, để nâng cao chất lượng giải toán có lời văn cho
học sinh lớp 2, giúp các em học sinh có hứng thú trong học tập, nâng cao
chất lượng giáo dục trong nhà trường, tôi đã mạnh dạn cải tiến nội dung,
phương pháp trong giảng dạy giải toán có lời văn cho học sinh lớp 2.
IV. CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN:

Qua việc tiếp thu chuyên đề và trên cơ sở điều tra nắm bắt đối tượng
học sinh của lớp, bản thân tôi luôn suy nghĩ, trăn trở làm thế nào để nâng
cao chất lượng giảng dạy. Tôi đã đề ra và thực hiện các biện pháp, phương
pháp cụ thể sau nhằm nâng cao chất lượng và khả năng dạy học toán có lời
văn cho học sinh.
1. Họp phụ huynh - Thống nhất biện pháp giáo dục.
Đặc điểm tâm lí của học sinh tiểu học là nhanh nhớ nhưng cũng
nhanh quên, các em học sinh lớp 2 chưa tự giác học tập, còn phụ thuộc
hoàn toàn vào sự quan tâm, nhắc nhở của cha mẹ và thầy cô. Chính vì vậy,
giáo dục ý thức tích cực học tập cho các em là một yếu tố không kém phần
quan trọng để nâng cao kết quả học tập cho các em.
Trong một lớp học, lực học của các em không đồng đều, ý thức học của
nhiều em chưa cao. Để giúp cho phụ huynh có biện pháp phù hợp trong
việc giáo dục con cái, tôi đã mạnh dạn trao đổi với phụ huynh học sinh về
những yêu cầu cần thiết giúp các em học tập như: Mua sắm đầy đủ sách vở,
đồ dùng, cách hướng dẫn các em tự học ở nhà. Một số học sinh thiếu Sách
giáo khoa và Vở bài tập, tôi gặp gỡ trao đổi với phụ huynh, động viên họ
tạo điều kiện cho con em học tập; tôi trực tiếp kêu gọi những em học sinh
cũ ( lớp 2 năm ngoái) ủng hộ số sách cũ của các em cho nhà trường để nhà
trường giúp đỡ những em có hoàn cảnh gia đình khó khăn.
2. Chuẩn bị cho việc giải toán.

8


Để giúp cho học sinh có kĩ năng thành thạo trong việc giải toán thì
chúng ta không chỉ hướng dẫn học sinh trong giờ toán mà một yếu tố
không kém phần quan trọng đó là luyện kĩ năng nói trong giờ Tiếng việt, để
các em mạnh dạn tự tin khi phát biểu người giáo viên gần gũi, khuyến
khích các em giao tiếp, tổ chức các trò chơi học tập, được trao đổi, luyện
nói nhiều trong các giờ Tiếng việt giúp các em có vốn từ phong phú; trong
các tiết học các em có thể nhận xét và trả lời tự nhiên, nhanh nhẹn. Bên
cạnh đó, người giáo viên cần phải chú ý nhiều đến kĩ năng đọc cho học
sinh: Đọc nhanh, đúng, tốc độ, ngắt nghỉ đúng chỗ giúp học sinh có kĩ năng
nghe, hiểu được những yêu cầu mà các bài tập nêu ra.
Những tuần đầu lớp 2 khi học đến phần giải toán có lời văn, nhiều
em lúng túng kể cả một số em có lực học khá. Mặc dù giáo viên đã hướng
dẫn các em nêu đề toán, tìm hiểu đề và gợi ý nêu miệng lời giải nhưng cách
trình bày, đặt lời giải của các em chưa được thành thạo. Hiểu được những
thiếu sót đó của các em, ở những tiết toán có bài toán giải tôi thường dành
nhiều thời gian hơn để hướng dẫn kĩ và kết hợp trình bày mẫu nhiều bài
giúp các em ghi nhớ và hình thành kĩ năng.
Ví dụ1 : Bài 2 trang 13 SGK Toán 2.
“Nhà bạn Mai nuôi 22 con gà, nhà bạn Lan nuôi 18 con gà. Hỏi cả hai nhà
nuôi được tất cả mấy con gà?”.
- Tôi yêu cầu học sinh đọc kĩ đề, tập tóm tắt bài toán:
Mai nuôi
: 22 con gà.
Lan nuôi
: 18 con gà.
Hai nhà nuôi:…. con gà?
- Hướng dẫn học sinh nhìn tóm tắt để nêu lại đề, xác định rõ cái đã cho, cái
phải tìm và làm thế nào để trả lời được câu hỏi của đề bài.
Học sinh nêu miệng câu lời giải:
Cả hai nhà nuôi được tất cả số con gà là:
Học sinh nêu miệng phép tính: 22 + 18 = 40 (con gà)
- Tiếp đó, yêu cầu học sinh tự giải bài toán. Ở dạng bài này, giáo viên cũng
cần cho học sinh luyện nêu miệng đề toán nhiều lần để các em ghi nhớ một
bài toán.
Ví dụ 2 : Bài tập 2 (trang 31 - SGK toán 2)
Anh
: 16 tuổi.
Em kém anh : 5 tuổi.
Em
:…..tuổi?
- Tôi cho học sinh đọc thầm, đọc miệng tóm tắt rồi đặt đề toán bằng lời.
Hướng dẫn học sinh xác định yêu cầu của đề toán:
- Bài toán cho biết gì?(Anh 16 tuổi, em kém anh 5 tuổi)
- Bài toán hỏi gì?( Tính xem em bao nhiêu tuổi)
- Để tính được tuổi của em ta làm thế nào?(Lấysố tuổi của anh trừ đi 5)
- Sau đó cho các em luyện cách trả lời miệng:
Em năm nay có số tuổi là: 16 - 5= 11 (tuổi)

9


Rồi tự trình bày bài giải:
Bài giải
Em năm nay có số tuổi là:
16 - 5= 11 (tuổi)
Đáp số: 11 tuổi
3. Vận dụng vào các tiết dạy:
Tôi tập trung luyện cho học sinh các kĩ năng: Tìm hiểu đề toán, tìm
cách giải bài toán và kĩ năng trình bày bài giải, được tiến hành cụ thể qua
các bước sau:
Bước 1: Tìm hiểu nội dung bài toán.
Cần cho học sinh đọc kĩ đề toán, xác định rõ yêu cầu của đề: xác
định được cái đã cho, cái phải tìm và dựa vào đâu để trả lời được câu hỏi
của đề toán. Trong đề toán thường có một số từ ngữ khó hiểu đối với học
sinh, nếu các em đọc lướt hoặc không chú ý sẽ rất dễ xác định nhầm yêu
cầu của đề dẫn đến làm sai bài toán. Như vậy, để tránh sự nhầm lẫn không
đáng có, tôi tổ chức các hoạt động giúp học sinh tham gia một cách tích
cực, giúp học sinh hiểu chắc chắn một số từ khoá quan trọng nói lên những
tình huống toán học bị che lấp dưới cái vỏ ngôn từ thông thường như: “ ít
hơn”, “ nhiều hơn”, “tất cả”
Nếu trong bài toán có từ nào mà học sinh chưa hiểu rõ thì giáo viên
cần hướng dẫn cho học sinh hiểu được ý nghĩa và nội dung của từ đó ở
trong bài toán đang làm qua đồ dùng trực quan, qua sơ đồ,….
Ví dụ:
Hàng trên:
Hàng dưới:
Sau đó giúp học sinh tóm tắt đề toán bằng cách tự đặt câu hỏi: Bài
toán cho biết gì? Bài toán hỏi gì?và dựa vào tóm tắt để nêu đề toán.
Để học sinh tìm hiểu kỹ đề, nắm được yếu tố đã cho và yếu tố cần
tìm giáo viên cần hướng dẫn học sinh tóm tắt bài toán bằng lời, bằng sơ đồ
đoạn thẳng, kiểm tra lại việc tìm hiểu đề của các em bằng cách yêu cầu các
em trình bày lại đề bài qua tóm tắt theo cách hiểu của mình hoặc có thể
dùng thủ thuật của mình, yêu cầu học sinh dùng bút chì gạch chân vào từ
“chìa khoá” trong đề bài.
Trong lớp dạy còn có những học sinh kĩ năng đọc hiểu còn chậm, tôi
dùng phương pháp giảng giải kèm theo các đồ vật, tranh minh hoạ để các
em tìm hiểu, nhận xét nội dung, yêu cầu của đề toán. Qua đó học sinh hiểu
được yêu cầu của bài toán và dựa vào câu hỏi của bài, các em nêu miệng
câu lời giải, phép tính, đáp số của bài toán rồi cho các em tự trình bày bài
giải vào vở bài tập.

10


Bước 2: Lập kế hoạch giải.
a. Chọn phép tính giải thích hợp:
Sau khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề toán để xác định cái đã cho
và cái phải tìm cần giúp học sinh dựa vào yêu cầu của đề để lựa chọn phép
tính thích hợp.
Ví dụ: bài 1 trang 24- SGK toán 2
Hòa có 4 bông hoa, Bình có nhiều hơn Hòa 2 bông hoa. Hỏi Bình có mấy
bông hoa?
Để giải được bài toán này, học sinh cần phải tìm được mối liên hệ
giữa cái đã cho và cái phải tìm. Hướng dẫn học sinh suy nghĩ giải toán
thông qua các câu hỏi gợi ý như:
+ Bài toán cho biết gì? ( Hòa có 4 bông hoa )
+ Bài toán còn cho biết gì nữa? ( Bình có nhiều hơn Hòa 2 bông hoa )
+ Bài toán hỏi gì? (Bình có mây bông hoa )
+ Muốn biết Bình có mấy bông hoa em làm tính gì? (tính cộng )
+ Lấy mấy cộng mấy? (4 + 2)
+ 4 + 2 bằng bao nhiêu? ( 4 + 2 = 6)
b. Đặt câu lời giải thích hợp.
Thực tế giảng dạy cho thấy việc đặt câu lời giải phù hợp là bước vô
cùng quan trọng và khó khăn nhất đối với học sinh lớp 2. Chính vì vậy việc
hướng dẫn học sinh lựa chọn và đặt câu lời giải hay cũng là một khó khăn
lớn đối với người dạy. Tuỳ từng đối tượng học sinh mà tôi lựa chọn các
cách hướng dẫn sau:
- Cách 1: (Được áp dụng nhiều nhất và dễ hiểu nhất): Đối với các em học
sinh đầu lớp 2, tôi hướng dẫn các em dựa vào câu hỏi của bài toán rồi bỏ
bớt từ đầu “hỏi” và từ cuối “mấy” rồi thêm từ “là” để có câu lời giải:
“Bình có số bông hoa là :”
- Cách 2: Cô hỏi học sinh: Nếu cô hỏi: “Bình có mấy bông hoa?” thì em trả
lời thế nào?Lúc đó sẽ có nhiều em học sinh đưa ra được câu trả lời khác
nhau. Giáo viên lựa chọn câu trả lời hợp lí cho các em(Bình có số bông hoa
là hay Số bông hoa của Bình là,…). Lúc đó, học sinh sẽ dễ dàng trình bày
được bài giải vì các em đã hiểu kĩ nội dung bài:
Bài giải
Bình có số bông hoa là:
4 + 2 = 6 (bông hoa)
Đáp số: 6 bông hoa.
Như vậy, Tuỳ từng đối tượng, từng trình độ học sinh mà hướng dẫn
các em cách lựa chọn, đặt câu lời giải cho phù hợp.
Trong một bài toán, học sinh có thể có nhiều cách đặt lời giải khác
nhau như 2 cách trên.
Song trong khi giảng dạy, ở mỗi một dạng bài cụ thể tôi đưa cho các
em suy nghĩ, thảo luận theo bàn, nhóm để tìm ra các câu lời giải đúng và
hay nhất phù hợp với câu hỏi của bài toán đó.

11


Tuy nhiên cần hướng dẫn học sinh lựa chọn cách hay nhất còn các
cách kia giáo viên đều công nhận là đúng và phù hợp nhưng cần lựa chọn
để có câu lời giải là hay nhất để ghi vào bài giải.
Bước 3: Trình bày bài giải:
Như chúng ta đã biết, các dạng toán có lời văn học sinh đã phải tự
viết câu lời giải, phép tính, đáp số, thậm chí cả tóm tắt nữa.
Chính vì vậy, việc hướng dẫn học sinh trình bày bài giải sao cho khoa
học, đẹp mắt cũng là yêu cầu lớn trong quá trình dạy học. Muốn thực hiện
yêu cầu này trước tiên người dạy cần tuân thủ cách trình bày bài giải theo
hướng dẫn, quy định.
- Đầu tiên là tên bài (Viết sát lề bên trái có gạch chân), tiếp đó ghi tóm tắt,
sau gần tóm tắt là trình bày bài giải. Từ: “Bài giải” ghi ở giữa trang vở (có
gạch chân), câu lời giải ghi cách lề 3 ô vuông, chữ ở đầu câu viết hoa, ở
cuối câu có dấu hai chấm (:), phép tính viết lùi vào so với lời giải 3 chữ,
cuối phép tính là đơn vị tính được viết trong dấu ngoặc đơn. Phần đáp số
ghi sang phần vở bên phải ( có gạch chân) và dấu hai chấm rồi mới viết kết
quả và đơn vị tính (không phải viết dấu ngoặc đơn nữa).
Bên cạnh đó, tôi trình bày bài mẫu trên bảng và yêu cầu học sinh
quan sát, nhận xét về cách trình bày để từ đó học sinh quen nhiều với cách
trình bày. Tôi còn thường xuyên chấm bài và sửa lỗi cho những học sinh
trình bày chưa đẹp; tuyên dương trước lớp những học sinh làm đúng, trình
bày sạch đẹp, cho các em đó lên bảng trình bày lại bài làm của mình để các
bạn cùng học tập.
Cùng với việc áp dụng các biện pháp ngay từ đầu năm học và áp dụng
trực tiếp các biện pháp vào bài dạy đầu tiên về giải toán có lời văn, tôi đã
cho học sinh làm một số dạng bài tập giải toán có lời văn như sau:
Ví dụ 1: Hòa có 8 viên bi, Nam có 10 viên bi . Hỏi cả hai bạn có bao nhiêu
viên bi?
Không cần hướng dẫn, học sinh lớp tôi thực hiện được ngay cách làm
như sau:
Tóm tắt
Hòa
:
8 viên bi
Nam có :
10viên bi
Cả hai bạn: … viên bi ?
Bài giải
Cả hai bạn có viên bi là:
8 + 10 = 18 ( viên bi )
Đáp số: 18viên bi.
Ví dụ 2: Mẹ hái được 18 quả cam , mẹ đem biếu bà 9 quả cam. Hỏi mẹ còn
lại mấy quả cam?
Học sinh lớp tôi thực hiện như sau:

12


Tóm tắt
Mẹ có :
18 quả cam .
Biếu bà:
6 quả cam .
Còn lại: … quả cam ?
Bài giải
Mẹ còn lại số quả cam là:
18 - 9 = 9 (quả cam)
Đáp số: quả cam
Bước 4: Kiểm tra bài giải và cách giải.
Đây là một bước rất quan trọng trong quá trình giải toán. Do thói
quen vội vàng, thiếu cẩn thận nên trong quá trình thực hiện kế hoạch giải
các em thường thực hiện sai phép tính hoặc danh số. Giáo viên cần hướng
dẫn các em làm nháp rồi mới ghi vào bài làm, sau khi làm xong cần kiểm
tra cẩn thận từ phép tính đến kết quả bài làm hay cách viết câu lời giải.
4. Khích lệ học sinh tạo hứng thú khi học tập.
Nhận thức của học sinh tiểu học còn thiên về cảm tính. Vì vậy, các em
thích được khen hơn chê. Song giáo viên nên lựa chọn thời điểm mà sử
dụng hình thức động viên, khuyến khích các em một cách kịp thời. Chính
sự khen, chê đúng lúc, kịp thời và đúng đối tượng học sinh trong lớp sẽ có
tác dụng khích lệ học sinh trong học tập. Đối với những em chậm tiến bộ,
thường rụt rè, tự ti, vì vậy tôi luôn luôn chú ý nhắc nhở, gọi các em trả lời
hoặc lên bảng làm bài. Chỉ cần các em có một “tiến bộ nhỏ” là tôi tuyên
dương ngay, để từ đó các em sẽ cố gắng tiến bộ và mạnh dạn, tự tin hơn.
Đối với những em học tốt phải có những biểu hiện vượt bậc, có tiến bộ rõ
rệt tôi mới khen.
Ngoài ra, việc áp dụng các trò chơi học tập giữa các tiết học cũng là
một yếu tố không kém phần quan trọng giúp học sinh có niềm hăng say
trong học tập, mong muốn nhanh đến giờ học và tiếp thu kiến thức nhanh
hơn, chắc hơn. Vì vậy muốn giờ học có hiệu quả thì đòi hỏi người giáo
viên phải đổi mới phương pháp dạy học tức là kiểu dạy học :“ Lấy học
sinh làm trung tâm ”, hướng tập trung vào học sinh, trên cơ sở hoạt động
của các em. Trong mỗi tiết học, tôi thường dành khoảng 2 - 3 phút để cho
các em nghỉ giải lao tại chỗ bằng cách chơi các trò chơi học tập vừa giúp
các em thoải mái sau giờ học căng thẳng, vừa giúp các em có phản ứng
nhanh nhẹn, ghi nhớ một số nội dung bài đã học.

13


IV. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN:

Bằng các phương pháp nội dung thực hiện như trên, các em học sinh
của lớp do tôi chủ nhiệm ngày càng có tiến bộ dần về môn Toán nhất là
toán có lời văn kết quả thu được như sau:
Học sinh biết Giải toán có
Tổng số
Năm học
Lớp
giải toán có lời văn thành
học sinh
lời văn
thạo
2014-2015
2A
28
27/28
25/28
2015-2016
2A
26
25/26
25/26
2016-2017
2C
28
28/28
27/28
(học kì 1)
Kết quả bài thi định kì cuối học kì 1 của lớp tôi trong hai năm học
2014 - 2015 và 2015 - 2016, như sau:
Kết quả đạt được

Năm học
Điểm 9- Điểm 7- Điểm 5- Điểm dưới
Lớp số
10
8
6
5
lớp
SL % SL % SL % SL %
2A 28 10 35, 13 46,
5
17.
0
0
20147
5
8
2015
2A 26
10 38.4 12 46.2
4
15.4
0
0
2015-2016
2016-2017
Cuối HK I

2C

28

15

53,6

11

39,3

2

7,1

0

0

Kết quả bài thi định kì cuối học kì 2 của lớp tôi trong hai năm học
2014 - 2015 và 2015 - 2016, như sau:
Kết quả đạt được

Năm học
Điểm 9Điểm 7- Điểm 5- Điểm dưới
Lớp số
10
8
6
5
lớp
SL
%
SL % SL % SL %
2A 28 12 42. 13 46.
3
10.
0
0
20149
4
7
2015
26
13 51.9 11 42.3
2
5.8
0
0
2015-2016 2A
Có được kết quả như vậy một phần nhờ tinh thần học tập tích cực, tự
giác của học sinh, sự quan tâm nhắc nhở của phụ huynh học sinh, bên cạnh
đó là các biện pháp giáo dục đúng lúc, kịp thời của giáo viên.
Qua kết quả đã đạt được trên, tôi thấy số học sinh có điểm dưới 5 đã
không còn, số học sinh đạt điểm 9-10 tăng lên. Điều đó cho thấy những cố
gắng trong đổi mới phương pháp dạy học của tôi đã có kết quả khả quan.
Những thầy cô giáo trường bạn trong lần thanh tra trường khi dự giờ lớp tôi

14


cũng đã công nhận lớp học sôi nổi, nắm kiến thức vững chắc. Đó chính là
động lực để tôi tiếp tục theo đuổi ý tưởng của mình.
Với kết quả này, chắc chắn khi các em học lên các lớp trên, các em
sẽ vẫn tiếp tục phát huy hơn nữa với những bài toán có lời văn yêu cầu ở
mức độ cao hơn.
C. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận.
Để góp phần nâng cao hiệu quả việc dạy Toán có lời văn cho học
sinh lớp 2, tôi đã rút ra bài học sau:
- Giáo viên cần tìm hiểu để nắm vững nội dung chương trình và lựa chọn
phương pháp phù hợp với từng nội dung.
- Dạy học phần giải toán có lời văn cần giúp các em có thói quen tiến hành
theo 4 bước. Nắm vững phương pháp giải của từng dạng bài.
- Chú ý đến từng đối tượng học sinh, giúp các em tham gia hoạt động
học tập một cách tích cực, tự giác. Tuỳ thuộc vào nhận thức của các nhóm
học mà có thể thêm (bớt) các tình huống.
- Để giúp học sinh có kĩ năng giải toán thành thạo, người giáo viên
cần chú ý nhiều đến kĩ năng: nghe - đọc - nói - viết trong môn Tiếng việt.
Luyện kĩ năng hỏi - đáp giúp các em có vốn từ ngữ lưu thông hơn, giúp các
em dễ dàng đặt câu lời giải cho bài toán.
- Giáo viên tích cực, tự giác học hỏi bạn bè, đồng nghiệp và các tài liệu
tham khảo để nắng vững, trau dồi cho bản thân trình độ toán học và các
phương pháp dạy học tiên tiến.
2. Kiến nghị.
Với khả năng còn nhiều hạn chế và rất ít kinh nghiệm nghiên cứu, tôi
xin nêu lên vài ý kiến nhỏ của bản thân nhằm giúp GV tham khảo khi
hướng dẫn HS lớp 2 giải toán có lời văn.
Kính mong các thầy cô giáo, mong các bạn đồng nghiệp góp ý bổ sung
thêm cho để tài này hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ

HIỆU TRƯỞNG

Thanh Hóa, ngày 25 tháng5 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác.
Người viết

Đỗ Đình Mậu
Lê Thị Huệ

15


TÀI LIỆU THAM KHẢO

STT
1
2
3

Tên tài liệu
Sách giáo khoa Toán 2

Tác giả
Đỗ Đình Hoan - Chủ

Sách giáo viên Toán 2
Phương pháp dạy học các môn học ở lớp 2.

biên
Nhiều tác giả
Vũ Văn Dương, Ngô
Thị Thanh Hương,...
Nguyễn Tuấn - Chủ

4
Thiết kế bài giảng Toán 2

biên

16


DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ
CÁC CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả:
Lê Thị Huệ
Chức vụ và đơn vị công tác:
Giáo viên trường Tiểu học Xuân Bái.

1 Một số biện pháp giúp học sinh

Cấp đánh
giá xếp loại
(Phòng, Sở,
Tỉnh...)
PGD huyện

Kết quả
đánh giá
xếp loại (A,
B, hoặc C)
C

2009-2010

yếu giải toán có lời văn lớp 3.
2 Một số kinh nghiệm giúp học

Thọ Xuân
PGD huyện

A

2016-2017

TT

Tên đề tài SKKN

sinh lớp 2 giải toán có lời văn.

Thọ Xuân

17

Năm học
đánh giá
xếp loại



x

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×