Tải bản đầy đủ

Một số biện pháp khắc phục tình trạng viết sai chính tả cho học sinh lớp 3 trường tiểu học hoằng lý

MỤC LỤC

CẤU TRÚC
A. MỞ ĐẦU

TRANG

I. Lí do chọn đề tài
II. Mục đích nghiên cứu
III. Đối tượng nghiên cứu
IV. Phương pháp nghiên cứu
B. NỘI DUNG
I. Cơ sở lí luận
II. Thực trạng
III. Các biện pháp thực hiện
IV. Hiệu quả
C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
I. Kết luận
II. Kiến nghị

2

2
3
3
3
3
4
14
15
15

A. MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài
Như chúng ta đã biết: Tiếng Việt là môn học giữ vị trí vô cùng quan trọng
trong chương trình giáo dục ở tiểu học. Môn Tiếng Việt nhằm hình thành và phát
triển kĩ năng sử dụng Tiếng Việt cho học sinh trên cơ sở những tri thức căn bản
nhằm giúp các em làm chủ được công cụ ngôn ngữ để học tập trong nhà trường và
giao tiếp đúng đắn, mạch lạc trong môi trường sống.
Môn Tiếng Việt được chia thành nhiều phân môn như: Tập đọc, Chính tả, Tập
viết, Kể chuyện, Luyện từ và câu, Tập làm văn. Mỗi phân môn đều có mục đích,
1


nhiệm vụ riêng của nó, song đều có một điểm chung là hình thành và phát triển bốn
kĩ năng (nghe, nói, đọc, viết) thông qua giao tiếp của học sinh. Riêng phân môn
Chính tả có vị trí đặc biệt quan trọng nhằm thực hiện mục tiêu của môn Tiếng Việt
là rèn luyện và phát triển tiếng phổ thông cho học sinh trong đó có năng lực chữ
viết.
Phân môn Chính tả trong trường Tiểu học có nhiệm vụ giúp học sinh nắm
vững các quy tắc chính tả, hình thành kĩ năng, kĩ xảo, giúp học sinh hình thành
năng lực và thói quen viết đúng chính tả. Vì vậy, dạy học chính tả có ý nghĩa to lớn
trong việc thực hiện 4 yêu cầu cơ bản của môn Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết).
Dạy chính tả là một quá trình rèn luyện lâu dài, không chỉ ở giờ chính tả mà có
thể rèn luyện phân tích từ các phân môn: Tập đọc, Luyện từ và câu, Tập làm văn.
Ví dụ: Một học sinh làm một bài văn rất hay nhưng mắc nhiều lỗi chính tả thì
bài văn đó không đạt điểm cao. Hay một học sinh viết sai nhiều lỗi chính tả thì
không thể học tốt các môn học khác.
Cho nên, việc nghiên cứu phương pháp giúp các em khắc phục được những lỗi
chính tả là vô cùng quan trọng. Vì vậy mỗi giáo viên phải thực sự quan tâm tới
từng đối tượng học sinh. Có biện pháp cụ thể, sát thực trong việc luyện cho học
sinh viết đúng, viết đẹp. Xuất phát từ những lí do chủ yếu trên đây cho nên tôi chọn

đề tài sáng kiến kinh ngiệm “Một số biện pháp khắc phục tình trạng viết sai
chính tả cho học sinh lớp 3 của Trường Tiểu học Hoằng Lý "
II. Mục đích nghiên cứu.
- Điều tra lỗi chính tả cơ bản thường hay mắc phải của học sinh; nguyên nhân
của các lỗi đó nhằm đề xuất một số biện pháp phắc phục lỗi chính tả cho học sinh
lớp 3 trường Tiểu học Hoằng Lý.
- Vận dụng các nguyên tắc dạy trong phân môn Chính tả hình thành kĩ năng
viết đúng chính tả cho học sinh tiểu học.
- Lập kế hoạch dạy học theo hướng đổi mới phương pháp và nội dung bài dạy
cho sát thực với việc rèn chính tả cho học sinh địa phương.
III. Đối tượng nghiên cứu
- Học sinh lớp 3B trường Tiểu học Hoằng Lý.
IV. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điểu tra, quan sát.
- Phương pháp kiểm tra, thống kê kết qua.
- Phương pháp lập kế hoạch bài học.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.
2


B. NỘI DUNG
I. Cơ sở lí luận
Chữ viết hiện nay của người Việt là chữ viết ghi lại theo phát âm. Do đó việc
viết đúng phải dựa trên đọc đúng, đọc đúng là cơ sở của viết đúng. Tuy nhiên do
yếu tố vùng miền, cách phát âm mỗi nơi mỗi khác. Mặc dù những quy tắc, quy ước
về chính tả được thống nhất theo ngữ pháp chung. Nhưng việc “viết đúng chính tả”
cho học sinh Tiểu học nói chung và học sinh lớp tôi nói riêng còn nhiều khó khăn,
tồn tại. Vì vậy, mỗi giáo viên và học sinh cần phải nổ lực để khắc phục tồn tại trên.
Người giáo viên muốn đánh giá kết quả học tập của học sinh cũng phải thông
qua năng lực viết đúng chính tả của các em. Vì vậy mỗi thầy, cô giáo cần phải nhiệt
tình trong công tác giảng dạy, cần quan tâm đến các em nhiều hơn, giúp các em
hiểu được giá trị của Tiếng Việt, rèn luyện các em viết đúng, viết chuẩn Tiếng Việt
để giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt mà cha ông ta đã để lại.
II. Thực trạng việc dạy và học phân môn chính tả ở trường Tiểu học
Hoằng Lý
Trong những năm làm công tác trực tiếp giảng dạy ở khối lớp 3 cũng như dự
giờ đồng nghiệp ở trường Tiểu học Hoằng Lý, tôi nhận thấy một số tồn tại về lỗi
chính tả của học sinh như sau:
1. Về phía học sinh
- Do học sinh phát âm theo thói quen địa phương.
- Kĩ năng đọc chưa thông thạo, về nhà không chịu khó rèn đọc nên không nhớ
mặt chữ.
- Phần đông học sinh chưa có ý thức rèn viết đúng chính tả.
- Do các em chưa hiểu nghĩa từ.
- Do không nắm vững các quy tắc chính tả.
2. Về phía phụ huynh:
- Đa số các phụ huynh học sinh đều làm công nhân và làm nghề nông nên chưa
thật sự quan tâm đến việc học của con mình.
- Mặc dù ở lớp cô giáo đã tập cho học sinh phát âm đúng song khi về nhà một
số phụ huynh nói chưa chuẩn âm, vần, dấu thanh dẫn đến con cái cũng bị ảnh
hưởng phát âm sai.
3. Về phía giáo viên:
- Trong quá trình dạy phân môn chính tả, giáo viên chưa chú ý đến đặc điểm
phương ngữ địa phương, không xác định rõ các lỗi chính tả cơ bản của học sinh
3


trong lớp nên việc rèn chính tả không đi vào trọng điểm. Giáo viên ít củng cố và
khắc sâu cho học sinh nắm các quy tắc, mẹo luật chính tả qua bài viết hoặc qua bài
tập. Hơn nữa việc phát âm của một bộ phận giáo viên chưa được chuẩn dẫn đến hạn
chế về học và viết chính tả của học sinh.
- Việc chấm bài của học sinh được giáo viên thực hiện thường xuyên, song
việc liệt kê lỗi và yêu cầu học sinh sửa lỗi thì chưa thực sự cụ thể.
Năm học 2016-2017 tôi được phân công chủ nhiệm lớp 3B với sĩ số 21 học
sinh. Trong những tuần đầu làm chủ nhiệm, tôi nhận thấy chữ viết của các em còn
xấu, lỗi chính tả rất nhiều. Từ kết quả chấm “Vở sạch chữ đẹp” giữa kì I của nhà
trường, tôi đã thống kê kết quả xếp loại chữ viết môn Chính tả của học sinh như
sau:
Tổng số HS
Loại A
21

SL
6

TL
28,6%

Xếp loại
Loại B
SL
TL
11
52,4%

Loại C
SL
4

TL
19%

Kết quả khảo sát trên cho thấy: Tỉ lệ chữ viết của học sinh đạt loại A còn thấp, tỉ
lệ đạt loại B,C còn cao chưa đáp ứng chỉ tiêu đề ra của nhà trường và của lớp.
Đứng trước thực trạng đó, tôi thực sự băn khoăn, trăn trở làm thế nào để khắc phục
tình trạng viết sai chính tả cho học sinh. Vì vậy, tôi đã vận dụng các biện pháp sau
đây vào quá trình dạy học phận môn Chính tả ở lớp 3B như sau: .
III. Các biện pháp thực hiện
1. Điều tra một số lỗi chính tả của học sinh
Điều tra lỗi chính tả của học sinh là điều cần thiết trong việc nâng cao chất
lượng của giờ Chính tả. Nếu như không điều tra lỗi chính tả của các em thì sẽ
không nắm được những lỗi cơ bản của học sinh hay mắc phải mà tìm biện pháp
khắc phục cho phù hợp. Vì vậy, từ thực tế, tôi đã tiến hành điều tra lỗi của các em
qua các giờ học thuộc môn Tiếng Việt, qua giao tiếp hàng ngày... Tôi đã thống kê
được số lỗi chính tả học sinh thường mắc phải như sau:
- Lỗi phụ âm đầu: Có khoảng 25% học sinh thường viết sai các cặp phụ âm đầu
như: g/ng/ngh; c/k/q ; ch/tr ; s/x ; gi/d/r ;...
- Lỗi phần vần: Có khoảng 20 % học sinh lớp tôi thường hay viết sai ở các cặp
vần như: ai/ay; uôi / ui ; ươi / ưi ; ươu / ưu; iêu/iu; ao/oa; uya/ya, uyêt/yêt, …
- Lỗi do không hiểu nghĩa của từ như: Có khoảng 30 % không hiểu nghĩa từ:
4


Ví dụ: để dành/tranh giành, dở dang/giang sơn,...
- Lỗi viết hoa: Có khoảng 15% học sinh mắc lỗi chủ yếu là không viết hoa đầu
câu, danh từ riêng (tên riêng), tên địa danh và lỗi viết hoa tùy tiện.
- Về dấu thanh: Có khoảng 35 % học sinh lỗi dấu thanh ?/~ (kể cả người dân địa
phương)
Ngoài ra ở một số bài viết, học sinh trong lớp còn mắc các lỗi khác như: Trình
bày chưa sạch, chữ viết còn thiếu nét, thừa nét.
2. Rèn nề nếp tư thế cho học sinh khi ngồi viết chính tả
Trước hết, muốn học sinh viết đúng, đẹp thì người giáo viên cần “Rèn nề
nếp tác phong cho học sinh khi viết”. Bởi tư thế ngồi viết của học sinh là cái
quan trọng đầu tiên giúp học sinh có nét chữ đẹp và đúng. Vì vậy, ngay từ
buổi ban đầu bước vào lớp, tôi chú ý ngay đến tư thế ngồi viết cho từng
em. Để giúp các em biết ngồi ngay ngắn khi viết, trước hết giáo viên phải
giải thích cho các em hiểu cần ngồi viết đúng tư thế để giúp chữ viết đẹp
hơn, đúng hơn, có lợi cho sức khỏe và ngược lại, nếu ngồi xiêu vẹo người
thì sẽ bị tật vẹo cột sống hoặc nếu các em nhìn sát vào vở quá thì mắt sẽ bị
cận thị… Sau đó, giáo viên làm mẫu cho học sinh quan sát và làm theo.
Trong các tiết dạy chính tả, tôi luôn nhắc nhở để các em nhớ và ngồi đúng,
tạo thói quen cho học sinh khi viết bài. Bạn nào ngồi đúng tư thế tôi
khuyến khích tuyên dương ngay trước lớp.
3. Luyện phát âm
Muốn học sinh viết đúng chính tả, trước hết giáo viên phải chú ý luyện phát
âm cho mình và cho học sinh để phân biệt các dấu thanh, các âm đầu, âm chính, âm
cuối vì chữ Quốc ngữ là chữ ghi âm, giữa cách đọc và cách viết thống nhất với
nhau. Nếu giáo viên chưa phát âm chuẩn, do ảnh hưởng của cách phát âm ở địa
phương thì các em cũng có thói quen phát âm sai dẫn đến hiện tượng viết sai chính
tả.
4. Phân tích so sánh
Song song với việc luyện phát âm cho học sinh, khâu phân tích so sánh tiếng,
từ cũng rất quan trọng trong giờ học chính tả: với những tiếng khó, giáo viên áp
dụng biện pháp phân tích cấu tạo tiếng, so sánh. Với những tiếng dễ lẫn lộn, giáo
viên cần nhấn mạnh những điểm khác để học sinh ghi nhớ.
* Ví dụ : Dạy bài Chính tả (Tập chép): Cậu bé thông minh – TV3 -Tập 1, tr.4
+ sắc ≠ sắt: sắc là sắc bén còn sắt là thanh sắt (vật kim loại).
+ xẻ (thịt chim) ≠ sẻ: xẻ là mổ xẻ, bổ ra còn sẻ là chim sẻ, san sẻ.
5


5. Giúp học sinh hiểu nghĩa của từ
Do phương ngữ của từng vùng miền khác nhau, cách phát âm đôi khi chưa
thống nhất với chữ viết nên học sinh cần nắm rõ nghĩa của từ để viết cho đúng.
* Dạy Chính tả (Tập chép): Chị em - (TV3 – Tập1, tr.27)
Học sinh viết: Để chị trải chiếu, buông màn cho em.
Học sinh cần hiểu “buông” có nghĩa là thả màn xuống, còn “buôn” là buôn bán vì
vậy phải viết là “buông màn”.
* Dạy Chính tả (Nghe – viết): Người mẹ (TV3 – Tập 1, tr.30)
Nội dung viết: Nhờ Thần Đêm Tối chỉ đường, bà vượt qua bao nhiêu khó
khăn, hi sinh cả đôi mắt của mình để giành lại đứa con đã mất.
Học sinh mắc lỗi viết “dành”. Giáo viên giúp học sinh hiểu nghĩa: “giành” là
tranh giành, giành phần hơn về mình còn “dành” là để dành (dành dụm, dỗ dành).
Việc giải nghĩa từ thường được thực hiện trong tiết Tập đọc, Luyện từ và câu,
Tập làm văn, nhưng nó cũng là việc làm rất cần thiết trong tiết chính tả khi mà học
sinh không thể phân biệt từ khó dựa vào phát âm hay phân tích cấu tạo tiếng. Có
nhiều cách để giải nghĩa từ cho học sinh. Giáo viên chú giải từ mới ở phân môn
Tập đọc kết hợp đặt câu. Nếu học sinh đặt câu đúng tức là học sinh đã hiểu nghĩa
từ; tìm từ cùng nghĩa, trái nghĩa, miêu tả đặc điểm hoặc sử dụng vật thật, mô hình,
tranh ảnh,… Với những từ nhiều nghĩa giáo viên phải đặt từ đó trong văn cảnh cụ
thể để giải nghĩa từ.
6. Giúp học sinh ghi nhớ mẹo luật chính tả
Khi dạy Tập đọc hay dạy các môn học khác, tôi luôn uốn nắn cho các
em phát âm đúng, và còn cung cấp cho các em một số "mẹo" để phân biệt
x/s, r/d/gi,...
+ Phân biệt x/s cần nhớ "mẹo" sau:
Hầu hết tên các sự vật (các danh từ) được viết là s
Như: Từ chỉ người:
ông sư; sứ thần ...
Từ chỉ cây:
sim; sung; sắn, su su, ..
Hiện tượng tự nhiên: sao; sương; sấm;...
Chỉ đồ vật:
hòn sỏi; cái sọt; sợi dây...
Chỉ con vật:
cá sấu; con sóc; con sên, sư tử, sói...
Trừ ngoại lệ: xưởng; cái xe; cái xuồng; cây xoan; cây xoài; trạm xá;
mùa xuân.

6


Để nhớ được ngoại lệ này tôi đưa ra cho học sinh một câu ngộ nghĩnh
dễ nhớ như: " Mùa xuân đi xuồng gỗ xoan, mang xoài đến xã đổi xẻng ở
xưởng để đem cho trạm xá."
+ Tên các thức ăn thường đi với x
Như: xôi; xốt vang; xúc xích; xà lách...
Phụ âm đầu x thường đi với vần có âm đệm như vần oa; oac; oach;
oai; oam; oan; oang; oay; oăn; oe; oen; oet...
Ví dụ: xoa bóp; xoạc chân; loảng xoảng, lốc xoáy, loẹt xoẹt...
+ Để phân biệt r/d/gi
r và gi không kết hợp với âm đệm (trừ ngoại lệ "cu roa ")
d thường đi với vần có âm đệm như oa; oe;uê; uy...
Như: dọa dẫm; hậu duệ; kinh doanh, duy nhất...
+ Lớp bì bọc ngoài cơ thể động vật; thực vật ghi là d
Ví dụ: màu da; da thịt; da cam...
+ Viết gi với nghĩa thêm vào
Ví dụ: gia hạn; gia vị...
+ Để phân biệt tr/ch
- Những từ chỉ quan hệ gia đình thường viết là ch
Như: chú; cha; cháu; chị...
- Những từ chỉ đồ dùng trong gia đình viết là ch
Như: chậu; chén; chổi; chiếu...
Từ việc giúp các em phát âm đúng và cung cấp cho các em một số
"mẹo" chính tả, tôi còn cung cấp cho các em một số quy định về chuẩn
chính tả như cách viết tên riêng Việt Nam và tên riêng nước ngoài:
+ Tên người: Viết hoa chữ cái đầu của tất cả các âm tiết
Như: Trần Hưng Đạo; Nguyễn Thị Minh Khai...
+ Tên dân tộc: Viết hoa chữ cái đầu của tất cả các âm tiết
Như: Kinh; Tày; Mường; Sán Dìu...
+ Tên người: tên địa lí và tên các dân tộc Việt Nam thuộc các dân tộc
thiểu số có cấu tạo từ đa âm tiết (các âm tiết đọc liền nhau). Đối với mỗi
bộ phận tạo thành tên riêng, viết hoa chữ cái đầu và có gạch nối giữa các
âm tiết.
Ví dụ: Ê-đê; Ba-na; Khơ-mú...
+ Tên cơ quan, tổ chức, đoàn thể: Viết hoa chữ cái đầu của âm tiết
đầu tiên và các âm tiết đầu của các bộ phận tạo thành tên riêng.
7


Ví dụ: Hội phụ nữ, Quốc hội, Phòng giáo duc, ...
+ Từ và cụm từ chỉ các con vật, đồ vật; sự vật được dùng làm tên
riêng của nhân vật: Viết hoa chữ cái đầu của âm tiết tạo thành tên riêng
Ví dụ: (chú) Chuột; (bác) Gấu; (cô) Chào Mào...
Khi dạy bài chính tả có tên riêng nước ngoài tôi kịp thời cho các em
nhắc lại để nhớ cách viết tên riêng nước ngoài. Đối với từng bài chính tả
có liên quan đến kiến thức về các luật hay "mẹo"chính tả nào tôi kịp thời
cung cấp hoặc giúp các em nhắc lại khắc sâu những mảng kiến thức đó, để
các em nhớ, tránh viết sai chính tả.
Với mỗi bài dạy chính tả, tôi luôn coi trọng việc cho các em nhận xét
các hiện tượng chính tả trong bài viết, từ đó giúp các em dễ khắc sâu, nhớ
cách viết đúng, hình thành kĩ năng, kĩ xảo cho các em khi viết chính tả.
Khi dạy phần luyện viết đúng (viết những tiếng các em dễ viết sai)
cho các em luyện viết vào bảng con. Tôi chú trọng đến các quy tắc chính
tả như: Khi nào viết c/k/q; g/gh; ng/ngh...
* Khi đứng trước nguyên âm i; e; ê
- Âm "cờ"viết là k
- Âm "gờ" viết là gh
- Âm "ngờ" viết là ngh
* Khi đứng trước các nguyên âm còn lại
- Âm "cờ" viết là c
- Âm" gờ" viết là g
- Âm"ngờ" viết là ng
* Khi đứng trước âm đệm viết là u, thì âm "cờ" viết là q
* Luật trầm – bổng (luật hỏi – ngã trong từ láy):
Có thể cho học sinh học thuộc hai câu thơ sau:
Chị Huyền mang Nặng Ngã đau
Anh Ngang, Sắc thuốc Hỏi đau chỗ nào.
Nghĩa là: Thanh Huyền, Nặng, Ngã kết hợp với dấu Ngã.
Thanh Ngang, Sắc, Hỏi kết hợp với dấu Hỏi.
Ví dụ: Âm trầm
+ Huyền – Ngã: vững vàng, vẽ vời, vồn vã, lững lờ, sẵn sàng,…
+ Nặng – Ngã: đẹp đẽ, nhẹ nhõm, mạnh mẽ, lạnh lẽo, vội vã,…
+ Ngã – Ngã: dễ dãi, lẽo đẽo, nhõng nhẽo, mũm mĩm, nghễnh ngãng,…
+ Ngang – Hỏi: vui vẻ, nho nhỏ, lẻ loi, trong trẻo,…
8


+ Sắc – Hỏi: vắng vẻ, mát mẻ, nhắc nhở, trắng trẻo, sắc sảo, vất vả,…
+ Hỏi – Hỏi: hổn hển, lỏng lẻo, thỏ thẻ, thủ thỉ, rủ rỉ,…
Cũng có thể cung cấp thêm cho học sinh mẹo luật sau: Từ có âm đầu là M, N,
Nh, V, L, D, Ng thì viết là dấu ngã (Mình Nên Nhớ Viết Là Dấu Ngã).
Ví dụ: M: mĩ mãn, mã lực, từ mẫu, cần mẫn,…
N: nỗ lực, trí não, truy nã, nữ giới,…
Nh: nhẫn nại, nhẵn bóng, quấy nhiễu, nhõng nhẽo,…
V: vĩnh viễn, vỗ về, vũ trang, võ nghệ, vũ trụ,…
L: lễ phép, lữ hành, kết liễu, thành lũy, lạnh lẽo, …
D: dã man, dã tràng, dũng cảm, dỗ dành, hướng dẫn, diễm lệ,…
Ng: ngưỡng mộ, hàng ngũ, ngữ nghĩa, ngôn ngữ, ngỡ ngàng, ngã (té),..
Dù sử dụng phương pháp nào đi chăng nữa, tôi cũng đều phải theo dõi quan
tâm, uốn nắn đến từng em. Từ đây giúp cho các em hạn chế được các lỗi khi viết
chính tả.
7. Biện pháp giúp học sinh viết đúng chính tả qua các bài tập
Các dạng bài tập chính tả thường gặp ở lớp 3 trong HKI là các dạng bài: Bài
tập điền vào chỗ trống (Bài tập điền khuyết), bài tập tìm từ, bài tập tìm tiếng, bài
tập giải câu đố, bài tập lựa chọn. Sang HKII có thêm dạng bài tập đặt câu (Bài tập
phân biệt hai từ trong từng cặp từ).
Mỗi bài viết chính tả giáo viên cần luyện học sinh phát âm từ khó, phân tích,
so sánh tiếng, từ khó, giải nghĩa từ, ghi nhớ mẹo luật chính tả. Ngoài nhiệm vụ trên
giáo viên còn hướng dẫn học sinh làm các bài tập khác nhau để giúp học sinh tận
dụng các kiến thức đã học, làm quen với việc sử dụng từ trong văn cảnh cụ thể. Sau
mỗi bài tập, giáo viên giúp các em rút ra các qui tắc chính tả để ghi nhớ.
7.1. Bài tập điền vào chỗ trống:
Với dạng bài tập này sẽ giúp học sinh điền đúng âm đầu, vần vào chỗ chấm:
Ví dụ: Bài tập 2 a) – TV3, Tập 1, tr. 22
Điền vào chỗ trống tr hay ch ?
- Cuộn …òn, …ân thật, chậm …ễ
Bài tập 3a) –TV3, Tập 1, tr.48
Điền vào chỗ trống s hay x ?
Giàu đôi con mắt, đôi tay
Tay …iêng làm lụng, mắt hay kiếm tìm
Hai con mắt mở, ta nhìn
Cho sâu, cho …áng mà tin cuộc đời.
9


- Dạy Chính tả (Nghe – viết) : Ông ngoại (đoạn 3) - TV3, Tập 1, tr. 35
Nội dung viết: Ông còn nhấc bổng tôi trên tay, cho gõ thử vào mặt da loang lổ
của chiếc trống trường.
Một số học sinh viết sai lỗi “da” viết là “gia”, cũng có em viết là “ra”. Tôi phân
biệt cho các em biết nghĩa của hai từ da và gia: da viết là d – với các nghĩa có liên
quan tới “da thịt”, trong “da dẻ”; còn gia viết là gi trong các trường hợp còn lại,
với các nghĩa là “nhà” (gia đình), chỉ người có học vấn, chuyên môn (chuyên gia),
nghĩa khác (gia vị, gia súc,…) Sau phần bài viết tôi tự ra bài tập để các em hiểu
thêm. Nội dung bài tập như sau:
- Điền vào chỗ trống r, d hay gi ?
+ …a vào; …a dẻ;…a đình.
+ …a rả; …a thịt, tham …a.
- Điền vào chỗ trống en hay eng ? (BT 2b – TV 3, tập 1, tr. 41)
+ Tháp Mười đẹp nhất bông s…
Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ.
+ Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà
Cỏ cây ch…đá lá ch…hoa .
- Điền vào chỗ trông iên hay iêng ? (Bài tập 2b – TV3, Tập 1, tr. 56)
Trên trời có g….. nước trong
Con k… .. chẳng lọt, con ong chẳng vào.
- Điền vào chỗ trống en hay oen ? (Bài tập 2 – TV3, Tập 1, tr. 60)
- nhanh nh.....; ..... miệng cười, sắt h….gỉ; h....nhát
7.2. Bài tập tìm từ
Học sinh tìm từ ngữ chứa âm, vần dễ lẫn qua gợi ý nghĩa của từ, qua gợi ý từ
cùng nghĩa, trái nghĩa:
* Bài tập 3a – TV 3, Tập 1- trang 52
Tìm các từ chứa tiếng bắt đầu bằng s hoặc x có nghĩa như sau:
- Cùng nghĩa với chăm chỉ : …..
- Trái nghĩa với gần : …..
- (Nước) chảy rất mạnh và nhanh : …..
Bài tập 3b - TV3, Tập 1- tr. 31 Tìm các từ chứa tiếng có vần ân hoặc âng có
nghĩa như sau:
- Cơ thể của người: …..
- Cùng nghĩa với nghe lời: …..
- Dụng cụ đo trọng lượng (sức nặng) : …..
10


7.3. Bài tập tìm tiếng
Bài tập 2b) - TV3,Tập 1, tr. 18
Tìm những tiếng có thể ghép với mỗi tiếng sau:
- gắn, gắng
- nặn, nặng
- khăn, khăng
Giáo viên chia nhóm và tổ chức cho học sinh thi ghép đúng, nhóm nào ghép
đúng được nhiều từ nhất nhóm đó thắng cuộc.
+ gắn: gắn bó, hàn gắn, gắn kết,…
+ gắng: cố gắng, gắng sức, gắng lên,…
+ nặn: nặn tượng, nặn óc nghĩ, nhào nặn,….
+ nặng: nặng nhọc, nặng nề, nặng cân,…
+ khăn: khăn tay, khăn quàng, cái khăn,…
+ khăng: khăng khăng, khăng khít,…
7.4. Bài tập giải câu đố
Bài tập 2b) - TV3, Tập 1, tr. 22
Đặt trên chữ in đậm dấu hỏi hay dấu ngã ? Giải câu đố sau:
Vừa dài mà lại vừa vuông
Giúp nhau ke chỉ, vạch đường thăng băng
(Là cái gì?)
Ngoài ra giáo viên phải kết hợp cho học sinh biết xây dựng cái đúng, loại bỏ
cái sai. Bên cạnh việc cung cấp cho học sinh những qui tắc chính tả, hướng dẫn học
sinh thực hành, luyện tập nhằm hình thành kĩ năng viết đúng chính tả, cần đưa ra
những trường hợp viết sai để hướng dẫn học sinh phát hiện sửa chữa rồi từ đó
hướng học sinh đi đến cái đúng.
7.5. Bài tập lựa chọn
Bài tập 3b) - TV3, Tập 1, tr. 132
Chọn từ thích hợp trong ngoặc đơn điền vào chỗ trống trong các câu sau:
- (bão, bảo) : Mọi người ….. nhau dọn dẹp đường làng sau cơn …..
- (vẽ, vẻ) : Em ….. mấy bạn …..mặt tươi vui đang trò chuyện.
- (sữa, sửa): Mẹ em cho em bé uống ….. rồi …..soạn đi làm.
7.6. Bài tập đặt câu (Bài tập phân biệt)
Với dạng bài tập này sang HKII, học sinh làm quen với bài tập: Tập đặt câu để
phân biệt hai từ trong từng cặp từ để hiểu nghĩa của từng cặp từ.
Bài tập 3b) - TV3, Tập 2, trang 48 (Tuần 23).
11


Đặt câu phân biệt hai từ trong từng cặp từ sau:
+ trút – trúc; lụt – lục
Ví dụ: + trút: Trời mưa như trút nước.
+ trúc: Bố em có cây sáo trúc.
+ lụt: Năm nay ở nước ta có nhiều lũ lụt.
+ lục: Bé lục tung đồ đạt trong nhà.
* Một số bài tập ngoài giờ học chính khóa (Giờ thực hành Tiếng Việt)
Ngoài các bài tập trên, giáo viên còn tổ chức cho học sinh tham gia trò chơi
viết đúng chính tả qua các buổi học phụ đạo với các dạng bài tập ngoài bài. Nội
dung các bài tập giáo viên đưa ra phải phù hợp với từng đối tượng học sinh nhằm
gây sự hứng thú trong giờ học, cụ thể các bài tập sau:
* Bài tập trắc nghiệm :
Khoanh tròn vào chữ cái trước từ ngữ viết đúng chính tả:
a - suy nghỉ
b - nghĩ hè
c - nghỉ phép
d - im lặn
e - lặn lội
g - vắng lặn
h - muối cam
i - hạt múi
k - sương muối
Đáp án: khoanh vào c, e, k
* Bài tập điền Đúng – Sai :
Điền chữ Đ vào ô trống trước những chữ viết đúng chính tả và chữ S vào ô
trống trước những chữ viết sai chính tả:
chim xẻ
mổ xẻ
dìu dắt
dìu biếc
mải miết
mãi mãi
Đáp án: Điền Đ vào ô trống trước từ: Dìu dắt, mải miết, mổ xẻ, mãi mãi
Điền S vào các ô trống trước từ: chim xẻ, dìu biếc
* Bài tập nối tiếng:
Nối các tiếng ở cột A với các tiếng ở cột B để tạo thành từ ngữ viết đúng chính
tả:
A
B
a. mong
tròn
(1)
b. rau
khổ
(2)
c. cuộn
muốn (3)
d. khuôn
cau
(4)
e. buồng
muống (5)
Đáp án: a - 3 ; b - 5 ; c - 1; d - 2 ; e - 4
12


* Bài tập phát hiện
Tìm từ sai chính tả trong các câu sau và sửa lại cho đúng:
a) Dẫu các cháu không dúp gì được, nhưng ông cũng thấy lòng nhẹ hơn.
b) Một ngôi xao chẳng sáng đêm.
c) Chỉ có vần trăng vẫn thao thức như canh gát trong đêm.
d) Anh cảm thấy dễ chiệu và đầu óc bớt căng thẳng.
e) Hôm đó, ông lão đang ngồi sưỡi lửa thì con đem tiền về.
Đáp án: Các từ viết sai chính tả trong các câu trên là: dúp, xao, gát, chiệu,
sưỡi,
8. Tổ chức dạy học tiết Chính tả ở lớp
8.1. Hướng dẫn viết và chữa bài:
* Chuẩn bị và nghe viết chính tả:
- Cho học sinh đọc bài chính tả sẽ viết (SGK), nắm nội dung chính của bài viết.
- Hướng dẫn học sinh nhận xét những hiện tượng chính tả trong bài
- Luyện viết những chữ ghi tiếng khó hoặc dễ lẫn (tiếng mang vần khó, tiếng
có âm, vần dễ viết sai do ảnh hưởng của phương ngữ hay thói quen).
- Khi đọc cho học sinh viết bài, giáo viên cần phát âm rõ ràng, tốc độ vừa phải,
tạo điều kiện cho học sinh chú ý đến những hiện tượng chính tả cần viết đúng.
* Chữa bài:
- Cho học sinh tự chữa lỗi của mình qua bài mẫu trên bảng cụ thể, chu đáo,
không sửa qua loa, lấy lệ và hướng dẫn kĩ để học sinh dễ nhớ.
- Sửa lỗi chính tả theo nhóm, phân những học sinh thường cùng mắc một loại
lỗi chính tả thành một nhóm. Mỗi nhóm do một em khá, giỏi trong lớp phụ trách
dưới sự gợi ý của giáo viên, nhóm trưởng hướng dẫn các bạn trong nhóm phát hiện
ra lỗi chính tả trong các bài viết của các bạn cùng nhóm, cùng bàn bạc thống nhất
cách sửa lỗi đó.
- Đối với những học sinh mắc nhiều lỗi do ảnh hưởng của tiếng địa phương
hoặc thói quen, giáo viên cần chữa bài cho các em đó, chỉ ra từng lỗi sai và cho các
em viết lại các từ đã sửa dưới bài viết. Nếu các em sai trên 5 lỗi thì cho chép lại
toàn bài.
8.2. Thực hành luyện tập
- Khi tổ chức các hoạt động thực hành luyện tập, giáo viên lựa chọn hình thức
luyện tập phù hợp với từng đối tượng học sinh và phù hợp với từng nội dung bài
tập nhằm tạo hứng thú, phát huy tính tích cực của học sinh trong giờ học.
13


- Trong quá trình học sinh làm bài, giáo viên quan sát học sinh để đôn đốc
hướng dẫn và biết được những bài làm sai để tổ chức cho học sinh nhận xét và sửa
chữa. Đối với các dạng bài tập khó, giáo viên nên tổ chức cho học sinh luyện tập
dưới hình thức trò chơi hoặc thảo luận nhóm thì hiệu quả và việc sửa chữa tối ưu
hơn cả.
IV. HIỆU QUẢ
Sau khi áp dụng sáng kiến kinh ngiệm “Một số biện pháp khắc phục tình
trạng viết sai chính tả cho học sinh lớp 3 " đã nêu ở trên, tôi nhận thấy năng lực
viết chính tả của học sinh được nâng lên rõ rệt. Các em không chỉ có ý thức viết
đúng chính tả mà còn có ý thức rèn luyện chữ viết. Từng bài viết của học sinh luôn
được trình bày sạch đẹp, chữ viết đúng quy định. Chính nhờ viết chính tả đúng và
đẹp nên lớp tôi được nhà trường đánh giá là lớp dẫn đầu trong phong trào “Giữ vở
sạch-rèn chữ đẹp”. Đặc biệt là trong lần kiểm tra “Vở sạch, chữ đẹp” của Phòng
giáo dục Thành phố vào ngày 23/3/2017 kết quả đạt như sau:
Tổng số HS
Loại A
21

SL
12

TL
56%

Xếp loại
Loại B
SL
TL
10
44%

Loại C
SL
0

TL
0

Xếp loại chung: Loại I

C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
I. Kết luận
Qua công tác nghiên cứu “Một số biện pháp khắc phục tình trạng viết sai
chính tả cho học sinh lớp 3” vào thực tế giảng dạy ở lớp 3B. Bản thân tôi đã rút ra
được một số bài học kinh nghiệm như sau:
- Trước hết người thầy giáo phải luôn có lòng yêu nghề, mến trẻ, có ý thức
trách nhiệm và tinh thần cầu tiến, không ngừng học hỏi và mạnh dạn áp dụng
những cái mới vào trong thực tiễn giảng dạy
14


- Nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của người giáo viên tiểu học là phải nắm vững
đối tượng học sinh, hiểu rõ trình độ và năng lực của từng em. Từ đó có thể áp dụng
những phương pháp dạy học phù hợp với từng nhóm đối tượng học sinh.
- Người giáo viên phải thường xuyên nghiên cứu, dự giờ đồng nghiệp, sinh
hoạt chuyên môn tổ khối để trao đổi và góp ý về các phương pháp khắc phục lỗi
chính tả. Từ đó giáo viên có thể lập kế hoạch bài học một cách khoa học.
- Phát hiện lỗi chính tả, thống kê, tìm nguyên nhân mắc lỗi, ...đưa ra biện pháp
khắc phục cần thiết.
- Để việc dạy học chính tả đạt hiệu quả, ngay từ đầu năm giáo viên cần hướng
dẫn các em thật tỉ mỉ về các quy tắc chính tả, quy tắc kết hợp từ, giải nghĩa từ,...
- Nắm vững phương pháp đặc trưng của phân môn Chính tả, kết hợp linh hoạt
các phương pháp giảng dạy sao cho phù hợp với từng đối tượng học sinh.
- Phải dùng nhiều hình thức rèn luyện, khen thưởng và động viên học sinh kịp
thời. Hạn chế không nên trách phạt, chê các em trước lớp. Bên cạnh đó giáo viên
còn phải khích lệ, động viên học sinh phải kiên trì, chăm chỉ rèn luyện mới đạt kết
quả tốt.
II. Kiến nghị
1. Đối với giáo viên:
- Cần có kế hoạch rèn học sinh viết đúng chính tả ngay từ đầu năm học.
- Rèn cho mình cách phát âm chuẩn, đúng từ ngữ phổ thông. Nắm vững nguyên
tắc chính tả, mẹo chính tả để viết chuẩn.
- Thường xuyên chấm chữa bài cho học sinh, nêu rõ các lỗi sai cơ bản của các
em, tìm biện pháp khắc phục kịp thời.
2. Đối với nhà trường: Thường xuyên tổ chức kiểm tra nề nếp “Vở sạch-chữ
đẹp” định kì 4 lần/năm để tạo sự thi đua giữa các lớp. Kết quả đó được coi là tiêu
chuẩn để đánh giá thi đua trong năm học của giáo viên và của lớp.
3. Đối với Phòng giáo dục: Tiếp tục triển khai và đẩy mạnh chuyên đề “Nói
chuẩn- viết chuẩn” đối với giáo viên và học sinh trong các nhà trường. Bên cạnh
đó nên tổ chức nhiều chuyên đề về các đề tài khoa học hay sáng kiến kinh nghiệm
“Nói chuẩn – viết chuẩn” của cá nhân, tập thể được Hội đồng khoa học cấp Thành
phố đánh giá cao.
Để hoàn thành đề tài này, bản thân đã có nhiều cố gắng, song trình độ và kinh
nghiệm của bản thân còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót. Vì thế, tôi
rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của Hội đồng khoa học cấp trên và của các
bạn đồng nghiệp để đề tài được hoàn thiện hơn.
15


XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Hoằng Lý, ngày 10 tháng 4 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của người
khác.
Người thực hiện

Lê Thị Loan

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách Thiết kế bài giảng Tiếng Việt (Nguyễn Trại chủ biên - NXB Giáo dục,
HN 2004).
2. Một số phương pháp dạy Tiếng Việt (Đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu
học) – Tài liệu Bồi dưỡng giáo viên.
3. Từ điển chính tả Tiếng Việt – (Hoàng Phê chủ biên - NXB Giáo dục, HN
1988).
4. Từ điển Tiếng Việt (NXB Giáo dục).
16


5. Mẹo luật chính tả (Lê Trung Hoa- Sở Văn hóa-Thông tin Long An, XB:1984)
6. Chữa lỗi chính tả cho học sinh ( Phan Ngọc - NXB Giáo dục Hà Nội, 1982).
7. Hướng dẫn thực hiện Chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học lớp 3 (NXB
Giáo dục - Bộ Giáo dục và Đào tạo -2009)
8. Chương trình tiểu học (Ban hành kèm theo quyết định số 43/2001/QĐ - BGD
& ĐT ngày 9/11/2001 của Bộ giáo dục và Đào tạo).

DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG ĐÁNH
GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC CẤP
CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Lê Thị Loan
Chức vụ và đơn vị công tác: Tổ trưởng tổ 1,2,3 - Trường tiểu học Hoằng Lý
TT

Tên đề tài SKKN

Cấp đánh

Kết quả

Năm học
17


PGD

đánh giá
xếp loại
(A, B,
hoặc C)
B

2003-2004

PGD

A

2004-2005

PGD

C

2006-2007

PGD

A

2007-2008

PGD

B

2009-2010

PGD

C

2010-2011

PGD

B

2011-2012

PGD

C

2013-2014

PGD

C

2015-2016

giá xếp loại
(Phòng, Sở,
Tỉnh...)
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.

Một số biện pháp nâng cao tính hiệu
quả của hoạt động Đội trong trường
tiểu học.
Một số kinh nghiệm bồi dưỡng Ban chỉ
huy Liên Đội trong trường tiểu học
Rèn kĩ năng giải toán về tỉ số
phần trăm cho học sinh lớp 5
Thiết kế và sử dụng trò chơi học tập
Tiếng việt cho học sinh lớp 5.
Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3
giải tốt dạng toán có lời văn.
Giúp học sinh hứng thú học tập phân
môn Luyện từ và câu lớp 3.
Phát huy tính tích cực của học sinh khi
dạy môn Lịch sử lớp 5.
Giúp học sinh lớp 3 học tốt môn Toán
thông qua hình thức tổ chức trò chơi
toán học.
Rèn kĩ năng sống cho học sinh lớp 3
thông qua các hoạt động ngoài giờ lên
lớp.

đánh giá
xếp loại

18



x

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×