Tải bản đầy đủ

Một số biện pháp rèn kĩ năng làm văn miêu tả cho học sinh lớp 5

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GD&ĐT THÀNH PHỐ THANH HÓA

******************

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIÊN PHÁP RÈN KĨ NĂNG LÀM VĂN
MIÊU TẢ CHO HỌC SINH LỚP 5

Người thực hiện: Lương Thị Thoa
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác:Trường Tiểu học Điện Biên 2
SKKN thuộc môn: Tiếng Việt

THANH HÓA NĂM 2017


MỤC LỤC



I. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài.
Tiếng Việt là tiếng phổ thông của dân tộc Việt Nam. Trong nhà trường Tiểu
học. Môn Tiếng Việt ở bậc Tiểu học có nhiệm vụ hình thành và phát triển cho
học sinh các kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết để học tập và giao tiếp trong môi
trường hoạt động, góp phần rèn luyện các thao tác tư duy.
Trong chương trình Tiểu học , Tiếng Việt được chia thành các phân môn,
mỗi phân môn có nhiệm vụ rèn luyện cho học sinh những kĩ năng nhất định.
Phân môn Tập làm văn là phân môn mang tính tổng hợp cao nhất, nó có vai trò
rèn cho học sinh cả bốn kĩ năng, trong đó quan trong là các kĩ năng nghe, nói,
viết. Đối với phân môn này, các em được rèn luyện năng lực trình bày ở dạng
văn bản với nhiều thể loại khác nhau.
Dạy tốt phân môn Tập làm văn nói chung và kiểu bài văn miêu tả nói riêng
là vấn đề được nhiều giáo viên Tiểu học quan tâm. Chương trình thay sách Tiểu
học phát huy bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết trong môn Tiếng Việt. Học sinh
Tiểu học ngay từ lớp 1, 2, 3 đã được tiếp xúc với nhiều dạng văn bản khác nhau,
có nội dung gần gũi trong cuộc sống và kĩ năng giao tiếp của các em với cộng
đồng. Đó là một ưu điểm không ai phủ nhận. Tuy nhiên, chương trình mới
chuyển tải sự thay đổi cả về nội dung và kỹ năng rèn luyện lẫn hình thức, biện
pháp và quy trình lên lớp . Là giáo viên, nhất là giáo viên dạy lớp 5 không ai
tránh khỏi những trăn trở, băn khoăn là làm thế nào giúp học sinh rèn luyện tốt
kỹ năng làm bài Tập làm văn, nhất là văn miêu tả.
Qua thực tế nhiều năm giảng dạy lớp 5, qua thời gian bồi dưỡng học sinh
giỏi tại Trường Tiểu học Điện Biên 2 những năm trước đây, tôi đã phát hiện
được có những phụ huynh chưa quan tâm đúng mực cho con học môn Văn và
cũng có một số em ngại học phân môn Tập làm văn vì thế số học sinh học tốt
phân môn Tập làm văn còn rất khiêm tốn chỉ đếm trên đầu ngón tay. Trong khi
tiếng Việt là tiếng mẹ đẻ của chúng ta, các em lúc chưa tròn một tuổi đã biết nói,
năm sáu tuổi đã biết đọc, đã biết viết tiếng Việt ? Chúng ta đã tự hào tiếng Việt
ta phong phú, giàu hình ảnh, đa dạng về nghĩa, có sức biểu cảm sâu sắc. Nhưng
một thực tế làm buồn lòng những thầy cô giáo chúng tôi vì học sinh học tốt phân
môn Tập làm văn còn quá khiêm tốn. Khi chấm bài Tập làm văn, tôi thấy đa số
học sinh đã biến các bài văn miêu tả thành văn kể, liệt kê một cách khô khan,
nghèo nàn về từ, diễn đạt rườm rà tối nghĩa. Vậy làm thế nào để nâng cao chất
lượng dạy- học Tập làm văn nhất là văn miêu tả cho học sinh lớp 5? Đi tìm lời
giải đáp cho câu hỏi trên là một quá trình và cũng là mục đích cần hướng đến
của các kỹ sư tâm hồn.
Để làm tốt vai trò người tổ chức và hướng dẫn, tôi đã tìm tòi, phân tích
thực trạng và lựa chọn một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 học tập có hiệu quả
Tập làm văn miêu tả. Bởi vì đối với học sinh lớp 5, việc rèn kĩ năng làm văn

miêu tả cho các em là rất cần thiết. Học sinh học tốt văn miêu tả sẽ là điều kiện
thuận lợi để các em học tốt các môn học khác ở Tiểu học và tạo đà cho các em
học tiếp lên các lớp trên. Để góp phần đổi mới phương pháp và nâng cao chất
1


lượng dạy học trong nhà trường nói chung, nâng cao chất lượng phân môn Tập
làm văn cho học sinh lớp 5 nói riêng, tôi đã chọn đề tài: “Một số biện pháp rèn
kĩ năng làm văn miêu tả cho học sinh lớp Năm”.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này tôi mong muốn được đóng góp một phần công sức
của mình vào công tác giáo dục của nhà trường. Trước hết là góp phần nâng cao
chất lượng phân môn Tập làm văn cho lớp tôi trực tiếp giảng dạy. Sau đó, mục
tiêu quan trọng hơn là góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt
của trường Tiểu học Điện Biên 2.
3. Đối tượng nghiên cứu
Kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 5.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Điều tra phân loại đối tượng học sinh .
- Phương pháp nghiên cứu xây dưng cơ sở lí thuyết.
- Phương pháp thống kê, xử lí số liệu.
II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Tập làm văn là một phân môn mang tính tổng hợp và sáng tạo cao. Tổng hợp
các kiến thức, kĩ năng từ Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Luyện từ và câu,... để
viết nên một bài Tập làm văn. Tập làm văn là phân môn học sáng tạo chứ không
phải sao chép,…Là phân môn học tổng hợp kiến thức của các môn học khác và
kiến thức của cuộc sống, là phân môn tổng hợp các kĩ năng (kĩ năng sống, kĩ
năng giao tiếp, kĩ năng sử dụng ngôn ngữ, kĩ năng trình bày và tạo lập văn
bản,...)
Theo quan điểm tích hợp, các phân môn trong môn Tiếng Việt được tập hợp
lại xoay quanh trục chủ điểm và các bài đọc. Nhiệm vụ cung cấp kiến thức và
rèn luyện kĩ năng gắn bó chặt chẽ với nhau. Như vậy, muốn dạy- học có hiệu
quả phân môn Tập làm văn dạng bài miêu tả (tả cảnh, tả người) nhất thiết người
giáo viên phải dạy tốt Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Luyện từ và câu. Vì trong
các bài đọc, trong câu chuyện, trong các bài tập luyện từ và câu thường xuất
hiện các đoạn văn, khổ thơ có nội dung miêu tả rất rõ về cảnh vật, thiên nhiên,
con người,...
Bài Tập làm văn nếu không sáng tạo sẽ trở thành một bài văn khô cứng, góp
nhặt của người khác, nội dung bài văn sẽ không hồn nhiên, trong sáng, mới mẻ
như tâm hồn của các tác giả nhỏ tuổi.
Chất lượng phân môn Tập làm văn là chất lượng của cảm thụ văn học, của các
kĩ năng nghe, nói, đọc, viết tiếng mẹ đẻ. Cho nên, thầy phải lập được kế hoach
bài học cụ thể và trò học tập chủ động,tích cực, nghiêm túc, hiệu quả, mới mong
nâng cao một cách bền vững chất lượng phân môn Tập làm văn nói riêng và
môn Tiếng Việt nói chung ở lớp cuối cấp Tiểu học.
Dạy Tập làm văn lớp 5 phải đảm bảo mục tiêu yêu cầu cần đạt về kiến thức,
kĩ năng của Chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học theo chuẩn kiến thức,
kĩ năng của từng môn học (ban hành kèm theo quyết định số 16 của Bộ GD-ĐT)
2


và phù hợp trình độ của từng học sinh trong lớp mà “Hướng dẫn 896” của Bộ
GD-ĐT đã đề ra.
Tôi tin rằng đề tài này nếu được áp dụng và vận dụng hợp lý sẽ đem lại hiệu
quả cao cho phân môn Tập làm văn, góp phần nâng cao chất lượng môn Tiếng
Việt lớp 5.
2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Năm học :2016 – 2017, tôi được phân công giảng dạy Tiếng Việt ở lớp 5A3
& 5A4 với 42 & 46 học sinh. Hầu hết học sinh của lớp 5A3 & 5A4 tôi trực tiếp
giảng dạy còn rất hạn chế khi làm bài Tập làm văn.Qua khảo sát chất lương đầu
năm học của môn Tiếng Việt bài viết Tập làm văn được thống kê với kết quả
như sau:
Lớp 5A3: 42 học sinh
Hoàn thành
Tốt

Khảo
sát
chất
lương
đầu
năm

Hoàn thành

Lớp 5A4: 46 học sinh
Chưa
hoàn thành

Hoàn thành
Tốt

Hoàn thành

Chưa
hoàn thành

Số
lượng

Tỉ lệ
%

Số
lượng

Tỉ lệ
%

Số
lượng

Tỉ lệ
%

Số
lượng

Tỉ lệ
%

Số
lượng

Tỉ lệ
%

Số
lượng

Tỉ lệ
%

6

14,3

28

66,7

8

19

5

10,8

29

63

12

26,2

Từ thực trạng trên, tôi đã tìm hiểu kĩ thực tế bài khảo sát chất lượng của học
sinh. Đa số bài viết của các em còn bị điểm thấp là do các nguyên nhân sau:
- Do các em còn nghèo vốn từ, không biết sử dụng biện pháp so sánh, nhân hóa.
- Các em chưa biết vận dụng kết quả quan sát thực tế vào bài làm,
- Học sinh chưa xác định được trọng tâm đề bài cần miêu tả.
- Nhiều em thường liệt kê, kể lể dài dòng, diễn đạt vụng về, lủng củng.
Nhiều em chưa biết dừng lại để nói kĩ một vài chi tiết cụ thể nổi bật.
- Bài viết của học sinh còn mắc nhiều lỗi chính tả.
Thực trạng học sinh còn nhiều hạn chế như vậy đã làm cho tiết Tập làm văn
trở thành một gánh nặng, một thách thức đối với giáo viên Tiểu học. Ý nghĩ cho
rằng Tập làm văn là một phân môn khó dạy, khó học và khó đạt hiệu quả cao đã
là nhận thức chung của nhiều thầy cô giáo dạy lớp 4, lớp 5.
Nguyên nhân của thực trạng
Theo tôi có sáu nguyên nhân như sau:
a. Khi làm văn, học sinh chưa xác định được yêu cầu trọng tâm của đề bài.
b. Học sinh không được quan sát trực tiếp đối tượng miêu tả.

3


c. Khi quan sát thì các em không được hướng dẫn về kĩ năng quan sát:
quan sát những gì, quan sát từ đâu ? Làm thế nào phát hiện được nét tiêu biểu
của đối tượng cần miêu tả.
d. Không biết hình dung bằng hình ảnh, âm thanh, cảm giác về sự vật
miêu tả khi quan sát.
e. Vốn từ đã nghèo nàn lại không biết sắp xếp như thế nào để bài viết
mạch lạc, chưa diễn đạt được bằng vốn từ ngữ, ngôn ngữ của mình về một sự
vật, cảnh vật, về một con người cụ thể nào đó.
g. Nguyên nhân cuối cùng là trách nhiệm của người giáo viên. Phân môn
Tập làm văn là một môn học mang tính tổng hợp và sáng tạo, nhưng lâu nay
người giáo viên (nhất là giáo viên lớp 4, lớp 5) chưa có cách phát huy tối đa
năng lực học tập và cảm thụ văn học của học sinh; chưa bồi dưỡng được cho các
em lòng yêu quý Tiếng Việt, ham thích học Tiếng Việt để từ đó các em nhận ra
rằng đã là người Việt Nam thì phải đọc thông, viết thạo Tiếng Việt và phát huy
hết ưu điểm của tiếng mẹ đẻ.
3. Một số biện pháp rèn kĩ năng làm văn miêu tả cho học sinh lớp Năm
Để hướng dẫn học sinh lớp Năm viết văn miêu tả có hiệu quả tôi đã tiến
hành một số biện pháp như sau:
3.1. Điều tra phân loại học sinh
Ngay từ đầu năm học tôi đã tiến hành điều tra, phân loại, nắm chắc từng
đối tượng học sinh: năng khiếu, tiếp thu được, tiếp thu chậm. Nắm chắc được
đối tượng học sinh, tôi đã đề ra được những biện pháp dạy học phù hợp với từng
đối tượng học sinh. Đồng thời, tạo điều kiện tốt nhất góp phần giúp học sinh
chưa biết làm văn miêu tả, có thể vận dụng làm được một bài văn hoàn chỉnh.
3.2. Hướng dẫn học sinh đọc sách, nâng cao năng lực cảm thụ văn học, tích
luỹ tư liệu văn học.
- Tôi đã hướng dẫn học sinh đọc sách không phải chỉ để biết cốt truyện
mà phải ngẫm nghĩ nội dung, bố cục, ý nghĩa của tác phẩm, cách viết của tác
giả để giúp các em cảm thụ sâu tác phẩm, học được cái gì trong cách viết của
tac giả.
- Hướng dẫn học sinh biết cách tích luỹ dần các tư liệu văn học bằng cách
có cuốn sỗ tay văn học khi đọc những bài thơ, bài văn có đoạn miêu tả hay hoặc
những từ ngữ gợi tả hay, hình ảnh sinh động thì ghi lại. Tích luỹ vốn văn học,
ghi chép các câu văn, câu thơ, câu ca dao hay không phải là để học vẹt, để bê
nguyên xi vào bài văn mà là để tham khảo, làm giàu thêm vốn ngôn ngữ, vận
dụng sáng tạo trong bài viết của mình.Việc hướng dẫn học sinh đọc sách, nâng
cao năng lực cảm thụ văn học, tích luỹ dần các tư liệu văn học đã đóng góp một
phần vào việc viết văn hay của học sinh.
3.3. Hướng dẫn các em làm giàu vốn từ ngữ.
- Giáo viên cần có biện pháp làm giàu vốn từ ngữ cho học sinh qua từng
bài đọc, từng bài tập ở các môn Tập đọc, Kể chuyện, Luyện từ- câu cùng chủ
điểm. Tạo cho học sinh thói quen quan sát, đánh giá, nhìn nhận một sự vật, một
cảnh vật hay một con người nào đó và thể hiện những điều đã quan sát và đánh
4


giá được bằng vốn từ ngữ, ngôn ngữ của mình, kịp thời điều chỉnh những lỗi về
dùng từ, viết câu, làm văn...
Làm giàu vốn từ cho học sinh thông qua các phân môn Tiếng Việt. Phân
môn Tập đọc giúp các em hiểu được hiểu được nội dung của các đoạn văn, khổ
thơ có ý nghĩa miêu tả (cảnh vật, con người,...). Mỗi tiết dạy Tập đọc nên thêm
một vài câu hỏi về thể loại, bố cục và trình tự miêu tả của tác giả để học sinh
thấm dần về Tập làm văn miêu tả.
Môn Luyện từ- câu là môn có thể giúp học sinh làm giàu vốn từ nhiều
nhất khi dạy các tiết Mở rộng vốn từ. Trong các tiết này có các bài tập mở rộng
vốn từ rất cụ thể, thiết thực như tìm từ, ghép từ, phát hiện từ miêu tả, dùng từ đặt
câu, sắp xếp các từ thành nhóm miêu tả như nhóm từ ngữ miêu tả ngoại hình,
nhóm từ ngữ miêu tả đặc điểm cảnh vật, nhóm miêu tả hoạt động,...
Đặc biệt ở chính phân môn Tập làm văn, giáo viên có thể giúp học sinh làm
giàu vốn từ theo các đề tài nhỏ:
Ví dụ 1:
Tìm từ láy gợi tả âm thanh trên dòng sông (bì bõm, ì oạp, ì ầm, xôn xao,
ào ào...)
Ví dụ 2:
Tìm những hình ảnh so sánh để so sánh với dòng sông: dòng sông như dải
lụa, dòng sông như con trăn khổng lồ, dòng sông như người mẹ hiền ôm ấp đồng
lúa chín vàng...
Sau khi học sinh đã có một vốn từ nhất định, giáo viên giúp học sinh các
cách sử dụng vốn từ trong miêu tả như: sử dụng từ láy, sử dụng tính từ tuyệt đối
(đỏ mọng, đặc sệt, trong suốt...), sử dụng các biện pháp nghệ thuật (so sánh,
nhân hoá, ẩn dụ...).
Ví dụ 1: Cho các từ “ríu rít, líu lo, liếp chiếp, rộn ràng, tấp nập, là là, từ từ...”
Hãy chọn từ thích hợp điền vào chỗ trống trong đoạn văn sau: “Tiếng
chim... báo hiệu một ngày mới bắt đầu. Ông mặt trời... nhô lên sau luỹ tre xanh.
Khói bếp nhà ai... bay trong gió. Đàn gà con... gọi nhau,...theo chân mẹ. Đường
làng đã... người qua lại.”
Ví dụ 2: Hãy chọn từ ngữ thích hợp trong ngoặc điền vào chỗ trống để được các
câu văn có hình ảnh so sánh phù hợp nhất (tiếng chuông, chùm sao, thuỷ tinh,
dải lụa, giọng bà tiên).
- Hoa xoan nở từng chùm trông giống như... ( những chùm sao )
- Nắng cứ như...xối xuống mặt đất.
( thuỷ tinh )
- Giọng bà trầm ấm ngân nga như...
( tiếng chuông )
Ở ví dụ 1 và ví dụ 2, cho số từ nhiều hơn số chỗ trống cần điền, buộc HS
phải suy nghĩ kĩ hơn khi chọn từ.
3.4. Bồi dưỡng tình cảm, mĩ cảm.
Việc bồi dưỡng tình cảm, mĩ cảm rất cần thiết để học sinh viết được bài văn
hay, nếu không có tình cảm đúng thì khó có thể viết được bài văn hay. Tả một
hàng cây bên đường nếu học sinh không yêu hàng cây ấy, chưa thấy đó là kết
quả của bao nhiêu công sức thì bài văn tả hàng cây không có hồn. Nếu các em
5


yêu hàng cây ấy thì khi quan sát các em sẽ thấy nhiều nét đẹp. Các em sẽ vui
mừng khi thấy hàng cây nảy nhiều chồi non, cành lá xum xuê…Đối với giáo
viên khi dạy các bài văn, bài thơ miêu tả về cảnh đẹp quê hương, đất nước và
con người cần phải hướng dẫn, phân tích tỉ mỉ cách tả, cách sử dụng tà ngữ, hình
ảnh… để tăng vốn hiểu biết cho các em; để các em biết nhìn cái đẹp, các em sẽ
thêm yêu quê hương, đất nước, yêu những danh lam thắng cảnh.
3.5. Cá thể hoá hoạt động dạy học
- Tôi luôn quan tâm đến đối tượng học sinh tiếp thu chậm đồng thời vẫn
đảm bảo phát triển năng lực cảm thụ văn học đối với học sinh có năng khiếu.
Ví dụ : Khi học sinh đặt câu nêu cảm nghĩ của mình ở phần kết bài, giáo
viên phải quan tâm đến từng em. Đối với học sinh tiếp thu chậm, giáo viên phải
hướng dẫn cụ thể cho các em bằng những gợi ý như:
+ Em hãy nói tình cảm của mình đối với ngôi trường (yêu, ghét)? (Em rất
yêu ngôi trường).
+ Em thể hiện tình yêu đó bằng những việc làm như thế nào ? (Em trồng
cây, chăm sóc bồn hoa để trường em ngày càng đẹp hơn hay Em không bao giờ
bẻ cành hay hái hoa trong bồn của nhà trường)
- Tuyệt đối không được hướng dẫn học sinh một cách đồng loạt để các em
có những câu văn nghĩa chung chung như: “Cô giáo em có mái tóc đen huyền,
mượt như nhung. Đôi mắt cô đen trong và sáng long lanh. Nước da của cô trắng
mịn màng” hay “ Trường em mái tôn đỏ tươi. Cột cờ cao chót vót. Trên đỉnh cột
cờ, lá cờ đỏ sao vàng bay phấp phới. Giờ ra chơi, các bạn ùa ra khỏi lớp như
bầy ong vỡ tổ”
Phải hướng dẫn để học sinh tìm ra những nét đặc sắc của cảnh. Những nét
đặc sắc đó giúp người đọc hình dung được cảnh vật cụ thể mà không lẫn lộn với
cảnh vật khác.
Ví dụ: Để hướng dẫn học sinh tả ngôi trường thân yêu, tôi cho học sinh
quan sát, tìm ý và chọn những chi tiết mà chỉ trường tôi mới có: “ Ngôi
trường của em không giống bất cứ một ngôi trường Tiểu học nào. Đó là một
ngôi trường cao tầng kiên cố cách quảng trường Lam Sơn không xa. Mùa nào
ngôi trường cũng đẹp nhưng ngôi trường đẹp nhất vào mỗi độ thu về. Đây là
ngôi trường được xây dựng với sự giúp đỡ của hội hữu nghị Việt - Nhật từ rất
lâu rồi”.
3.6. Xác định yêu cầu trọng tâm đề bài
Bài văn của học sinh được viết theo một đề bài cụ thể, cho nên yêu cầu
hàng đầu là các em phải viết đúng đề bài. Một đề bài đưa ra cho học sinh viết
thường ẩn chứa đến 3 yêu cầu: yêu cầu về thể loại (kiểu bài), yêu cầu về nội
dung, yêu cầu về trọng tâm.
Ví dụ: Đề bài ở tuần 4 lớp 5
Tả cảnh một buổi sáng (hoặc trưa, chiều) trong một vườn cây (hay trong
công viên, trên đường phố, trên cánh đồng, nương rẫy.

6


Khi xác định yêu cầu trọng tâm của đề bài, giáo viên phải làm sao giúp học
sinh hiểu được rằng việc viết đúng yêu cầu của đề bài là yếu tố quyết định nội
dung bài viết:
Với đề bài trên, ẩn chứa 3 yêu cầu sau:
a. Yêu cầu về thể loại của đề là: Miêu tả (thể hiện ở từ “Tả”).
b. Yêu cầu về nội dung là: Buổi sáng (hoặc trưa, chiều) thể hiện ở cụm từ
“cảnh một buổi sáng (hoặc trưa, chiều)”.
c. Yêu cầu về trọng tâm là: Ở trong một vườn cây (hay trong công viên….).
Trong thực tế, không phải đề bài nào cũng xác định đủ 3 yêu cầu. Như đề
bài “Tả một cơn mưa” chỉ có yêu cầu về thể loại và nội dung. Với đề bài này,
giáo viên cần giúp học sinh tự xác định thêm yêu cầu về trọng tâm của bài viết.
Chẳng hạn “Tả một cơn mưa khi em đang trên đường đi học”...
Việc xác định đúng trọng tâm của đề sẽ giúp cho bài viết được thu hẹp nên
các em có được ý cụ thể, chính xác, tránh việc viết tràn lan, chung chung,...
3.7. Hướng dẫn học sinh biết cách quan sát, tìm ý, sắp xếp, diễn đạt ý.
Miêu tả là vẽ lại bằng lời những đặc điểm nổi bật của cảnh, của người để
giúp người nghe, người đọc hình dung được các đối tượng ấy (Tiếng Việt 4 tập
1, trang 140), tức là lấy câu văn để biểu hiện các đặc tính, chân tướng sự vật,
giúp người đọc như được nhìn tận mắt, sờ tận tay vào sự vật miêu tả. Vì vậy, khi
dạy văn miêu tả, giáo viên cần chú ý hướng dẫn học sinh quan sát và miêu tả
theo các trình tự hợp lý :
a. Tả theo trình tự không gian:
Quan sát toàn bộ trước rồi đến quan sát từng bộ phận, tả từ xa đến gần, từ
ngoài vào trong, từ trái qua phải,... (hoặc ngược lại). Ở lớp 4, lớp 5 trình tự này
được vận dụng khi miêu tả loài vật, đồ vật, cảnh vật,...
Ví dụ 1:
Tả từ ngoài vào trong: “ Đền Thượng nằm chót vót trên đỉnh núi Nghĩa
Lĩnh. Trước đền, những khóm hải đường đâm bông rực đỏ, những cánh bướm
nhiều màu sắc bay dập dờn như đang múa quạt xoè hoa. Trong đền dòng chữ
vàng Nam Quốc Sơn Hà uy nghiêm đề ở bức hoành phi treo chính giữa.”
Ví dụ 2:
Tả từ dưới lên trên “ Cây hồi thẳng, cao, tròn xoe. Cành hồi giòn, dễ
gãy hơn cành khế. Quả hồi phơi mình xoè trên mặt lá đầu cành” (Rừng hồi
xứ Lạng).
b. Tả theo trình tự thời gian
Cái gì xảy ra trước (có trước) thì miêu tả trước. Cái gì xảy ra sau (có sau)
thì miêu tả sau. Trình tự này thường được vận dụng khi làm Tập làm văn miêu tả
cảnh vật hay tả cảnh sinh hoạt của người .
Ví dụ 1:
“...Buổi chiều, xe dừng lại ở một thị trấn nhỏ. Nắng phố huyện vàng hoe.
Những em bé Hmông, những em bé Tu Dí, Phù Lá cổ đeo móng hổ, quần áo sặc
sỡ đang chơi đùa trước cửa hàng. Hoàng hôn, áp phiên của phiên chợ thị trấn,
người ngựa dập dìu chìm trong sương núi tím nhạt” (Đường đi Sa Pa- Tiếng Việt 4).
7


Ví dụ 2:
“Thảo quả trên rừng Đản Khao đã chín nục. Chẳng có thứ quả nào hương
thơm lại ngây ngất kì lạ đến như thế. Mới đầu xuân năm kia, những hạt thảo quả
gieo trên đất rừng qua một năm, đã lớn cao đến bụng người. Một năm sau nữa,
từ một thân lẻ, thảo quả đâm thêm hai nhánh mới. Sự sinh sôi sao mà mạnh mẽ
vậy.” ( Mùa thảo quả - Tiếng Việt 5 tập I)
c. Tả theo trình tự tâm lí
Khi quan sát cần thấy những đặc điểm riêng, nổi bật nhất, thu hút và gây
cảm xúc mạnh nhất đến bản thân thì quan sát trước, tả trước, các bộ phận khác tả
sau. Khi miêu tả đồ vật, loài vật, tả người nên vận dụng trình tự này nhưng chỉ
nên tả những điểm đặc trưng nhất, không cần phải tả đầy đủ chi tiết như nhau
của đối tượng.
Ví dụ 1:
“ Bà tôi ngồi cạnh tôi chải đầu. Tóc bà đen và dày kì lạ, phủ kín cả hai vai,
xoã xuống ngực, xuống đầu gối. Một tay khẽ nâng mớ tóc lên và ướm trên tay,
bà đưa một cách khó khăn chiếc lược thưa bằng gỗ vào mớ tóc dày.
Giọng bà trầm bỗng, ngân nga như tiếng chuông. Nó khắc sâu vào trí nhớ
tôi dễ dàng, và như những đoá hoa, cũng dịu dàng, rực rỡ, đầy nhựa sống. Khi
bà mỉm cười, hai con ngươi đen sẫm nở ra long lanh, dịu hiền khó tả,...” (Bà Tôi
- Tiếng Việt 5 tập 1).
Tác giả đã quan sát và tập trung tả mái tóc, giọng nói rồi đến ánh mắt, mái
tóc “dày kì lạ”.
Ví dụ 2:
“Sầu riêng là loại trái quý ở miền Nam. Hương vị của nó hết sức đặc biệt,
mùi thơm đậm, bay rất xa... Hoa sầu riêng trổ vào cuối năm... Hoa đậu từng
chùm màu trắng ngà. Đứng ngắm cây sầu riêng, tôi cứ nghĩ mãi về dáng cây kì
lạ này. Thân nó khẳng khiu, cao vút, cành ngay thẳng đuột...” (Sầu riêng - Tiếng
Việt 4).
Tác giả đã tả nét đặc sắc nhất của quả, hoa và dáng cây sầu riêng. Ngoài
các trình tự miêu tả trên, giáo viên cần hướng dẫn và rèn luyện cho học sinh kĩ
năng sử dụng các giác quan (thính giác, thị giác, xúc giác, vị giác,...) để quan
sát, cảm nhận sự vật, hiện tượng miêu tả.
Ví dụ 3:
Phân tích bài “Mưa rào” (Tiếng Việt 5- Tập 1- Trang 33) ta thấy tác giả đã
quan sát bằng các giác quan như sau:
- Thị giác: Thấy những đám mây biến đổi trước cơn mưa, thấy mưa rơi.
- Xúc giác: Gió bỗng thấy mát lạnh, nhuốm hơi nước.
- Khứu giác: Biết được mùi nồng ngai ngái, xa lạ man mác của những trận
mưa đầu mùa.
- Thính giác: Nghe thấy tiếng gió thổi, tiếng mưa rơi, tiếng sấm, tiếng hót
của chào mào.
Bên cạnh việc quan sát là việc tìm ý và sắp xếp ý, một trong những
nguyên tắc trong việc sắp xếp ý là phải xác định được trọng tâm của bài để từ đó
8


sắp xếp và chọn lọc ý cho đúng với trọng tâm. Nếu bài văn tả cảnh đẹp thì phải
chọn đường nét đẹp, màu sắc đẹp, âm thanh hay còn những yếu tố khác không
phục vụ cho ý chủ đạo đó thì không đưa vào. Hoặc nếu tả cây bàng thì trọng tâm
là thân, cành, lá, quả… còn ánh nắng, chim chóc, hoạt động của người vẫn cần
tả nhưng là phụ.
Có nhiều cách sắp xếp bố cục khác nhau, có thể sắp xếp theo trình tự thời
gian hay không gian, cũng có khi kết hợp cả thời gian không gian, tâm lí trong
một đoạn văn, bài văn. Giáo viên cần hướng dẫn học học sinh biết cách đặt sự
vật, đối tượng miêu tả trong nhiều mối quan hệ: Quan hệ khách quan, quan hệ
nội tại. Tìm hiểu được mối quan hệ bài văn sẽ có nhiều chi tiết riêng, tả được cái
thần, cái hồn của đối tượng. Từ đó lựa vào bài viết được chi tiết trọng tâm. Tôi
còn hướng dẫn học sinh biết dùng phép đặc tả để làm nổi bật trọng tâm. Đặc tả
không phải chỉ tả một chi tiết mà phải tả toàn diện tuy nhiên đặc biệt ưu tiên cho
chi tiết đặc sắc, chi tiết đó làm nổi bật bản chất sự vật.
Đề bài: Hãy miêu tả hình dáng, tính tình của một người bạn học giỏi,
chăm ngoan được nhiều người yêu quý.
Học sinh quan sát, viết nhanh ra giấy những điều mà mình quan sát được.
Ví dụ:
+ Bạn Thu Nga học chung lớp với em.
+ Bạn học giỏi, chăm ngoan nên được nhiều người yêu quý.
+ Chúng em chơi than với nhau từ lớp Một.
+ Em sẽ cố gắng làm những điều thật tốt để tình bạn của chúng em mãi
mãi bền lâu.
+ Những ngày bạn nghỉ học, em cảm thấy rất nhớ.
+ Bạn có nước da trắng hồng, mịn màng.
+ Bạn hay phát biểu và hiểu bài rất nhanh nên được thầy, cô và các
bạn khen ngợi.
+ Bạn rất hay cười.
+ Mái tóc bạn không đen như tóc em mà hoe vàng.
+ Bằng tuổi với em nhưng bạn cao hơn em một cái đầu.
+ Nga viết chữ rất đẹp nên bạn luôn được côkhen ngợi.
+ Mỗi khi bạn cười, hai lúm đồng tiền trên má hiện rõ trên khuôn mặt dễ
thương.
+ Bạn không gây gỗ, xích mích với ai bao giờ.
+ Thầy, cô thường lấy bạn để làm gương.
Sau khi tìm ý, cho các em chọn và sắp xếp ý thành các đoạn mở bài, thân
bài, kết bài phù hợp.
Ví dụ:
*Đoạn mở bài
Em và bạn Thu Nga chơi với nhau từ năm lớp Một. Chúng em rất thân
nhau. Mỗi lúc rãnh rỗi, em thường nô đùa với bạn.
* Đoạn thân bài
9


Bằng tuổi em nhưng bạn cao hơn em một cái đầu. Bạn có nước da trắng
hồng, mịn màng. Bạn rất hay cười, mỗi khi bạn cười, hai lúm đồng tiền trên má
hiện rõ trên khuôn mặt dễ thương. Thu Nga có đôi mắt to rất hợp với hàng lông
mi dài, cong. Đôi mắt bạn luôn ánh lên vẻ hồn nhiên, trong sáng. Mái tóc bạn
không đen như tóc em mà hoe vàng. Nga viết chữ rất đẹp, bạn luôn được cô
khen ngợi là cô bé có đôi bàn tay “diệu kì.”Cô thường lấy bạn ra làm gương
cho chúng em noi theo để rèn chữ đẹp. Không những viết đẹp mà bạn còn
thông minh hiểu bài rất nhanh. Bạn luôn là trung tâm đoàn kết của tập thể lớp
5A3….
* Đoạn kết bài:
Mỗi khi vắng Thu Nga, nhất là những ngày bạn nghỉ học, em cảm thấy
rất nhớ. Em sẽ cố gắng học những điểm tốt từ bạn để tình bạn của chúng em
ngày càng gắn bó keo sơn.
Giáo viên cần lưu ý cho học sinh mục đích của từng đoạn văn.
- Đoạn mở bài có tác dụng giới thiệu cho người đọc, người nghe biết xuất
xứ nhân vật.
- Đoạn thân bài là bức tranh vẽ bằng ngôn ngữ về hình dáng, đường nét,
cử chỉ, hoạt động, tính nết của nhân vật. Có chọn được những chi tiết đặc sắc,
tiêu biểu thì ta mới nhận ra nhân vật đó mang những cá tính riêng. Bạn học sinh
trong bài là một học sinh học giỏi, chăm ngoan với những đặc điểm riêng, cá
tính riêng không lẫn lộn với bất cứ bạn học sinh nào khác.
- Đoạn kết bài mang đậm dấu ấn cá nhân của người viết. Không thể có đoạn
kết bài chung cho mọi học sinh. Giáo viên cần hướng dẫn học sinh nêu được cảm
xúc tự nhiên, chân thật, không sáo rỗng kiểu như: Em rất yêu quý bạn…
3.8. Giúp học sinh luyện viết câu văn có hình ảnh.
Hướng dẫn học sinh biết dùng dấu câu đúng, nhất là dấu chấm và dấu
phẩy. Ngắt câu đúng sẽ diễn đạt rõ ràng, người đọc, người nghe dễ dàng tiếp
nhận thông tin. Tôi đưa ra các trường hợp sử dụng dấu câu chưa đúng để cả lớp
nhận xét. Ví dụ:
+ Trong lớp em ai cũng mến bạn Loan.
+ Cột cờ cao chót vót lá cờ đỏ sao vàng phấp phới tung bay.
+ Sân trường mát rượi bởi bóng của những cây bàng cây phượng.
Học sinh trao đổi, sửa chữa:
+ Trong lớp em, ai cũng mến bạn Loan.
+ Cột cờ cao chót vót, lá cờ đỏ sao vàng phấp phới tung bay.
+ Sân trường mát rượi bởi bóng của những cây bàng, cây phượng.
Khi các em đã biết viết câu văn đúng ngữ pháp. Tôi nâng cao lên một
bước hướng dẫn các em viết câu văn hay, vì diễn đạt câu văn không có hình ảnh
và không có sử dụng biện pháp nghệ thuật so sánh, nhân hóa..thì câu văn trở nên
khô khan, tẻ nhạt khó thu hút người đọc do đó trong các tiết luyên từ và câu tôi
hướng dẫn kĩ các em luyện tập qua các bài tập rèn kĩ năng viết đoạn văn. Tôi
luôn gợi ý các em lập ý trước khi viết thành lời văn cụ thể.
Ví dụ1: Bài tập 3 trang 88 Tiếng Việt 5 tập 1
10


Tôi gợi ý như sau:
+ Em chọn từ ngữ nào trong mẫu chuyện trên?
+ Quê em có hình ảnh gì đẹp? ( học sinh kể: dòng sông, lũy tre, con đê,
cảnh đồng…)
+ Em hãy đặt câu có sử dụng biên pháp so sánh, nhân hóa và phải biết bộc
lộ tình cảm của mình về quê hương trong câu văn.
Ví dụ 2: Miêu tả mái tóc của một bạn:
+ Với học sinh chậm tôi giúp các em viết câu đúngngữ pháp: Tóc bạn
Loan đen nhánh.
+ Với học sinh có năng khiêu tôi hướng dẫn các em viết câu có hình ảnh:
Loan có mái tóc đen nhánh, óng ả, xoã ngang vai mà không thể lẫn lộn với bất
cứ bạn nào trong lớp được.
3.9. Chấm bài và trả bài viết
Chương trình Tập làm văn lớp 5 có 3 tiết trả bài tả cảnh, 3 tiết trả bài tả
người, 4 tiết trả bài kể chuyện, đồ vật, cây cối, con vật. Ta nhận thấy rằng có
chấm bài chu đáo thì mới có tiết trả bài đạt hiệu quả.
a. Chấm bài
Khi chấm bài Tập làm văn cho học sinh, mỗi bài tôi đọc qua một lượt để có
cái nhìn chung về bố cục, về diễn đạt của học sinh, xem thử học sinh đã làm bài
đúng thể loại, nội dung và trọng tâm bài viết chưa. Tôi ghi ra sổ chấm bài những
chỗ hay, chưa hay hoặc sai những lỗi gì...của từng HS.
Khi chấm điểm xong cho cả lớp, tôi đánh giá chung kết quả bài làm của
học sinh và rút ra những tiến bộ cần phát huy, và những thiếu sót cần sửa chữa
bổ sung để chuẩn bị cho tiết trả bài sắp tới…..
b. Trả bài viết
Nội dung, phương pháp lên lớp một tiết trả bài Tập làm văn viết lớp 5,
theo sách giáo khoa xác định có 3 hoạt động chính:
1. Nghe thầy (cô) nhận xét chung về kết quả bài làm của lớp.
2. Chữa bài.
3. Đọc tham khảo các bài văn hay được thầy (cô) giáo khen để học tập và rút
kinh nghiệm (TV5- T1- T53).
Để tiết trả bài viết đạt hiệu quả, tôi lấy thông tin từ bài viết của học sinh (đã
chấm và ghi ở sổ chấm bài) và thực hiện các hoạt động trả bài một cách bài bản,
có linh hoạt tuỳ theo tình hình chất lượng Tập làm văn của lớp.
Hoạt động 1: Nhận xét chung về bài làm của lớp gồm các bước sau:
Bước 1: Đánh giá việc nắm vững các yêu cầu của đề bài (ghi đề, học sinh
đọc đề bài, xác định 3 yêu cầu: thể loại, nội dung và trọng tâm). Đánh giá tình
hình làm bài của lớp về mặt nhận thức đề (số bài đã đạt 3 yêu cầu của đề, số bài
chưa đạt hoặc đạt chưa đủ 3 yêu cầu. Biểu dương cá nhân, cả lớp...).
Bước 2: Đánh giá về nội dung bài viết (cho học sinh nêu dàn ý chung của
kiểu bài tả cảnh,( tả người )… Đọc một vài đoạn văn đã chọn sẵn cho học sinh
nghe và nhận xét, cuối cùng giáo viên đánh giá chung về nội dung đoạn văn đó.
Hoạt động 2: Chữa bài:
11


Nội dung và cách thức thực hiện sửa chữa lỗi diễn đạt:
- Việc sửa chữa lỗi diễn đạt dựa trên cơ sở bài làm của cả lớp mà trong
quá trình chấm bài, GV đã ghi ra các câu có vấn đề về ngữ pháp, các lỗi chính tả
… Đến lúc này GV tổ chức, hướng dẫn cho HS nhận xét, sửa chữa. Định hướng
như vậy sẽ giúp cho việc sửa chữa lỗi sát hợp và kịp thời uốn nắn kĩ năng diễn
đạt cho lớp. Tuy nhiên, sửa như vậy sẽ dẫn đến tình trạng nhàm chán trong HS
vì tiết trả bài nào cũng sửa chữa những lỗi đó.
- Riêng tôi, ngay từ đầu năm học đã lên kế hoạch sửa lỗi diễn đạt cho lớp,
mỗi tiết trả bài viết tập trung sửa chữa cho một hoặc hai loại lỗi nào đó một cách
bền vững, tức là cần có trọng tâm sửa lỗi cho từng tiết.
Bước 1: Tham gia chữa lỗi chung cho cả lớp:
Ví dụ:
Tiết trả bài viết số 1(tả cảnh, tuần 5) : Trọng tâm sửa lỗi là dùng từ, đặt
câu và thực trạng viết câu.
Bước 2: Học sinh đọc lại bài làm của mình, chú ý những chỗ mực đỏ ghi
lời khen, chê của cô giáo. ( Ví dụ : câu hay, đoạn hay, hoặc lỗi dùng từ, lỗi viết
câu, lỗi chính tả…)
Bước 3: Học sinh tự chữa bài vào vở tập làm văn.
Hoạt động 3: Đọc tham khảo một số đoạn, hoặc vài bài văn hay của một số em
cho cả lớp nghe để học tập và rút kinh nghiệm.
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục với bản
thân, đồng nghiệp và nhà trường.
Qua những biện pháp tôi đã áp dụng được nêu ở trên, đến giữa học kì 2
năm học 2016 – 2017 các em đã nắm được một số kĩ năng nhất định để học có
hiệu quả phân môn Tập làm văn. Cả lớp đều ham thích môn học, không sợ sệt
khi đến tiết Tập làm văn như đầu năm học nữa. Bài làm của các em đa số đã có
tiến bộ, học sinh nắm được cách sắp xếp ý, bố cục chặt chẽ, dùng từ chính xác,
viết câu văn trôi chảy, mạch lạc, bước đầu có hình ảnh, cảm xúc, hiểu và vận
dụng khá tốt các biện pháp tu từ trong các bài tập làm văn của mình. Các em
cảm thụ được bài văn, đọc bài trôi chảy, hiểu đúng nội dung bài, nhất là rất tự tin
khi đến tiết học Tập làm văn.
Năm học 2016- 2017: Sĩ số lớp là 42 học sinh & 46 học sinh
Diễn biến chất lượng phân môn Tập làm văn (Điểm kiểm tra)
Lớp 5A3: 42 học sinh
Hoàn thành
Tốt
Số
Tỉ lệ
lượng
%
Giữa
HKI
Cuối
HKI

Hoàn thành
Số
lượng

Tỉ lệ
%

Lớp 5A4: 46 học sinh
Chưa
hoàn thành
Số
Tỉ lệ
lượng
%

Hoàn thành
Tốt
Số
Tỉ lệ
lượng
%

Hoàn thành
Số
lượng

Tỉ lệ
%

Chưa
hoàn thành
Số
Tỉ lệ
lượng
%

10

23,8

25

59,5

7

16,7

10

21,7

25

54,3

11

24

20

47,6

18

42,8

4

9,6

19

41,3

20

43,4

7

15,3

12


Giữa
HK2

21

50

21

50

0

0

18

39,1

28

60,9

0

0

Diễn biến chất lượng môn Tiếng Việt sau khi áp dụng đề tài này thật đáng
phấn khởi, đây là kết quả của một quá trình phấn đấu của cô giáo và học sinh
lớp 5A3 & 5A4 trường Tiểu học Điện Biên 2. Điểm của phân môn Tập làm văn
đi lên rõ rệt đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng môn Tiếng
Việt của lớp tôi trực tiếp giảng dạy và của tổ chuyên môn.
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Sau một thời gian áp dụng sáng kiến kinh nghiệm vào giảng dạy, tôi nhận
thấy để nâng cao chất lượng học phân môn tập làm văn người giáo viên cần làm
tốt các việc sau:
- Tìm hiểu kỹ đối tượng học sinh, đặc điểm tâm lý của học sinh, hiểu và
nắm chắc đặc điểm, chức năng của văn miêu tả. Giáo viên cần giúp các em hiểu
rõ các đặc điểm ấy ngay từ tiết đầu tiên của thể loại văn miêu tả.
- Hiểu rõ Tập làm văn là phân môn thực hành tổng hợp của tất cả các
phân môn.
thuộc môn Tiếng việt nên muốn học sinh học tốt phân môn này giáo viên
phải hướng dẫn các em học tốt các phân môn còn lại.
- Giáo viên cần chuẩn bị chu đáo trước khi lên lớp, để khi thực hiện kế
hoạch bài học trên lớp, giáo viên chủ động sử dụng linh hoạt các phương pháp
dạy học giúp học sinh tiếp thu bài nhẹ nhàng, mà hiệu quả.
- Trong giờ học giáo viên nên khéo léo lồng vào để đọc cho học sinh
nghe các câu văn, câu thơ có sử dụng các biện pháp nghệ thuật, cung cấp cho
các em những đoạn văn mẫu…giúp các em mở rộng vốn từ, vốn hiểu biết để từ
đó các em học tập vận dụng vào bài của mình.
- Giáo viên cần coi tiết trả bài như một khâu không thể thiếu trong việc
rèn kĩ năng viết bài văn cho các em. Bởi trả bài là tiết học mà giáo viên
dành nhiều thời gian để sửa lỗi cho học sinh, giúp học sinh điều chỉnh
những sai sót mắc phải trong bài viết để bài viết sau sẽ hoàn chỉnh hơn,
hấp dẫn hơn.
- Giáo viên phải không ngừng học hỏi, sáng tạo trong giảng dạy, đem hết
khả năng và niềm đam mê, lòng nhiệt tình cho công tác thì mới có được những
kết quả như mong muốn.
- Không phải ai sinh ra cũng mang sẵn trong mình một tâm hồn văn
chương mà khả năng ấy phải được bồi đáp dần qua năm tháng, qua trang sách và
những bài giảng hàng ngày của thày cô. Muốn có được khả năng ấy của mỗi học
sinh thì chính mỗi giáo viên phải định hướng, gợi mở cho các em phương pháp
học tập như những cây non được ươm trồng cần bàn tay con người chăm sóc,
vun xới thì nó sẽ trở nên tươi tốt. Với học sinh lớp 5, các em không thể vừa bắt
tay vào viết văn đã có được những dòng văn hay mà văn hay là kết quả của một
quá trình rèn luyện liên tục, bền bỉ, dẻo dai. Văn hay không thể có được ở những
học trò lơi là đèn sách. Với tinh thần đó, việc rèn kỹ năng làm văn miêu tả cho
13


học sinh lớp 5 vừa nhằm mục đích nâng cao năng lực viết văn vừa nhằm nâng
cao ý thức tự rèn luyện của học sinh. Đó chính là động lực thúc đẩy tôi nghiên
cứu sáng kiến kinh nghiệm này.
Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến xậy dựng của các cấp lãnh đạo,
quý thầy cô và các bạn đồng nghiệp lớp 5.
2.Kiến nghị
Với những kết quả ban đầu thu được sau một thời gian áp dụng sáng kiến
kinh nghiệm “Một số phương pháp rèn kĩ năng làm văn miêu tả cho học sinh
lớp Năm”, tôi đề nghị Nhà trường tổ chức khảo nghiệm và có ý kiến góp ý, chỉ
đạo để tôi tiếp tục hoàn chỉnh đề tài, góp phần nâng cao chất lượng dạy học
Tiếng Việt nói chung, phân môn Tập làm văn nói riêng cho học sinh lớp Năm.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Thanh Hóa, ngày 12 tháng
4năm2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nôi dung
của người khác.
Người viết

Lương Thị Thoa

14


TÀI LIỆU THAM KHẢO
STT

Tên tài liệu tham khảo

Tác giả

Nhà xuất bản

1

Sách giáo khoa, sách giáo
viên Tiếng Việt Lớp 5

Nguyễn Minh Thuyết
( chủ biên)

Nhà XBGD

2

Sách giáo khoa, sách giáo
viên Tiếng Việt Lớp 4

Nguyễn Minh Thuyết
( chủ biên)

Nhà XBGD

3

Luyện viết văn miêu tả ở
Tiểu học tập 1,2

Vũ Khắc Tuân

Nhà XBGD

15


DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN

Họ và tên tác giả:

Lương Thị Thoa

Chức vụ và đơn vị công tác:Giáo viên Trường Tiểu học Điện Biên 2.

TT

Tên đề tài SKKN

Cấp đánh
giá xếp loại
(Phòng, Sở,
Tỉnh...)

Kết quả
đánh giá
xếp loại
(A, B,
hoặc C)

Năm học đánh
giá xếp loại

A

2007 - 2008

B

2007 - 2008

B

2012 - 2013

A

2015 - 2016

Một vài biện pháp tạo hứng thú
1.

học tập cho học sinh trong giờ
luyện từ và câu lớp 5.

2.

Sở giáo dục

học tập cho học sinh trong giờ

và đào tạo
TH.

Một số biện pháp tạo hứng thú học
tập cho học sinh trong giờ luyện từ
và câu lớp 5.

4.

dục TPTH

Một vài biên pháp tạo hứng thú
luyện từ và câu lớp 5.

3.

Phòng giáo

Rèn kỹ năng đọc cho học sinh lớp
5 qua tiết tập đọc.

Phòng giáo
dục TPTH
Phòng giáo
dục TPTH

16



x

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×