Tải bản đầy đủ

Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 biết dùng hình ảnh so sánh khi làm tập làm văn

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 BIẾT DÙNG HÌNH
ẢNH SO SÁNH KHI HỌC TẬP LÀM VĂN

Họ và tên: Trịnh Thị Hương Thủy
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị: Trường Tiểu học Lý Tự Trọng
SKKN thuộc lĩnh vực: Tiếng Việt

1


THANH HOÁ NĂM 2017
MỤC LỤC
I. Mở đầu
1.1. Lí do chọn đề tài
1.2. Mục đích nghiên cứu

1.3. Đối tượng nghiên cứu
1.4.Phương pháp nghiên cứu
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
2.2. Thực trạng vấn để trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
2.2.1. Đặc điểm tình hình
2.2.2. Thực trạng về công tác dạy học sinh dùng hình ảnh so sánh trong
viết văn.
2.2.3. Nội dung chương trình Tập làm văn liên quan đến dùng hình ảnh
so sánh trong bài viết và thực trạng viết văn của học sinh lớp 3
2.2.4. Kết quả khảo sát
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
2.3.1. Hướng dẫn học sinh quan sát sự vật một cách tinh tế
2.3.2. Dạy kiến thức về biện pháp so sánh ở phân môn luyện từ và câu.
2.3.3. Bồi dưỡng trí tưởng tượng, óc liên tưởng cho học sinh.
2.3.4. Hướng dẫn học sinh vận dụng các kiểu so sánh vào viết tường
câu văn, đoạn văn.
2.3.5. Hướng dẫn học sinh tích lũy những hình ảnh so sánh trong thơ,
văn; trong cuộc sống
2.3.6. Giáo dục ý thức nói và viết câu văn có hình ảnh so sánh thông
qua dạy học tích hợp các phân môn Tiếng Việt với rèn kĩ năng sống
hằng ngày
2.3.7. Mối quan hệ giữa các giải pháp
2.3.8. Kiểm nghiệm kết quả nghiên cứu
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
3.2. Đề xuất

Trang
1
1
2
2
2
2
2
3
3
3
4

4
5
5
6
9
10
11
15

16
16
18
18
18

1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài.
Tiếng Việt là tiếng nói phổ thông, tiếng nói dùng trong giao tiếp của các
dan tộc trên đất nước Việt Nam. Bởi vậy dạy Tiếng Việt có vai trò quan trọng
2


trong đời sống của mỗi con người. Những thay đổi quan trọng trong đời sống
văn hóa – giáo dục đều có liên quan đến dạy Tiếng Việt. Trong đó việc dùng
biện pháp tu từ so sánh góp một phần làm nên điều đó. Mặt khác, giúp học sinh
biết dùng hình ảnh so sánh để viết văn là một hoạt động quan trọng trong chuỗi
các hoạt động dạy học nhằm làm tốt các đoạn văn, bài văn ở học sinh Tiểu học.
Viết thành những đoạn văn, bài văn là kết quả của một quá trình lĩnh hội kiến
thức tổng hợp môn Tiếng Việt. Một bài văn, đoạn văn hay không thể thiếu đi các
biện pháp nghệ thuật. So sánh là một biện pháp nghệ thuật phổ biến trong văn
chương, là cách nói ví von quen thuộc trong cuộc sống. So sánh được coi là một
trong những phương thức tạo hình, gợi cảm hiệu quả nhất, có tác dụng lớn trong
việc tái tạo đời sống, hình thành và phát triển trí tưởng tượng, óc quan sát và khả
năng nhận xét, đánh giá của con người. So sánh còn làm cho tâm hồn và trí tuệ
con người thêm phong phú, cảm nhận văn học và cuộc sống thêm tinh tế và sâu
sắc hơn. Đối với học sinh Tiểu học, biện pháp nghệ thuật chủ yếu trong các đoạn
văn, bài văn các em viết là biện pháp so sánh. Việc sử dụng biện pháp so sánh
khi làm văn sẽ giúp các đoạn văn, bài văn của các em thêm sinh động, gợi hình
ảnh, âm thanh, cảm xúc và cả sự ngộ nghĩnh, đáng yêu. Khi chấm bài, chúng ta
vẫn thường gặp các hình ảnh so sánh quen thuộc như: “Chú mèo có đôi mắt tròn
như hòn bi ve”, hay “Đầu Mi-lu giống như một quả đu đủ”. Đôi khi chúng ta
còn bắt gặp những hình ảnh so sánh khập khiễng như: “Mặt cô giáo giống như
quả xoài”,“Mái tóc của bà em dài như những đám mây”.
Biện pháp so sánh được đưa vào chương trình học môn Tiếng Việt bắt đầu
từ lớp 3. Đối với phân môn Tập làm văn, các em học sinh lớp 3 chưa viết thành
từng bài văn hoàn chỉnh mà mới chỉ tập viết từng đoạn. Việc viết được một đoạn
văn đúng yêu cầu đề bài các em có thể đáp ứng được, song việc viết được những
đoạn văn có những hình ảnh so sánh thì các em còn nhiều lúng túng. Để giúp
các em học sinh lớp 3 biết viết những đoạn văn giàu hình ảnh so sánh, làm nền
tảng để viết văn tốt ở các lớp trên tôi đã băn khoăn, trăn trở tìm các biện pháp
giúp học sinh lớp 3 biết dùng hình ảnh so sánh khi viết đoạn văn.
3


Với những lí do cơ bản trên cùng với lòng ham thích và mong muốn được
tìm hiểu và học hỏi thêm kinh nghiệm từ các thầy cô giáo, các đồng nghiệp đã
thôi thúc tôi chọn đề tài: “Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 biết dùng hình
ảnh so sánh khi học Tập làm văn”, với hi vọng sẽ đóng góp một phần nhỏ bé
công sức của mình vào việc nâng cao chất lượng môn tập làm văn cho học sinh.
1.2. Mục đích nghiên cứu.
Đề xuất một số giải pháp giúp học sinh lớp 3 biết dùng những hình ảnh so
sánh khi viết các đoạn văn, bài văn.
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
- Công tác giảng dạy các hình ảnh so sánh trong các đoạn văn, bài văn của
học sinh lớp 3.
- Học sinh lớp 3D.
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
- Nghiên cứu các tài liệu liên quan
- Nghiên cứu thực tiễn dạy học
- Thống kê toán học
- So sánh, phân tích, tổng hợp, tư duy.
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Tiếng Việt ở trường Tiểu học được dạy và học thông qua các phân môn:
Đó là: Tập đọc, Chính tả, Tập làm văn, Luyện từ và câu, Tập viết, Kể chuyện.
Một trong các phân môn đó thì phân môn tập làm văn có vị trí đặc biệt quan
trọng bởi nó tận dụng các hiểu biết và kĩ năng Tiếng Việt do các phân môn khác
rèn luyện và cung cấp đồng thời góp phần hoàn thiện chúng. Mặt khác, phân
môn Tập làm văn còn rèn luyện cho HS các kĩ năng trình bày và viết văn bản.
Sản phẩm của phân môn Tập làm văn là các bài văn viết và nói. Để thực hiện
được các văn bản này, HS phải có thêm nhiều kĩ năng khác ngoài các kĩ năng
nghe, nói, đọc, viết. Đó là các kĩ năng dùng từ, đặt câu, phân tích đề, tìm ý, lập
dàn ý, liên kết câu, đoạn và kĩ năng sử dụng các biện pháp tu từ trong đó biện
pháp so sánh.
4


Chúng ta đều biết rằng, chất lượng của một bài văn, nhất là văn miêu tả là
“nói ít gợi nhiều”, chi tiết đưa ra không cần nhiều nhưng phải dẫn đến cảm xúc
mãnh liệt nhất, dẫn đến những hình ảnh sinh động nhất hiện lên trước mắt người
đọc khiến họ nhìn thấy rõ và ấn tượng. Yếu tố tạo nên chất lượng trên là các chi
tiết có góc cạnh, sinh động, thể hiện được cái thần, cái hồn, cái dáng vẻ đặc biệt
của con người, con vật, hoa trái… Để có được những đoạn văn, bài văn như thế,
ngoài sự quan sát có chọn lọc, biết phát hiện, rất cần sự biểu đạt, phô diễn các
chi tiết đã có bằng cách dùng ngôn ngữ, vẽ nó lên trước mắt người đọc, người
nghe. Sử dụng biện pháp so sánh trong làm văn là một cách kết nối giữa cảm
nhận tinh tế của mọi sự vật ở người viết và người đọc.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
2.2.1. Đặc điểm tình hình
Là một trường Tiểu học nằm trên địa bàn Thành phố Thanh Hóa, cơ sở vật
chất cơ bản đáp ứng được nhu cầu đối với phương pháp dạy học. Đội ngũ giáo
viên trẻ, nhiệt tình, năng động, chịu khó và luôn có ý thức trách nhiệm cao trong
công việc. Năm học 2015 – 2016, nhà trường tiếp tục nâng cao hơn nữa chất
lượng dạy và học, đã tổ chức tốt nhiều hình thức học tập để nâng cao chất lượng
đại trà cho HS.
2.2.2. Thực trạng về công tác dạy học sinh dùng hình ảnh so sánh
trong viết văn.
Hoạt động dạy HS viết các hình ảnh so sánh trong các đoạn văn, bài văn được
lồng trong các tiết tập làm văn. Một thức tế cho thấy trong mỗi lớp có nhiều đối
tượng HS khác nhau, việc hướng dẫn các em viết được các đoạn văn không thể dẫn
đến một đáp số đúng như môn toán mà có rất nhiều đáp số khác nhau. Để đạt được
mục tiêu em nào cũng biết viết được một đoạn văn theo yêu cầu đề bài, thay vì phải
mất rất nhiều thời gian, công sức, phần đa số GV cho HS thuộc văn mẫu và viết lại
đoạn, bài đã thuộc. Với cách làm đó, việc giúp HS biết dùng hình ảnh so sánh trong
làm văn cũng mờ nhạt, ít ỏi dần. Việc hướng dẫn con em làm văn ở nhà của các bậc
phụ huynh không được coi trọng, rất ít phụ huynh quan tâm đến việc hướng dẫn
con em mình viết các câu văn có hình ảnh so sánh.
5


2.2.3. Nội dung chương trình Tập làm văn liên quan đến dùng hình
ảnh so sánh trong bài viết và thực trạng viết văn của học sinh lớp 3.
Trong chương trình phân môn Tập làm văn ở lớp 3, các tiết Tập làm văn
được cụ thể thành các bài tập nhỏ. Các bài tập như: Kể lại buổi đầu đi học; Kể
về người hàng xóm; viết đoạn văn về quê hương; viết đoạn văn về cảnh đẹp đất
nước; viết đoạn văn về thành thị, nông thôn; kể về việc học tập của em; kể về
tình cảm của bố mẹ hoặc người thân của em đối với em (Ở học kì I), viết đoạn
văn về người lao động trí óc; kể lại buổi biểu diễn nghệ thuật; kể về lễ hội, kể
lại một trận thi đấu thể thao; viết đoạn văn về bảo vệ môi trường …(Ở học kì
II) là những bài tập yêu cầu HS phải viết thành đoạn văn. Trước khi viết thành
những đoạn văn ngắn, các em được thực hành kể hoặc trả lời các câu hỏi tìm ý
cho đoạn văn. Việc viết thành một đoạn văn ngắn đối với các em HS lớp 3 đã trở
nên quen thuộc vì từ lớp 2 các em đã thực hành viết đoạn văn nhiều lần. Tuy
nhiên, việc đưa vào trong đoạn văn những hình ảnh so sánh chưa nhiều. Một số
em đã viết được hình ảnh so sánh trong đoạn văn nhưng có hình ảnh lại thiếu
chính xác, không phù hợp khiến cho câu văn, đoạn văn trở nên thiếu tự nhiên, gò
bó và ảnh hưởng đến chất lượng đoạn văn.
2.2.4. Kết quả khảo sát
Để kiểm tra chất lượng viết đoạn văn có hình ảnh so sánh, tôi đã tiến hành
cho các em HS lớp 3D làm bài kiểm tra.
Đề bài: Em hãy viết một đoạn văn ngắn về quê hương em.
Kết quả đạt được như sau:
Số đoạn văn có
Tổng số HS

hình ảnh so sánh
hấp dẫn, sinh động

31

0=0%

Số đoạn văn đã có

Số đoạn văn có

hình ảnh so sánh

hình ảnh so sánh

tương đối đảm
bảo phù hợp

6 = 19,4 %

chưa phù hợp,
thiếu chính xác.

12 = 38,7%

Số đoạn văn
chưa có hình ảnh
so sánh.

13 = 41,9%

Kết quả đánh giá một bài tập làm văn trên đây cho thấy chưa có HS nào
viết được đoạn văn có hình ảnh so sánh sinh động, giàu hình ảnh, lôi cuốn người
đọc hoặc gây ấn tượng. Một trong những nguyên nhân dẫn tới kết quả đó là do
6


vốn sống của các em chưa phong phú, vốn từ còn nghèo nàn, chưa có kĩ năng
viết câu có hình ảnh so sánh trong đoạn văn.
Thực trạng trên cho thấy các điều kiện về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo
viên, vị thế của nhà trường tuy đã có tác động nhiều đến chất lượng làm văn của
học sinh song quan trọng hơn cả vẫn là cách dạy, các biện pháp dạy học nhằm
giúp các em HS lớp 3 biết viết những đoạn văn giàu hình ảnh, sinh động.
Tìm hiểu thực trạng của việc viết đoạn văn có hình ảnh so sánh ở học sinh
kết hợp với tích lũy những kinh nghiệm qua mỗi tiết dạy môn Tiếng Việt và qua
dự giờ góp ý đồng nghiệp, tôi đã có những giải pháp thực hiện cụ thể.
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
2.3.1. Hướng dẫn học sinh quan sát sự vật một cách tinh tế
Quan sát không chỉ đơn giản là nhìn sự vật để nắm bắt các thông tin về
sự vật đó mà còn phải sử dụng mọi giác quan để nhận biết về sự vật. Đối với học
sinh Tiểu học, hướng dẫn các em quan sát sự vật là hướng dẫn các em thực hiện
các nhiệm vụ mắt nhìn, mũi ngửi, tay sờ, lưỡi nếm, có khi còn phải dùng cả làn
da để cảm nhận sự vật. Có những cảnh vật, con người, sự việc diễn ra quanh ta
tưởng chừng như rất quen thuộc nhưng nếu ta không chú ý quan sát, nhận xét để
có cảm xúc và ghi nhớ thì chúng ta sẽ không làm giàu thêm vốn hiểu biết về
cuộc sống của chúng ta. Để viết được một đoạn văn có các hình ảnh so sánh
trước hết giáo viên cần hướng dẫn học sinh xây dựng thói quen quan sát sự vật
một cách kĩ càng bằng nhiều giác quan, tìm ra được những nét chính, thấy được
những nét riêng độc đáo của mỗi sự vật, suy nghĩ xem các sự vật, các chi tiết
độc đáo vừa quan sát đó giống với sự vật nào đã gặp, đã biết. Sau đó, giáo viên
hướng dẫn các em ghi chép lại vào giấy nháp.
VD: Khi hướng dẫn học sinh viết đoạn văn về nông thôn, giáo viên định
hướng để các em quan sát quang cảnh ở nông thôn quê em, có thể là cảnh đường
làng, triền đê, cánh đồng, dòng sông, thôn xóm …. Giáo viên gợi cho các em
quan sát bằng hệ thống câu hỏi:
Hỏi: + Con đường làng như thế nào? ( quanh co uốn lượn ).
7


+ Em thấy con đường giống với sự vật nào? (giống một con rắn
khổng lồ đang trườn dài trên mặt đất).
+ Hãy viết thành câu văn có hình ảnh so sánh nói về con đường? (Con
đường làng quanh co uốn lượn như một con rắn khổng lồ đang trườn dài trên
mặt đất).
Từ việc hướng dẫn học sinh quan sát đến ghi chép kết quả quan sát và
viết thành những câu văn, các em sẽ có những câu văn hay về nông thôn như:
Cánh đồng lúa quê em đang thì con gái xanh mượt như một tấm thảm nhung êm
ả hoặc Nhà cửa san sát bên nhau xen lẫn những vườn cây xanh tốt đẹp như một
bức tranh hoặc Dòng sông như dải lụa mềm vắt qua làng quê em.
Mỗi cảnh vật chỉ cần miêu tả bằng một đến hai câu văn nhưng phải thể hiện
được những nét đặc trưng, nổi bật, tiêu biểu của cảnh đó kết hợp được một số hình
ảnh so sánh mới giúp học sinh có được những đoạn văn hay, gây ấn tượng.
Việc quan sát kĩ các sự vật còn giúp học sinh có sự nhìn nhận, đánh giá
chính xác về sự vật. Từ đó giúp các em lựa chọn các hình ảnh so sánh hợp lí nhất.
2.3.2. Dạy kĩ kiến thức về biện pháp so sánh ở phân môn luyện từ và câu
Biện pháp so sánh được đưa vào dạy trong chương trình luyện từ và câu
lớp 3, chủ yếu ở học kì I. Thông qua hệ thống các bài tập, giáo viên giúp các em
phát hiện ra các mô hình so sánh:
So sánh: Sự vật - sự vật.
So sánh: Sự vât - con người
So sánh: Âm thanh - âm thanh
So sánh: Hoạt động - hoạt động
Để giúp học sinh nhận diện, phân biệt các mô hình so sánh nói trên, giáo
viên giúp các em tìm hiểu, nắm vững yêu cầu các bài tập trong sách giáo khoa
phân tích cụ thể các hình ảnh so sánh tìm được. Ngoài ra, giáo viên cần sưu tầm
thêm nhiều dạng bài tập cùng loại hoặc sáng tạo để giúp học sinh nắm vững,
hiểu rộng hơn về biện pháp so sánh.
Ví dụ: So sánh sự vật với sự vật trong sách giáo khoa có các bài tập như:
Tìm sự vật được so sánh với nhau trong các câu thơ, câu văn sau:
8


“Hai bàn tay em
Như hoa đầu cành.
(Huy Cận)
“Mặt biển sáng trong như một tấm thảm khổng lồ bằng ngọc thạch”.
(Vũ Tú Nam)
Đối với bài tập trên, sau khi hướng dẫn học sinh phân tích các hình ảnh
so sánh, các em sẽ nêu được các sự vật được so sánh với nhau là: “Hai bàn tay
em” so sánh với “hoa đầu cành”; “Mặt biển” so sánh với “tấm thảm khổng lồ”.
Từ so sánh là từ “ như”. Ngoài ra, giáo viên giáo viên có thể lấy thêm các ví dụ
về hình ảnh so sánh khác để làm rõ hơn kiểu so sánh sự vật – sự vật như: Chỉ ra
các sự vật được so sánh với nhau, các từ so sánh trong đoạn thơ sau:
“ Lá thông như thể chùm kim
Reo lên trong gió một nghìn âm thanh
Lá lúa là lưỡi liềm cong
Vây quanh bảo vệ một bông lúa vàng
Lá chuối là những con tàu
Bồng bềnh chở nặng một màu gió trăng”.
(Phạm Đức)
Trong đoạn thơ trên “lá thông” được so sánh với “ chùm kim”. Từ so sánh
là từ “như thể”. “ lá lúa” được so sánh với “ lưỡi liềm”. Từ so sánh là từ “ là”.
Ví dụ: So sánh sự vật với con người ở tuần 5 có bài:
Gạch chân các hình ảnh so sánh. Viết lại các từ chỉ sự so sánh trong khổ thơ sau:
Những ngôi sao thức ngoài kia
Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con.
Sự vật “ những ngôi sao” được so sánh với “ mẹ”. Từ so sánh là “ chẳng bằng”.
Ví dụ: So sánh âm thanh với âm thanh tuần 10 có bài:
Tiếng suối trong như tiếng hát xa,
Trăng lồng cổ thụ , bóng lồng hoa.
Ở đây âm thanh “ Tiếng suối ” được so sánh với âm thanh của “ tiếng hát xa”.
Ví dụ: So sánh hoạt động với hoạt động, ở tuần 12 có bài:
9


Con mẹ đẹp sao
Những hòn tơ nhỏ
Chạy như lăn tròn
Trên sân, trên cỏ.
Ở khổ thơ trên hoạt động “ chạy” được so sánh với hoạt động “ lăn tròn”.
Sau khi học sinh đã nắm được các kiểu bài so sánh, giáo viên có thể mở
rộng giới thiệu thêm một số dạng bài so sánh sáng tạo hơn cho học sinh học tốt.
Chẳng hạn bài tập sau:
Trong trường ca Đam San có viết: “Nhà dài như tiếng chiêng. Hiên nhà
dài như sức bay của một con chim”.
a. Hãy nêu các hình ảnh được so sánh trong hai câu trên?
b. Các hình ảnh so sánh ấy có gì đặc biệt?
Sau khi phân tích, tìm hiểu, học sinh sẽ tìm được các hình ảnh so sánh là
“nhà dài” so sánh với “tiếng chiêng”, “hiên nhà” so sánh với “sức bay của
một con chim”. Các từ so sánh ở hai câu trên là: “như” , “bằng”. Giáo viên
phân tích thêm để học sinh thấy được sự so sánh ở đây là không cùng loại: nhà/
tiếng chiêng (So sánh sự vật với âm thanh), hiên nhà/ sức bay của chim ( so
sánh sự vật với tính chất). Từ sự so sánh ấy, các em cảm nhận được sự bất ngờ,
độc đáo, thú vị qua hai câu văn và cũng hiểu được phần nào sắc thái của trường
ca Đam San cũng như bản sắc của con người, núi rừng Tây Nguyên.
Thông qua hệ thống bài tập, giáo viên giúp các em nhận ra các từ so sánh
thể hiện sự ngang bằng: như, là, giống, giống như, giống hệt, giống đúc, giống lột,
y như, y hệt, y như là, bằng…hoặc dùng dấu câu như dấu gạch ngang, dấu phẩy;
các từ so sánh thể hiện sự hơn kém như: hơn, kém, thua, chẳng bằng, gần bằng,…

2.3.3. Bồi dưỡng trí tưởng tượng, óc liên tưởng cho học sinh
Khi học sinh đã có kĩ năng quan sát kĩ sự vật, giáo viên giúp các em phát
huy trí tưởng tượng phong phú của tuổi thơ. Việc tưởng tượng, liên tưởng các sự
vật có nét tương đồng, giống nhau giúp các em viết được câu văn có hình ảnh so
10


sánh chính xác, độc đáo. Trong bài tập đọc “Nhớ lại buổi đầu đi học”, bằng trí
tưởng tượng và óc liên tưởng phong phú của mình, nhà văn Thanh Tịnh đã viết
được những hình ảnh so sánh vô cùng đặc sắc như: “Tôi quên sao được những
cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cánh hoa tươi mỉm cười
giữa bầu trời quang đãng”. Hoặc hình ảnh “Họ như con chim non nhìn quãng
trời rộng muốn bay nhưng còn ngập ngừng e sợ”.
Đối với HS lớp 3, yêu cầu các em dựa vào trí tưởng tượng, óc liên tưởng
để viết các câu văn có hình ảnh so sánh chỉ ở mức độ đơn giản. Chỉ cần HS tạo
ra được một hình ảnh so sánh dù chưa hay, chưa chính xác, chúng ta sẽ giúp các
em chỉnh sửa phù hợp.
Ví dụ1: Khi viết đoạn văn về ngày đầu tiên đi học, có em viết: “Ngày đầu
tiên đến trường em thấy rất sợ sệt, sợ như có ai đang dọa em”, giáo viên có thể
gợi mở để sửa lại:
Hỏi: + Ngày đầu tiên đi học, em có cảm giác như thế nào? (Vui, hồi hộp, lo sợ).
+ Niềm vui, sự hồi hộp đó giống lần nào? ( Giống lần đầu tiên em được bố
mẹ cho đi chơi xa).
Kết quả HS có thể viết: Ngày đầu tiên đi học em thấy vui và hồi hộp
như lần đầu tiên em được bố mẹ cho đi chơi xa.
Ví dụ 2: Khi viết đoạn văn về quê hương, ở cuối đoạn văn, giáo viên có
thể khơi gợi trí tưởng tượng của các em như:
Hỏi: Một ngày không xa, quê hương em sẽ trở nên giàu mạnh, lúc đó, nhà
cửa, đường xá, cây cối sẽ như thế nào? Con người và cảnh vật trên quê hương
em sẽ thay đổi ra sao?
Hoặc có thể đặt câu hỏi khác như : Em mơ ước quê hương em trong tương
lai sẽ như thế nào?
Kết quả học sinh có thể viết được: Một ngày không xa, quê em sẽ trở nên
giàu mạnh hơn bây giờ rất nhiều. Những ngôi nhà cao tầng san sát bên nhau.
Những con đường dải nhựa đến từng ngõ xóm. Cuộc sống của người dân sung
túc, hiện đại như mong ước của mọi người.
11


Để giúp các em có được trí tưởng tượng phong phú, giáo viên luôn dẫn
dắt, gợi mở, nêu vấn đề ở mỗi bài văn viết bằng các từ ngữ gợi hình ảnh, âm
thanh, tạo hình hoặc sử dụng tranh ảnh, hình vẽ, chỉ ra các sự vật gần gũi, thân
quen hằng ngày để giúp các em biết kết nối chúng lại với nhau, so sánh với
nhau. Điều đó góp một phần tạo ra được các đoạn văn có hình ảnh so sánh.
2.3.4. Hướng dẫn HS vận dụng các kiểu so sánh vào viết từng câu
văn, đoạn văn
Nắm vững kiến thức về biện pháp so sánh các em học sinh có thể tự tin
hơn khi vận dụng biện pháp so sánh trong làm văn. Tuy nhiên, giáo viên cần
hướng dẫn để các em hiểu không phải câu văn nào trong đoạn văn cũng phải có
hình ảnh so sánh. Chỉ những sự vật, âm thanh, hoạt động tiêu biểu, có tác dụng
làm nổi bật đoạn văn hoặc những sự vật, hoạt động đã được quan sát kĩ càng, lựa
chọn được hình ảnh so sánh hợp lí thì mới tạo ra một hình ảnh so sánh sinh
động. Giáo viên nên định hướng cho HS tìm ý so sánh trước khi làm bài.
VD: Khi viết đoạn văn về quê hương, giáo viên có thể gợi mở, định hướng:
Hỏi: + Làng quê em vào mùa thu hoạch, cánh đồng lúa chín vàng có thể so
sánh với những gì? ( nong kén vàng khổng lồ, biển lúa vàng, ….)
+ Những đêm trăng sáng, xóm làng lại rộn ràng, vui như ( ngày hội, ngày
Tết, được mùa…).
Đối với học sinh lớp 3, do vốn sống, vốn từ của các em chưa nhiều nên
việc đặt câu có hình ảnh so sánh còn hạn chế. Để giúp các em có những hình ảnh
so sánh sinh động, đảm bảo chính xác trong khi làm văn, giáo viên có thể xây
dựng một số bài tập nhỏ giúp các em vận dụng những hình ảnh đã viết vào bài
văn của mình.
Ví dụ: Trước khi làm bài văn kể về một lễ hội, giáo viên tổ chức cho học
sinh làm bài tập sau: Chọn từ ngữ thích hợp trong ngoặc đơn điền vào chỗ
chấm trong các câu sau:
a. Hai bên bờ sông, tiếng trống dồn dập lẫn tiếng hò reo cổ vũ của người đi xem
hội như tiếng của…………… (cô giáo giảng bài, còi xe inh ỏi, đoàn quân chiến
thắng, đàn pi-a-nô.)
12


b. Những chiếc thuyền đua lao nhanh như……( tên, bay, chiến thuyền, căn cắt).
c. Dòng người từ khắp mọi nơi về đây trẩy hội, lối đi nào cũng chật như………
(kiến cỏ, nêm)
Ở mỗi bài tập, giáo viên nên soạn đầy đủ các mô hình so sánh để khi làm
bài, các em học sinh có thể vận dụng một trong các hình ảnh so sánh đó vào bài
văn của mình hoặc vận dụng một cách sáng tạo hơn .
Ngoài ra, giáo viên có thể sử dụng một số hình ảnh trực quan, vật thật để
giúp các em có cảm nhận cụ thể và phát hiện ra sự so sánh, từ đó biết viết những
câu văn có hình ảnh so sánh.
VD: Khi viết một đoạn văn về một trận thi đấu thể thao, giáo viên cho
học sinh quan sát quả bóng với một số sự vật khác ( quả địa cầu, cái đĩa, quả
dừa, quả bưởi…) để học sinh lựa chọn sự vật được so sánh với quả bóng.
Sau những quan sát ấy, có em sẽ viết được: Trên sân, quả bóng to hơn
quả bưởi một tí đang lăn từ chân bạn Long sang chân bạn Hải rồi Hải lại
chuyền sang cho Tuấn.
Hoặc có em viết: Quả bóng như quả địa cầu không xoay trên giá đỡ mà
lăn tròn trên sân.
2.3.5. Hướng dẫn HS tích lũy những hình ảnh so sánh trong thơ, văn;
trong cuộc sống
Biết tích lũy, ghi nhớ những câu văn, đoạn văn giàu hình ảnh so sánh kết
hợp với khả năng vận dụng sáng tạo trong làm văn sẽ giúp học sinh có những
bài văn hay, ý nổi bật. Vận dụng hình ảnh so sánh đã đọc nào đó vào văn của
mình sao cho phù hợp, “ăn ý”, hợp lí không phải là “bắt trước” văn người khác
mà việc làm đó thể hiện ý thức biết tích lũy, vận dụng sáng tạo trong khi làm
văn. Trong các tiết học tập đọc, giáo viên nên lồng ghép, tích hợp cả các nội
dung phân môn luyện từ và câu, phân môn tập làm văn để giáo dục HS ý thức
tích lũy kiến thức môn Tiếng Việt. Chẳng hạn, khi dạy các bài tập đọc có hình
ảnh so sánh, giáo viên nhắc nhở các em về chép lại các hình ảnh đó, ghi nhớ để
vận dụng trong học các phân môn khác. Phân môn tập đọc có rất nhiều bài đọc
giàu hình ảnh so sánh như bài “Nhớ lại buổi đầu đi học” với các hình ảnh: “Tôi
13


quên sao được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy
cánh hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng”. Hoặc hình ảnh “Họ như
con chim non nhìn quãng trời rộng muốn bay nhưng còn ngập ngừng e sợ”.
Bài “Mẹ vắng nhà ngày bão” với hình ảnh:
“Mẹ về như nắng mới
Sáng ấm cả gian nhà.”
Bài “Mùa thu của em” với hình ảnh:
“Mùa thu của em
Là vàng hoa cúc
Như nghìn con mắt
Mở nhìn trời êm”
Bài “Quê hương” với hình ảnh:
“Quê hương mỗi người chỉ một
Như là chỉ một mẹ thôi”.
Bài “Vàm Cỏ Đông” với hình ảnh:
“ Đây con sông như dòng sữa mẹ
Nước về xanh ruộng lúa, vườn cây
Và ăm ắp như lòng người mẹ
Chở tình thương trang trải đêm ngày.”
Bài “Ngày khai trường” với hình ảnh:
“Sáng đầu thu trong xanh
Em mặc quần áo mới
Đi đón ngày khai trường
Vui như là đi hội”.
Bài “Cửa Tùng” với hình ảnh: “Người xưa đã ví bờ biển Cửa Tùng giống
như một chiếc lược đồi mồi cài vào mái tóc bạch kim của sóng biển”.
Bài “Về quê ngoại” với hình ảnh: “Vầng trăng như lá thuyền trôi êm
đềm”.
Bài “Cái cầu” với hình ảnh:
“ Yêu cái cầu tre lối sang bà ngoại
14


Như võng tre trên sông ru người qua lại”….
Và rất nhiều bài tập đọc khác được các tác giả đưa các hình ảnh so sánh
vào từng câu, từng đoạn. Ngoài các bài tập đọc, gặp bất cứ hình ảnh so sánh nào
khi được nghe, được đọc, giáo viên cũng khuyến khích các em ghi chép lại và
nhớ vận dụng để làm văn. Trong cuộc sống, đôi khi những người thân và mọi
người xung quanh các em cũng dùng những hình ảnh so sánh để giao tiếp, nói
chuyện với nhau. giáo viên khuyến khích các em ghi nhớ một số hình ảnh so
sánh đó để viết được những câu văn miêu tả sinh động. Ví dụ: “ Trắng như
trứng gà bóc”, “xanh như tàu lá”, “đẹp như tiên”, “nhanh như chớp’’, “vui
như hội”, “đông như kiến cỏ”, “hiền như bụt”, “yếu như sên”, “khỏe như voi”,
“gan như cóc tía”, “cao như sào”, “chậm như rùa”, “đen như cột nhà cháy”,
“đỏ như vang, vàng như nghệ”…. Việc sử dụng các hình ảnh so sánh trên còn
tùy thuộc vào từng văn cảnh cụ thể. Trước khi viết văn, giáo viên giúp các em
tập nói những câu vận dụng các hình ảnh so sánh trên đây cho phù hợp với văn
cảnh để tránh việc vận dụng một cách máy móc khiến câu văn trở nên tối nghĩa
hoặc ngây ngô.
Ví dụ: Khi viết đoạn văn về người mà em yêu quý nhất, các em có thể viết
đoạn văn về mẹ, về bố, về ông bà, anh chị…Hình ảnh so sánh “da trắng như
trứng gà bóc” chỉ nên vận dụng khi tả nước da của chị chứ không thể dùng để tả
nước da của bà được vì bà tuổi đã cao rồi và da nếu có trắng cũng đã có những
nếp nhăn, không thể bóng như trứng gà bóc được nữa.. Khi tả mái tóc có thể
chọn hình ảnh đen như gỗ mun (đối với người còn trẻ), trắng như mây, trắng
như cước (đối với người đã cao tuổi)…
Không chỉ khi làm văn giáo viên mới hướng dẫn các em viết những câu
văn có hình ảnh so sánh. Trong quá trình dạy học, ở môn học nào nếu ta dùng
những hình ảnh so sánh ví von cũng tạo được ấn tượng trong việc tiếp thu kiến
thức ở HS. Một việc làm, một hoạt động nào đó trong dạy học, một lời khen
ngợi HS, hay cả những khi nói chuyện, chia sẻ với các em, nếu chúng ta dùng
những hình ảnh so sánh sẽ giúp các em nhận thức dễ dàng, cảm nhận mọi vật
15


sinh động hơn, hiểu được những công việc cần làm đơn giản hơn, tạo hứng thú
học tập hơn.
VD: Khi yêu cầu học sinh làm vệ sinh trường lớp, một số em tỏ ra chưa
tích cực, GV có thể nói: Làm vệ sinh trường lớp dễ như chơi trò chơi phải
không các bạn? chắc chắn sẽ có em hăng hái làm việc hơn hoặc chữ viết của
một học sinh tiến bộ hơn trước, giáo viên có thể khen ngợi: Chữ của em gần đẹp
bằng chữ Cao Bá Quát rồi đấy!
Trong môn Tiếng Việt, nói và viết là hai trong những kĩ năng cần rèn cho
học sinh. Nếu GV chú trọng đến việc rèn kĩ năng nói và viết câu có hình ảnh so
sánh sẽ giúp các em ghi nhớ bền vững, phát triển trí tưởng tượng, óc liên tưởng.
Ngoài tiết tập làm văn và tiết luyện từ và câu, khi học tập đọc, giáo viên giúp
các em tích lũy, ghi nhớ những hình ảnh so sánh đã học. Đối với tiết kể chuyện,
khi học sinh kể lại từng đoạn hay cả câu chuyện, giáo viên khuyến khích các em
kể theo cách diễn đạt của mình, nếu lời kể có hình ảnh so sánh thì càng trở nên
lôi cuốn, hấp dẫn. Một số dữ liệu bài tập trong phân môn chính tả cũng rất giàu
hình ảnh so sánh. Khi học sinh làm bài và đọc kết quả bài làm, giáo viên có thể
yêu cầu các em chỉ ra hình ảnh so sánh có trong đoạn viết chính tả hoặc trong
các bài tập.
VD1: Bài tập chính tả 2b, trang 68, sách TV3, tập 2, ngoài yêu cầu chính
là điền vần ên hay ênh, sau khi làm bài xong, giáo viên có thể yêu cầu chỉ ra câu
văn có hình ảnh so sánh. Các em tìm được câu: “ Bốn chiếc thuyền như bốn
con rồng vươn dài, vút đi trên mặt nước mênh mông”. giáo viên nhắc các em
ghi câu văn này vào các nội dung tích lũy để vận dụng làm bài kể về lễ hội.
VD2: Bài tập chính tả 2a trang 15, sách TV3 – tập 2, ngoài yêu cầu viết
và giải câu đố, giáo viên nhắc các em ghi nhớ một hình ảnh so sánh để vận dụng
miêu tả con sông. Đó là:
Miệng dưới biển, đầu trên non
Thân dài uốn lượn như con thằn lằn
Bụng đầy những nước trắng ngần
Nuốt tôm cá, nuốt cả thân tàu bè.
16


Đối với phân môn tập viết, một số câu ứng dụng cũng có những hình ảnh
so sánh. Chẳng hạn
Tuần 1 có câu:
Anh em như thể chân tay
Rách lành đùm bọc, dở hay đỡ đần.
Tuần 4:

Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

Tuần 13:

Ít chắt chiu hơn nhiều phung phí.

Tuần 17:

Đường vô xứ nghệ quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ.

Tuần 28:
Tuần 29:

Thể dục thường xuyên bằng nghìn viên thuốc bổ.
Trẻ em như búp trên cành
Biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan.

Tuần 32:

Tốt gỗ hơn tốt nước sơn
Xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người.

Việc viết đi viết lại các câu thơ, câu văn có hình ảnh so sánh giúp khắc
sâu trí nhớ của học sinh về câu ứng dụng, ghi nhớ hình ảnh so sánh để các em
vận dụng trong nói, viết văn.
Trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, học sinh thường có các hoạt động
vui chơi, giúp gia đình một số việc đơn giản, giao tiếp với người thân, với thầy
cô giáo, bạn bè và những người xung quanh. Giúp cho các em có thói quen nói
câu có hình ảnh so sánh trong giao tiếp, nói chuyện với mọi người cũng chính là
nhắc nhở các em nhớ vận dụng những cụm từ so sánh cố định vào từng tính
huống cụ thể. Chẳng hạn giúp học sinh có kĩ năng phòng tránh những tai nạn khi
ở nhà, có tình huống học sinh làm vỡ bát, những mảnh vỡ rơi trên sàn nhà. Các
em có thể nói: Mẹ ơi, những mảnh bát vỡ này sắc như dao, con không dám sờ
vào đâu, con sẽ lấy chổi quét và hốt đổ chúng ra thùng rác. Hoặc khi nhìn thấy
một nhân vật nữ xinh đẹp trong phim, các em có thể nói: Chị ấy đẹp như tiên,
khi được nghe giọng ca hay của một bạn nhỏ, các em có thể nói: Giọng ca của
bạn ấy trong như giọng hót của chim họa mi, khi được tham gia, chứng kiến
17


một hoạt động vui chơi nào đó hoặc một việc vui trong gia đình, các em có thể
nói: Hôm nay vui như Tết…
Tóm lại, trong nói năng, giao tiếp hàng ngày, người thân và những người
khác xung quanh các em càng sử dụng nhiều câu nói ví von bao nhiêu thì trẻ nhỏ
càng dễ thâm nhập bấy nhiêu. Để các em biết sử dụng các câu nói ví von đó
đúng lúc, đúng chỗ và mang tính giáo dục, người lớn khi nghe các em nói cần để
ý, uốn nắn, chỉnh sửa và không nói những câu so sánh thô thiển trước mặt trẻ.
2.3.7. Mối quan hệ giữa các giải pháp
Để giúp HS biết viết những hình ảnh so sánh hoàn hảo, giáo viên cần vận
dụng linh hoạt các giải pháp trên bởi giữa các giải pháp đó có mối quan hệ chặt
chẽ với nhau, lồng ghép vào nhau, hỗ trợ bổ sung cho nhau trong quá trình dạy
học. Quan trọng hơn cả là giáo viên biết hướng dẫn các em quan sát sự vật một
cách tinh tế, bồi dưỡng trí tưởng tượng, óc quan sát và hướng dẫn HS biết tích
lũy các hình ảnh so sánh để vận dụng.
2.3.8. Kiểm nghiệm kết quả nghiên cứu
Áp dụng các biện pháp giúp học sinh biết dùng hình ảnh so sánh khi làm
văn trên đây trong dạy học, bản thân tôi nhận thấy các em đã bước đầu viết các
đoạn văn có hình ảnh so sánh, nói được một số hình ảnh so sánh trong khi giao
tiếp với bạn bè và mọi người xung quanh. Đặc biệt, khả năng nhận biết các hình
ảnh so sánh của các em đã nâng lên rõ rệt. Nhiều em ban đầu còn mơ hồ với việc
nhận biết các hình ảnh so sánh thì nay đã chỉ ra một cách nhanh chóng các hình
ảnh so sánh trong các đoạn văn, bài văn. Một số học sinh trước đây không biết
vận dụng đưa hình ảnh so sánh vào đoạn văn mình viết thì giờ đây đã biết vận
dụng tương đối linh hoạt các hình ảnh so sánh tích lũy được vào đoạn văn của
mình. Để kiểm nghiệm việc vận dụng các biện pháp giúp học sinh biết dùng
hình ảnh so sánh khi viết văn, tôi yêu cầu HS viết đoạn văn kể về một buổi biểu
diễn nghệ thuật mà em được xem ( Tuần 23 ). Kết quả đạt được như sau:
Tổng số HS

Số đoạn văn có
hình ảnh so sánh
hấp dẫn, sinh
động

Số đoạn văn đã
có hình ảnh so
sánh đảm bảo
phù hợp.

Số đoạn văn có
hình ảnh so
sánh chưa phù
hợp, thiếu

Số đoạn văn
chưa có hình
ảnh so sánh.
18


chính xác.

31

7 = 22,6%

16 = 51,6%

6 = 19,3 %

2 = 6,5%

Điều đáng mừng là số học sinh biết dùng hình ảnh so sánh trong khi viết
đoạn văn đã tăng lên. Những hình ảnh so sánh trong mỗi đoạn văn các em viết
bớt vụng về, gợi tả và gợi cảm hơn. Đây cũng là kết quả tôi đã đạt được khi áp
dụng các giải pháp trên.

3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.
3.1. Kết luận.
Dạy học sinh lớp 3 viết được một đoạn văn có các hình ảnh so sánh sinh
động là một công việc khó khăn, kết quả thực hiện khó đồng bộ đối với tất cả
học sinh. Tuy nhiên, nếu mỗi giáo viên chủ định và cố gắng, chúng ta sẽ dần
dần giúp các em có thói quen nói và viết câu có hình ảnh so sánh. Bên cạnh đó,
19


trong dạy học, mỗi giáo viên luôn biết tự tích lũy cho mình vốn từ, các hình ảnh
so sánh và sử dụng các hình ảnh đó trong mỗi tiết dạy. Đối với học sinh lớp 3
nói riêng và học sinh tiểu học nói chung, để mọi công việc dạy học trở nên hiệu
quả, thầy, cô giáo phải là những người gần gũi và hướng dẫn tỉ mỉ đến từng em.
Bài làm của các em chưa đúng, chưa hay chỗ nào phải sửa ngay chỗ ấy, làm đi
làm lại nhiều lần sẽ có kết quả tốt hơn.
Trong quá trình dạy học, giáo viên luôn coi trọng quan điểm tích hợp.
Không chỉ tích hợp kiến thức các môn học mà cần tích hợp, lồng ghép kĩ năng
sống, phối hợp nhịp nhàng giữa dạy kiến thức, dạy vận dụng thực hành với rèn
kĩ năng sống cho học sinh.
3.2. Đề xuất.
Để việc tổ chức các hoạt động dạy học giúp học sinh lớp 3 biết sử dụng
các hình ảnh so sánh trong làm văn, tổ chuyên môn nên lồng ghép nội dung này
vào các buổi sinh hoạt chuyên môn để không chỉ giáo viên khối 3 được thảo
luận, trao đổi cách triển khai thực hiện mà các giáo viên dạy các lớp khác cũng
cùng tham gia.
Khi chấm bài giáo viên nên có những phân tích, đánh giá cụ thể các hình
ảnh so sánh trong bài làm của học sinh để giúp các em biết tự rút kinh nghiệm
cho các bài làm sau.
Sáng kiến kinh nghiệm này của tôi được rút ra trong quá trình công
tác và được sự giúp đỡ của Ban giám hiệu, của các bạn đồng nghiệp. Do
kinh nghiệm còn non nớt và không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất
mong nhận được sự góp ý của Ban giám hiệu, các đồng nghiệp và Hội đồng
khoa học để sáng kiến được hoàn thiện, vận dụng có hiệu quả cao hơn
trong dạy học.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ
TRƯỞNG ĐƠN VỊ:

TP Thanh Hóa,ngày 15 tháng 3 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.
NGƯỜI VIẾT:
20


Trinh Thị Hương Thủy

TỔNG HỢP SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG ĐÁNH
GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
CẤP SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Họ và tên tác giả: Trịnh Thị Hương Thủy
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên Trường Tiểu học Lý Tự Trọng – TP. Thanh Hóa

STT

Tên đề tài SKKN

Cấp đánh giá xếp loại (
Phòng, Sở, Tỉnh)

1

Thiết kế kế hoạch bài

Sở Giáo dục

Kết quả đánh giá
Năm học đánh giá xếp
xếp loại
loại
(A,B hoặc C)
Loại B
Năm học
21


học phần đạo đực địa
phương lớp 3, góp
phần nâng cao đạo đức
cho học sinh

2013 - 2014

22



x

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×