Tải bản đầy đủ

Tổng quan về thừa cân - béo phì

Obesity
11/2009
TỔNG QUAN VỀ THỪA CÂN - BÉO PHÌ
Đào Thị Yến Phi *
ĐỐI TƯỢNG
Sinh viên năm thứ 4 - Khoa Sinh Học - Đại Học Khoa Học Tự Nhiên
MỤC TIÊU BÀI HỌC
1. Biết được tình hình dịch tễ chung về béo phì tại Việt nam và TP. Hồ Chí Minh
2. Nắm vững định nghĩa thừa cân - béo phì và
3. Đánh giá được thừa cân – béo phì ở người lớn và trẻ em. Biết các đối tượng có nguy cơ
cao về béo phì
4. Trình bày được các nguyên nhân gây thừa cân – béo phì và các hậu quả cho cá thể và
xã hội
5. Biết các nguyên tắc điều trị thừa cân – béo phì ở người lớn và trẻ em.
NỘI DUNG BÀI HỌC
Thừa cân và béo phì chỉ mới xuất hiện trong một thời gian ngắn khoảng dưới 10 năm so với
“bề dầy lịch sử” suy dinh dưỡng trường diễn hàng ngàn năm nay của dân tộc ta, nhưng gia tăng
một cách nhanh chóng và đang trở thành một vấn đề xã hội đáng được chú ý. Những nghiên
cứu về tình trạng dinh dưỡng của trong những năm gần đây tại TP Hồ Chí Minh nói riêng và
Việt Nam nói chung cho thấy một xu hướng gia tăng béo phì rất nhanh ở tất cả các đối tượng
điều tra trong xã hội, trong đó nghiêm trọng nhất là trẻ em, phụ nữ từ độ tuổi trung niên và một

nhóm các đối tượng khác như doanh nhân, người làm việc văn phòng, nhân viên y tế... Số liệu
điều tra của Viện Dinh Dưỡng Quốc Gia năm 2007 cho thấy có đến trên 16% người Việt Nam
trưởng thành bị thừa cân béo phì, và khoảng 20% người Việt Nam trưởng thành bị béo bụng,
tức là có những nguy cơ về sức khỏe. Béo phì gia tăng cả về số lượng lẫn mức độ nặng, nhất là
ở các nhóm trẻ sống ở các quận nội thành, học chương trình bán trú, những phụ nữ làm các
công việc tĩnh tại hay buôn bán...
ĐỊNH NGHĨA
Béo phì được xác định khi sự tích lũy mỡ trong cơ thể tăng lên quá mức thông thường, có thể
dẫn đến những nguy cơ về mặt sức khỏe và tinh thần, do năng lượng ăn vào nhiều hơn nhu cầu
năng lượng hàng ngày liên tục trong một thời gian dài.
Định nghĩa này loại bỏ tất cả các đối tượng sau ra khỏi chẩn đoán béo phì
- Những người có cơ bắp phát triển : vận động viên thể hình, người chơi thể thao nặng
liên tục thường xuyên...
- Những người có tình trạng ứ nước trong cơ thể do bệnh lý hay tác dụng phụ của thuốc:
dùng nội tiết tố sinh dục, corticoide, phù do bệnh thận, bệnh tim...
- Tình trạng gia tăng khối xương do các nguyên nhân sinh lý hay bệnh lý: xương to do di
truyền, các tích tụ trong xương bất thường
- Một số tình trạng tích nước và tăng cân khác: Mang thai, u bướu khổng lồ...
Đồng thời, có những trường hợp cân nặng cơ thể không cao nhưng vẫn được chẩn đoán là béo
phì do khối mỡ trong cơ thể tăng nhiều hơn so với tỉ lệ cơ thể của các khối khác : xương, cơ,
nước.
1
* ThS. BS – Chủ Nhiệm Bộ Môn Dinh Dưỡng & ATTP – Đại Học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch
Obesity
11/2009
Cũng theo định nghĩa, béo phì không thể xuất hiện trong một thời gian ngắn. Thời gian thông
thường để một cơ thể bình thường đạt đến cân nặng được chẩn đoán là béo phì tối thiểu vào
khoảng 1 năm.
SINH LÝ BỆNH
Béo phì là do sự phát triển quá mức của mô mỡ, là tập hợp của các tế bào mỡ ở dưới da, cạnh
các phủ tạng. Các tế bào mỡ trong mô mỡ tăng dự trữ mỡ theo hai cách :
- Gia tăng kích thước tế bào mỡ.
- Gia tăng số lượng tế bào mỡ.
Trong giai đoạn đầu, sự tích lũy mỡ trong mô mỡ chủ yếu là gia tăng kích thước tế bào, do đó
chế độ can thiệp phù hợp trong giai đoạn này có thể giúp cân nặng giảm nhanh và ổn định lâu
dài. Béo phì càng kéo dài, bên cạnh sự gia tăng kích thước tế bào sẽ có hiện tượng tăng phân
bào để thành lập các tế bào mỡ mới. Khi béo phì đã đến giai đoạn này, các can thiệp có thể
gíup giảm cân nặng trong giai đoạn đầu, chủ yếu là do hiện tượng giảm kích thước tế bào mỡ,
nhưng trong giai đoạn tiếp theo cân nặng thường giảm chậm và rất khó duy trì cân nặng lâu
dài, do số lượng tế bào mỡ thường rất khó giảm.


Bên cạnh các tế bào mỡ tập trung thành mô mỡ, trong các trường hợp béo phì nặng cũng có
kèm theo hiện tượng gia tăng lượng lipid tự do trong tuần hoàn máu và sự hiện diện của tế bào
mỡ trong các mô của cơ quan.
CÁC THỂ BÉO PHÌ VÀ TIÊN LƯỢNG
1. Béo phì trung tâm : Mô mỡ tập trung chủ yếu ở vùng bụng, thường gặp ở nam giới,
nguy cơ với sức khoẻ thường cao do mỡ tập trung ở phủ tạng nhiều
2. Béo phì vùng thấp : Mô mỡ tập trung ở bụng dưới và đùi, thường gặp ở nữ giới. Nguy
cơ với sức khoẻ tương đối ít hơn so với béo phì trung tâm
3. Béo phì ngoại biên : Mô mỡ tập trung ở các vùng ngoại biên như tay chân, nách, ngực...
thường gặp ở trẻ em, nguy cơ với sức khoẻ không nhiều và có thể phục hồi nếu can thiệp
đúng cách
4. Tụ mỡ bất thường : thường gặp trong bệnh lý tuyến nội tiết, hoặc tai biến do dùng nội
tiết tố. Mô mỡ tập trung bất thường ở vùng gáy, cổ... làm hình dáng mất cân đối. Tiên
lượng thường xấu.
XÁC ĐỊNH BÉO PHÌ VÀ ĐÁNH GIÁ BÉO PHÌ
Đánh giá tình trạng béo phì là một bước quan trọng trong việc quyết định chế độ can thiệp đối
với bất kỳ bệnh nhân nào.
Hiện vẫn còn nhiều bàn cãi về phương pháp đánh giá béo phì, nhất là ở trẻ em, do cơ thể trẻ
phát triển và thay đổi thường xuyên, việc tăng cân là hiện tượng sinh lý cần được tôn trọng, sự
tích lũy mỡ trong cơ thể thay đổi nhiều theo độ tuổi. Sự tích lũy mỡ trong suốt đời người
thường tập trung vào 3 giai đoạn chính :
- năm đầu sau sinh
- tiền dậy thì và dậy thì.
- sau tuổi trung niên
Sự tích lũy mỡ trong 2 giai đoạn đầu thường có giá trị quan trọng đối với việc phát triển chiều
cao và quyết định tầm vóc của một người. Giai đoạn tích lũy mỡ thứ ba, ngoại trừ trường hợp
tích lũy mỡ ở phụ nữ trong giai đoạn mang thai và cho con bú, thường không cần thiết, thậm
chí còn là nguyên nhân của những rối loạn và bệnh lý liên quan đến thừa dinh dưỡng như cao
huyết áp, tiểu đường, rối loạn chuyển hoá lipid... .
2
Obesity
11/2009
Tùy theo điều kiện và mục đích trong việc đánh giá béo phì, có thể sử dụng các phương pháp
khác nhau như sau :
- Nhìn : Béo phì có thể đuợc nhìn thấy bằng mắt thường. Đó là những người có khuôn mặt
tròn, má phính sệ, cắm có ngấn mỡ lấp mất cổ, bụng phệ có nhiều ngấn mỡ dày, ngực, nách,
đùi, bẹn... có nhiều ngấn mỡ. Bệnh nhân hay đổ mồ hôi khi vận động... Tuy nhiên khi nhìn
thấy các biểu hiện trên thường bệnh nhân đã béo phì ở mức độ nặng, việc phục hồi trong giai
đoạn này thường khó khăn hơn nhiều lần so với các giai đoạn sớm
- Biểu đồ tăng trưởng : Là phương pháp đơn giản nhất để ước lượng béo phì ở trẻ em, có thể áp
dụng cho bà mẹ ngay tại gia đình để theo dõi sự phát triển thường xuyên của trẻ. Tuy nhiên
đường biểu diễn theo biểu đồ là đường biểu diễn cân nặng so với tuổi nên không thể dùng để
đánh giá hay xác nhận tình trạng béo phì của trẻ, vì trẻ có thể nặng cân hơn so với độ tuổi của
mình tuy nhiên cân nặng đó lại phù hợp với chiều cao của trẻ do chiều cao cũng phát triển tốt
hơn so với tuổi. Vì vậy biểu đồ tăng trưởng cũng chỉ dùng gợi ý nguy cơ béo phì ở trẻ nếu
đường biểu diễn cân nặng đi dốc lên quá nhanh.
- Cân nặng theo chiều cao : Dành cho trẻ em dưới tuổi thành niên, được so sánh với quần thể
NCHS của Mỹ hoặc WHO 2005. Đây là phương pháp được sử dụng hiện nay trong điều tra tỉ
lệ béo phì ở trẻ em cũng như đánh giá tình trạng dinh dưỡng để đưa ra phương hướng điều trị
cá thể. Trẻ được đánh giá là béo phì khi:
• CN/CC > +2SD
• Z-Score CN/CC > 1
- So sánh với cân nặng chuẩn: (Mỹ)
• 100 - 120% cân nặng chuẩn: thừa cân (overweight)
• 120 - 150% : béo phì (obesity)
• > 150% : quá béo phì (supperobesity)
- BMI : Thường được dùng để đánh giá béo phì ở người lớn. Ở trẻ em chỉ áp dụng cho các
trường hợp trẻ cao trên 137cm (ở nữ) và trên 145cm (ở nam)
cân nặng (kg)
BMI = -----------------------
Chiều cao
2
(m)
• Chỉ số BMI ở trẻ em được đánh giá theo độ tuổi của trẻ. Trẻ béo phì khi chỉ số BMI
theo tuổi này lớn hơn 95 percentile
• Đối với trẻ trên 18 tuổi và người lớn có thể sử dụng bảng đánh giá BMI như sau.
Bình thường: 18,5 - 23
Suy dinh dưỡng: <18,5
Thừa cân: 23-24,9
Béo phì độ 1: 25 - 29,9
Béo phì độ 2: 30 - 40
Béo phì độ 3: >40
- Các phương pháp đánh giá tỉ lệ mỡ : Là phương pháp quan trọng nhất để xác định tình trạng
béo phì và quyết định chế độ điều trị. Đo tỉ lệ mỡ bằng cân đo mỡ, đo các nếp gấp da, cân
trong nước... . Phương pháp này chưa thông dụng tại Việt Nam, thường ít có giá trị ở trẻ em.
Giới hạn tỉ lệ mỡ dùng chẩn đoán tình trạng béo phì thay đổi tuỳ theo độ tuổi, giới tính... Trung
bình ở nam giới từ tuổi trung niên là 25 và nữ giới là 30.
3
Obesity
11/2009
Tuổi (năm) Tỉ lệ mỡ cơ thể (%)
Nam Nữ
<15 thay đổi
15-30 < 22 < 27
>30 < 25 < 30
- Tỉ lệ eo/mông
Thường áp dụng cho người lớn trên 18 tuổi, hữu hiệu để đánh giá các thể báo phì có nguy cơ
với sức khoẻ. Giới hạn tỉ lệ eo/mông để đánh giá béo phì có nguy cơ với sức khoẻ là 0,85 ở nữ
và 0,95 ở nam.
- Đo vòng bụng tuyệt đối
Số đo vòng bụng tuyệt đối cũng có giá trị ước lượng nguy cơ của béo phì với sức khoẻ. Giới
hạn đánh giá của số đo này là 80 ở nữ và 90 ở nam.
NGUYÊN NHÂN CỦA BÉO PHÌ :
Trên 90% trường hợp béo phì là do yếu tố ngoại sinh, tức là do ăn uống, chế độ vận động, sinh
hoạt, chỉ có không đến 10% là do di truyền và bệnh lý, thường gặp trong các bệnh lý về gen,
nội tiết có thể nguyên phát hay thứ phát.
Béo phì xảy ra khi năng lượng cung cấp cho cơ thể vượt lên trên nhu cầu cần thiết trong một
thời gian dài, có thể do ăn quá nhiều hoặc giảm nhu cầu do giảm hoạt động thể lực hoặc cả hai
xảy ra cùng lúc.
YẾU TỐ THUẬN LỢI CỦA BÉO PHÌ :
- Ít hoạt động thể lực
- Có thói quen sử dụng các loại thức ăn có năng lượng cao.
- Sống tại các đô thị
- Trẻ có cha mẹ mập phì.
- Các cộng đồng có sự thay đổi đột ngột về chế độ ăn.
- Tuổi trung niên
- Phụ nữ sau sinh đặc biệt không cho con bú sữa mẹ
NHỮNG NGUY CƠ CỦA NGƯỜI BỊ BÉO PHÌ :
* Về thể chất : Tăng các nguy cơ mắc các bệnh tiểu đường, cao huyết áp, bệnh lý mạch vành,
sỏi thận, sỏi mật, rối loạn chuyển hoá lipid, các bệnh lý về xương như viêm khớp, cột sống, các
biến dạng ở chân, bệnh lý da nhiễm trùng.. Do sự gia tăng các nguy cơ bệnh lý cộng với các
yếu tố xã hội, người bị béo phì trung bình sẽ giảm 6-10 năm tuổi thọ.
* Về tâm lý : Trẻ béo phì thường bị bạn bè cùng trang lứa trêu chọc, trở nên dễ tự ti, cô độc
thậm chí có hiện tượng thoái lùi về tâm lý, coi thường bản thân mình và thường các tổn thương
tâm lý này kéo dài đến khi trẻ trưởng thành. Ở người lớn, các rối loạn tâm lý thường gặp là tự
ti, khó hay không hoà nhập cộng đồng, có tư tưởng nổi loạn và có ý định tự tử.
4
Obesity
11/2009
* Các nguy cơ về mặt xã hội : Người béo phì thường thụ động, ít hoạt động, suy nghĩ và làm
việc chậm chạp, cộng thêm tâm lý tự ti, không thích tham gia vào tập thể … nên thường thất
bại trong mọi công việc từ học tập, khám phá, vui chơi… cho đến khi lớn trẻ không thể thành
đạt được trong học tập cũng như trong công việc. Xã hội cũng thường nhìn những người béo
phì với sự kỳ thị, không thiện cảm. Người béo phì khó tìm được việc làm tốt, gặp nhiều trở
ngại trong đời sống tình cảm.
ĐIỀU TRỊ BÉO PHÌ :
Điều trị béo phì rất đơn giản về mặt nguyên tắc, chỉ là việc giảm năng lượng ăn vào thông
qua kiểm soát chế độ ăn và tăng năng lượng tiêu hao thông qua chế độ vận động thể lực phù
hợp. Tất cả các phương pháp hỗ trợ khác như dùng thuốc, tâm lý liệu pháp, thay đổi hành vi...
đều nhằm đạt 2 mục tiêu trên và duy trì chúng lâu dài nhất có thể. Tuy nhiên, một chương trình
giảm cân trong thực tế sẽ bao gồm 4 hoạt động chính:
- Ăn kiêng
- Vận động thể lực
- Điều chỉnh hành vi và tâm lý liệu pháp
- Các biện pháp hỗ trợ (thuốc, phẫu thuật...)
Đối với người lớn, quan điểm chung là béo phì nên được quan tâm theo dõi và có chiến lược
can thiệp ngay từ khi có nguy cơ chứ không chờ đến béo phì thật sự vì :
- Can thiệp ngay từ giai đoạn chưa có sự gia tăng tế bào mỡ sẽ có kết quả tốt và duy trì lâu
dài hơn
- Can thiệp sớm trước khi có tổn thương thực thể trên các cơ quan : Khi đã có tổn thương
thực thể trên các cơ quan (tuỵ, mạch máu, gan...) do mỡ, giảm cân giúp các tổn thương này
ngưng tiến triển chứ không phục hồi được các tổn thương.
- Phòng tránh được các bệnh lý di truyền có liên quan đến béo phì : Một số bệnh lý mang
tính chất di truyền, nhưng chỉ biểu hiện thành bệnh khi có điều kiện thuận lợi là tình trạng
thừa cân, béo phì. Ngăn chặn béo phì có thể làm giảm yếu tố thuận lợi thức đẩy các bệnh lý
tiềm ẩn này tiến triển.
Đối với những người thừa cân, béo phì có mắc các bệnh lý liên quan đến dinh dưỡng và lối
sống, giảm cân là một phần bắt buộc có ảnh hưởng quan trọng đến kết quả điều trị chung. Đối
với những người này, cần có chế độ ăn và tập luyện riêng phù hợp với tình trạng bệnh lý và thể
trạng chung của bệnh nhân, được các chuyên viên theo dõi và điều chỉnh thường xuyên.
1. Nguyên tắc xây dựng thực đơn
- Phải xây dựng thực đơn dựa trên thực đơn hiện tại. Nếu đưa ra một thực đơn cứng nhắc,
xa lạ với chế độ ăn hàng ngày thì việc thất bại hầu như nắm chắc trong tay vì bệnh nhân sẽ bỏ
điều trị trong một thời gian rất ngắn. Cần có thực đơn 24giờ ghi lại trong 1-2 tuần liên tiếp, hỏi
kỹ về thói quen ăn uống, giờ giấc, loại thức ăn… và can thiệp từ từ
- Không được bỏ đói người bệnh dù là một bữa. Nhiều bữa ăn nhỏ với lượng thức ăn ít tốt
hơn ăn ít lần với số lượng nhiều thức ăn. Thức ăn trong các bữa phụ có thể rất nghèo năng
lượng nhưng có thể đảm bảo không để bệnh nhân đói
- Cung cấp đủ nhu cầu về các protein qúy, sinh tố và khoáng chất. Trong thực đơn phải
đảm bảo đủ lượng thịt cá, rau, trái cây.
- Ăn nhiều buổi sáng và giảm về chiều tối. Bữa ăn cuối trong ngày cách lúc đi ngủ ít nhất 3
giờ.
5

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×