Tải bản đầy đủ

Chuyên đề vận dụng kiến thức liên môn trong giảng dạy các bộ môn ở trường THCS

CHUYÊN ĐỀ
Vận dụng kiến thức liên môn trong dạy học
các bộ môn ở trường THCS
Chuyên đề bao gồm 3 phần:
1- Phần lý luận về dạy học liên môn.
2- Một tiết dạy thực hành.
3- Hoạt động kiểm tra kiến thức của học sinh với chủ đề “ Tác hại của thuốc
lá”.
PHẦN I

Lý luận về dạy học liên môn.
I. Quan niệm về dạy học liên môn:
- Dạy học liên môn là một trong những nguyên tắc quan trọng trong dạy học.
Đây được coi là một quan niệm dạy học hiện đại, nhằm phát huy tính tích cực của
học sinh, đồng thời nâng cao chất lượng giáo dục trong các nhà trường.
- Dạy học liên môn là hình thức tìm tòi những nội dung giao thoa giữa các
môn học với nhau, những khái niệm, tư tưởng chung giữa các môn học, tức là con
đường tích hợp những nội dung từ một số môn học có liên hệ với nhau. Từ những
năm 60 của thế kỉ XX, người ta đã đưa vào giáo dục ý tưởng tích hợp trong việc
xây dựng chương trình dạy học. Tích hợp là một khái niệm của lí thuyết hệ thống,
nó chỉ trạng thái liên kết các phần tử riêng rẽ thành cái toàn thể, cũng như quá trình

dẫn đến trạng thái này.
Tùy theo khoa học cụ thể mà có thể tích hợp các môn khoa học khác lại với
nhau như: Lí- Hóa- Sinh, Văn- Sử- Địa. Hoặc có thể tích hợp được cả các môn tự
nhiên với các môn xã hội như: văn, toán, hóa, sinh, GDCD…Ở mức độ cao, sự tích
hợp này sẽ hình thành những môn học mới, chứ không phải là một sự lắp ghép
thông thường các môn riêng rẽ lại với nhau. Tuy nhiên, các môn vẫn giữ vị trí độc
lập với nhau, chỉ tích hợp những phần gần nhau. Ở mức độ thấp thì việc tích hợp
được thực hiện trong mối quan hệ liên môn. Những môn được học riêng rẽ nhưng
cần chú ý đến những nội dung có liên quan đến các bộ môn khác, trong quá trình
dạy học chỉ cần khai thác, vận dụng các kiến thức có liên quan đến bài giảng mình
đang thực hiện.
Dạy học theo quan điểm liên môn có ba mức độ: ở mức độ thấp, giáo viên
nhắc lại tài liệu, sự kiện, kĩ năng các môn có liên quan, cao hơn đòi hỏi học sinh
nhớ lại và vận dụng kiến thức đã học của các môn học khác, và cao nhất đòi hỏi
học sinh phải độc lập giải quyết các bài toán nhận thức bằng vốn kiến thức đã biết,
huy động các môn có liên quan theo phương pháp nghiên cứu.
- Dạy học vận dụng kiến thức liên môn giúp cho giờ học sẽ trở nên sinh động
hơn, vì không chỉ có giáo viên là người trình bày mà học sinh cũng tham gia vào
quá trình tiếp nhận kiến thức, từ đó phát huy tính tích cực của học sinh.
- Dạy học liên môn cũng góp phần phát triển tư duy liên hệ, liên tưởng ở học
sinh. Tạo cho học sinh một thói quen trong tư duy, lập luận tức là khi xem xét một
1


vấn đề phải đặt chúng trong một hệ quy chiếu, từ đó mời có thể nhận thức vấn đề
một cách thấu đáo.
II- Cơ sở của dạy học liên môn :
1- Cơ sở lý luận:
“Những người theo quan điểm duy vật biện chứng khẳng định tính thống
nhất vật chất của thế giới là cơ sở của mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tuợng. Các
sự vật, hiện tuợng tạo thành thế giới, dù có đa dạng, phong phú, có khác nhau bao
nhiêu, song chúng đều chỉ là những dạng khác nhau của vật chất. Nhờ có tính thống
nhất đó, chúng không thể tồn tại biệt lập, tách rời nhau, mà tồn tại trong sự tác động
qua lại, chuyển hóa lẫn nhau theo những quan hệ xác định. Chính trên cơ sở đó,
triết học duy vật biện chứng khẳng định rằng, liên hệ là phạm trù triết học dùng để
chỉ sự quy định, sự tác động qua lại, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện
tượng hay giữa các mặt của một sự vật, của một hiện tượng trong thế giới”
Giữa các bộ môn khoa học xã hội có quan hệ với nhau như: Giữa Lịch SửVăn Học, giữa Lịch Sử- Triết học, kiến thức của các môn có thể bổ sung, hổ trợ
cho nhau, muốn hiểu được một tác phẩm văn học phải hiểu được hoàn cảnh sáng
tác tức là phải biết hoàn cảnh lịch sử ra đời của tác phẩm. Kiến thức của triết học sẽ

giúp ta hiểu về lực lượng sản xuất là gì, vì sao sự đấu tranh giữa các mặt đối lập lại
là động lực cho xã hội phát triển. Khi dạy bài “Bình Ngô đại cáo” giáo viên không
thể không nhắc tới cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Vì vậy, vận dụng nguyên tắc liên
môn trong dạy học văn học hay Lịch Sử là việc thực hiện tính kế thừa trong nhận
thức các quá trình lịch sử dân tộc và thế giới từ cổ đến kim, làm cho học sinh hiểu
rõ sự phát triển của xã hội một cách thống nhất, liên tục, tránh nhận thức rời rạc,
tản mạn. Đồng thời học sinh có thể thấy mối liên hệ hữu cơ giữa các lĩnh vực của
đời sống xã hội, giữa các môn học, từ đó phát triển tư duy cho hoc sinh.
Như chúng ta biết: Các sự vật, hiện tượng tạo thành thế giới luôn có mối
quan hệ gắn bó với nhau, tồn tại trong sự tác động qua lại và chuyển hóa lẫn nhau
theo những quan hệ xác định. Sự thay đổi sự vật, hiện tượng này có thể bắt nguồn
từ sự thay đổi sự vật hiện tượng khác, và đồng thời nó sẽ ảnh hưởng đến một sự
vật, hiện tượng khác nữa. Do đó, khi nhận thức về một vấn đề, chúng ta phải có
quan điểm toàn diện, tránh quan điểm phiến diện chỉ xét sự vật, hiện tượng ở một
mối liên hệ rồi vội vàng kết luận bản chất và quy luật của chúng. Vì vậy, để nhận
thức đúng đắn một vấn đề phải đặt chúng trong mối liện hệ giữa các bộ phận, giữa
các yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật, hiện tượng đó, trong sự tác động qua lại
giữa sự vật đó với sự vật khác, kể cả mối liên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp,
trên cơ sở đó ta mới nhận thức đúng và đầy đủ một vấn đề.
Con người là tổng hòa của các mối quan hệ xã hội. Trong cuộc sống, con
người không ngừng hoàn thiện bản thân mình, và để tồn tại trong xã hội con người
phải có tri thức. Con người tiếp nhận kiến thức thông qua quá trình học tập, học
trong nhà trường, học ngoài xã hội. Tri thức con người tiếp nhận bao gồm tri thức
tự nhiên và tri thức xã hội. Có như vậy, con người mới phát triển một cách toàn
diện.
2- Cơ sở thực tiễn
2


Nhìn chung trên thế giới, nhiều nước có xu hướng tích hợp các môn học
thuộc lĩnh vực khoa học xã hội như Lịch sử, Địa lí, Giáo dục công dân…để tạo
thành môn học mới, với hình thức tích hợp liên môn và tích hợp xuyên môn. Xu
hướng thứ hai là việc thực hiện quan điểm tích hợp nhưng không tạo môn học mới.
Đại diện cho xu hướng này là Cộng hòa Liên bang Đức; Hà Lan…
Ở Việt Nam, thời Pháp thuộc quan điểm tích hợp đã được thể hiện trong một
số môn học của trường tiểu học.Từ những năm 1987, việc nghiên cứu xây dựng
môn Tự nhiên – xã hội theo quan điểm tích hợp đã được thực hiện và đã được thiết
kế đưa vào dạy học từ lớp 1 đến lớp 5. Cho đến nay việc nghiên cứu quan điểm tích
hợp trong quá trình dạy học chưa được thực hiện một cách hệ thống, đầy đủ, đặc
biệt là ở bậc trung học. Tuy nhiên trong những năm gần đây, do yêu cầu của xã hội,
nhiều nội dung mới đã được tích hợp vào môn học.
Khi thực hiện môn học tích hợp có ưu điểm sau: Làm cho qua trình học tập
có ý nghĩa; Xác đinh rõ mục tiêu, phân biệt cái cốt yếu và cái ít quan trọng hơn;
Dạy học sử dụng kiến thức trong tình huống; Lập mối liên hệ giữa các khái niệm đã
học; Tránh những kiến thức, kỹ năng trùng lặp; Các kiến thức gắn liền với kinh
nghiệm sống của học sinh; Có điều kiện phát triển kỹ năng chuyên môn. Tuy nhiên
khi thực hiện môn tích hợp cũng gặp phải những khó khăn như: Còn mới đối với
các nhà trường, với giáo viên, với phương diện quản lý, tâm lý học sinh và phụ
huynh cũng như các nhà khoa học của mỗi bộ môn; Các chuyên gia, các nhà sư
phạm đào tạo giáo viên trong các trường sư phạm, các chuyên viên phụ trách môn
học, họ khó có thể chuyển đổi từ chuyên môn sang lĩnh vực mới cần sự kết hợp với
chuyên ngành khác mà họ đã gắn bó; Giáo viên và các cán bộ thanh tra, chỉ đạo
thường gắn theo môn học, không dễ gì có thể yêu cầu họ thực hiện chương trình
tích hợp các môn học; Phụ huynh học sinh và những người lớn khó có thể ủng hộ
những chương trình khác với chương trình mà họ đã được học.
3- Thực trạng của vấn đề dạy học liên môn hiện nay:
Thực trạng của vấn đề dạy học liên môn hiện nay có những nét chính sau:
Hiện nay giáo viên rất tích cực trong việc đổi mới phương pháp, vận dụng
quan điểm dạy học liên môn vào giảng dạy các bộ môn để nâng cao hơn nữa hiệu
quả giáo dục. Giáo viên đã nêu ra những thuận lợi cũng như khó khăn khi vận dụng
quan niệm dạy học này là số học sinh có hứng thú tìm hiểu kiến thức các bộ môn
nhất là các bộ tự nhiên ngày càng nhiều hơn, sách giáo khoa được trình bày theo
hướng “ mở”.Tuy nhiên, việc vân dụng quan niệm dạy học này cũng gặp phải
những khó khăn nhất định như điều kiện dạy học còn nhiều hạn chế, thiếu thốn, do
lượng kiến thức nhiều song thời gian học cho các môn thì ít; đời sống của giáo viên
còn thấp. Học sinh ít hứng thú với các môn xã hội.
Mặc dù, quan niệm dạy học liên môn đã được vận dụng vào giảng dạy lịch
sử, song hiệu quả đạt được là chưa cao. Do đó phần lớn học sinh hiện nay có thái
độ bình thường, chưa phát huy được tính tích cực trong học tập.
Vì vậy với chuyên đề này, không tham vọng gì nhiều, chúng tôi chỉ muốn
đưa ra một số nội dung cơ bản, trong việc vận dụng kiến thức của các bộ môn cụ
thể để giải quyết vấn đề nảy sinh trong quá trình dạy học.
3


III- Những vấn đề cụ thể áp dụng kiến thức liên môn vào các môn học:
1- Những vấn đề cụ thể áp dụng kiến thức liên môn vào các môn học:
Trong quá trình học tập ở nhà trường, các em sẽ được học các môn học bao
gồm các môn khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Khoa học tự nhiên gồm các
môn: Toán, Lí, Hóa, Sinh, Địa…và khoa học xã hội gồm: Văn, Sử GDCD, Mỹ
thuật… Giữa các bộ môn trong nhóm có quan hệ với nhau. Ví như giữa Văn Học
và Lịch Sử có liên hệ, kiến thức môn này sẽ hỗ trợ cho môn kia, văn học sẽ cung
cấp cho ta những tư liệu lịch sử mà nhờ đó học sinh có thể nhận thức một cách rõ
ràng, như khi học tác phẩm Tắt Đèn của Ngô Tất Tố, học sinh sẽ hiểu về những
thuế, những sưu mà nhân dân phải gánh chịu, hiểu được những chính sách áp bức,
bóc lột của thực dân Pháp, đặc biệt hiểu và thông cảm sâu sắc cho tình cảnh người
nông dân Việt Nam, làm việc cực nhọc “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” nhưng
vẫn không đủ sống, mà tôi nghĩ là bằng ngôn từ của mình giáo viên khó có thể khắc
họa hết những tủi nhục, những đắng cay mà người dân phải gánh chịu trong thời kỳ
pháp thuộc. Và cũng khó tìm thấy một ngôn từ nào để diễn tả cho hết sức mạnh như
vũ bão của quân ta trong cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược hơn những
lời thơ của Nguyễn Trãi:
Đánh một trận sạch không kình ngạc,
Đánh hai trận tan tác chim muông
Cơn gió to trút sạch lá khô
Tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ
( Bình Ngô đại cáo- Nguyễn Trãi)
Nguợc lại, Lịch sử cũng góp phần giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn về Văn
Học, như phải hiểu hoàn cảnh tác phẩm đó ra đời như thế nào mới hiểu hết được
dụng ý nghệ thuật cũng như nội dung sâu sa mà tác giả muốn gửi đến người đọc là
gì. Hay như giữa môn Địa Lí và lịch sử chẳng hạn, điều kiện tự nhiên sẽ ảnh hưởng
đến sự phát triển của lịch sử các nước, hiểu được vị trí địa lí, hiểu được quy luật
lên, xuống của thủy triều thì ta sẽ giải thích được vì sao quân dân ta lại ba lần đánh
thắng quân xâm lược trên sông Bạch Đằng. Nói về sự hỗ trợ của Lịch sử đối với
các môn học khác, G. Elton đã nói “Nhà sử học cũng có thể dạy cho các khoa học
khác rất nhiều điều. Anh ta có thể giúp các khoa học này hiểu thế giới quan của
nhiều phương án xây dựng sơ đồ, vạch rõ những mối quan hệ tương hỗ mà một
chuyên môn hẹp khó nhận thấy, giúp các khoa học xã hội hiểu rằng đối tượng mà
chúng có quan hệ là những con người. Trong khi tiếp nhận các khoa học khác tính
chính xác và tầm rộng của sự khái quát, đồng thời Lịch Sử có thể hoàn thành nghĩa
vụ của mình bằng cách xây dựng một thái độ nghiêm túc đối với các tài liệu và
tránh những khái quát không có cơ sở vững chắc”
Ví dụ: Khi dạy về chiến dịch điện biên phủ, để học sinh hiểu rõ thời gian
diễn ra chiến dịch và hiểu thêm về những gian khổ, hy sinh mà quân đội và nhân
dân ta đã trải qua, giáo viên chỉ cần đưa một số câu thơ minh họa sau:
Từ ngày 13/3/1954 ta bắt đầu tấn công Điện Biên Phủ:
Năm mươi sáu ngày đêm khoét núi,
ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt.
4


Máu trộn bùn non
gan không núng
chí không mòn! ( Tố Hữu),
Cho đến trưa ngày 7/5/1954, ta đã giành thắng lợi vẻ vang:
“Cờ quyết chiến quyết thắng
Tung bay trên nóc hầm
Chiều mồng bảy tháng năm
Một chiều hè lịch sử”
( Bài thơ: Một chiều hè lịch sử - SGK lớp 1 những năm chưa cải cách).
“Chín năm làm một Điện Biên
Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng!”…
(Trích trong bài thơ: Ba mươi năm đời ta có Đảng - Tố Hữu).
Giữa khoa học tự nhiên và khoa học xã hội cũng có quan hệ gắn bó với nhau,
như môn Vật Lí bằng phương pháp phóng xạ cacbon đã giúp xác định niên đại các
di vật cổ xưa. Hóa Học, sinh học, toán học còn giúp cho môn ngữ văn giải quyết
các vấn đề nảy sinh trong các văn bản nhật dụng. Ví dụ như: Khi giảng bài “ Ôn
dịch thuốc lá”, giáo viên có thể dùng kiến thức hóa học để làm rõ các chất có trong
thuốc lá; kiến thức môn sinh để thấy chất độc có trong thuốc lá có hại cho sức khỏe
con người như thế nào? Các phép tính còn giúp cho các em thấy được hút thuốc lá
không những có hại cho sức khỏe mà còn tiêu tốn tiền bạc; Môn GDCD giúp các
em hiểu được tác hại từ hút thuốc lá dẫn đến hủy hoại về đạo đức, nhân cách…
- Hay dạy học liên môn giữa môn lịch sử với môn Mỹ thuật. Đây là một
phương pháp dạy học hiện đại trong dạy học Lịch Sử, giúp học sinh phát triển toàn
diện về mọi mặt áp dụng vào giảng các bài tìm hiểu về văn hóa xã hội các thời kỳ
lịch sử. Ví dụ như bài “Phong trào văn hóa phục hưng” Giáo viên có thể đưa ra
những tranh, ảnh thể hiện hiện nội dung của phong trào văn hóa Phục Hưng, sau đó
sẽ giải thích về những nội dung được thể hiện trong tranh. Cuối cùng, đặt một số
câu hỏi giúp học sinh nhận thức vấn đề và rút ra kết luận cần thiết.
- Hoặc chúng ta có thể liên hệ các khái niệm vật lí liên quan đến môi
trường như: tiết kiệm, hiệu suất, năng lượng, phân loại năng lượng, phân loại
nguồn gốc năng lượng, năng lượng tái sinh và không tái sinh. Liên hệ kiến thức
vật lí liên quan đến các yếu tố tác động đến sự suy thoái và ô nhiễm môi trường:
Liên hệ kiến thức vật lí đến sự biến đổi khí hậu toàn cầu : hiệu ứng nhà kính, hiện
tượng băng tan… Liên hệ các kiến thức vật lí đến các hành động bảo vệ môi
trường như : các biện pháp chống ô nhiễm tiếng ồn (trong phần sóng âm), các biện
5


pháp tiết kiệm năng lượng, các biện pháp chống thất thoát nhiệt lượng, năng lượng;
các biện pháp tiết kiệm vật dụng, tăng hiệu suất và tuổi thọ của các thiết bị.
- Và đặc biệt là ta có thể giải thích câu tục ngữ bằng kiến thức hóa học: Ví dụ:
“ Nước chảy đá mòn” mang ý nghĩa hóa học gì?
Như chúng ta đã biết: Thành phần chủ yếu của đá là CaCO 3 (Canxi cacbonat).
Khi gặp nước mưa và khí CO2 (Cacbonic) trong không khí, CaCO3 sẽ chuyển hoá
thành Ca(HCO3)2 (muối Canxit hidrocacbonat). Theo Phương trình Hóa học sau:
CaCO3 + CO2 + H2O → Ca(HCO3)2
Tức là: Khi nước chảy cuốn theo Ca(HCO 3)2, theo nguyên lí dịch chuyển cân
bằng thì cân bằng sẽ chuyển dịch theo phía phải. Kết quả là sau một thời gian nước
đã làm cho đá bị bào mòn dần.
Áp dụng: Hiện tượng này thường thấy ở những phiến đá có dòng nước chảy qua.
Do hiện tượng xảy ra chậm nên phải thật sự chú ý chúng ta mới nhận ra điều này. Hiểu
được điều này giúp học sinh biết được dụng ý khoa học của câu tục ngữ có từ xa xưa và
làm cho hóa học trở nên rất gần gũi hơn trong cuộc sống đời thường. Giáo viên có thể
liên hệ vấn đề này ở phần “Muối cacbonat ”(Tiết 39 hóa lớp 9).
2- Một số phương pháp dạy học tích hợp:
Để nâng cao hiệu quả của môn học tích hợp, chúng tôi đã đưa ra một số
phương pháp để dạy học tích hợp như sau:
- Dạy học theo dự án
- Phương pháp trực quan
- Phương pháp thực địa
- Phương pháp dạy học đặt và giải quyết vấn đề
Trong các phương pháp trên, chúng ta thường sử dụng phương pháp thứ tư
đó là: Phương pháp dạy học đặt và giải quyết vấn đề.
Phương pháp dạy học đặt và giải quyết vấn đề là phương pháp dạy học trong
đó GV tạo ra những tình huống có vấn đề, điều khiển HS phát hiện vấn đề, hoạt
động tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo để giải quyết vấn đề và thông qua đó
chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kĩ năng và đạt được nhũng mục đích học tập khác.
Đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học đặt và giải quyết vấn là “tình huống
gợi vấn đề” vì “Tư duy chỉ bắt đầu khi xuất hiện tình huống có vấn đề”
Tình huống có vấn đề (tình huống gợi vấn đề) là một tình huống gợi ra cho
HS những khó khăn về lý thuyết hay thực tiễn mà họ thấy cần có khả năng vượt
qua, nhưng không phải ngay tức khắc bằng một thực giải, mà phải trải qua quá
trình tích cực suy nghĩ, hoạt động để biến đổi đối tượng hoạt động hoặc điều khiển
kiến thức sẵn có.
Đây chính là một trong những hình thức dạy học vận dụng kiến thức liên
môn để giải quyết những vấn đề đặt ra trong bài học.
6


IV- Thiết kế giáo án giờ học vận dụng kiến thức liên môn theo quan
điểm tích hợp:
Giáo án giờ học vận dụng kiến thức liên môn không phải là một bản đề
cương kiến thức để giáo viên lên lớp giảng giải, truyền thụ áp đặt cho học sinh, mà
là một bản thiết kế các hoạt động, thao tác nhằm tổ chức cho HS thực hiện trong
giờ lên lớp để lĩnh hội tri thức, phát triển năng lực và nhân cách theo mục đích giáo
dục và giáo dưỡng của bộ môn.
Đó là bản thiết kế gồm hai phần hợp thành hữu cơ: Một là, hệ thống các tình
huống dạy học được đặt ra từ nội dung khách quan của bài dạy, phù hợp với tính
chất và trình độ tiếp nhận của học sinh. Hai là, một hệ thống các hoạt động, thao tác
tương ứng với các tình huống trên do giáo viên sắp xếp, tổ chức hợp lí nhằm hướng
dẫn HS từng bước tiếp cận, chiếm lĩnh bài học một cách tích cực và sáng tạo.
Thiết kế giáo án giờ học vận dụng kiến thức liên môn phải bám chặt vào
những kiến thức các bộ môn có liên quan.
Thiết kế giáo án giờ học vận dụng kiến thức liên môn phải bảo đảm nội dung
và cấu trúc đặc thù nhưng không gò ép vào một khuôn mẫu cứng nhắc mà cần tạo
ra những chân trời mở cho sự tìm tòi sáng tạo trong các phương án tiếp nhận của
học sinh , trên cơ sở bảo đảm được chủ đích, yêu cầu chung của giờ học.
Nội dung dạy học của thiết kế giáo án giờ học vận dụng kiến thức liên môn
phải làm rõ những tri thức và kĩ năng cần hình thành, tích luỹ cho HS qua phân
tích, chiếm lĩnh bài văn; mặt khác, phải chú trọng nội dung tích hợp giữa tri thức bộ
môn mình dạy với các bộ môn khác.
Giáo án giờ học vận dụng kiến thức liên môn theo quan điểm tích hợp phải
chú trọng thiết kế các tình huống tích hợp và tương ứng là các hoạt động phức hợp
để học sinh vận dụng phối hợp các tri thức và kĩ năng của các phân môn vào xử lí
các tình huống đặt ra, qua đó chẳng những lĩnh hội được những tri thức và kĩ năng
riêng rẽ của từng phân môn mà còn chiếm lĩnh tri thức và phát triển năng lực tích
hợp.
V- Tổ chức giờ học vận dụng kiến thức liên môn trên lớp:
Tổ chức giờ học trên lớp là tiến trình thực thi bản kế hoạch phối hợp hữu cơ
hoạt động của giáo viên và học sinh theo một cơ cấu sư phạm hợp lí, khoa học,
trong đó giáo viên giữ vai trò, chức năng tổ chức, hướng dẫn, định hướng chứ
không phải truyền thụ áp đặt một chiều. học sinh được đặt vào vị trí trung tâm của
quá trình tiếp nhận, đóng vai trò chủ thể cảm thụ, nhận thức thẩm mĩ, trực tiếp tiến
hành hoạt động tiếp cận, khám phá, chiếm lĩnh kiến thức. Ví dụ trong văn học, ta
phải chuyển tác phẩm của nhà văn vào trong tư duy, cảm xúc của mình, biến tác
phẩm thành thế giới tinh thần, tình cảm của riêng mình để tự nhận thức, tự giáo dục
và phát triển theo mục đích định hướng giáo dục của giáo viên.
Tổ chức hoạt động vận dụng kiến thức liên môn trên lớp, giáo viên phải chú
trọng mối quan hệ giữa học sinh và nội dung dạy học, phải coi đây là mối quan hệ
cơ bản, quan trọng nhất trong cơ chế giờ học. Muốn vậy, giáo viên phải từ bỏ vai
trò, chức năng truyền thống là truyền đạt kiến thức có sẵn cho học sinh, còn học
sinh không thể duy trì thói quen nghe giảng, ghi chép, học thuộc, rồi sao chép, làm
thui chột dần năng lực tư duy, khả năng tự đọc, tự tìm tòi, xử lí thông tin, tổ chức
các kiến thức một cách sáng tạo của học sinh.
Quan điểm dạy học vận dụng kiến thức liên môn hay dạy cách học, dạy tự
7


đọc, tự học không coi nhẹ việc cung cấp tri thức cho học sinh. Vấn đề là phải xử lí
đúng đắn mối quan hệ giữa bồi dưỡng kiến thức, rèn luyện kĩ năng và hình thành,
phát triển năng lực, tiềm lực cho học sinh. Đây thực chất là biến quá trình truyền
thụ tri thức thành quá trình học sinh tự ý thức về phương pháp chiếm lĩnh tri thức,
hình thành kĩ năng. Muốn vậy, chẳng những cần khắc phục khuynh hướng dạy tri
thức hàn lâm thuần tuý và khắc phục khuynh hướng rèn luyện kĩ năng theo lối kinh
nghiệm chủ nghĩa, coi nhẹ kiến thức, nhất là kiến thức phương pháp.
* Tóm lại, “Quan điểm dạy học vận dụng kiến thức liên môn cần được hiểu
toàn diện và phải được quán triệt trong toàn bộ môn học; quán triệt trong mọi khâu
của quá trình dạy học; quán triệt trong mọi yếu tố của hoạt động học tập; tích hợp
trong chương trình, tích hợp trong sách giáo khoa, tích hợp trong phương pháp dạy
học của giáo viên và tích hợp trong hoạt động học tập của học sinh; tích hợp trong
các sách đọc thêm, tham khảo. Quan điểm “lấy học sinh làm trung tâm” đòi hỏi
thực hiện việc tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh trong mọi mặt, trên lớp
và ngoài giờ; tìm mọi cách phát huy năng lực tự học của học sinh, phát huy tinh
thần dân chủ, bồi dưỡng lòng tin cho học sinh thì các em mới tự tin và học tốt
được.

8



x

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×