Tải bản đầy đủ

Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể hát xoan Phú Thọ

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 3
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................... 3
2. Mục tiêu nghiên cứu ...................................................................................... 4
3. Mục đích nghiên cứu ..................................................................................... 4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................. 4
5. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 5
6. Bố cục của đề tài ........................................................................................... 5
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ PHÚ THỌ VÀ NGHỆ THUẬT HÁT
XOAN ............................................................................................................... 6
1.1. Khái quát về Phú Thọ........................................................................... 6
1.1.1.Đặc điểm tự nhiên ............................................................................. 6
1.1.2. Đặc điểm văn hóa – cư dân .............................................................. 7
1.2. Giới thiệu về loại hình hát Xoan.......................................................... 8
1.2.1.Khái niệm vào nguồn gốc ................................................................. 8
1.1.2. Tổ chức phường Xoan .................................................................... 12
1.2.3. Không gian và thơi gian hát xoan .................................................. 13
1.2.4. Trang phục, nhạc cụ hát Xoan........................................................ 14
Chương 2: NÉT ĐỘC ĐÁO CỦA NGHỆ THUẬT HÁT XOAN PHÚ
THỌ ................................................................................................................ 15
2.1.Phong tục tập quán .............................................................................. 15

2.1.1. Lệ giữ cửa đình và tục kết nghĩa ..................................................... 15
2.1.2. Cơ cấu tổ chức và thành viên trong sinh hoạt hát Xoan ................. 16
2.1.3. Giao tiếp ứng xử và địa điểm diễn xướng ...................................... 17
2.1.4. Mục đích ca hát và trang phục, đạo cụ, nhạc cụ khi hát ................ 18
2.1.5. Diễn xướng và trình tự cuộc hát Xoan............................................ 19
2.2. Nghệ thuật dân ca Hát Xoan ............................................................. 21
2.2.1. Lời ca .............................................................................................. 21
2.2.2. Âm nhạc .......................................................................................... 23
1


Chương 3: BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN NGHỆ THUẬT HÁT XOAN –
DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ ............................................................ 28
3.1.Hiện trạng ............................................................................................. 28
3.1.1. Hát Xoan trong sinh hoạt gia đình ................................................. 29
3.1.2. Hát Xoan trong trao duyên trai gái ................................................. 31
3.1.3. Hát Xoan trên sân khấu ca nhạc nghệ thuật quần chúng và chuyên
nghiệp ...................................................................................................... 32
3.2. Vấn đề khai thác, bảo tồn loại hình nghệ thuật hát Xoan .............. 33
3.2.1.Vấn đề khai thác nghệ thuật truyền thống hát Xoan ....................... 34
3.2.2. Bảo tồn loại hình nghệ thuật hát Xoan ........................................... 34
KÉT LUẬN .................................................................................................... 37
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 38
PHỤ LỤC ....................................................................................................... 39

2


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Vào những năm đầu của thế kỷ XXI, xu thế công nghiệp hoá – hiện đại
hoá đang diễn ra mạnh mẽ. Những thành tựu của cách mạng khoa học công
nghệ thế giới cùng với việc mở rộng giao lưu quốc tế là cơ hội để chúng ta
tiếp thu những thành quả trí tuệ của loài người. Đồng thời những thách thức
về vấn đề truyền thống và hiện đại cũng được đặt ra một cách cấp thiết và gay
gắt hơn bao giờ hết trong việc gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc.
Trong cái nhìn hồi cố về văn hoá truyền thống di sản văn hoá nói chung
và di sản văn hoá phi vật thể nói riêng có vai trò vô cùng quan trọng bởi “Di
sản văn hoá là tài sản vô giá gắn kết cộng đồng, là cốt lõi của bản sắc dân tộc,
cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hoá…”. Cũng chính vì

vậy mà nghị quyết 5 BCH TW khoá VIII đã nêu rõ: “Hết sức coi trọng bảo
tồn, kế thừa phát huy những giá trị văn hoá truyền thống, văn hoá cách mạng
bao gồm cả văn hoá vật thể và phi vật thể”.
Trên tinh thần đó,trong những năm qua tỉnh Phú Thọ đã có nhiều chính
sách, công trình nghiên cứu nhằm giữ gìn, khôi phục và phát huy giá trị
những di sản văn hoá phi vật thể,trong đó có hát xoan. Đặc biệt, ngày 3-102009, tại Phú Thọ đã diễn ra Hội thảo khoa học “Xây dựng hồ sơ quốc gia hát
xoan Phú Thọ đệ trình UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể của
nhân loại cần được bảo vệ khẩn cấp” do sở Văn hoá - Thể thao - Du lịch Phú
Thọ phối hợp với Viện âm nhạc Việt Nam tổ chức. Đây là mục tiêu quan
trọng nằm trong chiến lược phát triển văn hoá của tỉnh, góp phần thực hiện
nghị quyết hội nghị lần thứ 5 BCH TW khoá VIII về “Xây dựng văn hoá Việt
Nam tiên tiến và đậm đà bản sắc”. Và đến ngày 24/11/2012, UNESCO đã bỏ
phiếu chính thức công nhận đưa loại hình hát Xoan vào danh mục Di sản văn
hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp của thế giới.

3


Tuy nhiên, bước đường đưa hát Xoan trở thành di sản văn hóa phi vật
thể cùa nhân loại là một lộ trình dài và không đơn giản khi hát Xoan chủ yếu
nằm trong trí nhớ của những nghệ nhân cao tuổi, điều kiện thiếu thốn về trang
thiết bị. Chính vi thế cần đòi hỏi hơn nữa sự quan tâm của các cấp, chính
quyền từ TW đến địa phương trong cả nước, đăc biệt là chính quyền và nhân
dân tỉnh Phú Thọ.
Xuất phát từ những lý do trên em quyết định chọn đề tài “Bảo tồn và
phát huy giá trị văn hóa phi vật thể hát xoan Phú Thọ” làm đề tài bài tiểu
luận của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Bước đầu khái quát về những hình ảnh đặc trưng của hát Xoan Phú Thọ
cũng như những giá trị văn hóa phi vật thể tiêu biểu. Qua đó cho chúng ta
thấy được diễn trình của điệu hát cũng như những biến thái, thay đổi do sự tác
động của quá trình lịch sử, điều kiện kinh tế - xã hội…
3. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở tìm hiểu, phân tích nguồn gốc, lịch sử phát triển, lề lối tổ
chức quá trình diễn xướng, những đặc điểm cơ bản của hát Xoan và bước đầu
thẩm định những giá trị và vai trò đích thực của hát Xoan đối với đời sống
văn hóa của cư dân vùng đất tổ Phú Thọ
Nghiên cứu hát Xoan vùng Phú Thọ nhằm chỉ ra những nguyên nhân
thực trạng, từ đó làm cơ sở khoa học cho việc đề xuất phương hướng bảo tồn
và phát huy hát Xoan trong thời đại hiện nay
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài sẽ tập chung đi sâu vào nghiên cứu Hát Xoan – một di sản văn hóa
đặc sắc của cư dân vùng đất tổ Phú Thọ được tồn tại và phát triển trong sinh
hoạt văn hóa của dân chúng xưa và nay
Khảo sát thực trạng về hát Xoan ở xã Kim Đức và Phượng Lâu, thành
phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn gần đây.
4


5. Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu khoa học sử dụng những phương pháp sau:
- Phương pháp tổng hợp
- Phương pháp phân tích, so sánh
- Phương pháp điền dã
6. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài có cấu
trúc gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về Phú Thọ và nghệ thuật hát Xoan
Chương 2: Nét độc đáo trong nghệ thuật hát xoan Phú Thọ
Chương 3: Bảo tồn và phát huy nghệ thuật hát xoan – Di sản văn hóa
phi vật thể

5


Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ PHÚ THỌ VÀ NGHỆ THUẬT HÁT XOAN
1.1. Khái quát về Phú Thọ
1.1.1.Đặc điểm tự nhiên
Phú Thọ - một tỉnh miền núi nằm ở phía Tây_Bắc thủ đô Hà Nội,phía
đông giáp tỉnh Vĩnh Phúc,phía tây giáp 2 tỉnh Yên Bái và Sơn La,phía nam
giáp Hà Tây và Hòa Bình,phía bắc giáp Tuyên Quang và Yên Bái.
Là địa bàn chuyển tiếp giữa vùng rừng núi và đồng bằng, trung tâm của
nước Văn Lang cổ đại thời các vua Hùng dựng nước. Phú Thọ có địa thế và
cảnh quan phong phú, vùng núi cao tập trung ở phía Tây – Bắc, thuộc các
huyện Thanh Sơn, Hạ Hòa, Yên Lập. Vùng gò đồi thuộc các huyện Tam
Nông, Thanh Thủy, Thanh Ba, Hà Hòa, Đoan Hùng và Phù Ninh. Vùng đồng
bằng của tỉnh nhỏ hẹp, chủ yếu nằm ở phía nam huyện Lâm Thao và một số tả
ngạn sông Đà, thuộc huyện Thanh Thủy, địa hình bằng phẳng, đất đai phì
nhiêu, màu mỡ.
Ba con sông lớn của tỉnh là: sông Thao, sông Lô, sông Đà cùng hợp lưu
tại Việt Trì tạo thành một vùng đất “Sơn chầu thuỷ tụ”,một đầu mối giao
thông quan trọng của vùng trung bdu Bắc Bộ.
Đây cũng chính là quê hương của vùng xoan với 4 phường xoan cổ nay
thuộc địa bàn 2 xã Kim Đức và Phượng Lâu (thành phố Việt Trì).
Xã Kim Đức là một xã vùng gò đồi phía Bắc xã Phù Ninh, phía Nam
Vân Phú, phía đông xã Hùng Lô. Xã Kim Đức có 2 thôn: Kim Đức và Phù
Đức. là cội nguồn của Hát Xoan với những câu chuyện về phường săn Kim
Đức( phương săn lưới). Năm 1903 thành lập tỉnh Phú Thọ, huyện Hạc Trì
gồm 8 làng: Kim Đái, Nhượng Bộ, Phú Nam, Phù Đức, Phượng Lâu, Vân
Luông, Yên Lão, Yên Thái. Năm 1960 huyện Hạc Trì giải thể, xã Kim Đức
thuộc huyện Phù Ninh. Hiện nay Kim Đức có 2 thôn: Kim Đái và Phù Đức
thuộc thành phố Việt Trì.
6


Xã Phượng Lâu là nơi có phường xoan An Thái. Vào thế kỷ XIX xã còn
có tên là An Thích với 2 thôn: An Thái, Khả Lãm thuộc tổng Phượng Lâu
(Phù Ninh). Năm 1960 giải thể Hạc trì, Phượng Lâu, Thạch Quả, An Thái hợp
thành xã Phượng Lâu – Việt Trì như ngày nay.
1.1.2. Đặc điểm văn hóa – cư dân
Phú Thọ không chỉ đẹp bởi những vùng núi cao xung quanh mây phủ,
bởi những dòng sông êm ả xuôi dòng mà Phú Thọ còn đẹp bởi hồn người đất
Tổ.
Cư dân Phú Thọ phần lớn có nguồn gốc từ cư dân Văn Lang thời các vua
Hùng _ những con người đã làm nên nền văn minh sông Hồng nổi tiếng.
Người dân Phú Thọ cần cù chịu khó, rất mến khách và thân thiện. Họ gắn
chặt chẽ với nhau trong văn hóa xóm làng nên tính cộng đồng người Việt
được thể hiện một cách rõ rệt. Hơn hết, người Phú Thọ có truyền thống yêu
nước và giữ nước, mang trong mình dấu ấn của cội nguồn của dân tộc. Bản
thân mỗi người đều ý thức được trách nhiệm của mình trong việc giữ gìn, bảo
tồn và phát huy nét đẹp văn hóa truyền thống đó của dân tộc.
Với 2 thành phần chủ thể la người Kinh và người Mường cùng với hơn
21 dân tộc khác, cư dân Phú Thọ đã hòa nhập vào cộng đồng các dân tộc Việt
Nam góp phần tạo nên nền văn hóa phong phú và đậm đà bản sắc, trong đó
nền tảng văn hóa truyện thống thời đại Hùng Vương vẫn không ngừng được
bảo và phát huy.
Cũng chính từ nền văn hóa ấy đã cho ra đời các giá trị văn hóa vật thể
và phi vật thể vô cùng to lớn và đặc sắc. Cùng với Mộ Tổ, đền Hùng, Phú Thọ
còn rất nhiều di tích lịch sử văn hóa đầy huyền thoại và đậm chất sử thi, hệ
thống đình chùa, miếu mạo khá phong phú. Gắn kết những di tích ấy là các lễ
hội truyền thống từ hàng ngàn năm truyền lại: hội đền Hùng, hội đền Mẫu Âu
Cơ… Ngoài ra còn có các truyền thuyết, sự tích, thơ ca, hò vè, hát ví, hát
đùm…..của dân cư Mường ở những vùng quê rất đặc sắc: làng cười Văn
7


Lang, thơ Bút Tre…Điều đó đã tạo ra diện mạo văn hóa của vùng đất Tổ mà
không thể thấy ở bất cứ nơi nào khác và hát xoan – một di sản văn hóa phi vật
thể đặc sắc của Phú Thọ đã góp phần làm nên diện mạo đó.
Xã Kim Đức - Phượng Lâu – thành Phố Việt Trì là 2 xã có 4 phường hát
xoan cổ cũng là vùng văn hóa lễ hội với những truyền thuyết từ thời đại Hùng
Vương tiêu biểu cho văn hoá lễ hội đất Tổ với tính cổ sơ,truyền thống và
những đặc trưng : trò diễn sinh thực khí,chơi đu,chọi gà…Nằm trong địa bàn
Văn Lang xưa, vùng xoan cũng là một vùng đất dày đặc các di tích khảo cổ
các giai đoạn văn hóa phát triển liên tục từ Sơn Vi đến Phùn Nguyên, Đồng
Đâu, Gò Mun, Đông Sơn.
Tóm lại, vị trí và đặc điểm tự nhiên của Phú Thọ hoàn toàn thuận lợi cho
sự hình thành một trung tâm văn hoá lớn. Đây chính là cơ sở ra đời các di sản
văn hóa vật thể và phi vật thể mang sắc thái riêng vùng đất Tổ: sắc thái cội
nguồn điều này đã lý giải tại sao giúp nghệ thuật hát xoan tồn tại một cách
bền vững đến vậy. Trải qua bao thăng trầm, có giai đoạn tưởng như đã rơi vào
quên lãng nhưng rồi lại phục hồi và tồn tại trong lòng cộng đồng người Việt
cho đến tận ngày nay.
1.2. Giới thiệu về loại hình hát Xoan
1.2.1. Khái niệm vào nguồn gốc
Hát xoan là loại hình dân ca nghi lễ phong tục phục vụ nhu cầu tín
ngưỡng của cộng đồng, được hát ở cửa đình trong lễ hội mùa xuân. Mang 2
yếu tố thờ lễ và vui chơi.
Sự ra đời của hát xoan gắn liền với nhiều truyền thuyết và câu chuyện
dân gian nhằm lý giải về nguồn gốc và sự hình thành của hát xoan. Ở Phú Thọ
có 4 làng xoan gốc: Kim Đới, Phù Đức, Thét (Kim Đức VT) và An Thái (
Phượng Lâu Việt Trì). Theo truyền thuyết hát xoan có từ thời vua Hùng dựng
nước. Truyền thuyết kể rằng Hoàng Hậu của vua Hùng mang thai, đến thời kỳ
sinh nở đau bụng mãi không đẻ được. Lúc đó có 1 người hầu gái tâu với vua
8


về nàng Quế Hoa xinh đẹp lại múa giỏi hát hay, nếu mà đón nàng về thì
Hoàng Hậu sẽ có thể đỡ đau mà sinh nở được. Vua nghe lời, cho mời nàng
Quế Hoa tới, giọng hát hay như chim hót và tay dẻo như bướm của nàng đã
làm cho Hoàng Hậu quên đau mà hạ sinh Hoàng Tử. Nhà Vua mừng rỡ hết lời
khen ngợi và truyền cho các cô gái của mình học lấy điệu hát múa. Đó chính
là điệu hát xoan bây giờ. Các cụ già lý giải bởi vì được hát vào mùa xuân nên
được gọi là hát xoan.
Trong chuyến đi thực tế đến với hát xoan chúng tôi đã được trực tiếp tiếp
xúc với các nghệ nhân hát xoan. Và cũng đã được nghe các cụ kể về một vài
truyền thuyết khác nhau. Nghệ nhân Lê Xuân Ngũ – phường trưởng phường
xoan Phù Đức đã kể cho đoàn thực tế nghe về một truyền thuyết khác về hát
xoan. Cụ kể rằng: “Ngay đầu xuân vua Hùng đi Kinh lý, chiều mùng ba tết
dừng nghỉ lại ở Lải Lèn (Kim Đức), dân làng ra chào mừng và dân nhiều thức
ăn do họ tự làm, suốt đêm hôm ấy dân làng múa hát cho nhà vua xem.Sáng
hôm sau nhà vua từ biệt dân làng đi tiếp. Từ đó có miếu thờ ở Lãi Lèn và tục
lệ cứ đến chiều mùng 3 tết hàng năm dân làng lại sửa lễ rước kiệu ra đình để
“rước vua”. Suốt đêm hôm đó ở các cửa đình: Kim Đức, Phù Đức, Thét đến
sáng hôm sau mới tan hội. Từ mùng năm tháng giêng mới đi hát ở các đình
nước nghĩa, cũng vì thế mà hát xoan còn gọi là hát “Lãi Lèn”.
Chuyện dân gian ở các xã Cao Mại (Đình thờ công chúa Nguyệt Cư),
Hương Nộn (đền thờ Xuân Nương) là các xã có hát xoan và cũng có những
câu chuyện nguồn gốc hát xoan…Những câu chuyện gắn với thời kỳ lịch sử
Hùng Vương để mà lý giải cho việc hát xoan có từ lâu đời.
Chúng ta đều biết mỗi di tích văn hóa đều được gắn với một thời kỳ lịch
sử nhất định và hát xoan cũng không tách khỏi lịch sử phát triển văn hóa nghệ
thuật của dân tộc ta nói chung. Giai đoạn phát triển văn hóa nào cũng có
những đặc trưng riêng về hình thức nghệ thuật, ngôn ngữ nghệ thuật riêng để
ta có cơ sở mà xác định được thời điểm hình thành của di tích lịch sử ấy.
9


Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Nguyễn Khắc Xương đã nghiên cứu
khá kỹ lưỡng về quá trình ra đời và phát triển của hát Xoan (trong cuốn sách:
hát xoan phú thọ - NKK – 2008) và đưa ra một kết luận rằng: Hát xoan có từ
thời vua hùng dựng nước. Tới thời Hậu Lê (Lê Thánh Tông) hát xoan dân
gian được hòa nhập với xoan Cung Đình và cho ta thấy những dị bản xoan
bây giờ. Hát Xoan mang trong nó cả 2 dòng văn học: Văn học dân gian và
Văn học bác học. Theo các cụ nghệ nhân Phù Đức, những bài hát xoan do
Thân Nhân Trung (người Yên Dũng – Hà Bắc đỗ tiến sĩ năm Quang Thuận
thứ 7) soạn ra. Phường Xoan Phù Đức vẫn coi họ “Thân” và họ “Đỗ” là tổ của
hát xoan.
Có thể nói, hát xoan ra đời từ rất sớm gắn với sự ra đời và phát triển của
cư dân nông nghiệp trồng lúa nước, với tín ngưỡng thờ thành hoàng làng của
người Việt.Hát xoan ngoài nội dung ca ngợi thành hoàng làng còn là những
điệu dân ca, dân vũ ca ngợi bốn mùa, quê hương, phản ánh cuộc sống của
người dân lao động. Chính vì thế từ khi ra đời, hát xoan đã được người dân
đón nhận một cách nồng hậu và xem như một phần trong đời sống tinh thần
cư dân miền đất Tổ.
Hình thành và phát triển
Hát xoan ra đời từ rất sớm gắn với sự ra đời, phát triển cây lúa nước, với
đời sống của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước, với tín ngưỡng thờ Thành
Hoàng làng của người Việt.
Được sinh ra trên miền đất Tổ - trong cái nôi sinh tụ của người Việt cổ
thời các vua Hùng dựng nước Văn Lang, lại được hậu thuẫn bởi những điều
kiện tự nhiên xã hội thuận lợi. “Thiên thời - địa lợi - nhân hoà”. Tất cả những
điều kiện đó chính là cơ sở, là nền tảng để nghệ thuật hát xoan tồn tại và phát
triển một cách bền vững.
Loại hình dân ca nghi lễ phong tục, phục vụ nhu cầu tín ngưỡng của
cộng đồng. Hát xoan không thể thiếu được trong lễ hội mùa xuân,tại các cửa
10


đình là những làn điệu dân ca, dân vũ ca ngợi 4 mùa, quê hương phản ánh
cuộc sống của nhân dân lao động hàng ngày như: chèo thuyền, kiểm củi, đánh
cá….Hát xoan thực sự đã đi vào đời sống nhân dân lao động, gắn liền với họ
như một phần máu thịt. Họ sinh ra trong sự chào mừng của tiếng hát xoan mẹ
hát, họ lớn lên cùng với nghệ thuật hát xoan. Và khi ra đi họ cũng mang theo
sự say mê với nó. Họ truyền dạy cho con cháu đời sau với mong muốn nghệ
thuật hát xoan sẽ mãi mãi được giữ gìn và phát triển.
Nếu như trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển, xoan chỉ là những
bài hát mang tính chất khấn nguyện trong lễ tế Thành hoàng làng, vua quan
với nghệ thuật trình diễn thô sơ, cấu trúc âm nhạc đơn giản, mang tính dân ca
dân dã thì ở giai đoạn sau, những nho sĩ thời Lê đã kết hợp giữa dân ca Hùng
vương với tư tưởng Nho gia, ngôn từ bác học như “ tuyết trăng mây núi”, “
ngư tiều canh mục”… tạo nên sự phong phú và đặc trưng riêng của nghệ thuật
hát xoan như ngày nay.
Sau năm 1945 vua Bảo Đại thoái vị, kết thúc chế độ phong kiến ở Việt
Nam, hát xoan mất đi 1 điểm tựa vững chắc, những đình làng, miếu mạo bỏ
khong, tổ chức phường xoan trở nên rời rạc…vì thế đã có thời điểm hát xoan
bị rơi vào quên lãng.
Mãi đến năm 1995 dựa vào một số làn điệu còn lại được lưu giữ trong
dân gian các nghệ nhân đã cải biên lời mới và thành lập đội văn nghệ chuyên
luyện tập và biểu diễn hát xoan tại các cửa đình vào lễ hội mùa xuân. Năm
1975 đội văn nghệ này bị giải tán.
Năm 1979 tại hội diễn dân ca và nhạc cổ truyền ở Bắc Ninh có 6 người
tham gia và đạt huy chương vàng. Điều này đánh dấu sự trở lại của nghệ thuật
hát xoan vào năm 1990. Đến năm 1992 hát xoan được yêu cầu đưa vào phục
vụ lễ hội đến Hùng. Từ đây người dân trong tỉnh và du khách thập phương đã
được tiếp cận nhiều hơn với ghệ thuật hát xoan. Năm 1998 câu lạc bộ hát
xoan gồm thanh niên được thành lập. Từ ngày 19/9 đến 23/9/2009 Tô Ngọc
11


thanh đưa người sang diễn hội thảo ở Thái Lan với 6 nước vùng sông mê
Kông.
Đặc biệt vào ngày 3/10/2009 tại phú thọ đã diễn ra hội thảo khoa học xây
dựng hồ sơ quốc gia hát xoan Phú Thọ đệ trình lên UNESCO công nhận là di
sản văn hoá phi vật thể của nhân loại cần được bảo vệ khẩn cấp do Sở văn
hoá_Thể thao_Du lịch tỉnh Phú Thọ phối hợp với âm nhạc Việt nam tổ chức.
Góp phần thể hiện nghị quyết hội nghị lần thứ 5 BCH TW khoá VIII về xây
dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc.
1.1.2. Tổ chức phường Xoan
Hát xoan tổ chức thành phường xoan, còn gọi là họ xoan.Hiện nay ở Phú
Thọ còn lại 4 phường xoan,trong đó tại xã Kim Đức có 3 phường xoan: Kim
Đới, Phù Đức,Thét.
Phường xoan là tổ chức văn nghệ nghiệp dư của những người cùng làng,
phần lớn là có quan hệ họ hàng, bà con với nhau. Phường xoan chỉ nhận
những người cùng làng mà không kết nạp nơi khác.
Mỗi phường xoan có 8-15 người hoặc có thể đông hơn. Đứng đầu
phường xoan có một ông trùm là người đứng tuổi có uy tín, kinh nghiệm về
nghề nghiệp, biết chữ Nôm. Có nhiệm vụ quản lý các thành viên trong
phường, hướng dẫn học các làn điệu và bài hát xoan. Có trách nhiệm giao tiếp
với các cửa đình nơi họ xoan đến hát vào mùa lễ hội.
Ngòai ra còn có 4-5 kép,12-15 đào. Nam gọi là kép, nữ gọi là đào.Kép
có thể là người đứng tuổi đã có vợ con nhưng phường xoan nào cũng phải có
1- kép con từ 12-15 tuổi để múa hát các điệu mở đầu. Đào xoan là những cô
gái xinh đẹp hát hay tuổi từ 15-20, khi đã có chồng thường không theo
phường nữa.
Hiện nay, tại phương xoan Phù Đức (Xã Kim Đức) do nghệ nhân Lê
Xuân Ngũ làm phường trưởng cho biết: “Hiện nay phường xoan có hơn 30

12


người, có 4 người 10 tuổi, có 6 người đang học cấp 2,còn lại là các cụ già và
thanh niên”.
Do tuyển lựa người cùng làng nên nhiều trường hợp người trong một gia
đình, 1 chi, 1 họ cùng trong 1 phường và lần lượt thế hệ thời gian họ xoan tạo
nên tính kế thừa truyền thống của phường xoan. Những người trong phường
còn gọi nhau là “ con họ”. Vì thế phường xoan còn là một tổ chức phường họ
mang tính gia trưởng.
1.2.3. Không gian và thơi gian hát xoan
Hát xoan là hình thức hát cửa đình, hát thờ lễ cho nên không hát ngoài
trời như hát ví, hát quan họ. Xoan được hát trong đình, trước đèn thờ lung linh
đèn, nến và hương thơm. Vì vậy, “Không thể tách xoan khỏi môi trường sống
của nó” (Cô Nguyễn Mai Thoa – trưởng phòng công tác nghiệp vụ bảo tàng
tỉnh Phú Thọ).
Các họ xoan mở đầu múa hát từ mùng 1 tết đầu xuân trên quê xoan. Buổi
sáng các ngày tết phường xoan làng nào cứ hát ở cửa đình làng ấy nhưng tổi
các họ xoan lại họp nhau lại lần lượt hát ở các đình miếu:
Mồng 1 tểt hát ở đình Cả và miếu Cấm làng An Thái và Phượng An.
Mồng 2 tết hát ở làng Đơi của Kim Đới
Mồng 3 tết hát ở miếu Lãi Lèn của Phù Đức
Mồng 4 tết hát ở miếu Thét, Phù Đức
Cả 4 cuộc hát trên đều hát từ tối hôm nay đến tận sáng hôm sau. Những
đêm hát ấy cũng là đêm hội làng náo nức của không khí hội hè đình đám mùa
xuân.Từ mồng 4 tết trở đi, các họ xoan bắt đầu khăn gói lên đường lần lượt đi
hát ở các đình nước nghĩa. Khi đi hát theo tục giữ cửa đình, thường cứ 2
phường xoan đi với nhau, ít khi đi cả 4 phường hoặc đi hát 1 phường. Các họ
xoan chia nhau giữ cửa đình của 16 xã không kể 2 xã gốc xoan:
+ Phường xoan An Thái giữ các cửa đình ở các xã:
Nông Trang, Cẩm Đội, Dĩu Lâu (Việt Trì)
13


Cao Mại, Hữu Bổ, Thanh Đình (Lâm Thao)
Đức Bác (Lập Thạch – Vĩnh Phúc)
Hương Nộn (Tam Nông)
+ Phường xoan Phù Đức giữ các cửa đình:
Tây Cốc (Đoan Hùng)
Tử Đà, Y Kỳ, Phù Ninh Nha Môn (Phù Ninh)
+ Phường Thét giữ các cửa đình:
Tử Du, Hoàng Thượng, Hạ Quế (Vĩnh Tường – Vĩnh Phúc)
+ Kim Đới không chính thức giữ cửa đình nào mà chỉ theo các họ bạn và
chỉ hát ở trong phạm vi huyện Phù Ninh mà ít khi hát nơi khác. Thông thường
2 họ xoan cùng đi với nhau hát ở 1 đình nhưng họ xoan giữ cửa đình vẫn
được ưu đãi hơn về mặt tinh thần như được tế thần, ông trùm xoan được đứng
ngang chiếu nhất ngang với chủ tế. Cũng chỉ phường xoan giữ cửa đình mới
đước hát nhập tịch mời thần linh về dự và hát bài Kiều Dương mở đầu 14 quả
cách.
1.2.4. Trang phục, nhạc cụ hát Xoan
Ông trùm và kép mắc áo the khăn xếp, quần áo trắng. Kép hát cũng có
khi dùng khăn lượt, cổ quấn khăn nhiêu hay lụa bạch.
Đào xoan – y phục là áo tứ thân, áo cánh tơ tằm, khăn vuông thâm, một
khăn vấn bằng vải nâu tím, thắt lưng màu, yếm trắng hay màu cánh sen, màu
hoa đào, màu điều, chiếc nón nhị thôn.
Nhạc cụ của phường xoan đơn giản:
Gồm 1- 2 chiếc trống con và bộ phách làm bằng tre hay mai dày, dài một
gang tay.

14


Chương 2
NÉT ĐỘC ĐÁO CỦA NGHỆ THUẬT HÁT XOAN PHÚ THỌ
2.1. Phong tục tập quán
2.1.1. Lệ giữ cửa đình và tục kết nghĩa
Ở Phú Thọ có 21 làng có tục Hát Xoan song chỉ có 4 làng có người đi
hát: Kim Đơi ( Kẻ Đơi), Phù Đức, Thét ( ba làng này đều thuộc xã Kim Đức)
và làng An Thái ( xã Phượng Lâu -thành phố Việt Trì). Bởi vậy vào mùa lễ
hội, 4 phường Xoan của làng sau khi khai xuân bằng múa hát ở đình làng
mình từ ngày mùng 1 đến ngày mùng 4 tết ( âm lịch), thì từ ngày mùng 5 tết
các phường Xoan phải chia nhau đến hát ở các cửa đình làng bạn . Ngoài 4
làng Xoan gốc, 17 làng ở Phú Thọ và Vĩnh Phúc có tục Hát Xoan là:
- Làng Tử Đà, xã Tử Đà huyện Phù Ninh,
- Làng Phù Ninh, xã Phù Ninh, huyện Phù Ninh
- Làng An Đạo, xã An Đạo, huyện Phù Ninh.
-Làng Tiên Du, xã Tiên Du, huyện Phù Ninh.
-Làng Cao Mại, xã Cao Mại, huyện Lâm Thao.
-Làng Hữu Bổ, xã Kinh Kệ, huyện Lâm Thao.
-Làng Thanh Mai,xã Thanh Đình, huyện Lâm Thao.
-Làng Cổ Tích, xã Hy Cương, huyện Lâm Thao.
-Làng Cẩm Đội, xã Thụy Vân, huyện Việt Trì.
-Làng Tử Du, xã Tử Du, huyện Lập Thạch.
-Làng Đức Bác, xã Đức Bác, huyện Lập Thạch.
-Làng Hoàng Chuế, xã Kim Xá, huyện Vĩnh Lạc.
-Làng Xậu, xã Kim Xá, huyện Vĩnh Lạc.
-Làng Tây Cốc, xã Tây Cốc, huyện Đoan Hùng.
-Làng Nông Trang, thành phố Việt Trì.
-Làng Dữ Lâu, thành phố Việt Trì.
-Làng Hương Nộn, xã Hương Nộn, huyện Tam Nông.
15


Cuộc lưu diễn của các phường Xoan thường diễn ra trong gần 3 tháng.
Lệ giữ cửa đình quy ước mỗi phường Xoan chỉ có một số cử đình chính để
hang năm đến hát thờ. Ví dụ phường Kim Đơi giữ cửa đình Hữu Bổ Thanh
Mai, Nha Môn...phường Phù Đức giữ các đình Phù Ninh Đức Bác, Y Kỳ, Tây
Cốc.
Phường Xoan mời cá làng đến hát chung với nhau bằng “tục kết chạ”
(nước nghĩa) anh em. Phường Xoan là em, làng sở tại là anh. Mối tình anh em
này rất được trân trọng. Tục kết nghĩa cũng quy định đào, kép phường Xoan
cũng không được kết hôn với trai gái của làng mình kết nghĩa. Quy định này
phản ánh tình cảm trong sang, lành mạnh giữa đào kép phường Xoan với trai
gái làng kết nghĩa.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức và thành viên trong sinh hoạt Hát Xoan
Những người đi Hát Xoan được tổ chức với lại gọi là phường Xoan(
hoặc họ Xoan). Phường Xoan từ 15-20 người, trong đó 4-5 là nam, nữ từ 1520 người. Nam gọi là ké. Nữ gọi là đà. Kép có thể đã có vợn nhưng trong
phường ít nhất phải có một kép trẻ, tuổi từ 10-15. Đào đều là các cô gái xinh
đẹp hát hay, tuổi từ 15-20. Đứng đầu phường Xoan là một người đàn ông đã
đứng tuổi, thuộc nhiều bài hát Xoan, biết chữ Nôm, được dân làng tín nhiệm
bầu làm trùm. Ông trùm vừa là người hướng dẫn đào kép hát, múa, vừa là
người quản lý, vừa là người giao dịch với các làng mà phường Xoan đến hát.
Để có uy tín với các làng kết nghĩa, vai trò của ông trùm rất quan trọng. Ông
trùm phường Xoan thường là kép của phường, đã tham gia đi hát rất nhiều
năm, có nhiều kinh nghiệm, biết nhiều điển tích đọc được văn bản Hát Xoan
bằng chữ Nôm. Ông trùm vừa là nhạc công thuần thục giữ nhịp trống phách,
vừa là kép hát dẫn thành thạo, vừa là chỉ đạo nghệ thuật, vừa là thày dạy dỗ
các đào kép hát múa. Đặc biệt ông trùm phải có khả năng quản lý và giao
dịch. Hàng năm vào tháng chạp âm lịch, phường Xoan được tập hợp dưới
luyện tập hướng dẫn của ông trùm. Địa điểm luyện tập tại nhà ông trùm.
16


Phường Xoan hoạt động như một đơn vị hoạt động nghệ thuật bán
chuyên nghiệp, do đó khâu tuyển chọn đào kép rất được chú trọng. Kép trong
phường Xoan không những là diễn viên hát mà còn là nhạc công có tay trống
tay phách điêu luệyn. Đào phường Xoan phải đảm bảo có hai tiêu chuẩn
nhanh và sắc. Thiếu một trong hai tiêu chuẩn không được nhập phường. Khi
đã có chồng thường các cô đào không theo chồng đi hát nữa. Ngoài khẳ năng
bẩm sinh về thanh sắc,các cô đào được truyền kỹ năng về hát múa, được
giảng dạy cặn kẽ về các điển tích, được trau dồi bồi dưỡng thường xuyên về
kiến thức văn học dân gian, âm nhạc dân gian và cả âm nhạc bác học.
Như một đơn vị nghệ thuât bán chuyên nghiệp, phường Xoan lưu diễn từ
làng này qua làng khác, mỗi làng sở tại đều có những yêu cầu riêng. Có làng
yêu cầu ngoài phần hát lề lối các cô đào cùng các chàng trai sở tại Hát Đúm
giao duyên. Có làng có những tư gia mời phường Xoan đến hát tại nhà, chủ
yếu là hát bài bản, làn điệu thuộc giọng ngoài như: Giọng Lý, Giọng Ru,
Giọng Phú.. .đây là bài bản làn điệu có âm điệu, lời ca và lối hát khác với Hát
Xoan. Nhất là giọng Phú, chỉ hát những điển tích của văn chương bác học:
Phú Kiều, phú Lưu Bình Dương Lễ, phú Thị Kính.
Với những yêu cầu của các làng sở tại thì từ ông trùm đến các đào kép
phải có một trình độ nhất định và khả năng văn hoá âm nhạc tương đối phong
phú mới đáp ứng được yêu cầu.
2.1.3.Giao tiếp ứng xử và địa điểm diễn xướng
Như đã nói ở trên thì mối quan hệ giữa phường Xoan với các làng
phường Xoan đến ca hát là quan hệ anh em, tục kết nghĩa giao ước phường
Xoan là em, làng sở tạ là anh. Tuy nhiên trong giao tiếp ứng xử hai bên đều
hết sức trân trọng, xưng là anh em nhưng bình đẳng.
Địa điểm diễn xướng ở cửa đình còn hát ở cửa đình, nhưng còn hát ở
trong đình. Ngày xưa trước cuộc Hát Xoan, đào phường Xoan thường Hát
Trống Quân với trai làng Đức Bác ở bến song, trên đường làng đầu đường
17


làng, đầu đường làng rồi mới vào hát ở cửa đình.Một số làng lại có những tư
gia, sau khi nghe Hát Xoan ở cửa đình thì lại mời phường Xoan về hát ở nhà,
nhưng không hát thờ mà chủ yếu nghe Hát Phú ngâm ngợi những bài thơ áng
văn.
2.1.4.

Mục đích ca hát và trang phục, đạo cụ, nhạc cụ khi hát

Như đã phân tích ở trên, khởi thuỷ mục đíchc của sinh hoạt Hát Xoan là
tế thần cầu mong cho phong đăng hoà cốc, dân làng an khang thịnh vượng, rồi
để trai gái hát giao duyên. Trong quá trình, phát triển có lẽ đầ tiên chỉ có dân
cư ở một hai làng, trên cơ sở của múa tín ngưỡng người ta xướng lên những
lời cầu khẩn trầm bổng mà thành Hát Xoan. Để thoả mãn nhu cầu tâm linh,
nhu cầu giao tiếp, nhiều làng mời Xoan gốc đến hát, và để cảm tạ những
người đi hát người ta cho tiền hoặc biếu gạo cho họ, lâu dần lệ. Vì thế, mục
đích đi hát của phưỡng Xoan ngoài việc thoả mãn nhu cầu tâm linh nhu cầu
ca hát thì còn nhằm hưởng gao hoặc tiền.
Phường Xoan có cơ cấu tổ chức khá chặt chẽ, có phương thức hoạt động
như một đơn vị hoạt động bán chuyên nghiệp. Bởi vậy hàng năm phường
Xoan thường trích một khoản thù lao thu nhập tù đi hát để mua sắm trang bi
đạo cụ và nhạc cụ. Khi đi hát các cô đào thường mặc váy sồi hay quần láng
đen, áo tứ thân, năm thân,( hoặc là bao xanh bao hồng), đầu vấn khăc nhung
đen ,hay khăn mỏ quạ. Kép và những chàng trai làng tham gia trong cuộc Hát
Xoan , mặc quần ồng sớ màu trắng, áo the thâm dài tới đầu gối. cổ quàng dải
nhiễu điều , đầu đội khăn hay khăn xếp đen. Trong quan niệm của phường
Xoan, trang phục khi đi hát phải đẹp, trang trọng không những biểu long tôn
kính với thần linh mà còn biểu lộ sự tôn trong của mình đối với dân các làng
kết nghĩa. Đây cũng là biểu hiện văn hoá ứng xử của phường Xoan.
+ Đạo cụ hành nghề của phường Xoan rất đơn giản, chỉ có quạt giấy với
một quyển sách chép đầy đủ 14 Quả cách chép bằng chữ Nôm.

18


+ Nhạc cụ của phường Xoan cũng rất đơn giản, chỉ gốm một trống nhỏ
bằng gỗ( thường gỗ mít già) hoặc cặp trống bịt bằng da trâu hoặc da bò, và
mộtcặp phách.
2.1.5. Diễn xướng và trình tự cuộc hát Xoan
* Chặng nghi thức:
Phường Xoan thường đi hát ở các làng kết nghĩa, nên phần nghi thức ông
trùm phường cùng ông chủ tế làng s tại phải đứng trước hương án của làng,
chắp tay kinh cẩn vái lạy các thần linh. Sau đó ông trùm phường hát những lời
thỉnh mời, đươc xướng theo kiểu vãi tế gọi là Hát Chúc, nối tiếp bài Hát Chúc
là bài Gíáo Trống. Bài Giáo Trống do chú kép trẻ nhất phường với chiếc trống
nhỏ đeo trước bụng vừa múa vừa nhảy dẫn, phường Xoan phụ hoạ phần diễn
của chú kép trẻ, bốn cô đào ra trước hương án, tay nâng quạt làm điệu bộ
dâng hương, chân bước lên bước xuống, hát bài Thơ nhang, Đóng đám...
Nội dung chủ yếu của những bài hát ở phần nghi thức là thỉnh mời, cầu
xin các vi thần linh về dự lễ tế, che chở cho dân làng được an khang, mua
màng tươi tố thiên hạ thái bình.
* Chặng hát các Quả cách
Hát cách hay trình bày các Qủa cách là lối hát các bài bản khá dài như
bài văn hay bài diễn ca. Nội dung Qủa cách miêu tả cảnh đẹp thiên nhiên với
bốn mùa xuân, hạ, thu, đông hay mô tả cuộc sống của bốn lớp người trong xã
hội lúc bấy giờ: sĩ, nông, công, thương, hoặc kể lại những chuyện xưa.
Hát cách gồm 14 bài bản được gọi là Quả cách và có tên gọi và được sắp
xếp trình diễn như sau:
Kiều Giang Cách.
Nhàn Ngâm Cách.
Tràng Mai Cách.
Ngư Tiều Canh Mục Cách.
Đối Dẫy Cách Xuân Thời Cách.
19


Hồi Liên Cách.
Hạ Thời Cách.
Thu Đông Cách.
Đông Thời Cách.
Tứ Mùa Cách.
Thuyền Chèo Cách.
Tứ Dân Cách.
Chơi Dâu Cách.
Cấu Trúc mỗi Qủa cách gồm có ba phần: mở đầu là giáo cách, phần
trung tâm là đưa cách, phần kết thúc là kết cách. Về diễn xướng thì mỗi Qủa
cách có nhiều vẻ nhưng cơ bản là hát ngâm và hát nói. Ông trùm phường
Xoan hay một kép ngồi ở giưa khoang đình vừa đánh trống phách vừa hát
dẫn, các cô đào đứng sau hát phụ hoạ bằng cách hát lai nguyên một câu hay
một đoạn vừa hát, có khi chỉ là nhưng câu đưa hơi. Để nối các Qủa cách theo
tình tự diễn xướng người ta thường dung các câu láy: các bạn họ ta lấy qua
làm dậm, là hỡm dậm nào dậm ấy cho qua, hoặc cách ấy cho qua, hỡi ban
chèo ta giờ sang cách khác.
Các Qủa cách là những áng văn chữ Nôm được cấyn ghép vào Hát Xoan
do một số các nhà Nho viết ra, mang nhưng yếu của văn chương bác học. Một
trong những biểu hiện của sự cấy ghép này là một các đình làng như Cao Mại,
Hữu Bổ, Hương Nộn. ở Phú Thọ có tổ chức mời các phường Xoan đến hát thi
các Qủa cách. Hát thì có giải nhất nhì, ba tuỳ theo sư chính xác về lời văn của
người thi hát so với sách mẫu.
*Chặng bát hội
Hát hội là chăng sôi nổi nhất, sinh động nhất và kết thúc một cuộc Hát
Xoan.
Hát hôi gồm nhiều bài được kết nối với nhau theo hình tức tổ khúc hay
liên khúc vừa hát, vừa múa, vừa diễn trò. Trình tự hát hội có các phần: Bợm
20


gái, Bỏ Bộ, Xin hoa- Đố chữ. Gài Hoa, Dã Cá. Dã Cá là tiết mục được trình
diễn như một hoạt cảnh, có nơi là các cô đào , có nơi là các trai láng sở tại
được đóng vai cá bị lưới bủa vây, bắt được dâng lên bàn thờ tế thần , tế thần
xong mới được trở lại làm người. Tiết mục Dã Cá rất sôi nổi vui vẻ, kết thúc
cuộc Hát Xoan trong không khí tưng bừng của lễ hội. Trước tiết mục Dã Cá
,ở nhiều làng còn đưa thêm mục Hát Đúm xen vào trong cuộc Hát Xoan. Hát
Đúm được xen vào Hát Xoan làm tăng thêm phần sinh động của cuộc hát
2.2. Nghệ thuật dân ca Hát Xoan
2.2.1. Lời ca
Hát Xoan cũng như một số các hình thái sinh hoạt văn hoá âm nhạc dân
gian khác của người Việt: Hát Dô, Hát Dậm, Hát Chèo Tàu, Hát Quan Họ, Ca
Trù. Khởi đầu đều là lối hát tế thần( từ nhiên thần đến nhân thần) rồi từ dần
đến những yếu tố tín ngưỡng, tâm linh bớt đi (Quan họ). Là loại dân ca lễ
nghi phong tục, lời cà trong Hát Xoan phản ánh khá rõ tín ngưỡng của cộng
đồng người Việt: phồn thực thờ tổ tiên, thờ thần.. .tín ngưỡng thờ thần thể
hiện trong bài Giã cá:
May ra bắt được cá măng
Đem lên tiến cúng cả làng bình yên.
Tín ngưỡng phồn thực:
Tôi bước chân vào giáo trống Tìm đền thượng chúc cho minh Năm trống
cơm thiên hạ thái bình Năm trống cơm nhà no mọi đủ Năm trống cơm mọi vẻ
mọi hay.
Cùng với nội dung về thần linh, thần quyền, lời ca trong Hát Xoan còn
đề cập đến vương quyền:
Nhà tôi nhà Lê Là song Bồ Đề Trở về thiên hạ Cày bừa ruộng Lê.
Kẻ sĩ là một trong bốn thành phần tứ dân: sĩ nông - công- thương cũng
được phản ánh rõ nét trong lời ca Hát Xoan. Các nhà Nho đồng nghĩa với kẻ

21


sĩ thì phải học hành. Học hành thi cử để làm quan, vinh quy bái tổ là ước mơ
của các tầng lớp nhân dân lúc bấy giờ:
Sống được làm quan Cưỡi ngựa bên Tàu Vinh quy bái tổ.
Là một xã hội nông nghiệp, chủ đề chính của nội dung Hát Xoan vẫn là
nghề nông:
Đêm mưa ngày nắng
Đầu tháng cuối năm
Lúa dé, lúa chiêm cho no làng
Ngoài đồng tốt lúa
Lúa tốt mạ lên cho chật nhà
Mặc dù là hai tầng lớp được coi là thứ hạng thấp nhất trong xã hội nhưng
nghề công và nghề thương cũng được ca ngợi trong Hát Xoan:
Công thời khéo léo thập phân Làm nên đền các thánh nhân dõi truyền
Thương thì buôn ván bán thuyền Kim ngân vô số, lụa tiền đầy đa.
Tình yêu nôi dung muôn thuở của văn chương từ cổ chí kim, từ Đông
đến Tây, từ Nam tới Bắc được phản ánh trong lời ca Hát Xoan rất đa dạng:
Trầu anh trầu túi trầu văn Trầu em dải yến để lâu cũng tan Anh xuôi kẻ
chợ mớ về Nghìn vàng chả tiếc xin kề chút hơi Kẻo còn thương nhớ anh ơi.
Lời ca trong Hát Xoan được cấu trúc theo nhiều thể thơ. Thể thơ 4 chữ, 5
chữ, lục bát, song thất lục bát, thất ngôn.. .Thơ trong Hát Xoan bao gồm cả
thơ dân gian và thơ bác học.
Thể thơ 4 chữ là thể thơ cổ mà mốt số bài ở chặng hát nghi thức và trong
14 Qủa cách ta đều thấy như:
Vạn thần tất hưởng Tôi mời vua cả Người sang đất này.
Thơ lục bát, lục bát biến thể và song thất lục bát được sử dụng nhiều
trong cấu trúc lời ca Hát Xoan:
Đường đi trên suối dưới khe Đưa cố nhân long càng kiểu cách

22


Tưởng long sầu mọi mạch nhỏ to Thương Xoan đêm những mà lo Ngày
nào được hợp nhỏ to kẻo phiền.
Ngoài những thể thơ nói trên thì lời ca Hát Xoan còn có thể thơ tự do.
Trong quá trình tồn tại và phát triển, những yếu tố ngoại lai đôi khi lấn
lướt cái gốc rễ, cội nguồn nguyên sơ, nhưng về cơ bản nội dung lời ca Hát
Xoan, đó là hàng loạt những tiếng đưa hơi và những tiếng đệm vào câu hát.
Những tiếng đưa hơi và những tiếng đệm vào câu hát cũng tạo nên một số đặc
trưng cho một số thể loại thơ ca. Những tiếng đưa hơi thường dung trong Hát
Xoan là ơ, a,i, ê hê.. .Những tíếng đệm thường dùng trong Hát Xoan là: tênh
là tềnh tang tềnh, vông vông tầm, tênh tang tít tang tông.
Những tiếng đưa hơi, tiếng đệm trong Hát Xoan hầu như không có nghĩa
về nội dung lời ca, nhưn lại có tác dụng nối nét nhạc cho liền ý, liền mạch
hoặc để phát giai điệu, để tiếp nét nhạc này sang nét nhạc khác.
2.2.2. Âm nhạc
Thuộc loại dân ca cổ nhất và cùng quá trình tồn tại và phát triển, âm
nhạc trong Hát Xoan chứa đựng những yếu tố từ giản dị nhất cho đến những
bài bản, làn điệu hoàn thiện và tinh tế.
* Về thang âm
Thang âm là những âm có trong bài bản hoặc làn điêu của các thể loại
dân ca và ca hát cổ truyền, được sắp xếp từ âm thấp nhất đến âm cao nhất
trong phạm vi một bát độ.
Hát Xoan khi diễn xướng chịu sự chi phối của ngữ điệu tiếng Việt gồm
sáu thanh: huyền. hỏi, săc. Ngã, nặng và thanh không dấu. Hầu hết các bài hát
trong Hát Xoan đều là thang 5 âm: Bợm gái, Bỏ bộ, Xin hoa- Đố chữ, Đố hoa,
Giã Cá.
Những bài hát ở chặng nghi thức của Hát Xoan như: Giáo trống, Giáo
pháo, Thơ nhang thang âm có 4 âm, nhưng từng câu trong bài thang âm chỉ có
3 âm.
23


*Cấu trúc
Âm nhạc Hát Xoan được tạo nên bởi lối hát thơ, các ý thơ câu thơ khổ
thơ tạo nên các kiểu cấu trúc. Cấu trúc các bài bản, làn điệu Hát Xoan khá đa
dạng bao gồm các dạng cơ bản sau:
Khởi thuỷ là lối hát truyền cầu cúng ,nên Hát Xoan có một dạng cấu trúc
âm nhạc phụ thuộc thuộc vào lời của bài văn, hay bài thơ được trình bày bằng
kiểu vừa nói vừa hát. Những cấu trúc này là cấu trúc khổ nhạc hát nói.
Các bài ở chặng nghi thức trong Hát Xoan như Giáo trống, Giáo,Gíáo
pháo, Thơ nhang có cấu trúc khổ nhạc hát nói. Các câu trong khổ nhạc hát nói
thường giống nhau lặp đi lặp lại. Độ dài, ngắn của khổ nhạc hát nói phụ thuộc
vào nội dung thể thơ 4 hoặc 5 chữ( từ) hoặc thể thơ tự do có thêm các tiếng
đưa hơi , tiếng đệm.
Dạng cấu trúc thứ hai trong Hát Xoan là cấu trúc khổ nhạc đơn. Khổ
nhạc đơn gồm nhiều câu nhạc, mỗi câu ứng với một câu 6 chữ, câu thơ 8 chữ
của thể thơ lục bát hoặc lục bát biến thể.
Dạng cấu trúc thứ ba tron Hát Xoan là cấu trúc 2 khổ đơn thường là do
sự phát triển củac cấu trúc khổ nhạc đơn mà ra.
* Giai điệu
Hát Xoan có 3 kiểu hát: hát nói, hát ngâm ngợi, hát xướng (giống như
hát ca khúc). Vì vậy giai điệu Hát Xoan cũng có một số nét đặc trưng như
sau:
+ Những bài Giáo trống, Giáo pháo, Thơ nhang hát theo kiểu hát nói.
Đặc điểm của giai điệu hát nói là sự đồng nhất giữa dấu giọng của lời ca với
giai điệu. Lời ca của kiểu giai đoạn hát nói thường là thơ 4 hoặc 5 chữ hoặc
biến thể của của chúng. Các quãng trong kiểu giai đoạn hát nói không vượt
quá quãng 8,thường là từ quãng 2 đến quãng 5. Từng từ, từng chữ trong lời ca
thường chỉ ứng với một đến hai, ba nốt nhạc.Giai điệu không sử dụng nhiều

24


nốt luyến láy. Kiểu giai điệu hát nói mộc mạc giản đơn nhưng dõng dạc, khoẻ
khoắn
Giai điệu của các bài Hát phú, Gài hoa theo kiểu ngâm ngợi. Đặc điểm
của kiểu giai điệu hát ngâm ngợi thường mềm mại. uyển chuyển, nhịp tự do
thể hiện tình cảm trữ tình sâu lắng. Dấu giọng lời ca hầu hết đồng nhất với độ
cao giai điệu. Giai điệu của hát kiểu hát ngâm ngợi có nhiền nốt luyến láy hơn
giai điệu của điệu hát nói
*Về nhịp điệu
Hát Xoan là hình thái sinh hoạt văn hoá âm nhạc dân gian, được hình
thành bởi xúc cảm thiêng liêng trong đời sống tâm linh của người Việt vùng
Phú Thọ. Nằm trong tổng thể nguyên hợp của một hiện tượng phônclo, nhịp
điệu Hát Xoan cũng như các thành tố khác của Hát Xoan đều có mối tương
quan logic. Với những bài ở chặng nghi thức: Giáo trống, Giáo pháo, Thơ
nhang và các bài có gắn với múa minh hoạ như: Bỏ bộ, Đánh cá, Bợm gái
nhịp điệ mạch lạc, khúc triết. Nhịp tương ứng với loại nhịp 2/4 được sử dụng
rất nhiều trong âm nhạc Hát Xoan. Loại nhịp tưng ứng hỗn hợp cũng có xuất
hiện (Thơ nhang, Đóng đám) nhưng số lượng ít. Những bài hát ngâm ngợi (
Gài hoa, Hát phú) nhịp tự do.
Một đặc điểm khá tiêu biểu trong nhịp điệu Hát Xoan là kiểu nhấn lệch,
sử dụng ở nhiều bài Giáo trống, Giáo pháo, Thơ nhang, Xin hoa- đố chữ
* Về kỹ năng hát
Hát Xoan gắn bó mật thiết giữa thơ ca và âm nhạc, nhịp điêu thơ và nhịp
điệu nhạc, ý thơ và ý nhạc đều có sự thống nhất. Vì trước là hát tế thần, sau là
hát kỹ năng Hát Xoan cũng đòi hỏi những yêu cầu kỹ thuật khá cao, với 4 tiêu
chí: vang, rền, nền, nẩy.
Như chúng ta đã biết địa điểm diễn xướng Hát Xoan khởi đầu là vùng
đất thiêng (bãi cỏ ở làng Phù Đức, xã Kim Đức, Việt Trì), nơi vua Hùng dạy
trẻ mục đồng ca hát. Hiện nay mỗi khi mở hội Hát Xoan, dân làng Phù Đức
25


x

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×