Tải bản đầy đủ

bài dự thi tìm hiểu luật khiếu nại tố cáo

BÀI DỰ THI
“Tìm hiểu pháp luật về khiếu nại, tố cáo”
Họ và tên: NGUYỄN THỊ HOÀNG YẾN
Đơn vị công tác: Giáo viên Trường THCS Đan Hà - Hạ Hòa - Phú Thọ.

Câu 1: Luật khiếu nại tố cáo đã được nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam thông qua ngày tháng năm nào?có hiệu lực thi hành kể từ ngày,
tháng, năm nào?Có bao nhiêu chương, điều? Nêu tên của từng chương?
1. Luật khiếu nại.
Ngày 11/11/2011 tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam khóa XIII đã thông qua Luật khiếu nại, Luật có hiệu lực từ ngày
01/7/2012. Luật gồm 8 chương và 70 điều
Chương I: Những quy định chung
Chương II: khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính
Chương III: Giải quyết khiếu nại, tố cáo
Chương IV: Khiếu nại, giải quyết khiếu nại, quyết định kỷ luật cán bộ, công
chức
Chương V: Tiếp công dân
Chương VI: Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong
việc quản lý công tác giải quyết khiế nại.
Chương VII: Xử lý vi phạm

Chương VIII: Điều khoản thi hành
2. Luật tố cáo.
Ngày 11/11/2011 tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam khóa XIII đã thông qua Luật khiếu nại, Luật có hiệu lực từ ngày
01/7/2012. Luật gồm 8 chương và 70 điều
Chương I: Những quy định chung.
Chương II: Quyền và nghĩa vụ của người tố cáo, người bị tố cáo và người
giải quyết tố cáo.
Chương III: Giải quyết tố cáo đối với hành vi vi p hạm pháp luật của cán bộ,
công chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ.
1


Chương IV: Giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật về quản lý
nhà nước trong các lĩnh vực.
Chương V: Bảo vệ người tố cáo
Chương VI: Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong việc quản lý công tác
giải quyết tố cáo.
Chương VII: Khen thưởng và xử lý vi phạm
Chương VIII: Điều khản thi hành
Câu 2: Khiếu nại là gi? Tố cáo là gì? Giữa khiếu nại và tố cáo khác nhau
như thế nào? Phân biệt khiếu nại với đề nghị, kiến nghị ; tố cáo với phẩn ánh.
1. Khiếu nại:
Tại khoảm 1, điều 2 Luật khiếu nại quy định khiếu nại là việc công dân, cơ
quan, tổ chức cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật khiếu nại quy định, đề nghị
cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành
vi hành chính của cơ quan nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi
có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền,
lợi ích hợp pháp của mình.
2. Tố cáo:
Tại khoản 1 điều 2 Luật tố cáo quy định tố cáo là việc công dân theo thủ tục
do luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành
vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệ hại hoặc đe
dọa gây thiệ hại lợi ích của Nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của công dân, cơ
quan, tổ chức,
3. Sự khác nhau giữa khiếu nại và tố cáo:
Trước hết, về chủ thể: chủ thể của hành vi khiếu nại phải là người bị tác
động trực tiếp bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật
buộc thôi việc. Trong khi đó, chủ thể của hành vi tố cáo chỉ có thể là cá nhân, tức là
chỉ bao gồm công dân và người nước ngoài. Cá nhân thực hiện hành vi tố cáo có
thể chịu tác động trực tiếp hoặc không chịu tác động của hành vi vi phạm pháp luật.
Bởi vậy, khi tham gia vào quá trình giải quyết khiếu nại, tố cáo thì pháp luật quy
định quyền và nghĩa vụ của chủ thể khiếu nại, tố cáo cũng khác nhau. Nếu chủ thể
khiếu nại thực hiện không đúng pháp luật quyền khiếu nại của mình thì họ sẽ mất
cơ hội được yêu cầu Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Còn
nếu chủ thể tố cáo thực hiện quyền của mình không đúng quy định của pháp luật
như tố cáo nặc danh, mạo danh thì tố cáo của họ không được giải quyết.
Thứ hai, về đối tượng: Trong khi đối tượng của khiếu nại là quyết định hành
chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức từ Vụ trưởng
và tương đương trở xuống, những quyết định và hành vi này phải có tác động trực
2


tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khiếu nại. Thì đối tượng của tố cáo
rộng hơn rất nhiều, công dân có quyền tố cáo những hành vi vi phạm pháp luật của
bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi
ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. Có
nghĩa là hành vi vi phạm pháp luật là đối tượng của tố cáo có thể tác động trực tiếp
đến quyền và lợi ích hợp pháp của người tố cáo có thể không. Chính sự khác nhau
này đã dẫn đến sự khác nhau về thẩm quyền, thủ tục giải quyết, về quyền và nghĩa
vụ của chủ thể thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo.
Thứ ba, về mục đích: Nếu như mục đích của khiếu nại là nhằm bảo vệ và
khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại bị xâm hại bởi quyết định
hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hoặc người có thẩm quyền. Thì mục
đích của tố cáo không chỉ dừng ở việc bảo vệ và khôi phục quyền và lợi ích hợp
pháp của người tố cáo mà cao hơn thế nữa là nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước.
Câu 3: Khi thực hiện việc khiếu nại, người khiếu nại có những quyền và
nghĩa vụ gì? Trường hợp nào người khiếu nại được nhờ trợ giúp viên pháp lý
trong việc khiếu nại?
1. Người khiếu nại có những quyền và nghĩa vụ sau:
Theo Điều 12 của Luật Khiếu nại, quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại
được quy định như sau:
1. Người khiếu nại có các quyền sau đây:
a) Tự mình khiếu nại.
Trường hợp người khiếu nại là người chưa thành niên, người mất năng lực
hành vi dân sự thì người đại diện theo pháp luật của họ thực hiện việc khiếu nại;
Trường hợp người khiếu nại ốm đau, già yếu, có nhược điểm về thể chất
hoặc vì lý do khách quan khác mà không thể tự mình khiếu nại thì được ủy quyền
cho cha, mẹ, vợ, chồng, anh, chị, em ruột, con đã thành niên hoặc người khác có
năng lực hành vi dân sự đầy đủ để thực hiện việc khiếu nại;
b) Nhờ luật sư tư vấn về pháp luật hoặc ủy quyền cho luật sư khiếu nại để
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Trường hợp người khiếu nại là người được trợ giúp pháp lý theo quy định
của pháp luật thì được nhờ trợ giúp viên pháp lý tư vấn về pháp luật hoặc ủy quyền
cho trợ giúp viên pháp lý khiếu nại để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình;
c) Tham gia đối thoại hoặc ủy quyền cho người đại diện hợp pháp tham gia
đối thoại;
d) Được biết, đọc, sao chụp, sao chép, tài liệu, chứng cứ do người giải quyết
khiếu nại thu thập để giải quyết khiếu nại, trừ thông tin, tài liệu thuộc bí mật nhà
nước;
3


đ) Yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan đang lưu giữ, quản lý
thông tin, tài liệu liên quan tới nội dung khiếu nại cung cấp thông tin, tài liệu đó
cho mình trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày có yêu cầu để giao nộp cho người giải
quyết khiếu nại, trừ thông tin, tài liệu thuộc bí mật nhà nước;
e) Được yêu cầu người giải quyết khiếu nại áp dụng các biện pháp khẩn cấp
để ngăn chặn hậu quả có thể xảy ra do việc thi hành quyết định hành chính bị khiếu
nại;
g) Đưa ra chứng cứ về việc khiếu nại và giải trình ý kiến của mình về chứng
cứ đó;
h) Nhận văn bản trả lời về việc thụ lý giải quyết khiếu nại, nhận quyết định
giải quyết khiếu nại;
i) Được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm; được bồi thường
thiệt hại theo quy định của pháp luật;
k) Khiếu nại lần hai hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án theo quy
định của Luật tố tụng hành chính;
l) Rút khiếu nại.
2. Người khiếu nại có các nghĩa vụ sau đây:
a) Khiếu nại đến đúng người có thẩm quyền giải quyết;
b) Trình bày trung thực sự việc, đưa ra chứng cứ về tính đúng đắn, hợp lý
của việc khiếu nại; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan cho người giải quyết khiếu
nại; chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung trình bày và việc cung cấp thông
tin, tài liệu đó;
c) Chấp hành quyết định hành chính, hành vi hành chính mà mình khiếu nại
trong thời gian khiếu nại, trừ trường hợp quyết định, hành vi đó bị tạm đình chỉ thi
hành theo quy định tại Điều 35 của Luật này;
d) Chấp hành nghiêm chỉnh quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực
pháp luật.
3. Người khiếu nại thực hiện các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của
pháp luật.
2. Trường hợp nào người khiếu nại được nhờ trợ giúp viên pháp lý
trong việc khiếu nại:
- Đối với người khiếu nại, Luật khiếu nại đã quy định người khiếu nại có
quyền được ủy quyền cho luật sư, trợ giúp viên pháp lý khiếu nại để bảo vệ quyền,
lợi ích hợp pháp của mình. Người khiếu nại cũng được biết, đọc, sao chụp, sao
chép và xem các tài liệu, chứng cứ do người giải quyết khiếu nại thu thập để giải
quyết khiếu nại; được yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan đang lưu giữ,
4


quản lý thông tin, tài liệu liên quan tới nội dung khiếu nại, cung cấp thông tin, tài
liệu đó cho mình để giao nộp cho người giải quyết khiếu nại.
- Đối với luật sư, trợ giúp viên pháp lý có quyền tham gia vào quá trình giải
quyết khiếu nại; thực hiện các quyền, nghĩa vụ của người khiếu nại khi được ủy
quyền; xác minh, thu thập chứng cứ có liên quan đến nội dung khiếu nại và cung
cấp chứng cứ cho người giải quyết khiếu nại; được nghiên cứu hồ sơ vụ việc, ghi
chép, sao chụp những tài liệu cần thiết có trong hồ sơ vụ việc để bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của người khiếu nại.
Câu 4: Người tố cáo có quyền và nghĩa vụ gì? Họ có thể ủy quyền cho
người khác thực hiện việc tố cáo hay không?
1. Quyền và nghĩa vụ của người tố cáo:
Điều 9 Luật tố cáo quy định quyền và nghĩa vụ của người tố cáo như sau:
1. Người tố cáo có các quyền sau đây:
a) Gửi đơn hoặc trực tiếp tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
theo quy định của pháp luật;
b) Được giữ bí mật họ, tên, địa chỉ, bút tích và các thông tin cá nhân khác
của mình;
c) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thông báo về việc thụ lý
giải quyết tố cáo, thông báo chuyển vụ việc tố cáo sang cơ quan có thẩm quyền giải
quyết, thông báo kết quả giải quyết tố cáo;
d) Tố cáo tiếp khi có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo của cơ quan, tổ
chức, cá nhân có thẩm quyền không đúng pháp luật hoặc quá thời hạn quy định mà
tố cáo không được giải quyết;
đ) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền bảo vệ khi bị đe dọa, trả
thù, trù dập;
e) Được khen thưởng theo quy định của pháp luật.
2. Người tố cáo có các nghĩa vụ sau đây:
a) Nêu rõ họ, tên, địa chỉ của mình;
b) Trình bày trung thực về nội dung tố cáo; cung cấp thông tin, tài liệu liên
quan đến nội dung tố cáo mà mình có được;
c) Chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung tố cáo của mình;
d) Bồi thường thiệt hại do hành vi cố ý tố cáo sai sự thật của mình gây ra.
2. Người tố cáo có thể ủy quyền cho người khác thực hiện việc tố cáo hay
không?

5


Xuất phát từ khái niệm tố cáo là việc của công dân theo thủ tục do Luật tố cáo
quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm
pháp luật của bất cứ cơ quan tổ chức cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây
thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ
chức. Người tố cáo phải chịu trách nhiệm về nội dung tố cáo của mình, nếu cố ý tố
ý tố cao sai sự thật thì tùy theotinhs chất mức độ vi phạm mà bị xử lý kỉ luật, xử
phạt hanhd chính hoặc bị truy cứu tránh nhiệm hình sự. Do vậy, người tố cáo
không được ủy quyền cho người khác thực hiện quyền tố cáo. Điều này, khác với
quy định của Luật Khiếu nại, người khiếu nại nhằm mục đích bảo về quyền, lợi ích
hợp pháp của mình thì trong một số trường hợp được ủy quyền cho người khác
thực hiện việc khiếu nại.
Câu 5: Khiếu nại và tố cáo được thực hiện bằng các hình thức nào theo
quy định của Luật khiếu nại, luật tố cáo.
1. Hình thức khiếu nại
Điều 8 Luật Khiếu nại quy định về hình thức khiếu nại như sau:
1. Việc khiếu nại được thực hiện bằng đơn khiếu nại hoặc khiếu nại trực tiếp.
2. Trường hợp khiếu nại được thực hiện bằng đơn thì trong đơn khiếu nại
phải ghi rõ ngày, tháng, năm khiếu nại; tên, địa chỉ của người khiếu nại; tên, địa chỉ
của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị khiếu nại; nội dung, lý do khiếu nại, tài liệu liên
quan đến nội dung khiếu nại và yêu cầu giải quyết của người khiếu nại. Đơn khiếu
nại phải do người khiếu nại ký tên hoặc điểm chỉ.
3. Trường hợp người khiếu nại đến khiếu nại trực tiếp thì người tiếp nhận
khiếu nại hướng dẫn người khiếu nại viết đơn khiếu nại hoặc người tiếp nhận ghi
lại việc khiếu nại bằng văn bản và yêu cầu người khiếu nại ký hoặc điểm chỉ xác
nhận vào văn bản, trong đó ghi rõ nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều này.
4. Trường hợp nhiều người cùng khiếu nại về một nội dung thì thực
hiện như sau:
a) Trường hợp nhiều người đến khiếu nại trực tiếp thì cơ quan có thẩm quyền
tổ chức tiếp và hướng dẫn người khiếu nại cử đại diện để trình bày nội dung khiếu
nại; người tiếp nhận khiếu nại ghi lại việc khiếu nại bằng văn bản, trong đó ghi rõ
nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều này. Việc tiếp nhiều người cùng khiếu nại
thực hiện theo quy định tại Chương V của Luật này;
b) Trường hợp nhiều người khiếu nại bằng đơn thì trong đơn phải ghi rõ nội
dung quy định tại khoản 2 Điều này, có chữ ký của những người khiếu nại và phải
cử người đại diện để trình bày khi có yêu cầu của người giải quyết khiếu nại;
c) Chính phủ quy định chi tiết khoản này.

6


5. Trường hợp khiếu nại được thực hiện thông qua người đại diện thì người
đại diện phải là một trong những người khiếu nại, có giấy tờ chứng minh tính hợp
pháp của việc đại diện và thực hiện khiếu nại theo quy định của Luật này.
2. Hình thức tố cáo:
Điều 19 Luật Tố Caod quy định về hình thức tố cáo như sau:
1. Việc tố cáo được thực hiện bằng đơn tố cáo hoặc tố cáo trực tiếp.
2. Trường hợp tố cáo được thực hiện bằng đơn thì trong đơn tố cáo phải ghi
rõ ngày, tháng, năm tố cáo; họ, tên, địa chỉ của người tố cáo; nội dung tố cáo. Đơn
tố cáo phải do người tố cáo ký tên hoặc điểm chỉ. Trường hợp nhiều người cùng tố
cáo bằng đơn thì trong đơn phải ghi rõ họ, tên, địa chỉ của từng người tố cáo, có
chữ ký hoặc điểm chỉ của những người tố cáo; họ, tên người đại diện cho những
người tố cáo để phối hợp khi có yêu cầu của người giải quyết tố cáo.
3. Trường hợp người tố cáo đến tố cáo trực tiếp thì người tiếp nhận hướng
dẫn người tố cáo viết đơn tố cáo hoặc người tiếp nhận ghi lại việc tố cáo bằng văn
bản và yêu cầu người tố cáo ký tên hoặc điểm chỉ xác nhận vào văn bản, trong đó
ghi rõ nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều này. Trường hợp nhiều người đến tố
cáo trực tiếp thì người tiếp nhận hướng dẫn người tố cáo cử đại diện để trình bày
nội dung tố cáo.
Câu 6: Thời hạn giải quyết khiếu nại?thời hạn giải quyết tố cáo:
1. Thời hạn giải quyết khiếu nại
- Thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu
Điều 28, Luật khiếu nại quy định thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu như
sau
Thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu không quá 30 ngày, kể từ ngày thụ lý;
đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết có thể kéo dài hơn nhưng không
quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý.
Ở vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn giải quyết khiếu nại không
quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết có
thể kéo dài hơn nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý.
- Thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai
Điều 37, thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai không quá 45 ngày, kể từ ngày
thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài hơn
nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý.
Ở vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn giải quyết khiếu nại không
quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết
khiếu nại có thể kéo dài hơn, nhưng không quá 70 ngày, kể từ ngày thụ lý.
7


2. Thời hạn giải quyêt tố cáo
Điều 21 Luật tố cáo quy định thời hạn giải quyết tố cáo như sau:
1. Thời hạn giải quyết tố cáo là 60 ngày, kể từ ngày thụ lý giải quyết tố cáo;
đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết là 90 ngày, kể từ ngày thụ lý giải
quyết tố cáo.
2. Trường hợp cần thiết, người có thẩm quyền giải quyết tố cáo có thể gia
hạn giải quyết một lần nhưng không quá 30 ngày; đối với vụ việc phức tạp thì
không quá 60 ngày.
Câu 7: Thẩm quyền giải quyết khiếu nại của Chủ tịch Ủy ban nhân dân
xã, phường, thị trấn và thủ trưởng cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân huyện,
quận thị xã, thành phố thuộc tỉnh?Vì sao người khiếu nại phải khiếu nại đến
đúng cơ quan có thẩm quyền giải quyết?
1. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã,
phường, thị trấn và thủ trưởng cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận
thị xã, thành phố thuộc tỉnh:
Điều 17 Luật khiếu nại như sau:
Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã);
Thủ trưởng cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố trực
thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện) có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần
đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của người có
trách nhiệm do mình quản lý trực tiếp.
2. Vì sao người khiếu nại phải khiếu nại đến đúng cơ quan có thẩm
quyền giải quyết?
Điều 12 Luật Khiếu nại quy định người khiếu nại có nghĩa vụ khiếu nại đến
đúng cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Đây là một điều kiện quan trọng mà người
khiếu nại phải thực hiện để khiếu nại của mình được tiếp nhận và giải quyêt, bởi lẽ
trong hoạt động quản lý nhà nước có sự phân công nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể
giữa các cơ quan, mỗi cơ quan có phạm vi trách nhiệm khác nhau. Do đó, một vụ
việc khiếu nại chỉ có thể thuộc thẩm quyền giải quyết của một cơ quan nhất định.
Nếu người khiếu nại gửi đơn đến nhiều cơ quan không có thẩm quyền giải quyết
dẫn đến lãng phí nhiều thời gian, tiền của cho người khiếu nài và các cơ quan phải
giả quyết đơn khiếu nại đó mà vụ việc vẫn không được giải quyết. Luật khiếu nại
đã quy định rõ thẩm quyền giải quyết khiếu nại của các cơ quan hành chính nhà
nước. Chính vì vậy, trước khi gửi đơn khiếu nại, người khiếu nại phải tìm hiểu xem
cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết vụ việc của mình để thực hiện cho đúng, chỉ
có như vậy thì khiếu nại mới được giải quyết nhanh chóng, quyền và lợi ích hợp
pháp của người đi khiếu nại mới được khôi phục và bảo vệ một cách kịp thời, đúng
theo quy định của pháp luật.
8


Câu 8: Thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cán
bộ, công chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ trong cơ quan hành
chính nhà nước.
Điều 13 Luật Tố cáo quy định Thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm
pháp luật của cán bộ, công chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ trong cơ
quan hành chính nhà nước như sau:
1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp
xã) có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện
nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp.
2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau
đây gọi chung là cấp huyện) có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp
luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban
nhân dân cấp xã, người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan chuyên
môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện và cán bộ, công chức do mình bổ nhiệm,
quản lý trực tiếp.
3. Người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp
luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của người đứng đầu, cấp phó của người
đứng đầu cơ quan chuyên môn trực thuộc cơ quan mình và cán bộ, công chức do
mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp.
4. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây
gọi chung là cấp tỉnh) có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật
trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân
dân cấp huyện, người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan chuyên môn
thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cán bộ, công chức do mình bổ nhiệm, quản lý
trực tiếp.
5. Tổng cục trưởng, Cục trưởng và cấp tương đương được phân cấp quản lý
cán bộ, công chức có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong
việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu
đơn vị thuộc Tổng cục, Cục và cấp tương đương, cán bộ, công chức do mình bổ
nhiệm, quản lý trực tiếp.
6. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ có thẩm quyền giải quyết tố cáo
hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của người đứng
đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, đơn vị thuộc Bộ, thuộc cơ quan ngang
Bộ và cán bộ, công chức do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp.
7. Thủ tướng Chính phủ có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm
pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của Bộ trưởng, Thứ trưởng, Thủ
trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan
9


thuộc Chính phủ, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cán bộ, công
chức do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp.
Câu 9: Thực trang thực hiện quy định của pháp luật về giải quyết khiếu
nại, tố cáo tại Ủy ban nhân dân cấp xa nơi bạn cư trú?Giải pháp nào để nâng
cao chất lượng, hiệu quả việc giải quết khiếu nại tố cáo?
Những kết quả trên đã góp phần quan trọng vào việc ổn định tình hình an
ninh, chính trị, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trong những năm qua. Tuy nhiên,
tình hình khiếu nại, tố cáo của công dân ở một số địa phương vẫn có chiều hướng
gia tăng, số lượng các vụ việc khiếu kiện vượt cấp, đông người vẫn còn nhiều.
Trong những người đi khiếu nại, tố cáo, có những người khiếu nại, tố cáo đúng,
mong muốn được pháp luật giải quyết công minh; nhưng cũng có một số người
mặc dù về việc khiếu nại đã được cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết đúng
pháp luật, nhưng hoặc vì thiếu hiểu biết, hoặc vì cố chấp mà vẫn cố tình khiếu nại,
tố cáo kéo dài. Một số người đi khiếu nại, tố cáo có thái độ gay gắt, cực đoan, có
hành vi quá khích làm ảnh hưởng đến trật tự xã hội ở một số địa bàn.
Nguyên nhân dẫn đến tình hình khiếu nại, tố cáo hiện nay thì có nhiều nhưng
chủ yếu là do cơ chế, chính sách, pháp luật còn có những bất cập, chưa phù hợp
thực tế; công tác quản lý nhà nước còn có những yếu kém, sai phạm, nhất là trong
lĩnh vực đất đai. Trong nhiều trường hợp khiếu nại về bồi thường giải phóng mặt
bằng, đòi lại đất nhưng thiếu cơ chế, chính sách để giải quyết thỏa đáng. Công tác
quản lý nhà nước về đất đai ở một số địa phương còn buông lỏng, để xảy ra sai
phạm. Quá trình thực hiện thu hồi đất của dân chưa đúng trình tự, thủ tục, thiếu
công khai, minh bạch, dân chủ, công bằng và trong một số trường hợp số tiền bồi
thường, hỗ trợ chưa đủ để người dân tạo lập chỗ ở mới tốt hơn. Có một số dự án
thu hồi đất sản xuất của dân nhưng không được sử dụng hợp lý, đất đai bỏ hoang,
lãng phí, trong khi nông dân thiếu đất sản xuất, dẫn đến bức xúc, phát sinh khiếu
nại. Khi phát sinh khiếu nại, tố cáo, một số chính quyền địa phương chưa làm tròn
trách nhiệm của mình, thiếu quan tâm giải quyết từ cơ sở, có nhiều vụ việc giải
quyết chậm, thẩm tra, xác minh sơ sài, thu thập chứng cứ không đầy đủ, kết luận
thiếu chính xác, áp dụng pháp luật cứng nhắc, phương án giải quyết thiếu thuyết
phục, dân không đồng tình, tiếp tục khiếu nại, tố cáo. Trong khi đó, sự phối hợp
giữa các cơ quan nhà nước để giải quyết khiếu nại, tố cáo có lúc chưa tốt, còn có
hiện tượng đùn đẩy trách nhiệm, chuyển đơn lòng vòng, trả lời thiếu thống nhất.
Việc tuyên truyền, giáo dục, vận động, thuyết phục, hướng dẫn người khiếu nại, tố
cáo và công tác hòa giải ở cơ sở chưa được quan tâm thực hiện đúng mức nên có
những vụ việc đơn giản vẫn phát sinh đơn thư khiếu nại, tố cáo vượt cấp. Bên cạnh
đó, trong một số trường hợp, bọn phản động và phần tử cơ hội lợi dụng, kích động
những người đi khiếu nại, tố cáo; tổ chức, lôi kéo khiếu kiện đông người, biến các
vụ việc khiếu nại thuần túy trở thành vấn đề chính trị - xã hội, dẫn đến tình hình
khiếu nại, tố cáo thời gian qua có những diễn biến phức tạp.
10


Từ thực trạng trên, nhận định tình hình khiếu nại, tố cáo trong thời gian tới
tiếp tục có những diễn biến phức tạp, làm ảnh hưởng đến trật tự xã hội ở một số
địa bàn. Chủ trương hiện nay của Chính phủ là các cấp, các ngành phải nỗ lực hơn
nữa trong công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, quan tâm giải quyết dứt
điểm các vụ việc tồn đọng và kịp thời giải quyết các vụ việc mới phát sinh, không
để công dân bức xúc kéo đi khiếu nại, tố cáo đông người, vượt cấp, không để kẻ
xấu xen vào lợi dụng kích động gây rối. Đây là một trong những nhiệm vụ chính
trị trọng tâm, cấp bách nhằm góp phần giữ vững ổn định an ninh - trật tự xã hội,
tạo điều kiện để phát triển kinh tế - xã hội cũng là thước đo chất lượng hoàn thành
nhiệm vụ của mỗi cấp, mỗi ngành.
Để nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo hiện nay, cần triển khai
thực hiện tốt một số giải pháp sau:
Thứ nhất, đề cao trách nhiệm, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống
chính trị trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, trước hết là nhờ vai trò lãnh
đạo của các cấp ủy, quản lý điều hành của chính quyền. Các cấp ủy có nghị quyết
lãnh đạo công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo. Các cấp chính quyền có kế hoạch
thực hiện nhiệm vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo, phân công trách nhiệm một cách rõ
ràng, cụ thể để giải quyết kịp thời, dứt điểm các vụ việc khiếu nại, tố cáo. Thủ
trưởng cơ quan quản lý nhà nước thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, chỉ đạo việc
thực hiện nhiệm vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền. Trong quá trình
giải quyết, các cơ quan nhà nước phải thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ khách
quan, làm rõ nguyên nhân phát sinh khiếu nại, tố cáo, kết luận rõ đúng, sai, đề ra
phương án giải quyết phù hợp, có lý, có tình.
Thứ hai, các cơ quan nhà nước phải củng cố và chấn chỉnh công tác tiếp
công dân, thực hiện nghiêm túc chế độ tiếp dân, bố trí cán bộ có đủ năng lực, trình
độ, kinh nghiệm, phẩm chất đảm nhiệm công tác tiếp dân. Những vụ việc phức tạp
các đồng chí lãnh đạo phải đích thân tiếp dân, đối thoại với công dân và trực tiếp
chỉ đạo giải quyết với tinh thần "giải quyết để bảo đảm yên dân chứ không giải
quyết xong việc". Khi xảy ra khiếu kiện đông người thì các cơ quan nhà nước phải
tăng cường sự phối hợp để tiếp dân và vận động công dân trở về địa phương, đồng
thời, có biện pháp giải quyết kịp thời, dứt điểm, không để kéo dài, tái khiếu kiện.
Thứ ba, các cơ quan thanh tra Nhà nước tăng cường thanh tra trách nhiệm
giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với thủ trưởng và cán bộ, công chức có trách nhiệm
của các cơ quan hành chính nhà nước cấp dưới, tập trung vào những nơi có nhiều vụ
việc khiếu nại, tố cáo kéo dài, vượt cấp, đông người, phức tạp; chất lượng, hiệu quả
giải quyết khiếu nại, tố cáo thấp; không chấp hành nghiêm túc sự chỉ đạo của cấp
trên... để làm rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân, kiến nghị chấn chỉnh những tồn tại,
yếu kém, xử lý công khai, nghiêm minh những cán bộ, công chức thiếu trách nhiệm,
vi phạm pháp luật trong giải quyết khiếu nại, tố cáo, nhằm thiết lập trật tự, kỷ cương,
tăng cường hiệu quả trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo./.
11


Đan Hà, ngày 10 tháng 10 năm 2015
NGƯỜI VIẾT BÀI DỰ THI

Nguyễn Thị Hoàng Yến

12



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×