Tải bản đầy đủ

Ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái đến xuất khẩu hàng hoá của các doanh nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc

i

LỜI NÓI ĐẦU
Tỷ giá hối đoái luôn là một vấn đề nóng hổi đối với mọi nền kinh tế.
Ngày nay, khi nền kinh tế của mỗi quốc gia và quan hệ kinh tế quốc tế ngày
càng được mở rộng thì vai trò của tỷ giá ngày càng được nâng cao. Tỷ giá hối
đoái có sự tác động trực tiếp tới cán cân thanh toán của một nước, mà trước
hết là tác động tới những thay đổi trong cán cân thương mại. Cán cân thương
mại của một nước có thể xấu đi hay tốt lên là do những thay đổi của tỷ giá.
Không những thế, thông qua những thay đổi của cán cân thương mại, cán cân
thanh toán, tỷ giá hối đoái còn là một công cụ quan trọng của chính sách tiền
tệ ảnh hưởng đến chính sách tài chính và các chính sách vĩ mô khác…
Việt Nam hiện nay đang trong giai đoạn phát triển kinh tế và từng bước
hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Việc phát triển các mối quan hệ kinh tế –
thương mại với tất cả các nước trên thế giới được coi là một trong những nội
dung quan trọng của chính sách mở cửa và hội nhập kinh tế của Việt Nam.
Thông qua hoạt động XNK và một chính sách tỷ giá hối đoái hợp lý có thể thúc
đẩy nền kinh tế tăng trưởng. Tuy nhiên, không phải lúc nào tỷ giá thay đổi
cũng dẫn đến sự thay đổi tương ứng trong cán cân thương mại và cán cân thanh
toán mà đôi khi nó lại tác động ngược lại với những gì lý thuyết đã chỉ ra.
Trong những năm vừa qua, Vĩnh Phúc là một trong những tỉnh có tốc độ

tăng trưởng kinh tế hàng đầu cả nước. Xuất khẩu của tỉnh tuy có tỷ trọng thấp so
với kim ngạch xuất khẩu của cả nước nhưng lại có đóng góp quan trọng vào sự
phát triển kinh tế của tỉnh. Các doanh nghiệp xuất khẩu trong tỉnh Vĩnh Phúc luôn
nỗ lực hết mình, tìm mọi biện pháp để đẩy mạnh xuất khẩu mà trong đó tỷ giá là
một nhân tố được quan tâm đặc biệt. Để làm rõ được thực tế tác động của tỷ giá
hối đoái đến hoạt động XK, cụ thể là tỷ giá hối đoái giữa Đô la Mỹ và Đồng Việt
Nam thời gian qua, đề tài “Ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái đến xuất khẩu hàng
hoá của các doanh nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc” đã được lựa chọn để nghiên cứu.


ii

CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TỚI
HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU
1.1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI

Tỷ giá hối đoái là một vấn đề phức tạp, là một trong những công cụ cơ
bản của Nhà nước trong quản lý và điều hành vĩ mô, nó đang là một chủ đề
được tranh luận nhiều và sôi nổi vào bậc nhất của kinh tế học.
Do vậy, có rất nhiều nhà kinh tế đưa ra những khái niệm khác nhau về
tỷ giá hối đoái như: i) Samuelson (nhà kinh tế học người Mỹ) cho rằng: Tỷ
giá hối đoái là tỷ lệ đổi tiền của một nước lấy tiền của một nước khác; ii).
Slatyer - nhà kinh tế người Úc, trong một cuốn sách thị trường ngoại hối, cho
rằng: Một đồng tiền của một nước nào đó thì bằng giá trị của một số lượng
đồng tiền nước khác; iii). Christopher Pass và Bryan Lowes, người Anh trong
Từ điển Kinh tế học xuất bản lần thứ hai, cho rằng: Tỷ giá hối đoái là giá của
một loại tiền tệ được biểu hiện qua giá một tiền tệ khác.
Tỷ giá hối đoái có nhiều loại: Tỷ giá mua vào - Bid Rate; Tỷ giá bán ra
- Ask (or Offer) Rate; Tỷ giá giao ngay - Spot Rate; Tỷ giá kỳ hạn - Forward
Rate Tỷ giá chính thức - Official Rate; tỷ giá tự do…
Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái bao gồm: Cán cân thanh
toán, lạm phát và sức mua, lãi suất và lợi tức dự tính, Thuế quan và hạn
ngạch và yếu tố tâm lý.
1.2. ẢNH HƯỞNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU.

XK vừa là mục tiêu của cân bằng ngoại của nền kinh tế, vừa là nhân tố
tác động và chịu tác động trực tiếp của tỷ giá hối đoái.
Tỷ giá hối đoái và biến động của tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng trực tiếp đến



iii

mức giá cả hàng hoá, dịch vụ XNK của một nước. Tỷ giá hối đoái không chỉ tác
động tới cầu hàng hoá xuất khẩu mà còn tác động tới cung hàng hóa xuất khẩu và
khả năng cạnh tranh của hàng hoá xuất khẩu trên thị trường nước ngoài.

CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG ẢNH HƯỞNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
TÁC ĐỘNG TỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CỦA
CÁC DOANH NGHIỆP TỈNH VĨNH PHÚC
2.1. THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP TỈNH VĨNH PHÚC

Hoạt động xuất khẩu giai đoạn 2001-2009 của tỉnh Vĩnh Phúc đạt được
một số kết quả như sau:
1. Qui mô và tốc độ tăng trưởng của xuất khẩu của tỉnh đã được mở
rộng và tăng trưởng ở mức độ khá cao. Hầu hết những chỉ tiêu được đặt ra về
tăng trưởng xuất khẩu đều đã được thực hiện và vượt so với mục tiêu đặt ra,
đặc biệt có một số chỉ tiêu đã vượt ở mức cao.
2. Cơ cấu hàng hoá xuất khẩu đã có những chuyển biến tích cực theo
hướng tăng dần tỷ trọng nhóm hàng chế biến, chế tạo, nhóm hàng có hàm
lượng công nghệ và chất xám cao, giảm dần xuất khẩu hàng thô, hàng gia
công có giá trị thấp. Nhiều mặt hàng xuất đã mở rộng được qui mô sản xuất,
nâng cao giá trị xuất khẩu như dệt may, giày dép, chè...; nhiều mặt mới có tốc
độ tăng trưởng cao đang và sẽ là những hạt nhân quan trọng trong cơ cấu xuất
khẩu hàng hoá của tỉnh trong những năm tới đây như sản phẩm gỗ, điện tử,
sản phẩm nhựa...
3. Thứ ba, các chủ thể tham gia xuất khẩu không ngừng được mở rộng,
đa dạng hoá và hoạt động ngày càng hiệu quả, đặc biệt là khu vực kinh tế tư


iv

nhân và khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
* Nguyên nhân của những kết quả trên:
• Những nguyên nhân chủ quan:
Thứ nhất, tỉnh Vĩnh Phúc đã có sự quan tâm chú ý đầu tư đến lĩnh vực
xuất khẩu, từ đó có những đổi mới trong cơ chế, chính sách quản lý xuất
khẩu, mở cửa thị trường... cũng như những chính sách nhằm mở rộng quyền
kinh doanh cho các doanh nghiệp trong tỉnh đã góp phần quan trọng tạo ra sự
chuyển biến trong hoạt động đầu tư, sản xuất và xuất khẩu hàng hoá giai đoạn
2001-2009.
Thứ hai, trong những năm gần đây, đặc biệt là từ năm 2005, Vĩnh Phúc
là một trong những tỉnh nhận được sự đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất cả
nước, tạo ra nguồn lực quan trọng để mở rộng qui mô sản xuất trong tỉnh, gia
tăng khối lượng hàng hoá phục vụ cho xuất khẩu.
Thứ ba, hoạt động xúc tiến thương mại của tỉnh đã từng bước hình
thành và nhận được sự quan tâm của lãnh đạo tỉnh. Các hình thức xúc tiến
thương mại, hỗ trợ doanh nghiệp ngày càng đa dạng phong phú và chuyên
nghiệp hơn, góp phần quan trọng trong việc giúp doanh nghiệp khai thác và
mở rộng thị trường xuất khẩu...
Thứ tư, việc đẩy mạnh đàm phán, ký kết các hiệp định, thoả thuận hợp
tác thương mại giữa Việt Nam với Chính phủ các nước, các khu vực thị
trường cũng đã góp phần quan trọng giúp mở rộng nhiều thị trường, tạo điều
kiện cho các doanh nghiệp xuất khẩu thâm nhập và khai thác các thị trường
thuận lợi và hiệu quả hơn, từ đó mở thêm cơ hội xuất khẩu và gia tăng qui mô
xuất khẩu.
Thứ năm, các doanh nghiệp xuất khẩu trên địa bàn tỉnh đã bắt đầu hoà
nhập vào môi trường kinh doanh của quốc gia, khu vực và quốc tế. Họ nỗ lực
tìm kiếm thị trường, khai thác tiềm năng của doanh nghiệp, tận dụng những


v

cơ hội thuận lợi từ chính sách của nhà nước để tăng kim ngạch xuất khẩu.
• Những nguyên nhân khách quan:
Thứ nhất, sự phục hồi tăng trưởng của nền kinh tế thế giới trong giai
đoạn 2003-2006 làm tăng nhu cầu nhập khẩu hàng hoá của khu vực và quốc
gia trên thế giới.
Thứ hai, giá cả nhiều loại hàng hoá trên thị trường thế giới tăng cao. Sự
biến động về giá của các loại hàng hoá trên thị trường thế giới, đặc biệt là sự
tăng lên trong giá xuất khẩu của một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt
Nam trong nhóm hàng nông sản và nhiên liệu, khoáng sản như gạo, hạt tiêu,
cao su, dầu thô, than đá... đã góp phần nâng cao kim ngạch xuất khẩu cho
hàng hoá của Việt Nam nói chung và Vĩnh Phúc nói riêng.
2.1.2. Những hạn chế và nguyên nhân
Thứ nhất, quy mô xuất khẩu vẫn còn quá nhỏ bé so với các tỉnh khác
trong cả nước. Vĩnh Phúc không phải là một tỉnh có lợi thế về xuất khẩu, kim
ngạch xuất khẩu bình quân đầu người đạt mức 313 USD/người là thấp so với
các tỉnh có kim ngạch xuất khẩu lớn.
Thứ hai, xuất khẩu tăng trưởng nhanh nhưng chưa vững chắc và rất dễ
bị tổn thương bởi sự biến động giá cả trên thị trường thế giới (giá dầu, giá
vàng, tỷ giá...) hay sự xuất hiện của các rào cản thương mại mới của nước
ngoài.
Thứ ba, cơ cấu mặt hàng xuất khẩu chưa hợp lý, thể hiện trên cả 3
phương diện: chủng loại hàng hoá xuất khẩu còn đơn điệu, chậm xuất hiện
những mặt hàng xuất khẩu mới có đóng góp kim ngạch đáng kể; các mặt hàng
xuất khẩu có giá trị gia tăng còn thấp, trong khi các mặt hàng công nghiệp
như dệt may, da giày, điện tử và linh kiện máy tính... chủ yếu vẫn còn mang
tính chất gia công; quá trình chuyển dịch cơ cấu mặt hàng xuất khẩu theo
hướng công nghiệp hóa diễn ra chậm và chưa có giải pháp cơ bản, triệt để.


vi

Thứ tư, khả năng chủ động nắm bắt những cơ hội thuận lợi để thâm
nhập và khai thác các thị trường xuất khẩu còn nhiều hạn chế. Chưa tận dụng
triệt để lợi ích từ việc gia nhập WTO, các hiệp định thương mại song phương
và khu vực đã ký kết giữa Việt Nam và các đối tác để khai thác hết tiềm năng
của các thị trường lớn như Hoa Kỳ, EU, Trung Quốc.
Thứ năm, công tác của mạng lưới đại diện, đặc biệt về thương mại ở
nước ngoài còn nhiều yếu kém, chưa thực sự hỗ trợ tốt cho hoạt động xuất
khẩu, các chương trình xúc tiến thương mại nhỏ lẻ, rời rạc, hiệu quả chưa cao.
Thứ sáu, nhập siêu ở mức cao và chưa có giải pháp kiềm chế hiệu quả,
triệt để, đã ảnh hưởng tiêu cực đến một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô của nền kinh
tế như cán cân thanh toán, dự trữ ngoại tệ, nguồn lực đầu tư.
Thứ bảy, thị trường xuất khẩu tăng trưởng không đều, trong khi thị
trường ASEAN, EU, Hoa Kỳ tăng trưởng khá cao thì một số thị trường quan
trọng khác tăng chậm hoặc giảm như Trung Quốc, Nhật Bản và Australia.
* Nguyên nhân của những hạn chế:
• Những nguyên nhân chủ quan
Thứ nhất, đầu tư của tỉnh Vĩnh Phúc cho sản xuất hàng xuất khẩu nhìn
chung vẫn còn thấp, ảnh hưởng đến khả năng gia tăng qui mô sản xuất và xuất
khẩu. Bên cạnh đó, hiệu quả đầu tư chưa cao, đầu tư còn dàn trải, chưa có
những dự án đầu tư quy mô lớn nhằm tập trung khai thác tiềm năng xuất
khẩu, khiến cơ cấu sản xuất và xuất khẩu chậm được đổi theo hướng tích cực.
Thứ hai, những lúng túng, bị động trong việc khai thác các thị trường
xuất khẩu thời gian qua xuất phát tự sự thiếu chuẩn bị của cả phía các cơ quan
quản lý Nhà nước và các doanh nghiệp. Các cơ quan quản lý Nhà nước chưa
thực sự tốt công tác phổ biến, hướng dẫn và chuẩn bị điều kiện để đón những
cơ hội về thị trường xuất khẩu do các hiệp định, thoả thuận hợp tác thương
mại đem lại, trong khi đó các doanh nghiệp lại mang nặng tư tưởng trông chờ


vii

vào những hướng dẫn, hỗ trợ của Nhà nước.
Thứ ba, năng lực dự báo, nhận biết các chính sách, thay đổi trên thị
trường quốc tế của các cơ quan quản lý, hoạch định chính sách còn hạn chế,
trong khi khả năng thích ứng với bối cảnh mới của thị trường thế giới (rào cản
thương mại và phi thương mại ngày càng gia tăng...) của các doanh nghiệp
xuất khẩu còn yếu dẫn đến xuất khẩu một số mặt hàng gặp khó khăn (xe máy,
ô tô...)
Thứ tư, nhiều doanh nghiệp xuất khẩu của tỉnh lúng túng khi tham gia
vào môi trường kinh doanh quốc tế, chưa có sự chuẩn bị đầy đủ về vốn, nhân
lực và sự am hiểu văn hoá, môi trường kinh doanh của từng bạn hàng dẫn đến
sản phẩm không đa dạng, hợp với thị hiếu. Đồng thời các doanh nghiệp xuất
khẩu cũng rất yếu và thiếu sự hiểu biết trong khâu kí kết hợp đồng, một khâu
rất quan trọng trong thanh toán quốc tế, dẫn đến thua thiệt trong việc đàm
phán về giá cả, điều kiện thanh toán, điều kiện giao hàng… Tất cả những điều
này đã gây ảnh hưởng cuối cùng tới doanh nghiệp là chi phí tăng lên, năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp không được nâng cao.
• Những nguyên nhân khách quan
Thứ nhất, Vĩnh Phúc không phải là tỉnh có điều kiện tự nhiên thuận lợi
cho xuất khẩu. Xuất khẩu của tỉnh chủ yếu là hàng công nghiệp, các mặt hàng
thuỷ sản không có, mặt hàng khoáng sản như than, dầu thô cũng không nằm
trong danh mục các mặt hàng xuất khẩu của tỉnh.
Thứ hai, do khủng hoảng kinh tế toàn cầu, nhiều doanh nghiệp giảm
sản lượng và sản xuất cầm chừng, đặc biệt là các doanh nghiệp FDI như
Honda, Toyota… chỉ sản xuất theo đơn đặt hàng.
Thứ ba, cùng với xu thế hội nhập, ngày càng xuất hiện nhiều rào cản
thương mại mới tinh vi hơn (như chống bán phá giá, tiêu chuẩn xã hội, môi
trường, an toàn vệ sinh thực phẩm...), gây khó khăn và tổn thất không nhỏ cho


viii

hoạt động xuất khẩu của Việt Nam.
Thứ tư, làn sóng mới các hiệp định thương mại tự do song phương, đa
phương (FTA) giữa các nước đã đem đến nhiều bất lợi cho hàng xuất khẩu
Việt Nam do bị phân biệt đối xử.
2.2. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU CỦA MỘT SỐ DOANH NGHIỆP
CHỦ LỰC CỦA TỈNH VĨNH PHÚC

* Nhóm ngành dệt may
Đứng đầu trong các nhóm mặt hàng xuất khẩu chủ lực của tỉnh Vĩnh
Phúc là nhóm các sản phẩm may mặc, luôn chiếm tỷ trọng trên 40%. Các
công ty hoạt động trong lĩnh vực may mặc chủ yếu là các công ty có vốn đầu
tư nước ngoài từ Hàn Quốc, Đài Loan như: Công ty TNHH Vina Korea, Công
ty TNHH Jahwa Vina, Công ty TNHH MTV Pangrim Neotex, Công ty
TNHH Daewoo Apprel và nổi trội trong các doanh nghiệp may mặc trong
nước thì có Công ty TNHH sợi dệt Vĩnh Phúc. Trong những năm qua, Ngành
dệt may của tỉnh Vĩnh Phúc đã đạt được rất nhiều thành công trong việc giải
quyết việc làm cho người lao động cũng như đóng góp vào kim ngạch xuất
khẩu chung của cả nước, góp phần đưa nước ta trở thành một trong 10 quốc
gia có ngành dệt may phát triển nhất thế giới.
* Nhóm ngành nông nghiệp
Đứng sau ngành dệt may là ngành chè, ngành đem lại doanh thu xuất
khẩu tương đối lớn cho tỉnh Vĩnh Phúc. Khác với ngành dệt may, các công ty
kinh doanh và xuất khẩu chè hoàn toàn là các công ty tư nhân trong nước mà
chiếm thị phần lớn nhất là công ty TNHH Thế Hệ Mới Vĩnh Phúc, tiếp sau đó
là Công ty TNHH Sơn Trà, Công ty TNHH Chè Phương Nam... Nguyên liệu
của ngành chè là nguyên liệu tự sản xuất trong tỉnh và thu mua từ các tỉnh lân
cận như Yên Bái, Lào Cai, Thái Nguyên... Năm 2009, Vĩnh Phúc đã xuất
khẩu được trên 4.775 tấn chè, đạt giá trị trên 6,89 triệu USD, tăng 95,4% so


ix

với năm 2008. Thị trường xuất khẩu chè của tỉnh năm nay được mở rộng sang
Trung Quốc, Mỹ, Đài Loan, I-rắc, Ấn Độ, Ba Lan...
Công ty TNHH Thế Hệ Mới Vĩnh Phúc là công ty có kim ngạch xuất
khẩu chè lớn nhất của tỉnh Vĩnh Phúc và đứng thứ ba trên toàn quốc. Hai
tháng đầu năm 2007, xuất khẩu chè của nước ta sang nhiều thị trường xuất
khẩu chủ lực tăng khá. Trong số đó, Pakistan là thị trường xuất khẩu lớn nhất,
đạt 2,67 nghìn tấn với kim ngạch 2,93 triệu USD, tăng 36% về lượng và tăng
56% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái. Ngược lại, xuất khẩu chè sang thị
trường Trung Quốc, Ba Lan, Anh, ấn Độ lại giảm khá mạnh so với cùng kỳ
năm 2006, lần lượt giảm 18,4%; 31,5% và giảm 18,58%
* Nhóm ngành cơ khí
Đối với các ngành công nghiệp nặng, nổi trội trong các doanh nghiệp xuất
khẩu trong tỉnh là công ty TNHH Honda Việt Nam (HVN). Năm 2008, Công ty
đã được nhận danh hiệu “Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có đóng góp
tích cực vào hoạt động xuất khẩu của Việt Nam”. Đây là giải thưởng có uy tín,
lần đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam, do Ủy ban Quốc gia về Hợp tác kinh tế
Quốc tế và Báo Thương mại tổ chức. Giải thưởng này được trao cho các doanh
nghiệp có hoạt động và thành tích xuất khẩu xuất sắc năm 2008. Đây cũng là
phần thưởng xứng đáng dành cho những nỗ lực và cố gắng của Honda Việt Nam
trong lĩnh vực xuất khẩu nói riêng và kinh doanh nói chung.
2.3. ĐÁNH GIÁ VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA TỶ GIÁ TỚI XUẤT KHẨU CỦA CÁC
DOANH NGHIỆP TỈNH VĨNH PHÚC

* Diễn biến tỷ giá và chính sách tỷ giá
Ngày 26/2/1999 được coi là một cái mốc quan trọng trong điều hành
chính sách tỷ giá thời gian qua, thời điểm NHNN Việt Nam thay đổi cách xác
định tỷ giá hối đoái chính thức. Nếu trước ngày 26/2/1999, cơ chế điều hành
tỷ giá là hàng ngày NHNN công bố tỷ giá chính thức, trên cơ sở đó các


x

NHTM được chủ động quy định tỷ giá mua bán, thu đổi cụ thể của mình trong
biên độ nhất định; thì ngày 26/2/1999 bằng Quyết định số 65/1999/ QĐNHNN7, NHNN đã bãi bỏ việc công bố tỷ giá chính thức nói trên và thay vào
đó là công bố tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân
hàng. Các NHTM được phép xác định tỷ giá mua và tỷ giá bán đối với đô la
Mỹ không được vượt quá biên độ 0,1% so với tỷ giá giao dịch thực tế bình
quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do NHNN công bố hàng ngày.
Xét tổng thể, tỷ giá trong thời qua được điều hành theo hướng biến
động trong ngắn hạn và ổn định trong dài hạn. Tính biến động trong ngắn hạn
được thể hiện ở chỗ tỷ giá hàng ngày được tăng, giảm theo tương quan cung
cầu ngoại tệ trên thị trường. Qua đó, NHTM và khách hàng quen dần với sự
biến động của tỷ giá và có quan tâm đúng mức đến những công cụ phòng
ngừa rủi ro tỷ giá. Tính ổn định trong dài hạn thể hiện ở vai trò của NHNN
trong công tác định hướng tỷ giá dài hạn, theo dõi sát sao tỷ giá hàng ngày để
có những can thiệp kịp thời hướng cho tỷ giá dài hạn đạt đến mức mục tiêu
phù hợp với chính sách tiền tệ và môi trường kinh tế.
Kết quả là, tỷ giá trên thị trường chính thức từ chỗ luôn chịu sức ép
tăng theo tỷ giá của thị trường tự do, nay đã trở lại định hướng cho thị trường
tự do.
Ngày 02/01/2007, NHNN đã ban hành Quyết định số 2554/QD–NHNN
thay thế Quyết định số 679/2003/QDD-NHNN ngày 01/07/2003 về việc nới
rộng biên độ tỷ giá ngoại tệ. Đây là lần đầu tiên NHNN thực hiện nới lỏng biên
độ giao dịch tỷ giá sau 3 năm áp dụng mức ±0,25% lên thành ±0,5%. Sang năm
2008 tỷ giá USD/VND diễn biến rất khác thường. Sự khác thường được biểu
hiện ở qua 4 giai đoạn của thị trường ngoại tệ Việt Nam trong năm.
Năm 2009: Tỷ giá USD/VNĐ lại tiếp tục tăng đà tăng trong 4 tháng
đầu năm, đặc biệt sau khi NHNN thực hiện nới rộng biên độ tỷ giá lên +/-5%


xi

khiến cho tỷ giá ngoại tệ liên NH đã có đợt tăng đột biến và giao dịch trên
TTTD tiến sát mức 18000đồng/USD.
Ngày 10/2/2010, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành Thông tư số
03/2010/TT-NHNN điều chỉnh một số quy định liên quan đến thị trường
ngoại tệ có hiệu lực chính thức từ ngày 11/2/2010.
* Tác động của tỷ giá đến hoạt động XK của các doanh nghiệp tỉnh
Vĩnh Phúc.
Tỷ giá đã đóng góp vài trò chủ yếu và hết sức quan trọng đối với hoạt
động xuất khẩu của các doanh nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc trong thời gian qua.
Nhưng tỷ giá không phải là nhân tố duy nhất, mà ngoài tỷ giá, hoạt động xuất
khẩu của các doanh nghiệp xuất khẩu tỉnh Vĩnh Phúc còn chịu tác động của
nhiều nhân tố khác.
Những yếu kém trong hoạt động xuất khẩu đã làm cho những lợi ích
thu được từ việc điều chỉnh tỷ giá đối với hoạt động này là không nhiều. Do
vậy, có thể thấy rằng khả năng xuất khẩu của một tỉnh hay một quốc gia phụ
thuộc vào nhiều nhân tố như khả năng cạnh tranh của nền kinh tế và của các
mặt hàng xuất khẩu đó trên thị trường quốc tế, cơ cấu và chất lượng các mặt
hàng, dịch vụ, trình độ công nghệ, khả năng tiếp thị… trong đó có nhân tố tỷ
giá, nhân tố này tuy quan trọng nhưng không phải là quyết định. Đồng Yên
Nhật Bản và đồng Mark Đức liên tục tăng giá so với USD trong nhiều năm,
nhưng Nhật Bản và Đức luôn luôn tăng được kim ngạch xuất khẩu, tăng mức
xuất siêu là sự minh chứng thực tế cho điều đó.
 Rủi ro do biến động tỷ giá ảnh hưởng tới hoạt động xuất khẩu
Hiện nay các doanh nghiệp xuất khẩu của tỉnh Vĩnh thường lựa chọn
đồng USD làm đồng tiền tính toán và thanh toán là chủ yếu, thanh toán bằng
đồng EUR chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ (<10%) trong tổng kim ngạch xuất khẩu
của của tỉnh. Việc các doanh nghiệp phụ thuộc vào đồng USD trong thanh


xii

toán quốc tế và dự trữ ngoại tệ đã tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cao. Mức độ rủi ro ở
đây sẽ phụ thuộc vào nền kinh tế Mỹ, vào sự ổn định của đồng USD. Một khi
nền kinh tế Mỹ suy thoái, đồng USD mất giá sẽ tác động không nhỏ đến hoạt
động ngoại thương nói chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng.
* Kết quả đạt được
Tóm lại, nhờ kết hợp các chính sách vĩ mô hợp lý, đặc biệt sự điều
chỉnh liên tục của chính sách tỷ giá, chính sách quản lý ngoại hối cũng như
những quy định thông thoáng hơn trong lĩnh vực XNK, sự nhạy bén của các
doanh nghiệp đã tác động tích cực xuất khẩu của tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn
2000- 2009. Chính sách tỷ giá linh hoạt tạo môi trường thuận lợi cho các
doanh nghiệp XNK. Việc điều chỉnh tỷ giá theo xu hướng tăng gần đây mang
lại lợi ích cho các nhà xuất khẩu, đặc biệt là các doanh nghiệp xuất khẩu
những mặt hàng có hàm lượng nguyên liệu nhập khẩu ít (chè, hồ tiêu, gỗ...)
được lợi nhiều nhất. Kim ngạch xuất khẩu của tỉnh Vĩnh Phúc liên tục tăng
trên 30% trong giai đoạn 2005-2010, các mặt hàng xuất khẩu chủ lực được
mở rộng, thị trường xuất khẩu cũng không ngừng tăng lên. Xuất khẩu có đóng
góp quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế của tỉnh trong những năm qua.
* Hạn chế
- Loại ngoại tệ thu về từ hoạt động xuất khẩu còn đơn điệu, chủ yếu là
đồng USD.
- Các doanh nghiệp chưa nhận thức được tầm quan trọng của yếu tố tỷ
giá tác động đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
- Hầu hết các doanh nghiệp chưa thực sự nhạy bén với sự biến động
của thị trường để tận dụng những lợi thế khi tỷ giá tăng và có biện pháp
phòng ngừa khi tỷ giá giảm.
- Doanh nghiệp chưa chú ý đến biện pháp phòng ngừa rủi ro tỷ giá.


xiii

* Nguyên nhân của những hạn chế
 Nguyên nhân chủ quan: bắt nguồn từ bản thân phía các doanh
nghiệp xuất khẩu trong tỉnh, đó là:
- Do tâm lý, thói quen kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam nói
chung và các doanh nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng thích dùng đồng USD
làm đồng tiền thanh toán trong các hợp đồng xuất khẩu của mình. Vì vây, sự
phụ thuộc vào đồng USD là rất lớn, rủi ro về tỷ giá lại càng lớn hơn.
- Các doanh nghiệp chưa thấy rõ được tỷ giá là một nhân tố cũng rất
quan trọng tác động đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
- Các doanh nghiệp chưa tìm được tiếng nói chung (hiệp hội, liên minh,
liên kết...)
- Các doanh nghiệp xuất khẩu cũng chưa có sự đầu tư về nguồn nhân
lực có trình độ am hiểu về thị trường, về điều kiện kinh tế vĩ mô để giúp
doanh nghiệp có được chiến lược kinh doanh cho từng giai đoạn cụ thể
*Nguyên nhân khách quan
- Chính sách tỷ giá đã có những điều chỉnh linh hoạt, nhưng nhìn
chung chưa phản ánh đúng quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trường, tỷ giá
chưa ổn định, biến động đảo chiều liên tục, chưa minh bạch, khó dự đoán.
- Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng chưa phát triển, chưa thể hiện
được vai trò điều tiết vĩ mô của mình.
- Công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá chưa thực sự hiệu quả, các ngân
hàng thương mại chưa thể hiện tốt vai trò tư vấn, dự báo giúp doanh nghiệp
xuất khẩu.
- Các cơ quan chức năng của tỉnh Vĩnh Phúc chưa tạo ra được môi
trường vĩ mô thuận lợi như cung cấp thông tin, đưa ra dự báo... để các
doanh nghiệp kinh doanh dễ dàng hơn


xiv

CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP LIÊN QUAN ĐẾN TỶ GIÁ HỐI
ĐOÁI NHẰM TĂNG CƯỜNG XUẤT KHẨU CỦA CÁC
DOANH NGHIỆP TỈNH VĨNH PHÚC HIỆN NAY

Đề tài đưa ra 5 giải pháp ở góc độ doanh nghiệp và một số kiến nghị
đối với ngân hàng nhà nước, ngân hàng thương mại và cơ quản chức năng của
tỉnh Vĩnh Phúc. Năm giải pháp là:
* Thực hiện đa dạng hoá đồng tiền thanh toán
* Sử dụng công cụ bảo hiểm rủi ro tỷ giá
* Dựa vào hiệp hội để đàm phán với đối tác
* Thành lập bộ phận nghiên cứu về tỷ giá hối đoái.
* Nâng cao trình độ nghiệp vụ của cán bộ làm công tác kinh doanh

KẾT LUẬN
Tỷ giá hối đoái là một bộ yếu tố quan trọng trong chính sách tiền tệ của
một quốc gia, là một vũ khí cạnh tranh đắc lực trong thương mại quốc tế. Tỷ
giá tăng, sẽ hỗ trợ xuất khẩu và hạn chế nhập siêu và từ đó ổn định kinh tế vĩ
mô. hàng hóa của Việt Nam sẽ rẻ hơn tạo điều kiện xuất khẩu.
Trong bối cảnh của nền kinh tế Việt Nam thì điều hành linh hoạt là cần
thiết và hợp lý. Bởi vì nếu hoàn toàn thả nổi tỷ giá trong khi thị trường tài
chính và tiền tệ chưa được phát triển thì có rất nhiều rủi ro, mà neo cứng tỷ
giá một chỗ cũng gặp rất nhiều bất cập. Do đó, điều hành linh hoạt theo tín
hiệu của thị trường nhưng có sự can thiệp điều tiết của nhà nước là thích hợp.
Nhưng trong thực tế, thời gian gần đây NHNN chưa thực sự linh hoạt
trong việc điều hành tỷ giá. NHNN đã thiên về khuynh hướng cố giữ ổn định
tỷ giá trong khi tình hình thực tế đòi hỏi phải điều chỉnh mạnh tay hơn. Tỷ giá


xv

chưa phản ánh đúng quan hệ cung cầu về ngoại tệ trên thị trường, dẫn đến sự
chênh lệch giữa tỷ giá chính thức và tỷ giá tự do còn cao và phổ biến.
Đề tài “Ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái đến xuất khẩu hàng hoá của
các doanh nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc” cho thấy tỷ giá có những đóng góp quan
trọng trong việc gia tăng kim ngạch xuất khẩu. Nhưng hiện tại, các doanh
nghiệp xuất khẩu của tỉnh Vĩnh Phúc chưa có biện pháp khai thác có hiệu quả
chính sách tỷ giá, gần như để mặc định, chấp thuận và thích nghi với chính
sách đó.
Từ những phân tích thực trạng hoạt động xuất khẩu và ảnh hưởng của
tỷ giá tới hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc, đề tài
cũng đưa ra những kết quả đạt được, tồn tại và tìm ra nguyên nhân. Trên cơ
sở đó tác giả đã mạnh dạn đưa ra 5 giải pháp ở góc độ doanh nghiệp nhằm tận
dụng những mặt tích cực và hạn chế những tiêu cực trong chính sách tỷ giá để
đẩy mạnh xuất khẩu của các doanh nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc. Các giải pháp này
mang tính lâu dài và toàn diện không những là cho các doanh nghiệp của
Vĩnh Phúc mà còn cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu nói chung trên toàn
quốc. Đề tài cũng đưa ra một số kiến nghị đối với NHNN, NHTM và cơ quan
chức năng của tỉnh Vĩnh Phúc nhằm hoàn thiện hơn nữa chính sách tỷ giá, tạo
ra môi trường kinh tế vĩ mô thuận lợi nhất cho các doanh nghiệp xuất khẩu.
Nghiên cứu về tỷ giá hối đoái là một vấn đề rất phức tạp, tỷ giá gắn với
xuất khẩu lại càng khó hơn vì bất kì sự điều chỉnh nào cũng mang tính hai
mặt, tỷ giá tăng có lơi cho xuất khẩu nhưng lại bất lợi cho nhập khẩu. Bài viết
này không thể tránh khỏi những thiếu sót và còn nhiều vấn đề cần tiếp tục
nghiên cứu để không ngừng hoàn thiện tận dụng những ảnh hưởng tích cực từ
tỷ giá nhằm đẩy mạnh xuất khẩu, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và
phát triển kinh tế trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta.



x

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×