Tải bản đầy đủ

bài giảng xơ gan_slide VATM

XƠ GAN


ĐẠI CƯƠNG

Y HỌC HIỆN
ĐẠI

Y HỌC CỔ
TRUYỂN


Y HỌC HIỆN ĐẠI

KHÁI NIỆM
Xơ gan là bệnh được Laennec mô tả lần đầu tiên vào
năm 1819 với 2 hội chứng kinh điển là: hội chứng suy
chức năng gan và hội chứng tăng áp lực tĩnh mạch cửa


Y HỌC HIỆN ĐẠI


KHÁI NIỆM
Hội chứng suy chức năng gan:
- Toàn thể trạng giảm sút suy nhược,chán ăn, chậm tiêu, sút cân.
- Phù: chủ yếu ở nửa người dưới.
- Vàng da: lúc đầu kín đáo, về sau đậm.
- U mạch hình sao xuất hiện ở cổ, phần trên ngực.Dấu hiệu bàn tay
son.
- Hội chứng chảy máu: chảy máu cam, chảy máu chân răng, chảy
máu dưới da.
- Rối loạn nội tiết: ở nam giới: teo tinh hoàn, vú to; ở nữ giới: teo
vú, teo dạ con, mất kinh, ở cả hai giới: giảm dục năng.
- Khám gan: Gan có thể to, nếu sờ được gan, sẽ thấy mật độ chắc,
bờ dưới sắc, mặt không nhẵn.
Hội chứng tăng áp lực tĩnh mạch cửa: hội chứng tăng áp lực tĩnh
mạch cửa là hội chứng của nhiều nguyên nhân, trên lâm sàng biểu
hiện: lách to, cổ trướng, tuần hoàn bàng hệ và áp lực tĩnh mạch cửa
tăng.


Bàn tay son


Y HỌC HIỆN ĐẠI

DỊCH TỄ HỌC

- Ở Pháp, tần suất xơ gan có triệu chứng là 3000/1 triệu dân, trong
đó do rượu vang chiếm đa số.(nam: 90%-95%; nữ: 70%-80%);
do bia: 10%, do viêm gan mạn virus là 10%. Tỷ lệ tử vong do xơ
gan: 300 người/1 triệu dân/năm.
- Ở Đông nam Á, vùng Sahara châu Phi, khoảng 15% dân chúng
nhiễm virus viêm gan B, C ngay cả khi còn nhỏ tuổi, trong đó
25% dẫn đến xơ gan.
- Ở Hoa Kỳ, tỷ lệ nhiễm virus B ít hơn, viêm gan C sau truyền
máu thì có khoảng 50% dẫn đến xơ gan, tỷ lệ sống sau 20 năm là
20%.
- Ở Việt Nam, chưa có số liệu thống kê cụ thể.



Y HỌC HIỆN ĐẠI

NGUYÊN NHÂN
Những nguyên nhân đã được xác định
- Viêm gan do vi rút là nguyên nhân quan trọng nhất, những vi
rút gây xơ gan là B,C và D.
- Nghiện rượu nặng và kéo dài.
- Ứ mật kéo dài.
- Ứ máu kéo dài ( viêm màng ngoài tim co thắt).
- Do nhiễm độc thuốc và hóa chất : một số thuốc có thể gây viêm
gan: các thuốc chống lao, các thuốc kháng giáp trạng…
- Do lách to: Hội chứng Bantin.
Những nguyên nhân còn được nghiên cứu :
Vai trò của suy dinh dưỡng tự miễn, ký sinh trùng.


Y HỌC HIỆN ĐẠI

CHẨN ĐOÁN
Lâm sàng:
Về lâm sàng phân biệt thành 3 thể:
* Giai đoạn xơ gan tiềm tàng (giai đoạn sớm, giai đoạn còn bù ):
Bệnh không biểu hiện bởi một dấu hiệu bệnh lý nào.Toàn trạng bệnh
nhân vẫn bình thường.Bệnh được phát hiện một cách tình cờ khi phẫu
thuật hoặc mổ tử thi do chết vì một nguyên nhân khác.
* Xơ gan giai đoạn còn bù chưa có biến chứng:
Bệnh nhân chỉ thấy mệt, chán ăn, sợ mỡ, khó tiêu trong một thời
gian dài.Có khi có những biểu hiện rõ rệt hơn: suy nhược, ăn kém,
bụng trướng hơi, ỉa chảy.Thỉnh thoảng phù nhẹ hai chi dưới.Chảy
máu cam, chảy máu lợi.Đau tức hạ sườn phải.Khám thấy gan to,
lách to.
* Xơ gan giai đoạn mất bù (giai đoạn muộn): Biểu hiện lâm sàng
bằng hai hội chứng chính:
- Hội chứng tăng áp lực tĩnh mạch cửa.
- Hội chứng suy chức năng gan.


Y HỌC HIỆN ĐẠI

CHẨN ĐOÁN
Cận lâm sàng:
- Các xét nghiệm chức năng gan suy giảm rõ rệt: albumin giảm; tỉlệ
<1(Tỉ lệ Albumin / Globulin), tỷ lệ Prothrombin giảm,
cholesterol este giảm, bilirubin máu tăng cao cả liên hợp và tự do,
SGOT, SGPT tăng...
- Siêu âm gan: Gan to và sáng, có thể gan teo nhỏ, Có dịch cổ trướng,
lách to.
- Soi ổ bụng: Thấy mặt gan mất tính nhẵn bóng, có thể lần sần do có
các u cục.


Y HỌC HIỆN ĐẠI

TIẾN TRIỂN VÀ BIẾN CHỨNG
Tiến triển
Xơ gan là một bệnh mạn tính nặng, không thể chữa khỏi
hẳn được.Song nếu điều trị tốt, bệnh nhân có thể ổn định một
thời gian dài.Bệnh âm ỉ, kéo dài qua nhiều năm, từ giai đoạn
còn bù với rất ít triệu chứng, chẩn đoán bằng sinh thiết gan,
đến giai đoạn mất bù với triệu chứng lâm sàng rõ, cận lâm
sàng điển hình. Giai đoạn này có nhiều biến chứng.


Y HỌC HIỆN ĐẠI

TIẾN TRIỂN VÀ BIẾN CHỨNG
Biến chứng
Nhiều và phức tạp vào giai đoạn cuối.
- Nhiễm khuẩn dịch cổ trướng: Có thể gây ra do chọc cổ trướng hoặc một
nhiễm khuẩn thông thường khác( nhiễm khuẩn tiết niệu, phổi).
- Huyết khối tĩnh mạch cửa do nhiễm trùng: lâm sàng có báng tăng nhanh,
đau
bụng tự nhiên, sốt, đại tiện ra máu. Chẩn đoán bằng siêu âm cho hình ảnh huyết
khối trong tĩnh mạch cửa.
- Chảy máu tiêu hóa: Thường do giãn tĩnh mạch thực quản bị vỡ, tiên lượng
nặng.
- Chảy máu do giảm yếu tố đông máu: Chảy máu não, chảy máu dưới da.
- Hôn mê gan: Là tiến trình của giai đoạn cuối xơ gan.Thường đưa đến tử vong.
- Hội chứng gan thận: Là biến chứng nặng, tử vong cao. Đây là suy thận cấp rất
nặng, phát khởi trên 1 gan suy, báng quá nặng, dùng lợi tiểu bừa bãi hoặc thuốc
độc cho thận. Lâm sàng biểu hiện tình trạng thiểu niệu hoặc vô niệu, có dấu
hiệu suy thận, có protein niệu, hồng cầu niệu, natri máu giảm.
- Ung thư gan: Thường gặp sau xơ gan ngoại trừ xơ gan do tim và xơ gan do ứ
mật.Người ta coi xơ gan là tình trạng tiền ung thư gan.


Y HỌC HIỆN ĐẠI

ĐIỀU TRỊ
Những biện pháp chung:
- Loại bỏ nguyên nhân gây xơ gan.
- Dự phòng các biến chứng.
- Không lao động nặng nhọc, nằm nghỉ khi có những đợt
tiến triển.
- Chế độ ăn: ăn nhiều đạm, gluxit, hoa quả nhiều vitamin.
Hạn chế mỡ, ăn nhạt khi có phù và cổ trướng.Hạn chế đạm
khi xơ gan mất bù, có đe dọa bệnh não gan.Tuyệt đối
không uống rượu.


Y HỌC HIỆN ĐẠI

ĐIỀU TRỊ
Đối phó với hội chứng suy tế bào gan:
- Các vitamin B1, B6, B12, C, K
- Các acid amin.
- Kháng sinh nếu có bội nhiễm.
Đối phó với triệu chứng phù và cổ trướng:
- Trước hết cần nằm nghỉ và ăn nhạt.
- Dùng thuốc lợi niệu: + Spironolacton : 100-200mg/ngày
+ Furosemid: 20-40 mg/ ngày.
- Chọc hút dịch cổ trướng nếu dịch nhiều.
- Xử lý các biến chứng: chảy máu: truyền máu tươi, truyền
plasma


Y HỌC CỔ TRUYỀN

BỆNH DANH
Can ngạnh hoá. Ngoài ra còn được mô tả trong chứng: cổ
chướng, chứng tích tụ, chứng hiếp thống, chứng hoàng đản.


Y HỌC CỔ TRUYỀN

NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH

Nguyên nhân chủ yếu gây bệnh cảm nhiễm phải bệnh độc
(virut) , ăn uống không điều độ( uống nhiều rượu), tình chí
uất kết làm can uất khí trệ, lao lực quá độ, nhiễm phải trùng
độc ( huyết hấp trùng – sán lá gan) và các bệnh lâu ngày
không chữa biến chứng thành.Bệnh danh tích tụ, cổ chướng
được nhắc đến đầu tiên trong “nội kinh”.


Y HỌC CỔ TRUYỀN
NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH
1. Cảm nhiễm phải bệnh độc: cơ thể cảm nhiễm tà khí thấp nhiệt
dịch độc (virus)  tạng phủ bất hòa, khí huyết vận hành không thông
sướng  đàm trọc nội sinh, khí trệ huyết ứ đàm ngưng, lâu ngày 
chứng tích tụ.
2. Ăn uống không điều độ: uống rượu quá độ, hoặc ăn nhiều đồ ngọt
béo  tư sinh thấp nhiệt  tổn thương tỳ vị  thấp trọc nội đình 
ngưng kết thành đàm  khí huyết đàm tụ lại ở trung tiêu làm cho thanh
và trọc lẫn lộn  khí của tỳ vị úng trệ, mà tạo thành tích tụ, lâu ngày,
việc sơ tiết của can rối loạn  thủy trọc tích lại ngày càng nhiều, dần dần
hình thành cổ chướng.
3. Tình chí làm tổn thương : tình chí uất kết  can uất khí trệ 
huyết ứ tích lại ở lạc mạch của can  việc sơ tiết của can suy yếu, ảnh
hưởng đến vận hóa của tỳ vị  thủy thấp đình trệ và lưu lại.Thủy thấp
kết hợp với huyết ứ  gây nên bệnh ở cả can và tỳ, dần dần ảnh hưởng
đến thận, không khí hóa được nước tiểu, bĩ tắc tại trung tiêu làm bụng
chướng ngày càng nặng.


Y HỌC CỔ TRUYỀN

NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH
4. Lao động quá sức: thận là gốc tiên thiên, tỳ là nguồn hậu thiên, lao
động quá sức  tỳ thận hư suy, tỳ bị tổn thương  không thể vận hóa
thủy cốc  khí huyết bất túc, thủy thấp nội sinh; thận bị tổn thương 
không khí hóa được  không thể ôn hóa thủy dịch  thấp tụ thủy sinh,
khí huyết ngưng trệ mà thành cổ chướng.
5. Trùng độc xâm phạm : nhiễm phải sán lá gan ( huyết hấp trùng),
trùng độc sốt rét: trùng làm tắc trở mạch đạo  nội thương can tỳ; can bị
tổn thương  khí trệ; tỳ bị tổn thương  thấp tụ sinh thủy.Trùng tắc trở
mạch lạc  huyết ứ, thăng giáng thất thường, thanh trọc lẫn lộn, cuối
cùng  khí huyết không lưu thông, mạch lạc ứ trở, thủy đình trong bụng,
tích tụ lâu ngày mà thành cổ chướng.
6. Các bệnh khác biến chứng thành: Hoàng đản bệnh lâu ngày
không đỡ, thấp nhiệt của hoàng đản ứ lại lâu  tổn thương can tỳ, trở trệ
khí huyết; mạch lạc tý trở, lâu ngày không khỏi, đều có thể biến chứng
thành.


Y HỌC CỔ TRUYỀN

CƠ CHẾ BỆNH
Tích tụ chủ yếu liên quan đến 2 tạng can, tỳ; cổ chướng
chủ yếu liên quan đến 3 tạng can, tỳ, thận; cơ chế bệnh chủ yếu
là khí trệ, huyết ứ, đàm kết, thủy đình và chính khí hư tổn.Can
tỳ tổn thương lâu ngày, làm cho can uất tỳ hư, tỳ hư thì không
vận hóa được, khiến cho thanh dương bất thăng, trọc âm bất
giáng, thanh trọc tương hỗn không được phân ra, thủy thấp đình
tụ; tỳ hư lâu ngày ảnh hưởng đến thận, khiến bàng quang không
khí hóa, thủy không tiết được làm nước ứ lại, tiếp diễn liên tục
cuối cùng khiến cho can tỳ thận đều hư tổn, thủy đàm tích trong
bụng, dần dần dẫn đến cổ chướng.Tóm lại vị trí bệnh tại can, tỳ,
thận; đặc điểm bệnh lý là hư thực hiệp tạp, bản hư tiêu
thực.Bệnh lâu thường có hư và cần bổ hư.


Y HỌC CỔ TRUYỀN

ĐIỀU TRỊ
Mục tiêu điều trị xơ gan là ức chế sự tiến triển xơ hóa
của gan,từ đó cải thiện chức năng và kết cấu tạng gan, làm
chậm xơ hóa gan và phát sinh giai đoạn mất bù, giảm thiểu
tế bào ung thư gan, xuất hiện các biến chứng, cải thiện
chất lượng cuộc sống, kéo dài sự sống cho bệnh nhân.Điều
trị xơ gan vẫn dùng thuốc là chính, mặc dù thời gian
nghiên cứu về điều trị xơ gan là khá dài, tuy nhiên cho đến
thời điểm này, vẫn chưa có thuốc tây y đặc hiệu kháng xơ
hóa.Những năm gần đây yhct không ngừng nghiên cứu
chuyên sâu vào xơ gan, thuốc yhct đạt được hiệu quả khá
tốt trong điều trị đảo ngược xơ gan giai đoạn đầu.


Y HỌC CỔ TRUYỀN
ĐIỀU TRỊ
Xơ gan giai đoạn còn bù, bệnh tà còn nông, chính
khí chưa tổn thương nghiêm trọng, nhiều biểu hiện thực tà
là chính, cũng có kiêm chính khí hư, vị trí bệnh chủ yếu tại
can, tỳ, điều trị dựa theo cơ sở biện chứng phân biệt hư
thực của bệnh, hư trung cầu thực, công bổ kiêm thi, dựa
theo tình hình biểu hiện cụ thể của chứng trạng và tà chính
thịnh suy của từng người bệnh, mà điều trị có: sơ can lý,
khí thanh nhiệt lợi thấp, hoạt huyết hóa ứ, hoặc kiện tỳ ôn
thận, tư thận dưỡng can, ôn trung kiện tỳ, tuy nhiên trên
biện chứng cơ sở chú ý tăng sơ can kiện tỳ, hoạt huyết
nhuyễn kiên;


Y HỌC CỔ TRUYỀN
ĐIỀU TRỊ
Xơ gan giai đoạn mất bù, bệnh tình lâu ngày, thể
chất suy yếu, can tỳ thận đều bị hư tổn, trên triệu chứng
lâm sàng có thể thấy, thường thường bản hư tiêu thực, chủ
yếu hư là chính, giai đoạn sau xuất hiện nhiều biến chứng
nặng, nguyên tắc điều trị chủ yếu là phù chính, kiêm khứ
tà.Đối với khí trệ huyết ứ, thủy thấp nội đình gây phù
thũng, điều trị nên hành khí, lợi thủy, khứ ứ, hóa đàm;
Dương nhiệt thượng cang, đàm thấp lấp khiếu xuất hiện
hôn mê, thì phải thanh nhiệt giải độc, lương doanh khai
khiếu hoặc phương hương hóa trọc, khoát đàm khai
khiếu...


Y HỌC CỔ TRUYỀN

BIỆN CHỨNG LUẬN TRỊ
Bệnh ở giai đoạn đầu chủ yếu là can tỳ thất điều, làm
khí trệ huyết ứ, thấp nhiệt ứ kết, giai đoạn sau có thủy thấp
nội đình.Nên tuân thủ nghiêm chỉnh cơ chế bệnh phân rõ
khí trệ, huyết ứ, thấp nhiệt, và thủy thấp; Bệnh tình lâu
ngày không khỏi, có thể xuất hiện tỳ thận dương hư, hoặc
can thận âm hư.Bệnh lý của bệnh là bản hư tiêu thực, hư
thực lẫn lộn, điều trị nên chú ý công bổ tương kiêm.


CÁC THỂ LÂM SÀNG
THỂ CAN UẤT TỲ HƯ, CAN TỲ BẤT HOÀ
THỂ KHÍ TRỆ HUYẾT Ứ
THỂ XƠ GAN CỔ TRƯỚNG


THỂ CAN UẤT TỲ HƯ, CAN TỲ BẤT HOÀ
Triệu chứng: ngực sườn đầy tức, ăn kém buồn nôn, ợ hơi bụng chướng,
sắc mặt sạm tối, đầu choáng mệt mỏi, đại tiện lỏng, rêu lưỡi mỏng trắng
nhớt, mạch huyền tế. (Xơ gan gđ còn bù)
Pháp chữa: sơ can kiện tỳ (sơ can lý khí, kiện tỳ hành thấp)
Bài thuốc:
Bài 1: Tiêu giao tán gia giảm
Bạch truật
12g
Bạch linh
10g
Bạch thược
10g
Gừng
06g
Đại phúc bì
06g
Sài hồ
10g
Cam thảo
06g
Đại táo
06g
Ý dĩ
16g
Đan sâm
16g
Hoàng kỳ
10g
Ngũ gia bì 20g
Nhân trần
20g
Chi tử
08g
Phân tích bài thuốc: Sài hồ, nhân trần, chi tử: sơ can. Bạch truật, bạch
linh, hoàng kỳ: kiện tỳ hoá thấp, tiêu trướng trừ đầy. Đại phúc bì, ngũ gia
bì: lợi thuỷ trừ thấp. Bạch thược: ích âm dưỡng huyết. Gừng: chỉ nôn ấm
tỳ. Đan sâm: hoà huyết chỉ thống. Cam thảo, đại táo: kiện tỳ, điều hoà
bài thuốc.


THỂ CAN UẤT TỲ HƯ, CAN TỲ BẤT HOÀ

Bài 2: Sài hồ sơ can thang gia giảm:
Sài hồ
09g
Bạch thược
Hương phụ 09g
Hậu phác
Trần bì
06g
Thương truât
Phục linh
09g
Trư linh
Trạch tả
09g
Xuyên khung

09g
09g
09g
09g
06g.


x

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×