Tải bản đầy đủ

MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ MẪU GIÁO TẠI TRƯỜNG MẦM NON NGA THÁI

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GD&ĐT HUYỆN NGA SƠN
===========*0*==========

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ MẪU
GIÁO TẠI TRƯỜNG MẦM NON NGA THÁI

Người thực hiện
:
Chức vụ
:
Đơn vị công tác
:
SKKN thuộc lĩnh vực:

Bùi Thị Huệ
P. Hiệu trưởng
Trường MN Nga Thái

Quản lý

THANH HOÁ, NĂM 2015
1


A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Bác Hồ muôn vàn kính yêu của chúng ta đã từng nói: “Trẻ em hôm nay,
thế giới ngày mai”. Thật vậy! trẻ em là nguồn hạnh phúc của mỗi gia đình, là
tương lai của đất nước, là lớp người kế tục sự nghiệp của cha ông để xây dựng
bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Ngày nay chúng ta đang sống trong thời đại
công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, nền kinh tế không ngừng phát triển với
một sự thay đổi cơ bản về cơ cấu xã hội để tiếp cận với một nền văn minh phát
triển cao. Trong đó con người đứng ở vị trí trung tâm “Con người muốn tồn tại
thì phải gắn bó với cộng đồng. Giao tiếp là một đặc trưng của con người.
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất” V. Lê Nin.
Nhờ có ngôn ngữ mà con người xích lại gần nhau hơn, có thể hiểu được
nhau, cùng nhau hành động vì mục đích chung: Lao động, đấu tranh, xây dựng
và phát triển xã hội. Giáo dục mầm non là khâu đầu tiên trong nền giáo dục quốc
dân góp phần quan trọng cải tạo tiền đề cho sự phát triển toàn diện nhân cách
trẻ. Thực hiện nhiệm vụ của bộ giáo dục và đào tạo ngành học mầm non đã đưa
5 lĩnh vực phát triển vào chương trình chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ đó là:
Phát triển thể chất, phát triển nhận thức, phát triển ngôn ngữ, phát triển thẩm mỹ
và phát triển tình cảm – kỹ năng xã hội. Trong đó lĩnh vực phát triển ngôn ngữ
là một thể thống nhất không thể tách rời nó là công cụ để tư duy, là chìa khoá để
nhận thức, là phương tiện để giao tiếp, điều khiển, điều chỉnh các hành vi giúp
trẻ lĩnh hội các giá trị đạo đức chuẩn mực.
Đây là việc làm vô cùng quan trọng và cần thiết, nó tạo được sự liên thông
giáo dục phát triển ngôn ngữ từ độ tuổi mầm non đến lứa tuổi học đường. Cho
đến nay chuyên đề phát triển ngôn ngữ đã được tổng kết. Song năm học 2014 –
2015 Trường mầm non Nga Thái vẫn tiếp tục triển khai thực hiện chuyên đề đến
toàn thể cán bộ giáo viên, nhân viên trong trường nhằm giúp giáo viên nắm bắt
vững nội dung, phương phát phát triển ngôn ngữ một cách thường xuyên và liên
tục. Từ đó tạo ra một lớp người mới có đủ đức, đủ tài để xây dựng và phát triển
đất nước ngày một giàu đẹp hơn, văn minh hơn xứng đáng với lời dạy của Bác
Hồ “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây – Vì lợi ích trăm năm thì phải
trồng người”.
Là một cán bộ quản lý tôi luôn nhận thức sâu sắc được tầm quan trọng của
giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non đặc biệt là trẻ mẫu giáo, đó chính
là động lực thôi thúc tôi tìm tòi ra: Một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất

lượng phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo tại trường mầm non Nga Thái.
Đó cũng chính là đề tài tôi chọn cho sáng kiến kinh nghiệm của mình.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I . CƠ SỞ LÝ LUẬN.

Ngôn ngữ là một hệ thống các ký hiệu có cấu trúc, quy tắc và ý nghĩa.
Đồng thời ngôn ngữ cũng là phương tiện để phát triển tư duy, truyền đạt và tiếp
nhận những nét đẹp của truyền thống văn hoá – lịch sử từ thế hệ này sang thế hệ
khác.
2


Theo nhà giáo dục học Liên xô E. L Tikhêcva đã khẳng định: “Ngôn ngữ
là công cụ để tư duy, là chìa khoá để nhận thức, là vũ khí để chiếm lĩnh kho
tàng kiến thức của dân tộc, của nhân loại. Do ngôn ngữ giữ vai trò vô cùng
quan trọng trong đời sống con người”.
Không chỉ có vậy, ngôn ngữ tạo nên những con người có linh hồn. Ngôn
ngữ đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành nên tư duy, nhân cách
con người, thúc đấy quá trình tự điều chỉnh hành động chính bản thân mình.
Đối với trẻ mầm non nói chung, trẻ mẫu giáo nói riêng trước hết ngôn ngữ
là phương tiện hình thành và phát triển nhận thức về thế giới xung quanh, là
công cụ để trẻ học tập, vui chơi. Ngôn ngữ được tích hợp trong tất cả các hoạt
động giáo dục khác.
Trong quá trình nhận thức những sự vật hiện tượng, trẻ phải sử dụng từ ngữ
để nhận biết, phân biệt được vật này với vật khác, biết được tên gọi, màu sắc,
hình dáng, công dụng và những thuộc tính cơ bản của sự vật, hiện tượng....
Ví dụ: Khi cho trẻ làm quen với một số con vật nuôi trong gia đình. Trẻ sẽ
biết được tên gọi, đặc điểm hình dáng, tiếng kêu, môi trường sống, ích lợi của
chúng... nói được từ các con vật, như: “Con gà”, “Con vịt”... Ngôn ngữ không
chỉ là cầu nối để trẻ đến với thế giới của nhân loại thông qua các tác phẩm văn
học: Thơ ca, hò, vè, các bài ca dao, đồng dao, các trò chơi dân gian, các câu
chuyện kể, các hình tượng nghệ mà ngôn ngữ còn là công cụ để trẻ bày tỏ suy
nghĩ những tâm tư, tình cảm, những mong muốn của cá nhân mình. Bởi lẽ trẻ có
nhu cầu rất lớn trong việc nhận thức thế giới xung quanh mong muốn hoà nhập
với xã hội loài người. Thông qua ngôn ngữ sẽ giúp trẻ hiểu và nhận biết về
chính bản thân mình, về con người và khám phá các sự vật xung quanh cũng
như các biến cố đang xảy ra trong đời sống hàng ngày của trẻ: Nắng, mưa, nóng,
lạnh, các mối quan hệ trong xã hội... Đối với các em thế giới xung quanh luôn
chứa đựng những điều mới lạ, hấp dẫn. Chẳng vậy mà Pauxtopxky nhà văn
người Nga có nhận xét rằng: “Thời thơ ấu không còn mãi,....Trong thời thơ ấu
tất cả đều khác. Trẻ em đã nhìn thế giới bằng đôi mắt trong sáng và tất cả đối
với chúng đều rực rỡ hơn nhiều. Mặt trời chói lọi hơn, đồng ruộng được cày sâu
hơn, tiếng sấm vang rền hơn, mưa to hơn, cỏ mọc cao hơn và cả lòng người
cũng mở rộng hơn. Nỗi đau thương cũng sâu sắc hơn và mảng đất quê hương
cũng chứa đầy bí ẩn, nhiều hơn gấp hàng nghìn lần”. Thật vậy! những câu hát
ru ngọt ngào, những cử chỉ âu yếm vỗ về đã đem đến cho trẻ những cảm giác
bình yên. Đặc biệt khi trẻ được tiếp xúc thường xuyên với ngôn ngữ văn học qua
các bài ca dao, đồng dao, các câu chuyện kể, qua giao tiếp hàng ngày ở trường
mầm non... đã giúp trẻ cảm nhận được cái hay, cái đẹp trong ngôn ngữ tiếng mẹ
đẻ, cái đẹp trong hành vi, trong cuộc sống. Từ đó giúp trẻ thêm yêu quê hương,
yêu đất nước.
II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:

Nga Thái là một trong 6 xã nghèo của huyện Nga Sơn với tổng số dân là
8.121 nhân khẩu. Trong đó số dân theo đạo thiên chúa chiếm 78,9 % tổng số dân
trong toàn xã, trình độ dân trí thấp lại phân bố không đồng đều nên ảnh hưởng
3


rất nhiều tới việc cho trẻ đến trường mầm non. Theo điều tra năm học 20142015 tổng số cháu trong độ tuổi đến trường mầm non là 502 cháu nhưng trong
thực tế số cháu ra lớp chỉ có 341 cháu (Nhà trẻ 65 cháu, mẫu giáo 276 cháu),
phần lớn các cháu không được học qua lớp Bé, Nhỡ mà vào thẳng lớp lớn nên
trong đầu năm chỉ đạo và thực hiện chuyên đề Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu
giáo trường tôi đã gặp những thuận lợi, khó khăn sau:
1. Thuận lợi:
Nhà trường được sự quan tâm của Phòng giáo dục và đào tạo Huyện Nga
Sơn, các cấp uỷ Đảng chính quyền địa phương Xã Nga Thái tạo điều kiện quan
tâm giúp đỡ xây dựng tương đối đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và
học... Bên cạnh đó nhà trường còn mua sắm bổ sung thêm tranh ảnh, tài liệu
phục vụ cho việc dạy và học, đặc biệt là nhà trường có đội ngũ giáo viên trẻ
năng động có trình độ đạt chuẩn và trên chuẩn (17/22 đồng chí có bằng Đại học)
nhiệt tình thực sự yêu nghề, mến trẻ tạo được niềm tin cho các bậc phụ huynh,
chính điều đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục
trẻ. Cho đến nay chuyên đề đã được tổng kết nhưng việc tổ chức thực hiện và
chỉ đạo chuyên đề phát triển ngôn ngữ cho trẻ còn nhiều hạn chế, kết quả đạt
được chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu đạt ra.
2. Khó khăn:
Năm học 2014-2015 trường tôi có 276 cháu mẫu giáo nhưng số cháu đã học
qua lớp bé, nhỡ chỉ có 45/276 cháu. Do đó khả năng nghe, nói, làm quen với
việc đọc viết cũng như cách sử dụng câu từ của trẻ còn nhiều hạn chế. Trẻ
thường hay nói lắp, nói ngọng, phát âm chưa chính xác, còn lẫn lộn giữa các phụ
âm tiếng việt, chưa mạnh dạn trong giao tiếp, sử dụng chưa đúng câu từ, khả
năng chú ý của trẻ chưa tập trung, trả lời trống không, ... Bên cạnh đó một số
giáo viên chưa nắm chắc các phương pháp, biện pháp tổ chức hoạt động phát
triển ngôn ngữ cho trẻ cũng như chưa sáng tạo trong việc lồng ghép nội dung
này vào các hoạt động và thời điểm trong ngày, mọi lúc mọi nơi. Mặt khác một
số phụ huynh chưa ý thức được vấn đề phát triển ngôn ngữ cho trẻ theo hướng
chuẩn cho con em mình.
3. Kết quả thực trạng:
Từ những thuận lợi và khó khăn trên tôi đã tiến hành khảo sát chất lượng và
đem lại kết quả như sau: ( Tháng 9 năm 2014 )
* Thực trạng đối với giáo viên:
STT

Nội dung

1

Giáo viên nắm chắc kiến thức
phát triển ngôn ngữ cho trẻ
mẫu giáo
Tổ chức các hoạt động có hiệu
quả phát triển ngôn ngữ cho
trẻ mẫu giáo

2

Tổng
số
GV

Đạt

Tỷ
lệ
( %)

14

11

78.6

3

21.4

14

12

85.7

2

14.3

Chưa
đạt

Tỷ lệ
(%)

4


Biết lồng tích hợp các hoạt
động phát triển ngôn ngữ cho
trẻ mẫu giáo.
Giáo viên tham gia việc tìm
kiếm, sưu tầm các loại truyện,
thơ, ca dao, đồng dao

3
4

[

14

10

71.4

4

28.6

14

9

64.3

5

35.7

Tổng
số
cháu

Đạt

Tỷ
lệ
( %)

Chưa
đạt

276

221

80.1

55

19.9

276

219

79.3

57

20.7

276

226

81.9

276

219

79.3

57

20.7

276

191

69.2

85

30.8

276

209

75.7

67

24.3

276

205

74.3

71

25.7

* Thực trạng đối với học sinh:
STT

Nội dung

1

Khả năng nghe, hiểu lời nói
trong giao tiếp hàng ngày.
Trả lời chính xác các câu hỏi
khi đàm thoại.
Nghe hiểu nội dung các câu
truyện các bài thơ, ca dao,
đồng dao phù hợp với độ tuổi.
Thể hiện được tình cảm, ngữ
điệu, nhịp điệu khi đọc các bài
thơ, câu chuyện, ca dao, đồng
dao.
Kể chuyện có xuất phát từ nội
dung tranh.
Kể chuyện theo một trình tự
hợp lý.
Chơi thành thạo các trò chơi.

2
3
4

5
6
7

50

Tỷ lệ
(%)

18.1

Thông qua kết quả của thực trạng trên với tổng số cháu nắm vững về nội
dung phát triển ngôn ngữ ….còn hạn chế. Xuất phát từ thực trạng trên để chỉ đạo
nâng cao chất lượng phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo cao hơn nữa tôi đã
mạnh dạn đưa ra một số giải pháp và tổ chức thực hiện sau:
III. CÁC GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN.

Qua quá trình tổ chức thực hiện chuyên đề nâng cao chất lượng phát triển
ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo tôi đã có một số giải pháp tổ chức thực hiện mang lại
kết quả khá khả thi như sau:
1. Xây dựng kế hoạch chỉ đạo phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo.
Tuy đã được tổng kết nhưng vấn đề phát triển ngôn ngữ cho trẻ là vô cùng
quan trọng và cần thiết. Nó là chìa khóa của tri thức, ngôn ngữ của trẻ phát triển
sẽ tạo nền tảng cho ngôn ngữ về sau cũng như trong suốt cuộc đời đứa trẻ. Việc
phát triển ngôn ngữ cho trẻ trong giao tiếp sẽ giúp cho trẻ dễ dàng tiếp cận với
các môn học khác: Tạo hình, âm nhạc, toán…Vì vậy chuyên đề này luôn được
nâng cao cả về kiến thức và thực hành cho cán bộ, giáo viên trong nhà trường và
coi đây là chuyên đề trọng tâm cho năm học.
5


Để chỉ đạo thực hiện tốt chuyên đề ngay từ đầu năm học, Ban giám hiệu
nhà trường đã xây dựng kế hoạch một cách cụ thể, xác thực với điều kiện thực tế
của nhà trường cũng như của địa phương. Sau khi xây dựng kế hoạch xong tôi
đã đưa ra tập thể hội đồng sư phạm nhà trường bàn bạc, bổ sung thống nhất
khẳng định mục tiêu, giải pháp thực hiện. Từ kế hoạch của nhà trường từng cán
bộ giáo viên xây dựng kế hoạch cho cá nhân: Trong đó phải xác định rõ mục
tiêu, nội dung, biện pháp, dự kiến thời gian thực hiện cụ thể cho năm học, cho
từng chủ đề lớn, mạng nội dung, mạng hoạt động, kế hoạch tuần, kế hoạch ngày
cũng như nội dung lồng ghép giáo dục ngôn ngữ, làm đồ dùng, bổ sung trang
thiết bị cho từng chủ đề, tuần phù hợp với từng chủ đề cụ thể trên cơ sở chỉ đạo
của Sở, Phòng giáo dục đã triển khai. Từ đó nhà trường có kế hoạch kiểm tra các
lớp thực hiện nội dung đã đề ra.
* Kết quả: Đã có 8/8 lớp mẫu giáo xây dựng được kế hoạch thực hiện
chuyên đề và đây cũng là tiêu chí đánh xếp loại thi đua giáo viên trong năm.
2. Nâng cao kiến thức về lĩnh vực phát triển ngôn cho giáo viên.
Mặc dù chuyên đề đã được triển khai và tổ chức thực hiện trong nhiều năm,
giáo viên đã nắm được tính chất của chuyên đề và vận dụng vào hoạt động giảng
dạy. Nhưng trong quá trình thực hiện giáo viên vẫn còn lúng túng, chưa tích cực
sáng tạo vì thế trong năm học 2014-2015 Trường mầm non Nga Thái tiếp tục chỉ
đạo triển khai thực hiện nhằm giúp giáo viên nắm bắt và cập nhật thêm kiến mới
phù hợp với yêu cầu của chương trình giáo dục mầm non mới hiện nay.
Ngoài việc tạo điều kiện cho giáo viên mẫu giáo được tham gia học tập các
chuyên đề do Phòng giáo dục tổ chức Ban giám hiệu nhà trường đã tổ chức sinh
hoạt theo các hình thức sau:
* Tổ chức hội thảo
Để buổi hội thảo diễn ra sôi nổi và đạt hiệu quả cao, công tác chuẩn bị là vô
cùng quan trọng. Vì vậy trước khi tổ chức, tôi phải soạn thảo và chuẩn bị nội
dung câu hỏi có liên quan đến nội dung phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo để
đưa ra tập thể giáo viên cùng thảo luận.
Ví dụ: + Phát triển ngôn ngữ cho trẻ là gì?
+ Vì sao phải phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo?
+ Mục tiêu giáo dục phát triển ngôn ngữ là gì?
+ Nội dung giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo?
+ Nội dung phát triển ngôn ngữ được tiến hành thông qua những
hoạt động nào?
+ Để giúp trẻ hứng thú tham gia hoạt động phát triển ngôn ngữ bạn sẽ làm
như thế nào?...
Để buổi hội thảo diễn ra sôi nổi tôi đã cung cấp cho chị em một số tài liệu
có liên quan đến vấn đề phát triển ngôn ngữ như:
+ Phương pháp triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non.
+ Phương pháp tổ chức hoạt động cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học.
+ Phương pháp kể chuyện sáng tạo.
+ Cho trẻ làm que với tác phẩm văn học một số vấn đề lý luận và thực tiễn.
6


+ Hướng dẫn thực hiện chương trình giáo dục mầm non các độ tuổi.
+ Một số tạp chí giáo dục mầm non các số: Số 3- 2003; Số 3, 4-2006; Số
2- 2008; Số 3- 2009. Hướng dẫn một số trò chơi phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu
giáo. Một số bài ca dao, đồng giao, hướng dẫn cách làm đồ dùng, đồ chơi tự
tạo...
* Tổ chức các buổi thao giảng, kiểm tra các hoạt động của nhà giáo, kiểm
tra toàn diện, dự giờ đột xuất giáo viên để kịp thời uốn nắn, bổ sung những hạn
chế tồn tại. Trước khi đi dự giờ, kiểm tra hàng năm vào đầu năm học nhà trường
chỉ đạo giáo viên giỏi, có nhiều kinh nghiệm dạy tiết mẫu, làm đồ dùng, đồ chơi
để giáo viên học hỏi, rút kinh nghiệm sau đó mới đi dự giờ, kiểm tra toàn diện,
kiểm tra các hoạt động của nhà giáo theo qui định để điều chỉnh kịp thời.
* Bên cạnh đó nhà trường còn đầu tư chỉ đạo lớp điểm thực hiện góc mở
tạo môi trường chữ viết cho các lớp học tập.
Đối với trẻ mẫu giáo, môi trường là một vấn đề hết sức quan trọng nhằm
kích thích cho trẻ hứng thú tham gia hoạt động. Vì thế tôi đã chỉ đạo giáo viên
xây dựng điểm tại lớp đồng chí Phạm Thị Nụ theo phương pháp Động – Tĩnh
với hình ảnh ngộ nghĩnh, màu sắc phong phú nội dung phù hợp với từng chủ đề,
trong mỗi góc, dưới mỗi hình ảnh đều có chữ viết kèm theo. Việc trang trí lớp
vừa làm đẹp cho phòng học vừa tạo cho trẻ có điều kiện quan sát, nhận xét tranh
ảnh được làm quen với chữ viết ở trong tranh.
+ Góc học sách truyện: Hình ảnh trang trí là một “Quyển Sách” được trang
trí rất đẹp với tên gọi rất đáng yêu theo từng chủ đề.
Ví dụ: Chủ đề Thế giới thực vật. Tôi đặt tên cho góc là “Thư viện của các
loài hoa quả” Bên trong góc này tôi chỉ đạo giáo viên tìm kiếm, sưu tầm, trưng
bày các loại tranh truyện chữ to, thơ chữ to, các bài ca dao, đồng giao, truyện kể
sáng tạo, truyện cổ tích, truyện dân gian Việt Nam và một số tranh ảnh, tạp chí
khác phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của trẻ. Khi cho trẻ xem tranh tôi đề nghị
giáo viên hướng dẫn cho trẻ đọc từ trái sang phải, từ trên xuống dưới, giáo viên
tham gia đọc sách cùng trẻ, tập cho trẻ kể chuyện theo tranh, giúp trẻ hiểu nội
dung ý nghĩa của chữ viết, rèn luyện khả năng quan sát, chú ý có chủ định của
trẻ.
+ Góc phân vai: Với các hình ảnh gắn với tên gọi như: Hình ảnh góc là
những bông hoa được gắn với tên gọi “Bé tập làm nội trợ” Hình ảnh con cá gắn
với từ “Bé đi siêu thị”... Tất cả các mặt hàng, đồ dùng trong góc đều được gắn
kèm từ như: Những hộp đựng gia vị đều được ghi tên: Hộp mì chính, Đường,
muối... các mặt hàng khác cũng vậy.
+ Góc âm nhạc: Bé yêu ca hát, Ươm mầm tài năng âm nhạc nhí, Tiếng hát
chim sơn ca...
+ Góc xây dựng: Kỹ sư tương lai, Bé làm nghề xây dựng, ngôi nhà hạnh
phúc, Ngôi nhà ước mơ, ...
+ Góc tạo hình: Bé là hoạ sỹ tý hon, Bé yêu nghệ thuật, Học vẽ cùng trống
choai...

7


+ Góc tuyên truyền: Một số hình ảnh kèm từ về các trò chơi, các bài ca dao,
đồng dao, cách phát âm chuẩn các âm tiết khó như: Chữ l đọc “là lờ”, chữ n đọc
“là nờ”; Chữ s đọc “là sờ”, chữ x đọc “là xờ”…một số nội dung tuyên truyền
khác…

(Hình ảnh: Xây dựng MT trong lớp nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ)
Tuỳ theo từng chủ đề giáo viên vận dụng chuyên đề một cách linh hoạt, hợp
lý. Đặc biệt là cỡ chữ phải phù hợp với trẻ. Không treo quá cao mà phải vừa tầm
mắt của trẻ.
Ngoài ra nhà trường còn tạo cơ hội để trẻ được tiếp xúc với nhiều chữ
thông qua các biểu bảng, danh sách tổ, các ký hiệu riêng được ghi trên đồ dùng
của trẻ như: Ba lô, khăn mặt, bàn chải đánh răng, ca cốc… Môi trường ngoài
lớp: Mỗi cây cối, đồ vật đều được gắn các từ riêng: Cây đa, cây vú sữa, cây
8


phượng, thùng đựng rác… tạo môi trường chữ có kèm hình ảnh không những
cho trẻ hiểu biết về thế giới xung quanh mà còn cung cấp được vốn từ, cho trẻ
một cách nhanh nhất cụ thể nhất.

( Hình ảnh: Xây dựng môi trường ngoài lớp phát triển ngôn ngữ cho trẻ )
Ngoài việc tổ chức xây dựng lớp điểm, môi trường điểm. Nhà trường còn tổ
chức nâng cao chất lượng phát triển ngôn ngữ qua các buổi sinh hoạt chuyên
môn, tham quan thực tế các trường bạn. qua các hình thức trên sẽ giúp giáo viên
nắm chắc những mục tiêu, nội dung, Thông phương pháp tổ chức thực hiện phát
triển ngôn ngữ đến trẻ một cách có hiệu quả.
* Kết quả:
- 100% giáo viên nắm vững nội dung, phương pháp phát triển ngôn ngữ cho
trẻ và biết vận dụng nội dung của chuyên đề vào giảng dạy một cách linh hoạt.
- 8/8 lớp mẫu giáo xây dựng được môi trường chữ viết.
- 100% cán bộ giáo viên tham gia sưu tầm các bài hát, bài thơ, ca dao, đồng
dao, làm bổ sung đồ dùng đồ chơi phục vụ các chủ đề.
3. Chỉ đạo giáo viên nâng cao chất lượng phát triển ngôn ngữ cho trẻ
mẫu giáo thông qua hoạt động làm quen với tác phẩm văn học.
Cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học là đưa đến cho trẻ một chân trời
mới của nghệ thuật văn chương. Với trẻ mầm non văn học nói về thế giới cỏ cây
hoa lá, mọi hiện tượng thiên nhiên vũ trụ... thông qua đó giúp trẻ nhận biêt các
mối quan hệ biểu hiện giữa hoàn cảnh, trạng thái tình huống và nhân vật. Thông
qua giao tiếp hàng ngày, qua các bài thơ, câu chuyện, các bài ca dao, đồng dao,
các trò chơi dân gian, làm quen với việc đọc viết... sẽ làm cho vốn từ của trẻ
phát triển, mở rộng hiểu biết về thế giới xung quanh... Vậy làm thế nào để giúp
trẻ phát triển ngôn ngữ một tốt nhất? Thực hiện vấn đề này tôi đã chỉ đạo giáo
viên tổ chức thực hiện như sau:
3.1. Phát triển ngôn ngữ thông qua thể loại truyện kể .
Trước khi kể chuyện cho trẻ nghe, tôi yêu cầu giáo viên, phải xác định rõ
thể loại truyện, phải thuộc tác phẩm, xác định được giọng đọc, giọng kể rõ ràng,
phù hợp với giọng điệu tính cách của từng nhân vật. Bên cạnh đó phải làm tốt
9


công tác chuẩn bị khi tiến hành kể chuyện cho trẻ nghe: Chuẩn bị tranh ảnh
minh họa, đồ dùng trực quan, hình thức và môi trường kể chuyện, cách gây
hứng thú...Và đặc biệt là hệ thống câu hỏi đàm thoại. Vì thông qua hệ thống câu
hỏi đàm thoại của giáo viên sẽ giúp trẻ, tái tạo lại một cách có hệ thống các sự
việc diễn ra. Tùy vào đối tượng trẻ để giáo viên có thể lựa chọn câu hỏi theo
mức độ từ thấp đến cao, từ dễ đến phức tạp và nâng cao dần theo độ tuổi.
Ví dụ: Khi kể truyện “Cây tre trăm đốt” (Mẫu giáo 5- 6 tuổi)
Giáo viên phải xác định được giọng của từng nhân vật như: Giọng anh
nông dân trầm hơi cao ở đoạn trừng trị lão nhà giàu. Giọng lão nhà giàu lúc trầm
lúc cao biểu hiện sự mánh khóe lừa lọc. Giọng ông tiên vang vọng, trầm ấm.
Qua đó sẽ giúp trẻ hiểu được ngôn ngữ kể truyện và khắc sâu lời nói của từng
nhân vật và xác định được sắc thái biểu cảm của nhân vật qua cử chỉ, ánh mắt
điệu bộ thể hiện của giáo viên khi vào vai các nhân vật.
Hay Để giúp trẻ tái tạo nội dung truyện, nhớ lại có hệ thống các sự việc
diễn ra trong câu truyện “Ba cô gái” tôi đã yêu cầu giáo viên sử dụng các dạng
câu hỏi phù hợp từng đối tượng trẻ. Với trẻ yếu, trung bình có thể đặt câu hỏi:
+ Các con vừa nghe cô kể câu truyện gì?
+ Trong câu truyện bà mẹ sinh được bao nhiêu cô con gái?
+ Bà mẹ thương các cô con gái như thế nào?
+ Khi bà mẹ ốm bà nhờ ai mang thư đến cho các con của bà?
+ Vì sao Chị Hai bị Sóc biến thành nhện?
+ Vì sao Chị Cả bị Sóc biến thành rùa?
+ Khi nghe báo tin mẹ bị ốm, Chị Út làm gì?
Với những trẻ khá hơn tôi đã chỉ đạo giáo viên nâng cao mức độ, sử dụng
nhiều câu hỏi mở nhằm giúp trẻ phát triển trí tưởng tượng, sáng tạo.
+ Bà mẹ nhờ Sóc mang thư, theo con có cách nào khác báo tin cho các con
của bà không?
+ Khi bà ốm thì bà mong muốn điều gì?
+ Chị Cả và Chị Hai đã trả lời như thế nào mà làm Sóc con dận giữ Biến
thành nhện và rùa?
+ So với Chị Cả và Chị Hai chị Út có đức tính gì tốt?
+ Nếu cả 3 chị đều về thăm mẹ thì mẹ sẽ như thế nào?
+ Các con sẽ làm gì nếu mẹ mình bị ốm?
Ngoài ra tôi còn giúp giáo viên sử dụng các câu hỏi đòi hỏi trẻ phải sử
dụng nhiều mẫu câu để trả lời như: Hành động nào con biết Chị Út rất thương
mẹ? Trong 3 người con, con thích chị nào nhất? Vì sao? con có thể thay đoạn
kết câu chuyện như thế nào? Con có thể đặt tên khác cho câu chuyện là gì?.
Từ khâu xác định giọng kể, chuẩn bị đồ dùng trực quan, giáo án… đến hệ
thống câu hỏi đàm thoại đến hình thức tạo hứng thú bằng các cách khác nhau:
Hội thi, trò chuyện, câu đố… với những hình ảnh đẹp, ngộ nghĩnh sáng tạo ứng
dụng vào công nghệ thông tin để trẻ hoà nhập vào hoá thân vào trong các tác
phẩm truyện kể. Với những hình ảnh sinh động hấp dẫn kèm theo giọng kể rõ
ràng mạch lạc của giáo viên sẽ giúp trẻ chăm chú xem, lắng nghe, trẻ sẽ chủ
10


động nắm bắt được nội dung câu chuyện. Giáo viên làm tốt các hình thức này
chắc chắn trẻ sẽ giúp trẻ cảm thụ truyện một cách tích cực hơn, trẻ nhớ nội dung
câu chuyện lâu hơn và khi cho trẻ đóng kịch trẻ sẽ tái tạo tính cách của nhân vật
tự nhiên hơn và đặc biệt khi trẻ trả lời các câu hỏi sẽ giúp cho ngôn ngữ của trẻ
phát triển hơn.
Ví dụ: Khi cho trẻ làm quen với câu chuyện: “Cáo thỏ và gà trống” Tôi đã
giúp giáo viên xây dựng đoạn VideoClip có nội dung câu chuyện, kèm nhạc đệm
tạo sự hứng thú của trẻ tích cực tham gia vào hoạt động.
3.2. Phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua các bài thơ, ca dao, đồng dao,
trò chơi dân gian:
Thơ ca là tinh hoa của ngôn ngữ, là kết tinh của tiếng mẹ đẻ. Biết bao điều
của cuộc sống được diễn đạt trong thơ một cách giàu nhạc điệu, giàu hình ảnh,
làm nảy sinh trong lòng người đọc những tình cảm thiết tha với cuộc đời, những
ước mơ trong sáng về tương lai. Đặc biệt thơ ca góp phần làm giàu nhân cách
trẻ, góp phần vào giáo dục nghệ thuật, phát triển hoàn thiện ngôn ngữ cho trẻ.
* Phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua các bài thơ.
Ở lứa tuổi mẫu giáo khi nhu cầu về cái đẹp đang phát triển vì vậy việc dạy
thơ cho trẻ còn mang một ý nghĩa rất đặc biệt nó có tác động mạnh mẽ về nhiều
mặt đối với trẻ: Ngôn ngữ, nhận thức, thẩm mỹ...Vì vậy khi dạy thơ ca cho trẻ
tôi đã chỉ đạo giáo viên cần chú ý đến những nội dung sau:
Trước hết cần phải chọn bài thơ hay phù hợp với chủ đề, với cách cảm,
cách nghĩ của từng độ tuổi, rồi đọc diễn cảm một cách tự nhiên, rõ vần điệu,
nhịp điệu cho trẻ nghe, nhấn mạnh hình tượng trong các bài thơ nhằm giúp trẻ
cảm nhận vẻ đẹp của ngôn ngữ từng bài thơ.
Ví dụ: Khi dạy trẻ bài Thơ: “Thăm nhà bà”
Tôi đã gợi ý cho giáo viên cần khai thác được hình ảnh đẹp trong bài thơ đó
là “Đàn gà”, “Chú lật đật, chạy nhanh nhanh”, “Kêu chiếp chiếp, gà mải miết,
nhặt thóc vàng” để làm toát lên trọng tâm của bài thơ.
Hay với bài “Dán hoa tặng mẹ” Thì nội dung chính chứa đựng ở đây là
món quà để tặng mẹ do chính mình làm ra và lòng biết ơn với cô giáo.
Bên cạnh đó thì việc xác định giọng đọc cũng rất cần thiết yêu cầu giáo
viên phải xác định được giọng điệu của bài thơ, ngắt nhịp rõ ràng, biết nhấn
giọng vào những từ chứa đựng nội dung chính, có thể đọc to, đọc kéo dài ra một
chút hay đọc lắng xuống và điều đặc biệt quan trọng là cách phát âm đúng, các
thanh ( ? ) các âm đầu, các vần.
Ví dụ: Bài thơ “Dán hoa tặng mẹ”
Em dán được /cái hoa/
Cô cho/ mang về nhà/
Nói rằng/ con tặng mẹ/
Quà ngày tết/ tháng ba/.
Khi dạy bài thơ này giáo viên phải dạy trẻ ngắt nhịp 3/2 đối với dòng 1 và
dòng 4. Nhịp 2/3 đối với dòng 2 và dòng 3. Cả bốn dòng thơ này chỉ có một câu
11


loại ngắt dòng, nên tôi hướng dẫn giáo viên khi dạy trẻ nghỉ hơi ít ở mỗi nhịp,
đến chỗ có dấu chấm câu nghỉ dài hơn.
Với bài thơ: “Trăng ơi từ đâu đến” đây là bài thơ hay, có tác dụng luyện
âm cho trẻ. Giáo viên cần hướng dẫn cho trẻ nhấn vào các câu, các từ mang hình
ảnh so sánh “Trăng hồng như quả chín”, “Trăng bay như quả bóng”, “Trăng
tròn như mắt cá”, biết đọc chậm rãi, biểu lộ sự băn khoăn, tự hỏi ở các câu:
“Trăng ơi từ đâu đến?
Hay từ một sân chơi ...”
Hay với câu thơ
“Hoa cà tim tím
Hoa mướp vàng vàng
Hoa lựu chói chang
Đỏ như đốm lửa.”
Để trẻ biết được màu sắc của các loài hoa thì giáo viên cần nhấn mạnh vào
các từ: “Tim tím”, “ vàng vàng”, “chói chang”, “ đốm lửa”.
Với các thanh hỏi, ngã, và các âm tr, ch, s, x. Trong bài “Chú giải phóng
quân”
Chú là chú em
Chú đi tuyền tuyến nửa đêm chú về
Ba lô con cóc to bè
Mũ tai bèo bẻ vành xoè trên vai
Cả nhà mừng quá chú ơi
Y như em đã mơ rồi đêm nao
Chú về kể chuyện vui sao
Mỹ thua cũng khóc như nhiều trẻ con.”
Cô chú ý đến các từ: “Nửa” nhấn mạnh vào thanh hỏi, “Mỹ” nhấn mạnh
vào thanh ngã hay từ “xoè” từ “Sao” để phát âm chữ X, chữ S. Từ “Chuyện”
để trẻ phát âm chữ Ch.
Ngoài những điều kiện trên thì khi đọc mẫu cô phải đọc diễn cảm, thể hiện
điệu bộ bài thơ, tạo được sự hứng thú của bài thơ.
Ví dụ: Khi đọc đến câu: “ Ba lô con cóc to bè” tay cô đưa lên vai thể hiện
chiếc ba lô, “Mũ tai bèo bẻ vành xoè trên vai” dùng tay đưa nhẹ lên đầu rồi vuốt
xuống.
Đồng thời giáo viên có thể thay đổi bằng hình thức ngâm thơ.
Qua các bài thơ cô giáo cần giúp trẻ thấy được cái hay, cái đẹp, cái hay
trong tiếng nói của dân tộc bằng những vần điệu, nhạc điệu... khêu gợi được
những xúc cảm của trẻ đối với những người đã một nắng hai sương làm nên hạt
gạo. Trẻ có thể hình dung ra những cảnh như: “Những trưa tháng sáu/ Nước
như ai nấu/ chết cả cá cờ/ Cua ngoi lên bờ/ Mẹ em xuống cấy” Sự cảm nhận ấy
sẽ để lại tâm hồn đứa trẻ một ấn tượng thật sâu đậm.
* Phát triển ngông ngữ qua các bài ca dao, đồng giao, các trò chơi dân
gian...
Mỗi hoạt động của trẻ đều có mục đích nhất định. Vì thế hoạt động nào
cũng có tính chất riêng của nó. Nếu như ở hoạt động có chủ định được tổ chức
12


nhằm cung cấp kiến thức cho trẻ thì hoạt động ngoài trời giúp trẻ gần gũi với
thiên nhiên, khám phá các hiện tượng tự nhiên và phát triển thể chất...Vì vậy tôi
đã yêu cầu giáo viên lựa chọn các bài ca dao, đồng giao các trò chơi vào các thời
điểm trong ngày sao cho phù hợp. Đặc biệt những bài đồng giao thường gắn liền
với trò chơi dân gian vì thế tổ chức thường xuyên cho trẻ được tiếp xúc thông
qua các nội dung này sẽ làm cho vốn từ của trẻ được tăng nhanh, đặc biệt là
ngôn ngữ mạch lạc.
Ví dụ: Trong giờ đón trả trẻ tôi đã chỉ đạo cho giáo viên cho trẻ nghe và
đọc các bài ca dao mang tính giáo dục cao như: “ Công cha như núi thái sơn”,
“Bà còng”... Nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ khi đọc và giáo dục trẻ lòng biết
ơn sâu sắc tới ông bà, cha mẹ.
Hay trước giờ ăn giáo viên có thể cho trẻ đọc bài ca dao “Cái bống cái
bang”. Với hoạt động góc chủ đề: Các hiện tượng tự nhiên cho trẻ đọc bài ca
dao : “Tưới rau”
Các trò chơi dân gian mà tôi chỉ đạo giáo viên thường tổ chức đó là: “Nu
na nu nống”, “Kéo cưa lừa xẻ”, “ Lộn cầu vồng”, “Rồng rắn lên mây”, “Chi
chi chành chành”, “Dung dăng dung dẻ”, “Mèo đuổi chuột”...

(Hình ảnh: Trẻ chơi trò chơi dân gian tại trường mầm non Nga Thái)
Bên cạnh đó tôi còn phát động, khuyến khích chị em giáo viên tìm kiếm,
sưu tầm và đặt lời mới cung cấp thêm về thế giới xung quanh, phát triển ngôn
ngữ thoả mãn nhu cầu của trẻ qua các chủ đề.
3.3. Phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua trò chơi đóng kịch.
Trò chơi đóng kịch được coi là một hoạt động vui chơi đặc biệt của trẻ mẫu
giáo. Trò chơi đóng kịch không chỉ là phương tiện để phát triển năng lực sáng
tạo, giáo dục thẩm mỹ giúp trẻ phát triển toàn diện, bồi dưỡng cho trẻ lòng nhân
ái, những đức tính tốt đẹp mà còn phát huy ngôn ngữ mạch lạc, hình thành khả
năng ghi nhớ có chủ đích, tạo cơ hội cho trẻ có khả năng hoạt động nghệ thuật
ngay từ lứa tuổi mầm non. Chính vì vậy nên tôi đã chỉ đạo giáo viên hướng dẫn
trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi đóng kịch các tác phẩm văn học. Đây cũng là một hình
thức giúp trẻ dẽ dàng tiếp nhận từ ngôn ngữ viết sang ngôn ngữ kể. Vì ở lứa tuổi

13


này trẻ chưa thể đọc được truyện và quá trình cho trẻ làm quen với tác phẩm văn
học cần phải đa dạng hình thức và tổ chức thật sinh động.
Vậy muốn hướng dẫn trẻ đóng kịch đạt hiệu quả tốt thì cần phải làm thế
nào? Từ câu hỏi trên đã đặt ra tôi đã tìm hiểu và đi sâu vào khai thác thể loại dạy
trẻ đóng kịch và tôi đã nhận ra rằng muốn chỉ đạo giáo viên hướng dẫn trẻ đóng
kich thật tốt thì các nội dung như: Lựa chọn tác phẩm văn học, chuyển dịch kịch
bản, chuẩn bị trang phục, hoá trang, cảnh trí, âm thanh và đặc biệt là rèn luyện
kỹ năng thể hiện ngôn ngữ và hành động của các nhân vật là điều vô cùng quan
trọng và cần thiết khi dạy trẻ đóng kịch.
* Lựa chọn, chuyển thể kịch bản.
Các tác phẩm giáo viên lựa chọn để đóng kịch cần phải, ngắn gọn, xúc tích
và phải có tính kịch, có mâu thuẫn, xung đột giữa các nhân vật không nên có quá
nhiều nhân vật. Đặc biệt các tác phẩm được lựa chọn phải đáp ứng được yêu cầu
giáo dục: Giáo dục tình yêu quê hương, yêu đất nước, tình cảm gia đình, cách
đối nhân xử thế, bộc lộ tính cách của từng nhân vật phải rõ ràng phù hợp qua
hành động và ngôn ngữ.
Ví dụ: Những câu chuyện có tính kịch cao đó là Truyện kể: “Chú dê đen”;
“Cây tre trăm đốt”; “Ba chú heo con”; “ Rau thìa là”; “ Quả bầu tiên”...
Đó là những câu chuyện có nội dung giáo dục tốt, có tính kịch cao, ngôn từ
ngắn gọn dễ hiểu, mà giáo viên trường tôi đã lựa chọn khi dạy trẻ đóng kịch. Tôi
thấy phù hợp và cho chuyển thể thành kịch bản: Xác định số lượng và tính cách
các nhân vật, xác định tính chất ngôn ngữ của nhân vật.
- Khi chuyển thể thành kịch bản cho phép giáo viên có thể thêm hoặc bớt
tình tiết và nhân vật nhưng vẫn đảm bảo nội dung trọng tâm kịch bản. Một vở
kịch có thể có từ 3-4 nhân vật chính nếu quá ít nhân vật thì vở kịch trở nên tẻ
nhạt nhưng nếu quá nhiều thì sẽ trở nên lộn xộn, không trọng tâm làm phân tán
chú ý của trẻ khi tham gia đóng kịch.
Ví dụ: Trong kịch bản “Cây tre trăm đốt” Ngoài lão địa chủ, cô con gái và
anh nông dân ta có thể xây dựng thêm nhân vật Bà con hàng xóm vì trong vở
kịch các nhân vật độc thoại khá nhiều.
Hay với chuyện “Tấm cám” đây là câu chuyện khá dài có nhiều chi tiết thì
giáo viên có thể bỏ bớt một vài chi tiết phụ điều đó cũng không ảnh hưởng nhiều
đến nội dung, diễn biến của kịch bản.
Khi xác định tính cách nhân vật. Trong câu chuyện “Quả bầu tiên”
+ Cậu bé: Hiền lành tốt bụng, yêu qúi chăm sóc bảo vệ các loài động vật.
+ Lão địa chủ tham lam độc ác.
- Xác định tính chất ngôn ngữ của nhân vật.
Ví dụ: Trong câu chuyện “Chú dê đen” truyện kể mở đầu có đoạn: “Có
một chú dê trắng đi vào rừng kiếm lá non để ăn, nước suối mát để uống...”
Nhưng khi chuyển thể sang kịch bản giáo viên có thể chuyển thành “Ôi mùa
xuân tươi đẹp đã về mình phải đi vào rừng kiếm lá non để ăn và nước suối mát
để uống mới được...” Như vậy khi xem người nghe có thể nhận ra đây là lời độc
thoại của nhân vật với khán giả.
14


* Rèn luyện kỹ năng thể hiện ngôn ngữ và hành động của nhân vật cho
trẻ.
Muốn giúp trẻ nắm được vai diễn của mình tôi đã chỉ đạo giáo viên tạo điều
kiện thật tốt cho trẻ hiểu tác phẩm, hiểu về vai mình đóng, đồng thời cho trẻ
luyện tập vai diễn của mình. Ngôn ngữ của nhân vật phải ngắn gọn, đủ ý, dễ
hiểu, chuyển tải đủ nội dung. Câu đối thoại phải có đầy đủ chủ ngữ, vị ngữ, rõ
ràng mạch lạc, cần loại bỏ những từ ngữ không phù hợp nhưng vẫn không làm
thay đổi ngữ điệu và tính cách nhân vật.
- Khi hướng dẫn trẻ đóng kịch cần chú ý sửa sai cho những trẻ nói ngọng,
nói lắp, trẻ nói tiếng địa phương…
- Luyện cho trẻ cách thể hiện ngữ điệu, giọng điệu của các nhân vật. Cần
nhấn mạnh vào các từ cần nhấn mạnh trong các câu nói của nhân vật.
Ví dụ: Câu nói của lão địa chủ trong truyện “Quả bầu tiên” trong đoạn thả
chim én lên trời: “...Bay đi én con, mau hãy mang hạt bầu tiên về đây cho ta...”
Thể hiện sự độc ác tham lam của lão địa chủ.
Đi liền với ngôn ngữ là cử chị điệu bộ, nét mặt luôn đóng vai trò quan trọng
làm nổi bật tính cách nhân vật tạo nên sự sinh động hấp dẫn của vở kịch.
Ví dụ: Đoạn Dê đen đi tìm Dê trắng: Vẻ mặt lo âu, hốt hoảng, điệu bộ vừa
đi vừa chạy, ngó nghiêng tìm kiếm, giọng nói to, nhanh thể hiện sự lo lắng “Dê
Trắng ơi! bạn ở đâu, các bạn ơi, các bạn có thấy bạn Dê Trắng của tôi đâu
không”

( Hình ảnh: Trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi chơi trò chơi đóng kịch “ Chú dê đen” )
3.4. Phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua kể chuyện sáng tạo.
Kể chuyện sáng tạo có thể là hiện thực qua tranh ảnh, đồ dùng đồ chơi hoặc
có thể là chuyện cổ tích. Chính vì vậy tôi đã chỉ đạo cho giáo viên thường xuyên
kể trong các hoạt động hàng ngày đặc biệt là qua hoạt động đón trả trẻ, hoạt
động dạy trẻ kể chuyện sáng tạo.

15


Những đề tài dạy trẻ kể chuyện sáng tạo thường là những đề tài gần gũi và
quen thuộc với trẻ nhưng muốn để trẻ tự tin, mạnh dạn trong khi kể và kể theo
một trình tự nhất định thì giáo viên phải là người hướng dẫn đắc lực nhất.
Ví dụ: Chủ đề : “Đồ chơi yêu thích nhất của cháu”
Muốn trẻ kể tốt cô giáo phải gợi ý để trẻ kể hoặc cô kể mẫu trước, sau đó
cho trẻ kể như: Ở nhà các con có nhiều đồ chơi không? Con thích đồ chơi nào
nhất? Con chơi đồ chơi đó như thế nào?
- Cô kể mẫu trước: “Khi còn nhỏ, đồ chơi yêu thích nhất của cô là chú gà
con lên dây cót. Nó có màu vàng, đôi mắt đen tròn, mỏ nhọn. Chú gà rất nhỏ,
được đặt gọn trong lòng bàn tay cô. Khi cô lên dây cót nó bắt đầu mổ: Túc – túc
– túc... và chạy từ chỗ này sang chỗ khác. Cô cảm thấy rất vui”.
- Sau đó cô kể lại hoặc gợi ý cho trẻ kể lại từng phần như: Hãy nhớ lại xem
cô đã nói gì về đồ chơi yêu thích của mình? Nhớ lại xem cô đã kể gì về đồ chơi
yêu thích đó? Cô hướng dẫn trẻ cách kể: Khi bắt đầu kể hãy cố gắng kể tỷ mỉ về
đồ chơi (Tên đồ chơi, đồ chơi đó như thế nào, sau đó hãy nói xem cháu chơi với
đồ chơi đó như thế nào?). Nhắc trẻ suy nghĩ nhớ lại để kể về đồ chơi yêu thích
của mình.
- Cho trẻ kể, cô và cả lớp theo dõi, giúp đỡ trẻ, khuyến khích trẻ kể.
Ví dụ: Đồ chơi của Bảo Khanh là gì? Con hãy bắt đầu câu chuyện của
mình đi, cả lớp chuẩn bị nghe bạn kể nhé...
- Đưa ra những câu hỏi trong những trường hợp cần thiết. Tên đồ chơi? Đồ
chơi có màu gì? Khi chơi con chơi như thế nào? Con đã làm gì với đồ chơi ấy?
Cuối cùng giáo viên nhận xét, đánh giá tỷ mỉ câu chuyện của trẻ nhằm
hướng dẫn cả lớp.
Hay ở một số chủ đề khác như: “Một cuộc dạo chơi trong sân trường”,
“Một loại cây mà cháu yêu thích”, “Những công việc cháu làm ở nhà giúp đỡ
bố mẹ”.
Tôi đã chỉ đạo cho giáo viên cho trẻ quan sát tranh, xem bức tranh nói về
chủ đề gì? mục đích giúp trẻ nhận biết nội dung và hướng tới bức tranh đó.
Thông qua các bức tranh, trẻ thấy được mối quan hệ giữa các nhân vật trong đó,
lời kể của cô giáo cũng được các cháu học tập kể theo.
Ví dụ: Khi kể chuyện theo tranh có chủ đề: “Người thân yêu nhất trong
gia đình” Đầu tiên cô cho trẻ xem tranh về mẹ. Sau khi trao đổi về chủ đề, cô kể
“Trong gia đình, người mà Bảo Khanh yêu qúi nhất đó là mẹ. Mẹ Bảo Khanh
cao, tóc dài, da trắng. Mẹ rất yêu quý Bảo Khanh...”
Chỉ đạo giáo viên khi kể mẫu cô cùng trẻ trao đổi, gợi nhớ về chủ đề trong
tranh và câu chuyện cô vừa kể bằng hệ thống câu hỏi đàm thoại để trẻ khắc sâu
nhân vật và nội dung của chủ đề cần kể.
Ví dụ: + Cô có bức tranh mang chủ đề gì?
+ Trong bức tranh có những ai?
+ Trong gia đình người mà bạn Bảo Khanh yêu quý nhất là ai?
+ Mẹ Bảo Khanh trông như thế nào?
+ Vì sao Bảo Khanh lại quý mẹ nhất?...
16


Việc dạy trẻ kể chuyện sáng tạo có hiệu quả phát triển lời nói mạch lạc nếu
thực hiện thường xuyên và liên tục góp phần làm giàu vốn từ, kinh nghiệm sống
và khả năng tư duy của trẻ.
* Kết quả:
- 100% cán bộ giáo viên đã nắm bắt vững vàng nội dung phát triển ngôn
ngữ cho trẻ và vận dụng linh hoạt vào chương trình giáo dục trẻ đáp ứng được
mục đích yêu cầu của mầm non mới hiện nay.
- 100% Các cháu hứng thú khi tham gia các hoạt động phát triển ngôn ngữ
+ Hứng thú, tham gia tích cực vào hoạt động cho trẻ làm quen với tác phẩm
văn học, các bài thơ, ca dao, đồng dao, trò chơi.
+ Mạnh dạn, tự tin khi tham gia đóng kịch.
+ Nghe, hiểu lời nói trong giao tiếp hàng ngày.
+ 100% Trẻ thích tham gia vào trò chơi
- 100% cán bộ giáo viên tham gia tìm kiếm, sưu tầm, sáng tác, đặt lời mới
cho các bài hát dân ca, ca dao, đồng dao, các trò chơi dân gian.
- 10/10 lớp làm đồ dùng bổ đồ dùng đồ chơi phục vụ cho hoạt động phù
hợp với chủ đề (Rối, sa bàn, mô hình, xây dựng VideoClíp cho các hoạt động
truyện kể, đọc thơ...) từ các nguyên vật liệu mở.
4. Chỉ đạo giáo viên nâng cao chất lượng phát triển ngôn ngữ cho trẻ
thông qua các hoạt động khác.
Ngôn ngữ không thể thiếu được trong tất cả các hoạt động: Tạo hình, âm
nhạc, khám phá khoa học... trong mọi hoạt động đều cần đến ngôn ngữ. Thông
qua ngôn ngữ trẻ mới hiểu được sự việc của mọi vấn đề.
Ví dụ: Khi tổ chức cho trẻ: Khám phá chủ đề: Quá trình phát triển của cây
Nếu giáo viên chỉ cho trẻ quan sát mà không đi kèm với lời giảng giải, đàm
thoại thì chắc chắn trẻ chỉ biết rằng đó là những hình ảnh đơn điệu: Hạt – hạt
nảy mầm - cây non - cây trưởng thành – cây ra hoa – cây kết quả. Vì vậy cần có
sự trao đổi giữa cô và trẻ kết hợp với hệ thống câu hỏi đàm thoại sẽ giúp trẻ tri
giác một cách cụ thể hơn, chính xác hơn đặc biệt là trẻ biết được mối quan hệ
của chúng với môi trường và con người cũng như phát triển vốn từ cho trẻ: “
Hạt”, “ Hạt nảy mầm”...
Hay với đề tài: Cho trẻ tìm hiểu về một số loại quả, loài hoa...
Trẻ sẽ nhận biết được tên gọi, đặc điểm, màu sắc, hình dáng, kích thước,
mùi vị của từng loại quả mối quan hệ của chúng với sự vật xung quanh. Trẻ
được nói đi nói lại nhiều lần các từ khi được làm quen, trẻ được tự mình nói lên
những cảm nhận của trẻ về các loại hoa, quả..., giúp trẻ hiểu một cách chính xác
về ngôn ngữ tiếng Việt.
* Với hoạt động ngoài trời.
Để giúp trẻ hiểu các từ khái niệm. Có thể sử dụng các tình huống có thật
khi cho trẻ đi dạo chơi, thăm quan.
Ví dụ: Thăm vườn cây ăn quả. Cô đặt câu hỏi và trao đổi với trẻ: Cây nhãn
nào cao nhất? Có mấy cây ổi? Trong vườn có những loại cây gì? ...
17


* Với hoạt động góc.
Trong quá trình tổ chức chơi ở các góc tôi đã gợi ý, trao đổi cùng giáo viên
để đưa ra biện pháp phát triển ngôn ngữ cho phù hợp. Tập cho các cháu giao
tiếp, trao đổi với nhau, để chọn món, chọn thực phẩm và biết trong đó giàu chất
gì?...
Ví dụ: Ở góc thư viện tôi cùng giáo viên hướng dẫn trẻ làm album trong đó
ghi những câu ca dao tục ngữ mà trẻ đã biết. Ngoài ra chúng tôi còn viết tiếp ở
trong đó những câu ca dao, tục ngữ, câu chuyện, bài thơ mới. Từng trẻ có thể
mang album về nhà, những câu ca dao, tục ngữ, câu chuyện, bài thơ mới sẽ được
cha mẹ viết tiếp hoặc vẽ những bức tranh theo những câu ca dao, tục ngữ...ấy.
Sau đó trẻ mang đến lớp trao đổi với nhau về những câu ca dao tục ngữ mới đã
biết và cô giáo đọc cho cả lớp nghe, dạy trẻ những câu ca dao, tục ngữ đó...
Ví dụ: Ở góc phân vai Giáo viên cho trẻ tập vào vai các nhân vật mang các
loại rau củ quả phát triển khả năng kể chuyện sáng tạo như: Tôi là “Rau thìa là”
một loài rau có lá rất nhỏ, tôi mang trong mình rất nhiều Vitamin và muối
khoáng đấy các bạn có thể chế biến tôi thành nhiều món ăn khác nhau như: Xào,
luộc đặc biệt là nấu canh cá khoai thì ngon tuyệt đấy các bạn ạ.
Còn tôi tên gọi là “Quả cà chua” mình tròn, màu đỏ nhưng tôi lại cung cấp
rất nhiều Vitamin đấy nhé....
* Với hoạt động tạo hình: Trong hoạt động này cô sử dụng các loại câu
hỏi để giúp trẻ hiểu nghĩa của từ.
Ví dụ: Con hãy vẽ cho cô 3 quả cam, một quả tô màu đỏ, một quả tô màu
xanh, một quả tô màu vàng.
Hay trong bài tập nhận biết cô giáo đưa cho trẻ một bài tập và yêu cầu trẻ
thực hiện: Các con hãy vẽ cho cô một đàn cá đang bơi, bơi đầu đàn là cá mẹ to
nhất, bơi tách rời là đàn cá con. đằng sau cá mẹ là những con cá nhỏ hơn.
Cùng với sự hướng dẫn của cô chúng sẽ dần hiểu nghĩa được các từ khái
niệm.
* Với hoạt động cho trẻ làm quen với chữ viết.
Tôi yêu cầu giáo viên phải phát âm chính xác các từ, các câu, các âm tiết
tiếng việt đặc biệt là các âm tiết khó: L, n, tr, ch, s, x
Hướng cho trẻ biết cách giở sách lật từng trang, đọc từ trên xuống dưới – từ
trái sang phải, cách cầm bút bằng ba đầu ngón tay, cách ngồi đúng tư thế...
Cần phải phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi: Để luyện phát âm
cho. Muốn vậy đòi hỏi mọi giáo viên phải nắm vững khả năng phát âm, khả
năng của từng trẻ và lựa chọn thời điểm thích hợp. Ngoài ra tôi còn chỉ đạo giáo
viên trao đổi, tuyên truyền với phụ huynh cùng phối hợp trong công tác nâng
cao chất lượng phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo.
* Kết quả.
- 98,3 % giáo viên biết vận dụng, lồng ghép chuyên đề tích hợp vào các
hoạt động khác, mọi lúc mọi lúc, mọi nơi.
- 100% giáo viên phát âm chuẩn các âm tiếng Việt.
- 96 % trẻ hứng thú tham gia tích cực vào các hoạt động.
18


- 100% Trẻ 5 tuổi nắm chắc 29 chữ cái, không nói ngọng, nói lắp.
5. Chỉ đạo giáo viên phối kết hợp với phụ huynh nhằm phát triển ngôn
ngữ cho trẻ.
Công tác phối hợp với phụ huynh là đặc biệt quan trọng vì thế để giáo viên
có kỹ năng tuyên truyền, trình bầy chuyển tải nội dung chuyên đề đến phụ
huynh một cách tự tin, lưu loát, thuyết phục làm cho phụ huynh hiểu vấn đề tôi
đã hướng dẫn giáo viên soạn thảo nội dung tuyên truyền sao cho thiết thực, phù
hợp với nhận thức của từng phụ huynh. Muốn làm được điều đó giáo viên phải
vững vàng lập trường quan điểm, nắm vững vấn đề cần truyền đạt, để có thể giải
đáp những thắc mắc của phụ huynh. Đồng thời phải luôn lắng nghe, tiếp thu ý
kiến đóng góp của phụ huynh có như thế mới tạo được lòng tin đối họ để họ có
thái độ hợp tác trong công tác chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ.
- Tổ chức cho phụ huynh nghe báo cáo và toạ đàm và chuyên đề. Giới thiệu
chương trình “Làm quen với văn học” và các môn học khác đối với các lớp
mẫu giáo. Cho phụ huynh hiểu. Phát tài liệu về các nội dung phát triển ngôn ngữ
cho trẻ mẫu giáo. Giới thiệu cách thức dạy trẻ ở lớp mẫu giáo mà giáo viên
thường sử dụng.
- Các biện pháp tạo môi trường văn học cho trẻ.
- Vận động phụ huynh tìm kiếm, sưu tầm các bài hát, bài thơ, ca dao đồng
dao cho trẻ mầm non. Ủng hộ về vật chất để mua sắm trang thiết bị dạy học...
- Hàng ngày vào những giờ đón trả trẻ. Nhà trường thường mở đĩa VCD
các bài hát, các bài thơ câu chuyện... có nội dung giáo dục phù hợp với đặc điểm
của trẻ, phù hợp chủ đề. Để phụ huynh hiểu và hợp tác trong việc phát triển
ngôn ngữ cho trẻ.
* Kết quả:
- 100% giáo viên có kỹ năng tuyên truyền.
- 97% Phụ huynh đã nhận thức được tầm quan trọng của việc phát triển
ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo
- Tìm kiếm và sưu tầm được 69 bài thơ, ca dao, đồng dao, các bài hát, trò
chơi dân gian. Ủng hộ 15.000.000đ mua sắm máy 2 máy vi tính, 2 ty vi cho cô
giáo và các cháu hoạt động.
IV. KIỂM NGHIỆM.

Có thể nói rằng sau khi áp dụng một số giải pháp “Một số biện pháp chỉ
đạo nâng cao chất lượng phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo” vào tổ chức
thực hiện tại trường mầm non Nga Thái đã đem lại những kết quả rất khả quan
đó là:
- 100% Giáo viên đã nắm vững kiến thức, nội dung, phương pháp tổ chức
các hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo.
- 97% các bậc phụ huynh đã nhận thức được tầm quan trọng của việc phát
triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo.
- Nhà trường luôn nhận được sự quan tâm của các ban ngành đoàn thể trong
và ngoài địa phương đầu tư mua sắm đầy đủ cơ sở vật chất trang thiết bị phục vụ

19


cho việc dạy và học. Đặc biệt qua quá trình kiểm tra, khảo sát thực tế trên trẻ đã
đem lại những kết quả khá khả thi như sau:
* Kết quả khảo sát đối với giáo viên cho thấy: (Tháng 4 năm 2015)
STT

Nội dung

1

Giáo viên nắm chắc kiến thức
phát triển ngôn ngữ cho trẻ
mẫu giáo
Tổ chức các hoạt động có hiệu
quả phát triển ngôn ngữ cho
trẻ mẫu giáo
Biết lồng tích hợp các hoạt
động phát triển ngôn ngữ cho
trẻ mẫu giáo.
Giáo viên tham gia việc tìm
kiếm, sưu tầm các loại truyện,
thơ, ca dao, đồng dao

2
3
4

Tổng
số
GV

Đạt

Tỷ
lệ
( %)

14

14

100

0

0

14

13

92.9

1

7.1

13

92.9

1

7.1

14

100

0

0

269

Tỷ lệ
( %)
97.5

Chưa
đạt
7

Tỷ lệ
(%)
2.5

261

94.6

15

5.4

265

96

11

4

267

96.7

9

3.3

251

90.9

25

9.1

262

94.9

14

5.1

270

97.8

6

2.2

Chưa
đạt

Tỷ lệ
(%)

[

14

14

* Kết quả khảo sát đối với học sinh:
STT
1
2
3
4

5
6
7

Tổng số
cháu
Khả năng nghe, hiểu lời nói trong
276
giao tiếp hàng ngày.
Trả lời chính xác các câu hỏi khi
276
đàm thoại.
Nghe hiểu nội dung các câu
truyện các bài thơ, ca dao, đồng
276
dao phù hợp với độ tuổi.
Thể hiện được tình cảm, ngữ
điệu, nhịp điệu khi đọc các bài
276
thơ, câu chuyện, ca dao, đồng
dao.
Kể chuyện có xuất phát từ nội
276
dung tranh.
Kể chuyện theo một trình tự hợp
276
lý.
Chơi thành thạo các trò chơi.
276
Nội dung

Đạt

C. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
Qua quá trình nghiên cứu chuyên đề phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo.
Để thực hiện tốt chuyên đề có hiệu quả thì yêu cầu đặt ra đối với Ban giám hiệu
cần phải có kế họach cụ thể, rõ ràng, triển khai chuyên đề đến từng giáo viên
20


một cách có hiệu quả thông qua đó giáo viên nắm chắc mục đích yêu cầu, nội
dung của chuyên đề để từ đó có phương pháp, biện pháp tổ chức đồng loạt, thiết
thực. Đây là một trong những mục tiêu quan trọng không thể thiếu trong chương
trình giáo dục trẻ mầm non, đăc biệt là trẻ mẫu giáo, nó luôn là mục tiêu hàng
đầu được phát triển và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Vì vậy để thực hiện tốt nội dung phát triển ngôn ngữ cho trẻ đòi hỏi chúng
ta những nhà giáo dục phải kiên trì, sáng tạo, không thể lập trên một mặt trận
chung chung mà nó phải được xác định một cách có kế hoạch, có mục đích và
được tổ chức ở mọi hoạt động, mọi thời điểm, mọi lúc mọi nơi và phải có sự
phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và toàn xã hội. Thực hiện tốt
chuyên đề này, chúng ta đã góp một phần không nhỏ trong việc giữ gìn, bảo vệ
và phát huy truyền thống văn hoá dân tộc Việt Nam, cũng chính là thực hiện lời
dạy của Bác Hồ “Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu dài, vô cùng quý báu
của dân tộc, chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng nó”.
* ĐỀ XUẤT:

Qua quá trình chỉ đạo thực hiện mục tiêu phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu
giáo trong chương trình giáo dục mầm non mới hiện nay chúng tôi những người
trực tiếp chỉ đạo giảng dạy ở những nơi có hoàn cảch khó khăn, phụ huynh chưa
thực sự quan tâm đến vấn đề học tập của các cháu. Để giúp trẻ phát triển một
cách toàn diện cũng như giúp trẻ phát triển ngôn ngữ. Rất mong các cấp lãnh
đạo quan tâm nhiều hơn nữa trong việc bổ sung trang thiết bị, đồ dùng dạy học,
đồ dùng trực quan nhằm giúp trẻ có thêm hứng thú, chủ động tham gia hoạt
động và tăng khả năng phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
Giáo viên cần có tâm huyết với nghề để từ đó tìm ra các biện pháp sáng tạo
để phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Cần linh hoạt khi sử dụng các phương pháp, biện
pháp vào giảng dạy để đạt được kết quả cao nhất góp phần nâng cao chất lượng
hoàn thành mục tiêu giáo dục đã đề ra.
Trên đây là những kinh nghiệm qua quá trình chỉ đạo thực hiện nâng cao
chất lượng phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo, rất mong được sự góp ý của
Ban giám hiệu nhà trường cũng như các bạn đồng nghiệp để tôi chỉ đạo tổ chức
thực hiện được tốt hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ

Nga Sơn, ngày 10 tháng 04 năm 2015
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của người
khác.

Trịnh Thị Oanh

Bùi Thị Huệ

21



x

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×