Tải bản đầy đủ

TIEU LUAN PHAP LUAT BAO HIEM THAT NGHIEP

1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP HCM
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

TIỂU LUẬN
Đề tài: PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Sinh viên thực hiện:
Giáo viên giảng dạy: Thầy Đỗ An Bình

TP HCM


2

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thất nghiệp là một hiện tượng kinh tế - xã hội mà hầu hết các nước trên thế giới
phải đương đầu. Trong nền kinh tế thị trường, thất nghiệp là một hiện tượng khách
quan và nó được biểu hiện như một đặc trưng vốn có của kinh tế thị trường. Tác

động của thất nghiệp đến sự phát triển, ổn định kinh tế, chính trị và xã hội của mỗi
quốc gia là rất lớn, nó đẩy người lao động bị thất nghiệp vào tình trạng túng quẫn,
lãng phí nguồn nhân lực là một trong những nguyên nhân cơ bản làm kinh tế bị
đình trệ. Thất nghiệp gia tăng làm cho tình hình chính trị xã hội bất ổn, các tệ nạn
xã hội và tội phạm gia tăng làm băng hoại các giá trị đạo đức, văn hóa của gia đình
và xã hội. Thất nghiệp dẫn đến những thiệt hại nghiêm trọng về thu nhập kinh tế
quốc dân, sự lãng phí nguồn nhân lực do tỉ lệ thất nghiệp cao đi cùng với sự giảm
sút lao động do không sản xuất. Đồng thời thất nghiệp còn làm tăng chi tiêu của
Chính phủ, của doanh nghiệp và xã hội cho các trợ cấp thất nghiệp và các chi phí
khác như chi phí đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng, dịch vụ việc làm. Vì vậy, hạn chế
thất nghiệp và đảm bảo ổn định đời sống người lao động trong trường hợp bị thất
nghiệp là mục tiêu cung của các quốc gia, các tổ chức quốc tế và khu vực.
Nước ta tuy mới bước vào nền kinh tế thị trường nhưng thất nghiệp đã, đang và
sẽ là vấn đề cấp thiết của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội phải tập trung giải quyết.
Nhận thức được điều này, khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, ngay từ rất
sớm, Đảng ta đã khẳng định “Từng bước hình thành quỹ bảo trợ thất nghiệp ở
thành thị, đảm bảo công ăn việc làm cho dân là mục tiêu hàng đầu, không để thất
nghiệp trở thành căn bệnh kinh niên…” (Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII,
năm 1996). Tiếp đó, vấn đề thất nghiệp và bảo trợ thất nghiệp đã được khẳng định
tại nhiều văn kiện của Đảng và được cụ thể hóa bằng nhiều chính sách đối với vấn
đề này. Đặc biệt Bộ luật Lao Động và Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) ra đời là
những văn bản pháp lý quan trọng của chính sách bảo hiểm thất nghiệp (BHTN).
Qua nhiều năm thực hiện, chính sách BHTN đã đạt được những kết quả khả quan.
Tuy nhiên chính sách đó đang còn những bất cập và gặp khó khăn trong quá trình
thực hiện. Điều đó cho thấy việc nghiên cứu, hoàn thiện chính sách BHTN ở Việt
Nam là một yêu cầu cấp thiết hiện nay. Chính vì vậy, em đã chọn đề tài tiểu luận
“Pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay” để nghiên cứu với
mong muốn góp phần giải quyết yêu cầu thực tế và bổ sung chính sách BHTN ở
nước ta hiện nay. Với toàn bộ khả năng của mình, em sẽ cố gắng mang đến những
thông tin cơ bản và tổng quát nhất về luật Bảo hiểm thất nghiệp, tuy nhiên không
tránh khỏi những thiếu sót ngoài mong muốn nên em hy vọng nhận được sự góp ý
từ phía thầy giáo để hoàn thiện hơn kiến thức của mình.


3
2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là luật BHTN.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: chính sách BHTN ở đây bao gồm hỗ trợ về tài
chính khi mất việc làm, hỗ trợ đào tạo nghề và cung cấp thông tin tìm kiếm việc
làm mới. Chính sách này áp dụng đố với những người lao động làm công ăn lương,

có tham gia vào quan hệ lao động, có giao kết hợp đồng lao động và người thất
nghiệp ở đây là người Việt Nam.
3. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết đề tài, phép biện chứng duy vật của triết học Mác – Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh được sử dụng với tư cách là phương pháp luận cho việc nghiên
cứu. Ngoài ra, những phương pháp nghiên cứu khoa học kinh tế, xã hội phù hợp
với từng vấn đề của đề tài cũng được vận dụng như: tổng hợp, phân tích, so sánh,
thống kê, tra cứu, đối chiếu, diễn giải, quy nạp…
4. Kết cấu của tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, bài tiểu luận gồm có những
nội dung chính sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam hiện
nay
Chương 2: Thực trạng áp dụng luật bảo hiểm thất nghiệp ở nước ta hiện nay
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo hiểm thất nghiệp ở nước ta hiện
nay


4

BẢNG KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT
BHXH :
BHTN :
VN :
TN :
BHYT :
DN :
NLĐ :

Bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm thất nghiệp
Việt Nam
Thu nhập
Bảo hiểm y tế
Doanh nghiệp
Người lao động


5

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU..................................................................................................................1
BẢNG KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT.........................................................................3
MỤC LỤC................................................................................................................4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY............................................................................................5
1. Lý thuyết về thất nghiệp.......................................................................................5
2. Bảo hiểm thất nghiệp............................................................................................6
3. Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam........................................................................6
3.1. Khái quát về bảo hiểm xã hội Việt Nam...........................................................6
3.1.1. Các loại hình của BHXH.................................................................................7
3.1.2. Các chế độ BHXH...........................................................................................7
3.1.3. Nguyên tắc bảo hiểm xã hội...........................................................................8
3.2. Luật và chính sách điều chỉnh vấn đề bảo hiểm thất nghiệp..............................8
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG LUẬT BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở
NƯỚC TA HIỆN NAY...........................................................................................11
1. Ưu điểm..............................................................................................................11
1. Hạn chế...............................................................................................................12
CHƯƠNG 3: NHỮNG GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT BẢO HIỂM
THẤT NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY..........................................................13
KẾT LUẬN............................................................................................................17
TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................................................18


6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM
THẤT NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1. Lý thuyết về thất nghiệp
1.1. Định nghĩa
Thất nghiệp là tình trạng người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động
muốn có việc làm mà không tìm được việc làm.
1.2. Phân loại
-Thất nghiệp tự nhiên: tỷ lệ thất nghiệp đương nhiên bởi luôn có một số người
trong giai đoạn chuyển từ chỗ làm này sang chỗ khác.
-Thất nghiệp cơ cấu: do sự không tương thích của phân bố lao động và phân bố
chỗ làm việc (khác biệt địa lý hoặc khác biệt kỹ năng). Người thất nghiệp không
muốn hoặc không thể thay đổi nơi ở hoặc chuyển đổi kỹ năng.
-Thất nghiệp chu kỳ: khi tổng cầu lao động thấp hơn tổng cung lao động ở giai
đoạn suy thoái của chu kỳ kinh tế.
-Thất nghiệp kỹ thuật: do việc thay thế công nhân bằng máy móc hoặc công
nghệ tiên tiến hơn.
1.3. Ảnh hưởng
- Thất nghiệp có ảnh hưởng quan trọng không những đến các cá nhân mà còn
ảnh hưởng đến toàn bộ xã hội và nền kinh tế. Các cá nhân khi không có việc làm sẽ
gây ra chán nản, không có tiền, không có khả năng chi trả gây ra trộm cắp và các tệ
nạn xã hội.
- Tỷ lệ thất nghiệp cao đồng nghĩa với Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thấp các nguồn lực con người không được sử dụng, bỏ phí cơ hội sản xuất thêm sản
phẩm và dịch vụ.
- Thất nghiệp còn có nghĩa là sản xuất ít hơn. Giảm tính hiệu quả của sản xuất
theo quy mô.
- Thất nghiệp dẫn đến nhu cầu xã hội giảm. Hàng hóa và dịch vụ không có
người tiêu dùng, cơ hội kinh doanh ít ỏi, chất lượng sản phẩm và giá cả tụt giảm.
Hơn nữa, tình trạng thất nghiệp cao đưa đến nhu cầu tiêu dùng ít đi so với khi nhiều
việc làm, do đó mà cơ hội đầu tư cũng ít hơn. Do đó tình trạng thất nghiệp là một
trong những vấn đề nan giải và hết sức bức xúc và cần có những chính sách để giúp
mọi người tìm được việc làm cũng như những biên pháp hỗ trợ khi bị thất nghiệp
để giúp cân bằng kinh tế xã hội.


7
2. Bảo hiểm thất nghiệp
2.1. Định nghĩa
Bảo hiểm thất nghiệp là quá trình tổ chức và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung (Quỹ
bảo hiểm thất nghiệp) được hình thành do sự đóng góp của các bên tham gia (NLĐ,
NSDLĐ và sự hỗ trợ của Nhà nước) nhằm hỗ trợ tài chính tạm thời dành cho
những người bị mất việc làm mà đáp ứng yêu cầu luật định. Trong đó, quỹ bảo
hiểm thất nghiệp là quỹ được hình thành một cách thường xuyên, liên tục và qua đó
sử dụng quỹ nhằm hỗ trợ tài chính cho một bộ phận nhỏ những người không may
rơi vào tình trạng thất nghiệp.
2.2. Đối tượng
Đối tượng được nhận bảo hiểm thất nghiệp là những người bị mất việc không
do lỗi của cá nhân họ. Họ vẫn đang cố gắng tìm kiếm việc làm, sẵn sàng nhận công
việc mới và luôn nỗ lực nhằm chấm dứt tình trạng thất nghiệp. Những người này sẽ
được hỗ trợ một khoản tiền theo tỉ lệ nhất định so với khoản thu nhập cũ nhận trong
những thời kỳ cụ thể.
Bảo hiểm thất nghiệp không áp dụng cho những người thất nghiệp vì tự ý bỏ
việc hay những người vừa mới ra trường và chưa tìm được công ăn việc làm,
những người thuộc vào diện thất nghiệp tự nhiên.
2.3. Lợi ích
Nhận thức được tầm ảnh hưởng của thất nghiệp trong kinh tế xã hội thì các hệ
thống bảo hiểm thất nghiệp đã được ra đời và đã có tác dụng nhằm:
- Giúp ổn định thu nhập đời sống cho những người thất nghiệp không tự
nguyện, đáp ứng cho họ những chi tiêu cần thiết mà không gây ra tình trạng nợ nần.
- Giúp những người thất nghiệp sớm có cơ hội tìm được việc làm, những người
có kĩ năng sẽ tìm được công việc phù hợp thay vì phải làm những công việc khác
với mức lương không tương xứng.
- Giúp ổn định nền kinh tế, góp phần duy trì sức tiêu dùng ở cả góc độ cá thể và
kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tìm việc làm hiệu quả.
- Tạo điều kiện kết nối tốt hơn giữa cung và cầu trong thị trường lao động.
- Giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước và doanh nghiệp.
3. BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở VIỆT NAM
3.1. Khái quát về bảo hiểm xã hội Việt Nam
3.1.1. Các loại hình của BHXH
Theo quy định tại điều lệ BHXH ban hành theo quy định số 12/CP ngày
26/01/1995 của chính phủ quy định BHXH ở nước ta bao gồm 2 loại hình BHXH
bắt buộc và BHXH tự nguyện.


8
Một quy định mới của Luật BHXH là việc hình thành Quỹ Bảo hiểm thất
nghiệp từ năm 2009. Khi đó, người thất nghiệp đã đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ 12
tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi thất nghiệp sẽ được hưởng bảo
hiểm thất nghiệp.
3.1.2. Các chế độ BHXH
Các chế độ BHXH có thể coi như việc cụ thể hóa việc thực hiện mục đích của
BHXH mà bộ luật lao động đã nêu rõ: nhằm từng bước mở rộng và nâng cao việc
đảm bảo vật chất góp phần ổn định đời sống cho người lao động và gia đình họ
trong các trường hợp người lao động gặp các rủi ro bất ngờ. Do đó, số lượng các
chế độ bảo hiểm xã hội thể hiện mức độ đảm bảo của xã hội với đời sống người lao
động.
Hiện nay ở nước ta có 5 chế độ BHXH áp dụng cho các đối tượng bắt buộc sau:
- Trợ cấp ốm đau
- Trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
- Trợ cấp thai sản
- Chế độ hưu trí
- Tiền mai táng và chế độ tuất.
BHXH tự nguyện bao gồm các chế độ sau đây:
- Chế độ hưu trí
- Trợ cấp tử tuất
BHXH thất nghiệp bao gồm các chế độ sau đây:
- Trợ cấp thất nghiệp
- Hỗ trợ học nghề
- Hỗ trợ tìm việc làm
3.1.3. Nguyên tắc bảo hiểm xã hội
Mức hưởng bảo hiểm xã hội được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng bảo
hiểm xã hội và có chia sẻ giữa những người tham gia bảo hiểm xã hội.
Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp được tính trên cơ sở
tiền lương, tiền công của người lao động. Mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện
được tính trên cơ sở mức thu nhập do người lao động lựa chọn nhưng mức thu nhập
này không thấp hơn mức lương tối thiểu chung.
Người lao động vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vừa có thời
gian đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất
trên cơ sở thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội.
Quỹ bảo hiểm xã hội được quản lý thống nhất, dân chủ, công khai, minh bạch,
được sử dụng đúng mục đích, được hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần của
bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp.


9
Việc thực hiện bảo hiểm xã hội phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo đảm kịp
thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm xã hội.
3.2. Luật và chính sách điều chỉnh vấn đề bảo hiểm thất nghiệp
Vấn đề bảo hiểm thất nghiệp hiện đang được điều chỉnh cơ bản bởi Nghị định
số 127/2008 NĐ – CP được Chính phủ ban hành ngày 12/12/2008 quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất
nghiệp. Nghị định này:
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Bảo hiểm xã hội ngày 29 tháng 6 năm 2006;
Căn cứ Bộ luật Lao động ngày 23 tháng 6 năm 1994; Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Bộ luật Lao động ngày 02 tháng 4 năm 2002; Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Bộ luật Lao động ngày 29 tháng 6 năm 2006; Xét đề nghị của Bộ
trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; Theo nghị định này :
• Phạm vi điều chỉnh :
Quy định tại Điều 1, Chương I, nghị định này hướng dẫn thi hành một số điều
của Luật Bảo hiểm xã hội về đối tượng và phạm vi áp dụng; quyền và trách nhiệm
của các bên tham gia bảo hiểm thất nghiệp; các chế độ bảo hiểm thất nghiệp; quỹ
bảo hiểm thất nghiệp; thủ tục thực hiện bảo hiểm thất nghiệp; khiếu nại tố cáo về
bảo hiểm thất nghiệp và một số quy định khác về bảo hiểm thất nghiệp.
• Người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo khoản 3 Điều 2 Luật
Bảo hiểm xã hội
Theo điều 2 chương I nghị định này, người lao động tham gia bảo hiểm xã hội:
Là công dân Việt Nam giao kết các loại hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc sau:
Hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ mười hai tháng đến ba mươi sáu tháng;
Hợp đồng lao động không xác định thời hạn; Hợp đồng làm việc xác định thời hạn
từ đủ mười hai tháng đến ba mươi sáu tháng; Hợp đồng làm việc không xác định
thời hạn, kể cả những người được tuyển dụng vào làm việc tại các đơn vị sự nghiệp
của nhà nước trước ngày Nghị định số 116/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm
2003 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức
trong các đơn vị sự nghiệp nhà nước. Người đang hưởng lương hưu, trợ cấp mất
sức lao động hằng tháng có giao kết hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc với
người sử dụng lao động quy định tại Điều 3 Nghị định này theo các loại hợp đồng
quy định tại khoản 1 điều này không thuộc đối tượng tham gia BHTN.
• Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm xã hội
Là người sử dụng lao động có sử dụng từ mười 10 người lao động trở lên tại
các cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp, đơn vị Nhà nước; tổ chức chính trị xã
hội; doanh nghiệp thành lập theo luật Doanh nghiệp, luật Đầu tư; các hợp tác xã


10
thành lập theo luật Hợp tác xã; các hộ kinh doanh cá thể; các doanh nghiệp nước
ngoài hoạt động trong lãnh thổ Việt nam có sử dụng lao động là người Việt Nam.
• Điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp
Được quy định tại điều 15 chương III, căn cứ theo Điều 81 Luật Bảo hiểm xã
hội, điều kiện được hưởng BHTN: Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ mười hai
tháng trở lên trong vòng hai mươi bốn tháng trước khi bị mất việc làm hoặc chấm
dứt hợp đồng lao động; Đã đăng ký với cơ quan lao động khi bị mất việc làm, chấm
dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc; Chưa tìm được việc làm sau mười
lăm ngày kể từ ngày đăng ký với cơ quan lao động.
• Mức trợ cấp và thời gian hưởng trợ cấp
Quy định tại điều 16 chương III:
Mức trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương, tiền
công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của sáu tháng liền kề trước khi bị mất việc
làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động.
Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng phụ thuộc vào thời gian làm
việc có đóng bảo hiểm thất nghiệp của người lao động và tổng thời gian được
hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng được thực hiện theo quy định tại khoản 2
Điều 82 của Luật Bảo hiểm xã hội: 03 tháng, nếu có từ đủ 12 đến dưới 36 tháng
đóng BHTN; 06 tháng, nếu có từ đủ 36 đến dưới 72 tháng đóng BHTN; 09 tháng,
nếu có từ đủ 72 đến dưới 144 tháng đóng BHTN; 12 tháng, nếu có từ đủ một 144
tháng đóng BHTN trở lên.
• Hỗ trợ học nghề và hỗ trợ tìm việc làm
Theo Điều 17, Chương III, việc tổ chức thực hiện hỗ trợ học nghề cho người
lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp do cơ quan lao động thực hiện thông qua
các cơ sở dạy nghề. Mức hỗ trợ học nghề bằng mức chi phí học nghề ngắn hạn theo
quy định của pháp luật về dạy nghề. Thời gian được hỗ trợ học nghề không quá 6
tháng tính từ ngày người lao động được hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng.
Điều 18, Chương III quy định, việc tổ chức thực hiện hỗ trợ tư vấn, giới thiệu
việc làm miễn phí cho người lao động được hưởng trợ cấp thất nghiệp do cơ quan
lao động thực hiện thông qua các trung tâm giới thiệu việc làm. Thời gian được hỗ
trợ tư vấn, giới thiệu việc làm tính từ ngày người lao động được hưởng trợ cấp thất
nghiệp hằng tháng và không quá tổng thời gian mà người lao động đó được hưởng
trợ cấp theo quy định tại khoản 2 Điều 82 của Luật BHXH.
• Thời điểm hưởng và thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp
Điều 20, chương III quy định, Người lao động khi có đủ điều kiện hưởng
BHTN thì được hưởng các chế độ bảo BHTN tính từ ngày thứ 16 kể từ ngày đăng
ký. Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp quy định trong Nghị định này để xét


11
hưởng bảo hiểm thất nghiệp là tổng các khoảng thời gian đã đóng bảo hiểm thất
nghiệp được cộng dồn từ khi bắt đầu đóng bảo hiểm thất nghiệp cho đến khi người
lao động bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định của pháp
luật lao động hoặc chấm dứt hợp đồng làm việc theo quy định của pháp luật về cán
bộ, công chức mà chưa hưởng trợ cấp thất nghiệp.
• Tạm dừng hưởng trợ cấp thất nghiệp
Theo điều 22, chương III, người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng
tháng sẽ bị tạm dừng hưởng trợ cấp thất nghiệp khi không thông báo hàng tháng
với cơ quan lao động về việc tìm kiếm việc làm hoặc đang bị tạm giam.
Việc tiếp tục hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng sẽ được thực hiện vào tháng
tiếp theo khi người lao động vẫn trong khoảng thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp
và tiếp tục thực hiện thông báo hàng tháng với cơ quan lao động về việc tìm kiếm
việc làm hoặc sau thời gian tạm giam, người lao động vẫn trong khoảng thời gian
hưởng trợ cấp thất nghiệp.
• Chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp
Điều 23, Chương III, người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp bị chấm dứt hưởng
trợ cấp thất nghiệp trong các trường hợp sau: hết thời hạn hưởng trợ cấp thất
nghiệp; có việc làm; thực hiện nghĩa vụ quân sự; hưởng lương hưu; sau hai lần từ
chối nhận việc làm do tổ chức bảo hiểm xã hội giới thiệu mà không có lý do chính
đáng; không thông báo về tình hình việc làm với tổ chức BHXH trong ba tháng liên
tục; ra nước ngoài để định cư; chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành
chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh hoặc chấp hành hình
phạt tù nhưng không được hưởng án treo; bị chết.
• Nguồn hình thành Quỹ bảo hiểm thất nghiệp
Theo điều 25, Chương IV, Nguồn hình thành Quỹ bảo hiểm thất nghiệp do:
Người lao động đóng bằng 1% tiền lương, tiền công tháng đóng BHTN, người sử
dụng lao động đóng bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công tháng đóng BHTN của
những người lao động tham gia BHTN, Nhà nước hỗ trợ từ ngân sách bằng 1% quỹ
tiền lương, tiền công tháng đóng BHTN của những người lao động tham gia BHTN
và mỗi năm chuyển một lần.
Ngoài ra quỹ BHTN còn từ tiền sinh lời của hoạt động đầu tư quỹ và các nguồn
thu hợp pháp khác.
• Việc đăng ký và thông báo về tìm việc làm với cơ quan lao động
Theo điều 34, chương IV, Trong thời hạn 7 ngày làm việc, kể từ ngày bị mất
việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, người lao
động phải đến cơ quan lao động để đăng ký. Trong thời gian đang hưởng trợ cấp


12
thất nghiệp, hằng tháng, người thất nghiệp phải đến thông báo với cơ quan lao động
về việc tìm kiếm việc làm.
Ngoài ra nghị định còn nêu rõ về: Các chế độ BHTN; Thủ tục thực hiện BHTN;
Khiếu nại tố cáo về BHTN; Các điều khoản thi hành.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG LUẬT BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY.
1. Ưu điểm
Thứ nhất, nhận thức của người lao động, người sử dụng lao động và xã hội đã
có những chuyển biến tích cực.
Thứ hai, Luật Bảo hiểm xã hội đã tạo điều kiện để mọi người lao động đều có
thể tham gia vào hệ thống bảo hiểm xã hội với việc bổ sung thêm hình thức bảo
hiểm xã hội tự nguyện. Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tăng: Năm 2006 mới
có 6,7 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc thì đến nay đã có hơn 10,6
triệu người (tăng gần 1,6 lần). Năm 2009 là năm đầu tiên triển khai bảo hiểm xã hội
tự nguyện có 6110 người tham gia, đến nay đã có 156.000 người tham gia bảo hiểm
xã hội tự nguyện.
Thứ ba, các chế độ bảo hiểm xã hội được thiết kế phù hợp hơn, đảm bảo tốt
hơn nguyên tắc đóng - hưởng, đã góp phần ổn định đời sống của người lao động
trong quá trình làm việc và khi hết tuổi lao động.
Thứ tư, việc giải quyết chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội cho người lao động
đã đảm bảo đầy đủ, kịp thời, đúng quy định của pháp luật hơn; quản lý chặt chẽ các
đối tượng hưởng chế độ bảo hiểm xã hội hàng tháng; hình thức chi trả lương hưu,
trợ cấp bảo hiểm xã hội ngày càng được cải tiến, hoàn thiện, tạo điều kiện thuận lợi
cho người tham gia bảo hiểm xã hội khi thụ hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội.
1. Hạn chế
Thứ nhất, việc mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội còn chậm, đặc
biệt là đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện. Số người tham gia bảo hiểm
xã hội còn thấp (hiện tại mới chiếm khoảng 20% lực lượng lao động); Chính sách
bảo hiểm xã hội tự nguyện mặc dù có đối tượng thuộc diện tham gia rộng, tuy
nhiên trên thực tế thì số người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện mới chỉ chiếm
khoảng 0,3% số đối tượng thuộc diện tham gia. Việc nắm bắt, quản lý đối tượng
thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc chưa chặt chẽ, thiếu cơ chế phối hợp
giữa tổ chức bảo hiểm xã hội với các cơ quan liên quan như Kế hoạch - Đầu tư,
Thuế, Lao động - Thương binh và Xã hội.
Thứ hai, tình trạng nợ đóng, chậm đóng bảo hiểm xã hội còn xảy ra khá phổ


13
biến, đặc biệt ở các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và các doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài (chiếm trên 70% tổng số nợ), làm ảnh hưởng đến nguồn thu quỹ
bảo hiểm xã hội và quyền lợi của người lao động. Một trong những nguyên nhân
của tình trạng nợ đóng, chậm đóng bảo hiểm xã hội nêu trên là do Luật Bảo hiểm
xã hội hiện hành quy định phạt lãi chậm đóng bằng mức lãi suất của hoạt động đầu
tư từ quỹ bảo hiểm xã hội trong năm, trong khi đó mức lãi suất của hoạt động đầu
tư từ quỹ bảo hiểm xã hội thường thấp hơn nhiều so với lãi suất cho vay của các
ngân hàng. Mặt khác, mức xử phạt tiền đối với các hành vi vi phạm pháp luật về
bảo hiểm xã hội theo quy định còn thấp. Chính vì vậy, nhiều doanh nghiệp cố tình
nợ đóng, chậm đóng bảo hiểm xã hội và chấp nhận chịu phạt để chiếm dụng tiền
đóng bảo hiểm xã hội.
Thứ ba, một số quy định trong chế độ bảo hiểm xã hội hiện hành không còn phù
hợp với thực tế, bộc lộ những hạn chế, bất cập, cụ thể:
- Đối với bảo hiểm xã hội bắt buộc: một số quy định trong pháp luật về bảo
hiểm xã hội hiện hành còn chưa phù hợp, như quy định về điều kiện hưởng lương
hưu, tuổi nghỉ hưu đối với lao động nữ chưa tạo sự bình đẳng và tạo điều kiện để
lao động nữ có thể tiếp tục làm việc và nâng cao mức thu nhập; quy định cho phép
người lao động có dưới 20 năm đóng bảo hiểm xã hội nhận trợ cấp bảo hiểm xã hội
một lần, chưa phù hợp với mục tiêu của bảo hiểm xã hội là nhằm đảm bảo cuộc
sống cho người lao động khi hết tuổi lao động; quy định về tính mức bình quân tiền
lương, tiền công tháng làm căn cứ tính hưởng bảo hiểm xã hội còn có sự khác biệt
giữa khu vực hành chính, sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước, lực lượng vũ trang và
các doanh nghiệp ngoài khu vực doanh nghiệp nhà nước; quy định về trợ cấp tuất
hàng tháng và một lần hiện nay còn có sự chênh lệch lớn. Trong một số trường hợp
thân nhân hưởng trợ cấp tuất hàng tháng bị thiệt thòi hơn rất nhiều so với việc hưởng
trợ cấp tuất một lần…
- Đối với bảo hiểm xã hội tự nguyện: Mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện
hiện quy định còn khá cao so với đại bộ phận người dân ở khu vực nông thôn và
lao động tự do có thu nhập hàng tháng thấp và không ổn định. Nhóm đối tượng
người lao động từ 45 tuổi trở lên đối với nam và từ 40 tuổi trở lên đối với nữ không
thể tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện để được hưởng lương hưu khi đến tuổi
nghỉ hưu, do họ không thể đóng góp bảo hiểm xã hội tự nguyện đủ 20 năm 1 theo
phương thức hàng tháng hoặc hàng quý hoặc 6 tháng một lần mà Luật bảo hiểm xã
hội quy định.
Việc quy định quỹ bảo hiểm xã hội tự nguyện độc lập với quỹ hưu trí và tử
tuất trong bảo hiểm xã hội bắt buộc gây nên sự khó khăn cho cơ quan bảo hiểm xã
1

Luật BHXH quy định điều kiện để được hưởng lương hưu trong BHXH tự nguyện là nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi
và có đủ 20 năm đóng BHXH trở lên. Trường hợp nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi nhưng thời gian đóng BHXH còn
thiếu không quá 5 năm so với thời gian quy định thì được đóng tiếp cho đến khi đủ 20 năm.


14
hội khi giải quyết chế độ cho những người nghỉ hưu vừa có thời gian tham gia bảo
hiểm xã hội bắt buộc vừa có thời gian tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện.
Thứ tư, hoạt động đầu tư tăng trưởng quỹ bảo hiểm xã hội hiệu quả chưa cao,
Lãi thu được từ hoạt động đầu tư tăng trưởng quỹ bảo hiểm xã hội chưa bảo tồn
được giá trị của quỹ, lãi suất đầu tư luôn ở dưới chỉ số tăng giá tiêu dùng (lãi suất
đầu tư bình quân của giai đoạn 2007 - 2012 chỉ khoảng 9,5%/năm, trong khi CPI
bình quân là 13,2%/năm, tỷ lệ điều chỉnh lương hưu bình quân là 15,2%/năm). Một
trong những nguyên nhân của hiệu quả đầu tư quỹ chưa cao là do hình thức đầu tư
được quy định trong luật chưa thật đa dạng, đội ngũ cán bộ làm công tác đầu tư của
cơ quan bảo hiểm xã hội chưa chuyên nghiệp.
Thứ năm, quy định về chi phí quản lý của tổ chức bảo hiểm xã hội còn chưa
phù hợp: Luật Bảo hiểm xã hội hiện hành quy định tổ chức bảo hiểm xã hội là tổ
chức sự nghiệp nhưng lại quy định chi phí quản lý của tổ chức bảo hiểm xã hội
bằng mức chi phí quản lý của cơ quan hành chính nhà nước.
Thứ sáu, quy định về thủ tục, hồ sơ tham gia và thụ hưởng các chế độ bảo hiểm
xã hội còn chưa thật thuận tiện, mức độ ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý
bảo hiểm xã hội còn hạn chế, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản
lý, thống kê, điều hành, giám sát chưa có sự liên thông trong hệ thống từ đó dẫn tới
những khó khăn trong giảm thiểu thủ tục hành chính đối với người tham gia và thụ
hưởng bảo hiểm xã hội.
Thứ bảy, quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội mặc dù đã được quy định trong
Luật Bảo hiểm xã hội nhưng chưa quy định cụ thể trách nhiệm của các Bộ trong
quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội.
Thứ tám, quỹ hưu trí và tử tuất có nguy cơ mất cân đối trong tương lai gần, tỷ
trọng giữa số tiền chi trả chế độ so với số thu từ đóng góp của người lao động và
người sử dụng lao động hàng năm có xu hướng tăng nhanh, nếu như năm 2007 tỷ
trọng số chi so với số thu chỉ chiếm 57,2% thì sang năm 2008 con số này là 73,7%,
năm 2009 là 81,8%, năm 2010 là 76,3%; năm 2011 là 77,0%; năm 2012 là 68,56%
và ước năm 2013 là 76,6% (năm 2010 và năm 2012 tỷ trọng chi so với thu có giảm
xuống là do tác động của việc thực hiện quy định về điều chỉnh tăng tỷ lệ đóng góp
thêm 2% ở mỗi năm).

CHƯƠNG 3: NHỮNG GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT BẢO HIỂM
THẤT NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY


15
Bảo hiểm thất nghiệp là một biện pháp hỗ trợ người lao động trong thị trường
lao động. Thông qua các hoạt động đào tạo nghề, tư vấn, giới thiệu việc làm, sớm
đưa những lao động thất nghiệp trở lại làm việc. Đồng thời, nó cũng hỗ trợ một
khoản tiền đảm bảo ổn định cuộc sống cho NLĐ trong thời gian mất việc. Bảo
hiểm thất nghiệp là một loại hình bảo hiểm tiến bộ không chỉ có ý nghĩa hỗ trợ
người lao động khi mất việc làm mà còn có giá trị ổn định kinh tế - xã hội đối với
xã hội, đất nước. Vì vậy, để chính sách BHTN thực sự phát huy vai trò, thu hút
đông đảo người lao động cũng như chủ sử dụng lao động tham gia, trong thời gian
tới, cần có những giải pháp gỡ những vướng mắc như sau: Tiếp tục hoàn thiện hệ
thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp; tổ chức rà soát, phát
hiện, sửa đổi và bổ sung kịp thời các văn bản hướng dẫn thực hiện chính sách bảo
hiểm thất nghiệp; khẩn trương nghiên cứu xây dụng Luật Việc làm, trong đó có nội
dung về bảo hiểm việc làm nhằm bổ sung các quy định nhằm hạn chế, ngăn ngừa
thất nghiệp, đồng thời hoàn thiện các chế độ bảo hiểm thất nghiệp hiện hành và
quản lý lao động...; Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số
127/2008/NĐ-CP ngày 12/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn
thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp cho phù
hợp với thực tế triển khai thực hiện chính sách, như: vấn đề đối tượng áp dụng, hỗ
trợ học nghề, trình tự thực hiện (đăng ký có thể trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày
chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, giải quyết hưởng bảo hiểm
thất nghiệp), trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người lao
động, chi phí cho hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm và cán bộ của trung tâm
giới thiệu việc làm đối với người thất nghiệp.
Việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về lao động, BHXH nói chung và pháp
luật về BHTN nói riêng trong mối quan hệ với vấn đề bảo đảm an sinh xã hội là rất
cần thiết. Để giải quyết được nạn thất nghiệp, cần thiết phải có những giải pháp
mang tính tổng thể. Nhà nước cần xây dựng các chương trình hỗ trợ học nghề, tạo
việc làm cho người lao động trên cơ sở phù hợp với nhu cầu cũng như đòi hỏi của
thực tiễn; đẩy mạnh thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài và đưa người lao động
Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài... Bên cạnh đó, Nhà nước cũng cần hoàn thiện
hơn nữa hệ thống an sinh xã hội trong đó có BHXH và BHTN, giúp người lao động
vượt qua khó khăn khi có sự biến động về việc làm và thu nhập.
Đối với pháp luật về BHTN, cần hoàn thiện những vấn đề sau:
Thứ nhất, cần nghiên cứu mở rộng đối tượng được tham gia BHTN, không chỉ là
những công dân Việt Nam theo quy định của pháp luật hiện hành mà cần mở rộng
thêm đối với người nước ngoài, người không quốc tịch khi làm việc cho các cơ
quan, tổ chức, các doanh nghiệp ở Việt Nam phù hợp với Luật Lao động Việt Nam
cũng được tham gia loại hình bảo hiểm này. Điều này càng trở nên cần thiết khi


16
xây dựng thị trường lao động chung ASEAN. Thực tế cho thấy, lao động nước
ngoài sang nước ta làm việc cũng ngày càng nhiều. Năm 2009, đã có khoảng
75.000 lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam và sẽ nhiều hơn nữa trong thời
gian tới. Việc quy định quyền được tham gia BHTN của những đối tượng này hầu
như không ảnh hưởng đến quyền lợi của lao động Việt Nam. Nếu mở rộng cho các
đối tượng này được tham gia BHTN sẽ góp phần tạo ra sự bình đẳng giữa lao động
trong nước và quốc tế, đảm bảo được nguyên tắc đối xử quốc gia và việc tham gia
BHTN cũng sẽ làm tăng nguồn thu cho quỹ BHTN.
Bên cạnh đó, trước mắt chúng ta có thể tiến hành vận động thành lập các Công ty
Cổ phần nông nghiệp để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất, phân phối
sản phẩm, tăng lợi nhuận cho nông dân; đồng thời nông dân có thể được tham gia
BHTN theo pháp luật hiện hành. Về lâu dài, cũng cần nghiên cứu quy định nông
dân cũng là đối tượng của BHTN bởi ở nước ta, nông dân là lực lượng đóng vai trò
đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế những
năm vừa qua. Tuy nhiên, nông dân mới chỉ được tham gia BHXH tự nguyện (mà
Nhà nước mới chỉ hỗ trợ cho những người nghèo hoặc cận nghèo khi tham gia loại
hình bảo hiểm này, chứ chưa phải hỗ trợ rộng rãi). Thực tế cho thấy, với quỹ đất
nông nghiệp như hiện nay chỉ đáp ứng được nhu cầu của hơn ½ số lao động nông
nghiệp làm việc không thường xuyên (bán thất nghiệp), số còn lại là không có việc
làm hoặc mất việc làm (thất nghiệp). Do vậy, các đối tượng này cũng muốn được
tham gia BHTN và muốn được đảm bảo an sinh xã hội từ phía Nhà nước thông qua
hỗ trợ về đào tạo nghề, tìm kiếm việc làm và trợ cấp thất nghiệp. Chúng tôi cho
rằng, về lâu dài nhất thiết phải nghiên cứu mở rộng quy định nông dân cũng là đối
tượng được tham gia BHTN.
Thứ hai, về điều kiện hưởng BHTN, có thể nghiên cứu quy định những trường
hợp người lao động đủ điều kiện luật định đã đóng BHTN dưới 12 tháng trong
vòng 24 tháng trước khi bị mất việc làm vẫn có thể được hưởng BHTN. Tuy nhiên,
người lao động trong trường hợp này đã tham gia đóng BHTN có thể được tính
thành 12 tháng để làm cơ sở tính mức trợ cấp BHTN cho người lao động, dù người
lao động bị mất việc làm hoặc thôi việc thì theo quy định của BLLĐ vẫn được
hưởng các chế độ trợ cấp mất việc hoặc trợ cấp thôi việc nếu không được hưởng
chế độ BHTN. Bởi quy định như vậy sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người lao
động khi họ bị mất việc làm có thể tìm được việc làm mới do họ vừa được hưởng
trợ cấp thất nghiệp vừa được hỗ trợ học nghề, tìm việc làm...
Thứ ba, căn cứ tính quỹ BHTN cần được tính trên cơ sở tiền lương, tiền công
thực tế trả cho người người lao động, để tránh trường hợp người sử dụng lao động
tự mình hoặc phối hợp với người lao động trốn tránh, bớt tiền đóng vào quỹ BHTN.
Để làm được điều này, thiết nghĩ cần có sự kết hợp nhiều giải pháp như thanh tra,
kiểm tra về tiền lương ở các doanh nghiệp, xử lý nghiêm các hành vi trốn tránh


17
nghĩa vụ đóng BHTN hoặc đóng không đầy đủ BHTN; tuyên truyền cho người lao
động và người sử dụng lao động biết tầm quan trọng của việc đóng quỹ BHTN gắn
liền với việc đảm bảo quyền lợi của họ; cần nghiên cứu làm rõ cách thức sử dụng
quỹ BHTN trên cơ sở nguyên tắc đảm bảo công bằng giữa đóng và hưởng. Ví dụ
việc lập ra một tài khoản danh nghĩa cho người lao động đóng BHTN, nếu khi họ
thất nghiệp họ sẽ được hưởng các chế độ của BHTN. Trong trường hợp họ không
thất nghiệp thì khi về hưu có thể được trả lại số tiền mà họ đã đóng, còn số tiền
doanh nghiệp và Nhà nước đóng và hỗ trợ sẽ được sử dụng đưa vào quỹ BHTN.
Đây là một giải pháp khá hữu ích, nếu triển khai được giải pháp này thì số người có
nhu cầu tham gia đóng BHTN sẽ rất nhiều và tạo ra sự hấp dẫn của BHTN đối với
những người được tuyển dụng vào làm việc trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà
nước.
Thứ tư, tăng cường sự phối hợp giữa các Sở LĐTBXH với các cơ quan BHXH
trong việc tạo điều kiện chi chế độ BHTN cho người lao động đủ điều kiện, đồng
thời nâng cao hơn nữa vai trò của thanh tra trong việc kiểm tra đóng BHTN ở các
cơ quan, các tổ chức và các doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về BHTN
cho người lao động. Mặt khác cần quy định việc xác nhận của doanh nghiệp cho
người lao động trong trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là một
nghĩa vụ bắt buộc đối với các doanh nghiệp để tránh trường hợp gây khó khăn cho
người lao động.
Hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật trên hoàn thiện, bổ sung, sửa đổi, hệ thống
hoá các văn bản pháp luật hiện có trên cơ sở kế thừa và phát triển chính sách
BHXH hiện hành, xem xét điều kiện kinh tế – xã hội và tham khảo kinh nghiệm
của các nước phát triển trên thế giới. Cần đảm bảo tính đồng bộ giữa các chế độ
ASXH, tránh chồng chéo, mâu thuẫn, đảm bảo mọi người dân đều có quyền được
hưởng.


18

KẾT LUẬN
Bài luận trên của em đã trình bày được một phần nào về các khía cạnh cũng
như thực trạng của luật bảo hiểm thất nghiệp, để từ đó chúng ta có cái nhìn khách
quan hơn về luật bảo hiểm thất nghiệp, đặc biệt là tại các nước đang phát triển như
Việt Nam. Bảo hiểm thất nghiệp thật sự trở thành công cụ đắc lực để Nhà nước góp
phần điều tiết các vấn đề nảy sinh trong xã hội: vấn đề việc làm, thất nghiệp,…
đảm bảo an sinh xã hội, hướng tới một đất nước phát triển toàn vẹn và bền vững về
tất cả mọi mặt, góp phần đẩy nhanh quá trình CNH - HĐH theo định hướng xã hội
chủ nghĩa của Việt Nam.
Bảo hiểm thất nghiệp đã có được những thành tựu nhất định kể từ khi được Nhà
nước ta ban hành và có hiệu lực, song vẫn mắc phải những trở ngại nhất định.
Chính vì điều đó, Nhà nước cần có những chính sách đồng bộ, nhất quán, rõ ràng
để hướng dẫn nhân dân thực hiện, đạt được sự đồng thuận từ các cấp chính quyền
đến nhân dân, tránh các tình trạng kém hiểu biết của nhân dân về bảo hiểm thất
nghiệp hay chính sách quá lỏng lẻo, không linh hoạt, quan chức cửa quyền không
giải quyết cho dân… , hướng tới một đời sống xã hội văn minh, tiến bộ hơn, giúp
đất nước ta thoát nghèo khó, hội nhập cùng bạn bè năm châu.
Do thời gian nghiên cứu và năng lực bản thân còn hạn chế, nên bài viết không
thể tránh khỏi những thiếu sót, em mong nhận được sự góp ý chân thành từ phía
thầy giáo và toàn thể bạn đọc để bài viết được hoàn thiện hơn.


19

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Luật bảo hiểm xã hội của quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam số
71/2006/QH11 ngày 29 tháng 6 năm 2006.
2. Báo cáo phát triển thế giới năm 2003, NXB. Chính Trị Quốc Gia.
3. Ngân hàng thế giới 2003, cải thiện các dịch vụ để phục vụ người nghèo (báo cáo
phát triển thế giới 2004) , NXB. Chính Trị Quốc Gia .
4. Góp phần đổi mới và hoàn thiện chính sách đảm bảo xã hội ở nước ta hiện nay,
Đỗ Minh Cương và Mạc Quang Tiến, NXB. Chính Trị Quốc Gia .
4. Giáo trình “Kinh Tế Phát Triển” (2005), Đại Học Kinh Tế Quốc Dân, NXB.
Thống Kê.
5. Thông tư 13/2009/TT-BLĐTBXH, của Bộ Lao Động, Thương Binh và Xã Hội.
6. Nghị Định 127/2008/NĐ-CP về “Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số
điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp”.
7. Thông tư 32/2010/TT-BLĐTBXH, của Bộ Lao Động, Thương Binh và Xã Hội.
8. Việc thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp thời gian gần đây và một số kiến
nghị, Tạp chí cộng sản.
9. Nửa số người thất nghiệp ở Việt Nam là thanh niên, Báo điện tử VnExpress.
10. “Bão” thất nghiệp đang đe dọa nền kinh tế, Báo điện tử VnExpress.
11. Bảo hiểm thất nghiệp còn bất cập, Báo Người Lao Động.
12. Nhìn lại kết quả triển khai chính sách Bảo hiểm thất nghiệp, Bộ Lao động –
Thương binh – Xã hội.
13. Bảo hiểm thất nghiệp sau nhiều năm thực hiện: thực trạng và giải pháp, Tạp chí
Thông tin và Dự báo Kinh tế Xã hội số 59/2014.



x

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×