Tải bản đầy đủ

Offshore và các lợi thế của nó trong nền kinh tế thế giới

OFFSHORE VÀ CÁC LỢI THẾ CỦA NÓ TRONG NỀN
KINH TẾ THẾ GIỚI Trần Thắng
Các khu offshore đầu tiên xuất hiện vào đầu thế kỷ 20 theo sáng kiến của một
loạt các quốc gia nhỏ, nhưng hướng tới sự phát triển trên cơ sở nền tảng của
việc kinh doanh đa quốc gia. Đó là những điểm tích trữ và trung chuyển trong
việc dịch chuyển tư bản (vốn) trên toàn cầu. Chính phủ của các quốc gia này
ganh đua nhau đến mức tối đa trong việc cung cấp những ưu đãi về thuế, đơn
giản hoá những thủ tục trong việc báo cáo tài chính và giữ bí mật về thành phần
cổ đông của các công ty offshore. Những dịch vụ này trở nên hấp dẫn đến mức,
hiện nay có thể nói về việc hình thành cộng đồng thương mại thế giới về nền
tiểu văn hoá offshore.

Tại sao lại là Offshore?
Không phải ngẫu nhiên mà các nước phát triển với hệ thống thuế khắt khe luôn
tìm cách hạn chế hoạt động của offshore khi khởi xướng những cuộc điều tra
chống tham nhũng dưới biểu tượng của FATF. Những ưu thế các sơ đồ
offshore lớn đến mức nó trở thành một yếu tố quyết định trong cạnh tranh thị
trường.

Thứ nhất, offshore giải quyết vấn đề khác biệt trong chế độ thuế giữa các quốc
gia khác nhau. Ở các vùng offshore, thuế lợi tức doanh nghiệp, thông thường

chỉ là một vài phần trăm hoặc đôi khi là không tồn tại. Thuế tài sản ở mức tối
thiểu, không đánh thuế các khoản thu nhập (cổ tức, tiền lãi ngân hàng…), đó là
những nét riêng dành cho những vùng offshore đặc biệt.

Thứ hai, offshore giúp cho việc lấy lại tối đa những lợi ích từ việc quản lý tài
chính doanh nghiệp, đầu tư và “cổ phần, hùn vốn”. Rất nhiều các vùng offshore
đặt ra những ưu đãi về thuế khi tiến hành đầu tư giữa các công ty mà có gắn
liền với quyền sở hữu. Điều này quan trọng khi hinh thành các Holding. Khi
thực hiện những sở đồ thương mại, việc thành lập các công ty và kế toán tài
chính được giản lược rất nhiều, tạo điều kiện để phát triển và phối hợp chuối
móc xích giữa các đối tác trung gian. Việc có những thỏa thuận về việc tránh
đánh thuế kép giữa những vùng offshore tạo điều kiện thực hiện trung chuyển
tiền tệ qua các vùng này với những chi phí về thuế nhỏ nhất.
Cuối cùng, chính tại các vùng offshore, các công ty nước ngoài cảm thấy mình
tự tin hơn là ở Nga, và tích cực giao dịch hơn với các đối tác Nga khi những
đối tác này có các offshore của mình.
Mua ở đâu, bán ở đó.

Ở Nga, lợi ích của offshore được các doanh nghiệp ngoại thương đánh giá đầu
tiên (đó là các công ty tham gia xuất nhập khẩu hàng hóa). Nhằm lôi kéo lại
những khoản lợi tức nằm trong diện bị đánh thuế ở Nga, các doanh nghiệp Nga
ký các hợp đồng ngoại với các đối tác nước ngoài không phải qua các công ty
Nga mà qua các offshore “con”. Kết quả là mức thu nhập của các hoạt động
như vậy trong các báo cáo tài chính cho cục thuế đã được giảm xuống, thậm chí
có công ty Nga còn hoàn toàn khai lỗ từ những hợp đồng như vậy.

Mức độ phổ biến của việc tích lũy lợi tức ở các vùng offshore đạt đến mức mà
không ít các hợp đồng giữa các công ty Nga chỉ trình ra cho cục thuế một phần
rất nhỏ so với số liệu thực tế. Phần lớn các dịch chuyển tư bản (tất nhiên, khi có
sự đồng nhất giữa các bên) chỉ diễn ra giữa các công ty offshore của các bên
tham gia hợp đồng. Kết quả là việc đánh thuế lợi tức doanh nghiệp cho những
hoạt động như vậy bị giảm xuống mức tối thiểu.

Tolling là một sở đồ đã trở nên nổi tiếng nhờ ảnh hưởng của chiến tranh thông
tin và được tiến hành như sau. Các công ty offshore liên kết với các tollinger,
đó là những người cung cấp trực tiếp nhưng nguyên liệu không bị đánh thuế
cho các nhà máy nhôm của Nga để sau đó xuất khẩu khỏi Nga các thành phẩm
(theo như quy định của Bộ luật hải quan, chương 9-10). Hoạt động của các
tollinger hầu như không bị đánh thuế, và do đó sơ đồ Tolling được tất cả các
nhà máy lớn sản xuất nhôm ở Nga sử dụng. Điểm cao trào đạt đến khi xuất hiện
Tolling nội địa. Kết quả là những ưu đãi không thể tưởng tượng được đã đem
về cho hầu hết các công ty offshore. Và chỉ nhờ những cố gằng của một công ty
cạnh tranh là “Sibirskogo Aluminhia” (đó là công ty không có cơ sở nhiên liệu
ở Nga) thì việc Tolling nội địa bị cấm hoàn toàn. Thế nhưng cho đến thời điểm
hiện tại, các công ty nhôm Nga vẫn bắt tay với các công ty offshore. Không
phải ngẫu nhiên mà trong vòng nửa đầu năm 2003, 98% của 1,2 tỷ USD đầu tư
nước ngoài vào ngành công nghiệp luyện kim màu được ghi trong mục “các
nước khác”, nghĩa là chỉ đến các vùng offshore của các “nhà đầu tư”.

Theo sự phát triển của kinh doanh trong nước, nãy sinh ra một vấn đề liên quan
đến uy tín của các offshore được sử dụng. Đây là một vấn đề mở, mặc dù về
mặt nguyên tắc, sơ đồ giải quyết đã có từ lâu. Để thực hiện, thông thường, cần
một loạt mắt xích các công ty. VÍ dụ, hoạt động thương mại chính được thực
hiện do công ty của một quốc gia lớn nào đó, ví dụ như Vương quốc Anh. Uy
tín của công ty với tư cách là bạn hàng lớn đến mức mà nó không có lợi tức
buôn bán mà chỉ thu về những khoản hoa hồng tối thiểu từ các hợp đồng ngoại,
bởi vì đây là công ty offshore.

Ai trả nhiều hơn.

Nếu như một doanh nghiệp không tham gia các nghiệp vụ ngoại thương và
cũng không hề có ý định bắt đầu, việc giảm thuế lợi tức có thể làm được khi
phải trả lãi phần trăm tiền vay từ những offshore “của mình”. Điều 269 Bộ luật
thuế của Nga cho phép làm điều này mà không có hậu quả gì cả, nếu như mức
lãi hàng năm không vượt quá mức 15%. (tính bằng ngoại tệ).

Nếu như vay vốn không hợp lý lắm, có thể lấy từ các offshore những thương
hiệu hàng hóa đã được đăng ký, quyền tác giả, sử hữu trí tuệ khác hoặc là ký
hợp đồng sử dụng bản quyền. Trong trường hợp đầu tiên, có thể chuyển cho
công ty offshore khoản tiền khá lớn, còn trong trường hợp thứ hai, thực hiện
việc trả tiền đều đặn theo giấy phép sử dụng bản quyền.

Cũng đáng chú ý về sơ đồ mà “Norinski Niken” sử dụng. Trong một khoảng
thời gian ngắn một công ty bạn hàng là Norimet Ltd. đã tích trữ được một
lượng tài sản khá lớn, sau đó toàn bộ cổ phiếu của công ty offshore được bán
lại cho “Norinski Niken”.

Thỏa ước về "tính trong sạch".

Năm 2000 đánh dấu một xu hướng khác, đặc biệt rõ nét trong các ngành công
nghiệp dầu khí: các nhà doanh nghiệp Nga thấy cần phải chỉ rõ mức lãi để cho
khách hàng thấy mức độ thành đạt và hấp dẫn của việc đầu tư. Cần phải chia
tay với việc chuyến tiền ra các vùng offshore, và thay vào đó, sơ đồ “tối ưu
hóa” mức thuế lợi tức đã có những phương pháp khác tinh vi hơn. Song song
với điều này, vai trò của offshore không hề giảm sút, như ví dụ sau: hợp đồng
giữa TNK và BP, và kết quả là được đăng ký tại vùng đảo Virgin của Vương
quốc Anh.

Ví dụ này cũng như các ví dụ khác cho thấy, offshore là phương án tối ưu để
cuốn hút vốn vào các công ty Nga từ những nhà đầu tư chiến lược nước ngoài.
Ngoài những nến tảng luật quen thuộc đối với những công ty nước ngoài,
offshore còn tạo điều kiện cho họ nhận những khoản cổ tức hàng năm với tổn
thất về thuế ở mức tối thiểu. Khả năng “tối ưu hóa” mức thuế cho các khoản cổ
tức có ở nhiều vùng offshore. Hơn nữa, ở một số vùng còn có thể thành lập
những Holding chuyên dùng cho việc thanh toán giữa các công ty mẹ và công
ty con.

Chuyên đề Holding là một trong những hướng đang phát triển trong việc sử
dụng offshore. Việc này có hàng loạt những ưu thế trong công tác hình thành
cấu trúc công ty. Theo như những hoạt động tư vấn cho thấy, vấn đề này ngày
càng trở nên thực tiễn hơn. Trong việc xây dựng cơ cấu và điều hành Holding
một cách bài bản, song song với việc sử dụng ưu đãi do các nước, ví dụ như:
Hà lan, Luxemburg hoặc là Kipr, thực tế có thể giảm mức thuế thu nhập đánh
vào cổ tức xuống còn 5-6%. Cổ tức có thể tập trung vào vùng “ảo”, có nghĩa là
ở trung tâm của Holding offshore, sau đó có thể phân phối giữa các cổ đông. Sơ
đồ như vậy được công ty, ví dụ như YUKOS, sử dụng ở vùng đảo Gibraltar.

Để giảm thiểu những chi phí trong các thành phần của các Holding lớn, người
ta kết hợp vào Holding những ngân hàng hoặc các công ty bảo hiểm. Đó là
những hoạt động mà ở những vùng offshore còn cung cấp một loạt các ưu đãi
về thuế và trong việc hình thành nguồn dự trữ bắt buộc.

Công ty offshore còn hữu ích cả trong việc bán lại những cổ phiếu mà mua
được lại với giá rẻ mạt từ “Privatization” (tư hữu hóa). Hiện nay, các cổ phiếu
này có giá hàng tỷ dollars. Để tránh việc phải khai những khoản thu nhập lớn
không thường xuyên, cổ phiếu đầu tiên sẽ được bán cho các offshore “của
mình” theo giá mua, và để rồi sau đó chuyển sang cho người mua theo giá thị
trường.

Truyền thống buôn bán.

Các công ty offshore có thể được sử dụng với tư cách là nhà đầu tư khi đem tài
sản của mình đóng góp vào vốn điều lệ của công ty Nga. Trong trường hợp như
vậy, công ty offshore mua những máy móc thiết bị đắt tiền và đồng thời thành
lập một công ty Nga để rồi đem tài sản đó nhập vào vốn điều lệ. Theo sơ đồ
như vậy, máy móc thiết bị sẽ không bị đánh thuế nhập khẩu và thuế giá trị gia
tăng.

Một điểm hấp dẫn đặc biệt của các vùng offshore là dành cho những công ty
vận tải, đầu tiên là những chủ tàu, bởi vì ở đây có ưu đãi đáng kể cho thuế lợi
tức và thuế tài sản doanh nghiệp (là những chi phí lớn trong hoạt động vận tải).
Chính vì vậy, rất nhiều tàu biển trên thể giới mang cờ Liberi hoặc Panama.

Để thực hiện những sơ đồ đã nêu cần phải tính đến một loạt các yếu tố: quan
trọng hàng đầu là cơ sở luật pháp của quốc gia cho đăng ký công ty offshore, có
hay không những thỏa thuận tránh đánh thuế hai lần với các quốc gia khác, uy
tín của quốc gia này…

Lời kết cho offshore.

Các sơ đồ offshore, có lẽ, còn lâu trong tương lai sẽ vẫn còn hấp dẫn đối với
giới kinh doanh Nga, cho dù các sơ đồ “tối ưu hóa” mức thuế ở Nga nhiều khi
không thua kém gì về mức độ lợi ích.

Khó mà có thể thay đổi tình thế và sự tích cực đấu tranh với hiện tượng này của
các nước phát triển với đại diện là FATF. Bởi vì nó tập trung trọng tâm không
phải là vào việc chống thương mại, mà là chống các tổ chức tội phạm sử dụng
tính bảo mật của offshore. Tuy nhiên, chính vì tính song hành giữa “tiền sạch”
và “tiền bẩn” mà có thể trở thành yếu huyệt của công ty Bạn trong cuộc đấu
tranh không lành mạnh với việc sử dụng Interpol và FATF hoặc thậm trí trong
cuộc đấu tranh chính trị - quân sự, ví dụ như “trục ma quỷ”. Nhưng đó là đề tài
của một bài báo khác.


Dịch từ tạp chí "Dengi" số 44/2003


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×