Tải bản đầy đủ

Bài tập học kỳ thương mại Modul

0
MỤC LỤC
A- LỜI MỞ ĐẦU.
B- NỘI DUNG.
I - Những vấn đề chung về nhượng quyền thương mại và pháp luật điều chỉnh
nhượng quyền thương mại.
1. Những vấn đề chung về nhượng quyền thương mại.
2. Pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại.
II – Nội dung của pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại ở
Việt Nam.
1. Hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương
mại ở Việt Nam.
2. Những vấn đề pháp lí cơ bản về nhượng quyền thương mại tại Việt Nam.
2.1. Quy định về hình thức hoạt động nhượng quyền thương mại.
2.2. Quy định về hợp đồng nhượng quyền thương mại.
2.3. Quy định về việc cung cấp thông tin về hệ thống nhượng quyền thương mại.
2.4. Quy định về đăng kí hoạt động nhượng quyền thương mại
2.5. Quy định về xử lí vi phạm pháp luật trong hoạt động nhượng quyền thương
mại.
III – Những vướng mắc và hoàn thiện quy định của pháp luật về hoạt động
nhượng quyền thương mại.

1. Những vướng mắc của pháp luật về hoạt động nhượng quyền thương mại.
2. Kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về nhượng quyền thương mại.
C- KẾT LUẬN.
D- DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.
Trên thế giới, hoạt động nhượng quyền thương mại đã xuất hiện rất sớm và
đến nay đã phát triển rộng khắp trên phạm vi toàn cầu. Nhượng quyền thương mại
0
đang được các tập đoàn kinh doanh lớn trên thế giới sử dụng với tính chất là một
trong những phương thức kinh doanh chủ yếu và có hiệu quả đặc biệt là trong lĩnh
vực phân phối và dịch vụ. Nhượng quyền thương mại đã tạo ra một bức tranh sống
động của nền kinh tế thế giới.
Những năm gần đây, cùng với quá trình mở cửa hội nhập sâu rộng vào kinh tế khu
vực và thế giới, nền kinh tế Việt Nam phát triển ngày càng sôi động và nhượng
quyền thương mại cũng nằm trong xu thế đó. Sự ra đời của Luật thương mại
( LTM) 2005 và các văn bản pháp luật có liên quan đã tạo ra hành lang pháp lí cơ
bản cho hoạt động nhượng quyền thương mại phát triển mạnh mẽ, tuy nhiên kinh
nghiệm về nhượng quyền thương mại ở Việt Nam còn nhiều hạn chế cả về lí luận
và thực tiễn. Việc phát triển, hoàn thiện một khuôn khổ pháp lí tối ưu cho hoạt
động thương mại này không chỉ là vấn đề lí luận mà còn có ý nghĩa thực tế vô cùng
quan trọng. Để tìm hiểu những quy định của hoạt động nhượng quyền thương mại
từ đó đóng góp thêm một số ý kiến để hoàn thiện pháp luật điều chỉnh công ty hợp
danh, em xin chọn đề tài “”.
I - Những vấn đề chung về nhượng quyền thương mại và pháp luật điều chỉnh
nhượng quyền thương mại.
1. Những vấn đề chung về nhượng quyền thương mại.
Nhượng quyền thương mại là một hoạt động thương mại đặc biệt trong nền
kinh tế. Đó là hoạt động được xây dựng nên bởi ít nhất hai bên, bên nhượng quyền
thương mại và bên nhận quyền thương mại, trong đó bên nhượng quyền thương
mại cho phép bên nhận quyền thương mại sử dụng một “ gói” các quyền thương
mại của mình mà chủ yếu là các quyền liên quan đến đối tượng của quyền sở hữu
trí tuệ để tiến hành kinh doanh với một tư cách pháp lí độc lập. Đổi lại bên nhận
quyền phải trả phí nhượng quyền cho bên nhượng quyền thương mại, bao gồm: phí
nhượng quyền ban đầu và phí nhượng quyền định kì. Ngoài ra bên nhượng quyền
thương mại có thể ràng buộc bên nhận quyền thương mại bởi các thỏa thuận nhằm
0
duy trì tính hệ thống hoặc để kiểm soát hoạt động của bên nhận quyền thương mại
trên cơ sở có hỗ trợ kĩ thuật và đào tạo nhân lực cúng như một số cơ sở vật chất cần
thiết cho bên nhận quyền thương mại. Sự mất cân xứng về thông tin và khả năng
xâm hại quyền sở hữu trí tuệ giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền thương
mại làm cho lợi ích của các bên trong quan hệ NQTM có nhiều nguy cơ phát sinh
tranh chấp, đòi hỏi phải được pháp luật điều chỉnh một cách đầy đủ và hiệu quả.
2. Pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại.
Pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại được hiểu theo
nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, pháp luật điều chỉnh NQTM chính là hệ
thống các quy tắc xử sự do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các
quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức và thực hiện hoạt động NQTM.
Theo nghĩa hẹp, pháp luật điều chỉnh NQTM được hiểu là tổng hợp các quy phạm
pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh trực tiếp các quan
hệ xã hội phát sinh trong quá trình các thương nhân tiến hành hoạt động NQTM.
Nội dung pháp luật điều chỉnh hoạt động NQTM bao gồm một số vấn đề cơ
bản sau: quy định về hình thức hoạt động nhượng quyền thương mại; quy định về
hợp đồng chuyển nhượng quyền thương mại; quy định về việc cung cấp thông tin
hệ thống nhượng quyền thương mại; quy định về đăng kí hoạt động nhượng quyền
thương mại; và quy định về xử lí vi phạm trong hoạt động NQTM. Những quy định
này đã tạo một môi trường pháp lí cho hoạt động nhượng quyền thương mại phát
triển, đảm bảo quyền, lợi ích của các bên và sự ổn định kinh tế.
II – Nội dung của pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại ở
Việt Nam.
1. Hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương
mại ở Việt Nam.
Lần đầu tiên trong pháp luật Việt Nam, Thông tư số 1254/ 1999/ TT-
BKHCNMT ngày 12/ 7/ 1999 đã đề cập đến “ Hợp đồng cấp phép đặc quyền kinh
0
doanh – tiếng Anh gọi là franchise”. Nghị định 11/ 2005/ NĐ- CP ngày 2/ 2/ 2005
quy định chi tiết về việc chuyển giao công nghệ cũng đề cập đến hoạt động cấp
phép đặc quyền kinh doanh với tư cách là một nội dung của hoạt động chuyển giao
công nghệ. Theo Điều 4 khoản 6 Nghị định này, cấp phép đặc quyền kinh doanh là
hoạt động trong đó “ bên nhận sử dụng tên thương mại, nhãn hiệu hàng hóa và bí
quyết của bên giao để tiến hành hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ thương mại”. Điều
755 BLDS 2005 cũng quy định rằng cấp phép đặc quyền kinh doanh là một trong
những đối tượng chuyển giao công nghệ. Đây chính là những sự ghi nhận đầu tiên
về nhượng quyền thương mại trong pháp luật Việt Nam. Với sự ra đời của LTM
2005, nhượng quyền thương mại chính thức được công nhận và luật hóa trong tám
điều, từ Điều 284 đến Điều 291. Ngày 31/ 3/ 2006, Chính phủ đã ban hành Nghị
định số 35/ 2006/ NĐ- CP quy định chi tiết LTM về hoạt động nhượng quyền
thương mại. Đến ngày 25/ 5/ 2006, Bộ Thương mại ban hành Thông tư số 09/
2006/ TT- BTM hướng dẫn đăng kí hoạt động nhượng quyền thương mại. Các văn
bản này đã điều chỉnh một cách cơ bản các vấn đề về nhượng quyền thương mại.
Ngoài ra, do tính chất đặc thù của mình, hoạt động nhượng quyền thương mại còn
chịu sự điều chỉnh của pháp luật về sở hữu tri tuệ, pháp luật về chuyển giao công
nghệ, pháp luật cạnh tranh và các quy định pháp luật khác có liên quan.
Như vậy, khung pháp lí cơ bản cho hoạt động nhượng quyền thương mại đã
được hình thành, mặc dù còn sơ sài nhưng đã tao cơ sở cho nhượng quyền thương
mại tại Việt Nam.
2. Những vấn đề pháp lí cơ bản về nhượng quyền thương mại tại Việt Nam.
2.1. Quy định về hình thức hoạt động nhượng quyền thương mại.
Pháp luật nhượng quyền thương mại Việt Nam không quy định trực tiếp việc
phân loại các hình thức nhượng quyền thương mại. Mặc dù vậy vẫn có thể tìm thấy
những quy định gián tiếp hướng tới việc phân loại hình thức hoạt động nhượng
quyền thương mại. Tại Điều 3 Nghị định 35/ 2006/ NĐ- CP khi giải thích các từ
0
ngữ có liên quan đã đề cập tới những tên gọi khác nhau dành cho các chủ thể của
các hợp đồng nhượng quyền thương mại với các hình thức khác nhau. Cụ thể là “
bên nhượng quyền sơ cấp”, “ bên nhượng quyền thứ cấp”, “ bên nhận quyền sơ
cấp”, “ bên nhận quyền thứ cấp”. Theo điều luật này, “ bên nhượng quyền thứ
cấp” là thương nhân có quyền cấp lại quyền thương mại mà mình đã nhận từ bên
nhượng quyền ban đầu cho bên nhận quyền thứ cấp; “ bên nhận quyền sơ cấp” là
thương nhân nhận quyền thương mại từ bên nhượng quyền ban đầu; “ bên nhận
quyền sơ cấp” là bên nhượng quyền thứ cấp trong quan hệ với bên nhận quyền thứ
cấp; “ bên nhận quyền thứ cấp” là thương nhân nhận lại quyền thương mại từ bên
nhượng quyền thứ cấp.
Bên cạnh đó, cũng tại Điều 3 Nghị định 35/ 2006/ NĐ- CP có ghi nhận “
quyền thương mại chung”, “ hợp đồng phát triển quyền thương mại”, “ hợp đồng
nhượng quyền thương mại thứ cấp”. Theo đó, “ hợp đồng phát triển quyền thương
mại” là hợp đồng nhượng quyền thương mại mà bên nhượng quyền cho bên nhận
quyền được phép thành lập nhiều hơn một cơ sở của mình để kinh doanh theo
phương thức nhượng quyền thương mại trong phạm vi một khu vực địa lí nhất
định. “Quyền thương mại chung” là quyền do bên nhượng quyền trao cho bên
nhượng quyền thứ cấp được phép cấp lại quyền thương mại cho các bên nhận
quyền thứ cấp. “ Hợp đồng nhượng quyền thương mại thứ cấp” là hợp đồng
nhượng quyền thương mại kí giữa bên nhượng quyền thứ cấp và bên nhận quyền
thứ cấp theo quyền thương mại chung.
Như vậy, theo quy định của pháp luật về nhượng quyền thương mại, bên
cạnh hình thức nhượng quyền thương mại thông thường, trong đó bên nhượng
quyền là chủ sở hữu trực tiếp của quyền thương mại, với tư cách là đối tượng của
hợp đồng nhượng quyền thương mại và bên nhận quyền là bên trực tiếp kinh doanh
dưới tên thương mại của bên nhượng quyền do sự cho phép trực tiếp của bên
nhượng quyền thì vẫn còn có những hình thức hoạt động nhượng quyền thương mại
0
khác, đó là hình thức nhượng quyền thương mại gián tiếp, trong đó tồn tại hai mối
quan hệ hợp đồng: thứ nhất, mối quan hệ hợp đồng phát triển quyền thương mại mà
bên chủ thể của chúng một bên là chủ sở hữu của quyền thương mại và bên kia là
người phát triển quyền thương mại, có quyền cấp lại quyền thương mại đó cho các
bên khác; thứ hai, mối quan hệ hợp đồng nhượng quyền thương mại thứ cấp mà
chủ thể của chúng một bên là người phát triển
( hay còn gọi là bên nhượng quyền thứ cấp) và bên kia là các bên nhận quyền riêng
lẻ ( hay còn gọi là bên nhận quyền thứ cấp).
2.2. Quy định về hợp đồng nhượng quyền thương mại.
• Về chủ thể của hợp đồng nhượng quyền thương mại.
Theo Điều 5, Điều 6, Điều 7 Nghị định 35/ 2006/ NĐ- CP, chủ thể tham gia
hoạt động nhượng quyền thương mại bao gồm bên nhượng quyền và bên nhận
quyền. Bên nhượng quyền là thương nhân cấp quyền thương mại, bao gồm cả bên
nhượng quyền thứ nhất ( bên nhượng quyền sơ cấp) và bên nhượng lại quyền ( bên
nhượng quyền thứ cấp). Bên nhận quyền là thương nhân nhận quyền thương mại để
khai thác, kinh doanh, gồm cả bên nhận quyền sơ cấp và bên nhận quyền thứ cấp.
Bên nhượng quyền và bên nhận quyền phải đáp ứng những điều kiện nhất định để
có thể tham gia quan hệ nhượng quyền thương mại. Bên nhượng quyền được phép
cấp quyền thương mại khi đáp ứng đủ các điều kiện: Hệ thống kinh doanh dùng để
nhượng quyền đã được hoạt động ít nhất một năm. Trường hợp thương nhân Việt
Nam là bên nhận quyền sơ cấp từ bên nhượng quyền nước ngoài, thương nhân Việt
Nam đó phải kinh doanh theo phương thức nhượng quyền thương mại ít nhất một
năm ở Việt Nam trước khi tiến hành cấp lại quyền thương mại; đã đăng kí hoạt
động nhượng quyền thương mại với cơ quan có thẩm quyền; hàng hóa, dịch vụ
kinh doanh thuộc đói tượng của nhượng quyền thương mại là hàng hóa, dịch vụ
không thuộc danh mục hành hoa, dịch vụ cấm kinh doanh. Trường hợp hàng hóa,
dịch vụ hạn chế kinh doanh, danh mục hàng hóa, dịch vụ kinh doanh có điều kiện,
0
doanh nghiệp chỉ được kinh doanh sau khi cơ quan quản lí ngành cấp giấy phép
kinh doanh, giấy tờ có giá trị tương đương hoặc có đủ điều kiện kinh doanh.
Đối với bên nhận quyền, pháp luật cũng yêu cầu phải là thương nhân có đủ khả
năng tiến hành các hoạt động kinh doanh sau khi nhận quyền kinh doanh của bên
nhượng quyền.
• Hình thức của hợp đồng nhượng quyền thương mại:
Theo quy định tại Điều 285 LTM, hợp đồng nhượng quyền thương mại phải
được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức có giá trị pháp lí tương đương, bao
gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy định
của pháp luật. Việc quy định như vậy đảm bảo tính minh bạch rõ ràng của hợp
đồng nhượng quyền thương mại, tạo căn cứ vững chắc cho các bên thực hiện quyền
va nghĩa vụ của mình theo hợp đồng và tạo thuận lợi cho việc giải quyết tranh
chấp.
Về nội dung của hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của các bên:
Theo quy định tại các Điều 286, 287, 288, 289 LTM 2005, các bên có những quyền
và nghĩa vụ sau:
*) Bên nhượng quyền có ba quyền cơ bản: Thứ nhất, nhận tiền chuyển
nhượng; thứ hai, tổ chức quảng cáo cho hệ thống nhượng quyền thương mại; thứ
ba, kiểm tra định kì hoặc đột xuất hoạt động của bên nhận quyền nhằm đảm bảo sự
thống nhất của hệ thống nhượng quyền thương mại và sự ổn định về chất lượng
hàng hóa, dịch vụ.
Đồng thời bên nhượng quyền có nghĩa vụ: Thứ nhất, cung cấp tài liệu hướng dẫn về
hệ thống nhượng quyền thương mại cho bên nhận quyền; thứ hai, đào tạo ban đầu
và cung cấp trợ giuos kĩ thuật thường xuyên cho bên nhận quyền để điều hành hoạt
động theo đúng hệ thống nhượng quyền thương mại; thứ ba, thiết kế và xắp sếpđịa
điểm bán hàng, cung ứng dịch vụ bằng chi phí của bên nhận quyền; thứ tư, bảo đảm
quyền sở hữu trí tuệ đối với đối tượng được ghi trong hợp đồng nhượng quyền

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×