Tải bản đầy đủ

Khai quat ve VHDG

KẾ HOẠCH GIẢNG BÀI
Phần một: Ý ĐỊNH GIẢNG BÀI
I. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU
1. Mục đích
- Giúp học viên nắm khái niệm, đặc trưng, đặc điểm về ngôn ngữ và phương
pháp nghệ thuật.
-Vị trí của VHDG trong đời sống văn học và lịch sử của dân tộc, thể loại
chính. Qua đó rèn luyện cho HV kĩ năng nắm bắt, phân tích những vấn đề khái
quát của một mảng văn học để từ đó đi vào phân tích được từng vấn đề, tác
phẩm cụ thể.
2.Yêu cầu
- Nắm được giá trị quý báu cả về mặt xã hội lẫn văn học cũng như văn hoá của
nền văn học dân gian dân tộc.
- Rèn luyện kỹ năng tìm hiểu tác phẩm văn học văn học dân gian
II. NỘI DUNG
- Khái niệm, lịch sử hình thành và phát triển
- Một số đặc trưng của văn học dân gian
- Những thể loại chính của VHDG
(Trọng tâm là phần là phần thứ hai)
III. THỜI GIAN: 3 tiết
IV. TỔ CHỨC, PHƯƠNG PHÁP

1. Tổ chức
Biên chế theo lớp học.
2. Phương pháp
Thuyeát minh, neâu vaán ñeà, phát vấn, diễn giảng, thuyết trình.
V. ĐỊA ĐIỂM
Giảng đường:……………..
VI. VẬT CHẤT BẢO ĐẢM
Bảo đảm sách giáo khoa Văn học 10, tài liệu cho giáo viên và học viên
Phần hai: THỰC HÀNH GIẢNG BÀI
I. THỦ TỤC LÊN LỚP
- Nhận báo cáo, ổn định lớp.
- Quán triệt ý định huấn luyện của bài mới.
1
II. TRÌNH TỰ GIẢNG BÀI
THỨ TỰ
NỘI DUNG
THỜI
GIAN
PHƯƠNG PHÁP VẬT
CHẤT
Giảng viên Học viên
1. Khái niệm, lịch
sử hình thành và
phát triển
2. Một số đặc trưng
của văn học dân
gian
3. Những thể loại
chính của VHDG
20 phút
50 phút
30 phút
Nêu vấn đề,
diễn giảng.
Phát vấn, thuyết
trình, diễn giảng
Thuyết trình,
diễn giảng
Nghe, tìm hiểu
nội dung trong
SGK, ghi bài.
Trả lời các câu
hỏi, tìm hiểu nội
dung trong SGK,
ghi bài.
Bảng,
Phấn,
sách
giáo
khoa,
tài
liệu.
III. KẾT THÚC GIẢNG BÀI
Hệ thống nội dung bài giảng.
Nhận xét điểm mạnh yếu và hướng dẫn học viên tự học ở nhà.
2
MỞ ĐẦU
“ Văn học là nhân học” (M.Gorki), văn học luôn là tấm gương sáng phản
chiếu cuộc đời và con người một cách sâu sắc và toàn diện. Ngay từ thuở hồng
hoang, con người đã biết và tìm đến văn học như một nhu cầu tinh thần không
thể thiếu của cuộc sống. Và lẽ dĩ nhiên, những ngày đầu ấy chưa có chữ viết,
song văn học không vì thế mà không tồn tại. Một nền văn học, đúng hơn là một
kho tàng văn học đã hình thành, phát triển và được để lại cho con cháu muôn đời
sau như một thứ di sản phi vật thể quý giá, đó chính là kho tàng VHDG.
NỘI DUNG
1. Khái niệm, lịch sử hình thành và phát triển (VHDG là gì? Có lịch sử hình
thành và phát triển như thế nào?)
1.1 Khái niệm:
Là những sáng tác văn học do nhân dân sáng tác và lưu truyền trong dân gian.
1.2 Lịch sử hình thành và phát triển:
- Văn học dân gian ra đời từ thời kỳ xã hội công xã nguyên thủy. Khi đó, xã
hội chưa có giai cấp, VHDG là văn học chung của toàn thể xã hội. Đồng thời, do
chưa có chữ viết nên nền VHDG của toàn dân là nền văn học truyền miệng
( VHDG còn gọi là văn học truyền miệng)
- Thời xã hội phong kiến, VHDG không còn là nền văn học bao trùm toàn bộ
xã hội. Xã hội phong kiến đã có sự phân chia giai cấp là động lực cho kinh tế
phát triển, kéo theo văn hoá phát triển, chữ viết ra đời hình thành nên nền văn
học viết. Nền văn học này dành cho tầng lớp trên, VHDG trở thành nền văn học
dành cho tầng lớp dưới, tầng lớp những người bình dân (VHDG còn gọi là văn
học bình dân). Tầng lớp bình dân bên cạnh việc lưu truyền những sáng tác trước
đó còn tiếp tục cho ra đời những tác phẩm mới tạo nên sự phát triển rực rỡ cho
nền VHDG. Có thể nói, đây là giai đoạn thịnh vượng nhất của VHDG trong lịch
sử hình thành và phát triển của nó, cả về số lượng lẫn chất lượng nghệ thuật.
- Từ sau CMT8, 1945 do điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội thay đổi,VHDG
không còn thịnh hành như trước. Việc tiếp nhận, học tập, nghiên cứu VHDG
được thực hiện qua sách sưu tầm, ghi chép, biên soạn từ thời trước đó.
2. Một số đặc trưng của văn học dân gian (Đặc trưng của VHDG bao gồm những
phương diện, cách thức lưu truyền nào? Vì sao lại có những đặc tính đó?)
2.1 Sáng tác và lưu truyền:
- Những sáng tác VHDG thường không thể xác định được tác giả. Người sáng
tác ban đầu không có ý thức xem tác phẩm là của riêng mình và cùng với người
nghe - người cảm thụ, người diễn xướng, họ xem những tác phẩm đó là tài sản
chung. Đồng thời những sáng tác VHDG được mọi người ghi nhớ và lưu truyền,
song trong quá trình lưu truyền mọi người có thể tùy ý thay đổi gọt dũa cho hay,
cho phù hợp với từng hoàn cảnh nhất định. Điều này nói lên tính tập thể của
VHDG (Hay còn gọi là tính vô danh của VHDG)
- Do ra đời khi chưa có chữ viết những sáng tác VHDG chỉ được lưu truyền
bằng con đường truyền miệng theo trí nhớ của mỗi người. Điều này nói lên tính
truyền miệng của VHDG.
3
- Do tính tập thể và tính truyền miệng của VHDG, trong quá trình lưu truyền
qua những người khác nhau, địa phương khác nhau, thời gian khác nhau, những
sáng VHDG có sự thay đổi ít nhiều so với nguyên bản.
(Nguyên nhân: về chủ quan, người lưu truyền tự ý thay đổi, gọt dũa tác phẩm,
về khách quan trí nhớ không thể nhớ trọn vẹn quá nhiều tác phẩm, nhất là những
tác phẩm dài, tác phẩm bằng văn xuôi).
Những sự thay đổi như vậy gọi là tính dị bản của VHDG (Dị bản: những bản
khác nhau của cùng một tác phẩm VHDG)
=> Quá trình sáng tác và lưu truyền đặc trưng, độc đáo trên của VHDG đã tạo
nên 2 đặc điểm tiêu biểu:
+ VHDG là tiếng nói chung của cả cộng đồng, không phải là tiếng nói riêng
của một tác giả như trong văn học viết. Những gì có tính chất riêng biệt đối với
cuộc đời tư tưởng, tình cảm của cá nhân đều bị xoá mờ, loại bỏ. Đọng lại trong
tác phẩm VHDG là tất cả những gì chung cho cả cộng đồng.
+ VHDG có nhiều cốt truyện, nhân vật, tình tiết, hình ảnh được lặp lại ở nhiều
tác phẩm khác nhau. Sự lặp đi lặp lại này được gọi là truyền thống của VHDG.
* Lưu ý: Từ 2 đặc điểm tiêu biểu trên mà VHDG có một hiện tượng khá lí
thú là: Trong VHDG của các dân tộc khác nhau lại có nhiều tác phẩm giống
nhau (đặc biệt là thuộc các thể loại thần thoại, cổ tích,…). Chúng giống nhau về
cốt truyện, tình tiết, nhân vật,…
Vd: Tấm Cám (Việt) – Cô bé lọ lem (châu Âu)
Lấy vợ cóc (Việt) – Nàng công chúa ếch (Nga)
Qua đó chúng tạo thành các kiểu truyện: cô tro bếp, quả bầu mẹ,…
Sự giống nhau có thể giải thích do: Về chủ quan, các dân tộc vay mượn của
nhau. Về khách quan, do các dân tộc có những điều kiện lịch sử xã hội giống
nhau dẫn đến suy nghĩ, quan niệm về cuộc sống giống nhau mà có những sáng
tác giống nhau. Những cái chung của các dân tộc trong VHDG đã phần nào thể
hiện chất nhân bản của loài người.
2.2 Ngôn ngữ và phương pháp nghệ thuật phản ánh (Xuất phát từ đặc trưng của
VHDG hãy cho biết đặc điểm về ngơn ngữ và phương pháp nghệ thuật của
VHDG? Nó khác với VH viết như thế nào?
- Ngôn ngữ: VHDG dùng ngôn ngữ nói làm phương tiện sáng tác (khác với
văn học viết dùng ngôn ngữ viết)
Ngôn ngữ nói có đặc điểm giản dị, dễ hiểu, bình dân, dễ nhớ, dễ lĩnh hội cũng
như dễ truyền đạt. Đồng thời cũng do các tác phẩm VHDG thường có dung
lượng nhỏ nên đảm bảo thể hiện được tính truyền miệng, tập thể của VHDG.
- Phương pháp nghệ thuật phản ánh:
+ Phản ánh hiện thực bằng cách chân thực, mô tả những sự kiện rút ra từ đời
sống thực tế (ca dao, truyện cười, vè,…)
+ Phản ánh hiện thực một cách kì ảo, miêu tả những sự kiện chỉ có trong trí
tưởng tượng của người xưa ( Điều này xuất phát từ cách nhìn, cách nghĩ, cách
cảm của người xưa về thế giới xung quanh, qua đó họ có những tín ngưỡng, tục
thờ thần bí trong cuộc sống).
Trong các sáng tác VHDG, có những hiện tượng người hoá vật, vật hoá
người, vật biết nói, vật có nhiều phép lạ,…Trong nhiều thể loại VHDG, như
4
truyện thần thoại, truyền thuyết, sử thi, cổ tích,… lối phản ánh hiện thực một
cách kì ảo này rất phổ biến. Nó tạo nên vẻ đẹp riêng cho VHDG, một vẻ đẹp gắn
liền với thời thơ ấu của nhân loại.
3. Những thể loại chính của VHDG (VHDG cĩ những thể loại chính nào? Hãy
nêu một số dẫn chứng)
3.1 Lời ăn tiếng nói của nhân dân
- Tục ngữ: Là những sáng tác dân gian nhỏ gọn, có đơn vị là câu, ghi lại
những điều quan sát về thiên nhiên, con người và xã hội, những kinh nghiệm
sống, những điều khuyên răn.
Vd: Không thầy đố mày làm nên.
Đi một ngày đàng học một sàng khôn.
- Câu đố: Là những sáng tác dân gian ngắn gọn, miêu tả sự vật bằng lời nói
chệch ( nói một đường, hiểu một nẻo)
Vd: Cây xanh thì lá cũng xanh
Trồng đậu trồng hành lại thả lợn vô (Cái bánh chưng)
3.2 Thể loại tự sự dân gian
- Thần thoại: Là những truyện kể hoang đường về các vị thần, các nhân vật
anh hùng, các nhân vật sáng tạo văn hoá, phản ánh nhận thức và sự hình dung
của người thời cổ về nguồn gốc của thế giới và của đời sống con người.
Vd: Thần trụ trời, thần mưa, thần lúa, ….
- Sử thi dân gian: Là những sáng tác tự sự dài bằng văn vần hoặc văn xuôi kết
hợp văn vần kể lại những sự kiện quan trọng đối với toàn thể cộng đồng.
Có 2 loại:
+ Sử thi thần thoại: kể về nguồn gốc và sự hình thành vũ trụ, con người và xã hội.
Vd: “Đẻ đất đẻ nước” của dân tộc Mường
+ Sử thi anh hùng (anh hùng ca): kể về sự nghiệp và chiến công của người
anh hùng đối với toàn thể cộng đồng.
Vd: “Đam San” của dân tộc Ê đê.
- Truyền thuyết: Là những truyện kể dân gian về các sự kiện và nhân vật lịch
sử hoặc tôn giáo đã được trí tưởng tượng dân gian tô vẽ thêm bằng các yếu tố
không có thực.
Có 2 loại:
+ Truyền thuyết lịch sử: thuyết về Bà Trưng, Bà Triệu,…
+ Truyền thuyết tôn giáo: thuyết về Phật giáo, Đạo giáo,…
- Truyện cổ tích: Là những truyện dân gian có nội dung kể lại những câu
chuyện tưởng tượng về một số nhân vật như dũng sĩ, nhân vật bất hạnh, nhân vật
chàng ngốc,…
Có 3 loại:
+ Cổ tích về loài vật: có nội dung việc giải thích các đặc điểm của chim
muông hoặc kể về mối quan hệ giữa các con vật, qua đó đúc kết thành một số
kinh nghiệm sống, nhất là kinh nghiệm về thế giới loài vật.
Vd: Vì sao quạ lông đen, Vì sao gà trống có mào, Con thỏ tinh ranh,…
5

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×