Tải bản đầy đủ

Nghiên cứu định hướng tổ chức không gian phục vụ tăng trưởng xanh tại các quận ven biển thuộc TP hải phòng

MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Hiện nay, thế giới đang phải đối mặt với nhiều thách thức do biến đổi toàn
cầu. Để đạt được sự phát triển bền vững, nhiều quốc gia và khu vực đã thực hiện
chuyển đổi từ tăng trưởng nóng, tăng trưởng theo chiều rộng sang các mô hình tăng
trưởng bền vững. Trong đó, tăng trưởng xanh là một mô hình phổ biến, tập trung vào
“...quá trình tái cơ cấu lại hoạt động kinh tế và cơ sở hạ tầng để thu được kết quả tốt
hơn từ các khoản đầu tư cho tài nguyên, nhân lực và tài chính, đồng thời giảm phát
thải khí nhà kính, khai thác và sử dụng ít tài nguyên thiên nhiên hơn, tạo ra ít chất
thải hơn và giảm sự mất công bằng trong xã hội”.
Nằm ở dải ven biển thuộc TP. Hải Phòng, các quận Hải An, Dương Kinh,
Hồng Bàng, Ngô Quyền và Đồ Sơn là đầu mối giao thông của thành phố, bao gồm
các tuyến đường quan trọng: đường bộ (điển hình là Quốc lộ 5 nối liền Hà Nội với
Hải Phòng), đường thuỷ (với mật độ cảng lớn như cảng Đình Vũ, Chùa Vẽ, cảng
Cửa Cấm, cảng Quân sự và một số cảng chuyên dùng khác), đường sắt (từ ga Lạc
Viên đến cảng Chùa Vẽ), đường hàng không (sân bay Cát Bi). Bên cạnh đó, khu vực
còn có một số tài nguyên như khoáng sản và đất mặn, đất ngập nước ven sông, ven
biển. Yếu tố biển – hải đảo đã tạo cho khu vực các quận ven biển này vị thế địa
chính trị - địa kinh tế - địa quân sự trọng yếu của miền Bắc và cả nước. Khai thác
hợp lý lợi thế cạnh tranh từ các không gian biển là định hướng quan trọng nhằm phát
triển nhanh, hiệu quả và bền vững kinh tế biển Hải Phòng.

Mặc dù có những lợi thế và đã có sự phát triển KTXH, tuy nhiên hiện nay Hải
Phòng nói chung và các quận ven biển đang phải đương đầu với nhiều thách thức.
Quy mô nền kinh tế trong 10 năm qua (2003 – 2012) phát triển chưa tương xứng với
tiềm năng và lợi thế sẵn có (GDP Hải Phòng tuy đứng thứ 2 các tỉnh phía Bắc nhưng
chỉ bằng 1/4 so với thủ đô Hà Nội và không hơn nhiều so với các tỉnh còn lại). Điều
chỉnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư, chuyển đổi phương thức phát triển, đổi mới mô
hình tăng trưởng để trở thành trung tâm thành phố lớn chưa rõ nét và còn chậm.
Công tác quản lý sử dụng đất đai, quy hoạch, BVMT có hiệu quả, nhưng còn thiếu
đồng bộ; môi trường chưa thực sự phát triển bền vững, đồng thời còn tiềm ẩn nhiều
rủi ro. Tiềm năng phát triển kinh tế biển và sử dụng hợp lý không gian biển chưa
được phát huy, do đó TP. Hải Phòng chưa thể hiện được vai trò trung tâm tăng
trưởng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và vùng duyên hải Bắc Bộ, trong Chiến lược biển
Việt Nam.Một vấn đề quan trọng nữa là phát triển kinh tế hiện chưa song hành với
BVMT, làm cho chất lượng tăng trưởng kinh tế chưa thực sự bảo đảm tính bền vững.
1


Trước bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, các vấn đề an ninh và chủ
quyền biển đảo trong tình hình căng thẳng trên Biển Đông hiện nay, việc nhận diện
đúng thực trạng phát triển của các quận ven biển, đánh giá đúng tiềm năng, xác định
rõ các thách thức, tận dụng được cơ hội để phát triển,... là cần thiết. Nhiệm vụ này sẽ
góp phần đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cấu trúc nền kinh tế và nâng cao sức cạnh
tranh là việc quan trọng và cần thiết cơ cấu lại nền kinh tế đáp ứng yêu cầu phát triển
bền vững theo hướng tăng trưởng xanh. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn trên, đề tài
luận văn thạc sỹ “Nghiên cứu định hướng tổ chức không gian phục vụ tăng
trưởng xanh tại các quận ven biển thuộc TP. Hải Phòng” đã được lựa chọn nghiên
cứu và hoàn thành.
2. MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
a) Mục tiêu
Xác lập luận cứ khoa học và cơ sở thực tiễn trong đề xuất giải pháp phát triển
KTXH và BVMT theo định hướng tổ chức không gian phục vụ TTX tại các quận ven
biển thuộc TP. Hải Phòng.
b) Nhiệm vụ
Để hoàn thành mục tiêu trên, các nhiệm vụ nghiên cứu được đặt ra như sau:
- Tổng luận các công trình và lý luận về hướng nghiên cứu, cách tiếp cận phân
vùng chức năng và tổ chức không gian lồng ghép TTX.
- Phân tích hiện trạng, diễn biến KTXH và chất lượng môi trường khu vực
nghiên cứu.
- Phân tích, đánh giá thực trạng quy hoạch, phân vùng chức năng phát triển
KTXH và quản lý môi trường dưới góc độ TTX.

- Phân vùng chức năng và đánh giá các vấn đề về KTXH và môi trường nổi
cộm tại các tiểu vùng chức năng.
- Đề xuất phương án tổ chức không gian lồng ghép TTX cho khu vực các
quận ven biển thuộc TP. Hải Phòng.
3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
a) Phạm vi không gian
Nghiên cứu được thực hiện trong phạm vi ranh giới hành chính của 5 quận
ven biển thuộc TP. Hải Phòng được xác định trong đề án “Quy hoạch không gian
biển của TP.Hải Phòng năm 2012, bao gồm quận Hồng Bàng, Ngô Quyền, Hải An,
Dương Kinh và Đồ Sơn.
2


b) Phạm vi khoa học
Trong phạm vi của đề tài luận văn, một số vấn đề nghiên cứu khoa học được
giới hạn ở những nội dung cần giải quyết như sau:
- Phân tích thực trạng, biến đổi KTXH và môi trường trong giai đoạn 20032012. Trong đó năm 2003 là mốc thời điểm TP. Hải Phòng bắt đầu thực hiện Nghị
quyết 32-NQ/TW của Bộ Chính trị về “Xây dựng và phát triển TP. Hải Phòng trong
thời kỳ CNH-HĐH đất nước”. Năm 2012 là thời điểm gần nhất có thể thu thập số
liệu đồng bộ về KTXH và MT cho toàn bộ khu vực nghiên cứu.
- Phân tích, đánh giá hiện trạng, xu thế biến đổi KTXH và môi trường khu vực
nghiên cứu dưới góc độ TTX.
- Dự báo xu thế phát triển KTXH và MT căn cứ vào số liệu dự báo cho toàn
TP. Hải Phòng, được điều chỉnh cụ thể cho khu vực nghiên cứu.
- Định hướng tổ chức không gian phục vụ TTX trên cơ sở phân vùng chức
năng và lồng ghép các tiêu chí TTX tại từng không gian.
4. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
a) Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm phong phú hướng nghiên cứu
địa lý ứng dụng trong quản lý môi trường, tổ chức không gian phục vụ TTX.
b) Ý nghĩa thực tiễn
Các kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học giúp các nhà quản lý ra quyết định
về định hướng, phương án phát triển KTXH và BVMT theo các tiêu chí của TTX tại
các không gian cụ thể của TP. Hải Phòng.
5. CƠ SỞ DỮ LIỆU THỰC HIỆN LUẬN VĂN
a) Tài liệu, số liệu của trung ương và địa phương
- Các tài liệu, văn bản pháp lý, đề án quy hoạch - kế hoạch phát triển: Nghị
quyết, Quyết định quy hoạch phát triển kinh tế xã hội TP. Hải Phòng, bao gồm: Nghị
quyết của Trung ương Đảng về “Xây dựng và phát triển TP. Hải Phòng trong thời kỳ
CNH-HĐH đất nước”; Quyết định của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt “Quy hoạch
chung xây dựng TP. Hải Phòng đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050”; Các quy
hoạch, đề án phát triển ngành và lĩnh vực của cả nước và vùng có liên quan; Các
Nghị quyết của Ban Chấp hành Đảng bộ, Ban Thường vụ Thành ủy về phương
hướng phát triển KTXH TP. Hải Phòng, các quận ven biển thuộc TP. Hải Phòng;
Các đề án, quy hoạch phát triển ngành và lĩnh vực trên địa bàn.
3


- Các số liệu thống kê, báo cáo tổng hợp, báo cáo KTXH, môi trường, định
hướng phát triển của các quận ven biển thuộc TP. Hải Phòng.
- Niên giám thống kê TP. Hải Phòng đến năm 2012.
b) Tài liệu bản đồ, sơ đồ
- Đề tài sử dụng các tư liệu bản đồ địa hình, bản đồ quy hoạch tổng thể và quy
hoạch không gian cùng môt số bản đồ chuyên đề (bản đồ đất, bản đồ sử dụng đất,
bản đồ du lịch) được xây dựng cho TP. Hải Phòng và các quận ven biển.
c) Các công trình nghiên cứu khoa học
- Tài liệu sách, bài báo, báo cáo khoa học, báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu,
dự án,… liên quan đến TTX và khu vực nghiên cứu được sử dụng và trích dẫn rõ
ràng trong luận văn.
6. CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, luận văn được trình bày trong 3
chương gồm 91 trang, được minh họa bởi 07 bản đồ, 04 biểu đồ và 16 bảng số liệu.
- Chương 1: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu tổ chức không gian
lồng ghép TTX tại khu vực ven biển.
- Chương 2: Phân tích hiện trạng và diễn biến về kinh tế xã hội và môi trường
tại các quận ven biển thuộc TP. Hải Phòng.
- Chương 3: Phân vùng chức năng và đề xuất phương án tổ chức không gian
lồng ghép TTX tại các quận ven biển thuộc TP. Hải Phòng.

4


Chương 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
TỔ CHỨC KHÔNG GIAN LỒNG GHÉP TĂNG TRƯỞNG XANH
TẠI KHU VỰC VEN BIỂN
1.1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.1. Nghiên cứu khoa học và thực tiễn triển khai tăng trưởng xanh trên thế
giới và Việt Nam
a) Trên thế giới
* Các công trình nghiên cứu khoa học
Tăng trưởng xanh trên thế giới và các vấn đề liên quan được đề cập tới trong
một số công trình khoa học tiêu biểu gần đây. Trong tài liệu “Hướng tới nền kinh tế
xanh” do Chương trình Môi trường của Liên Hợp Quốc (UNEP) công bố năm 2011,
mô hình kịch bản đầu tư xanh với số vốn khoảng 2% GDP toàn cầu (khoảng 1300 tỷ
USD), trong đó khoảng một phần tư của tổng số (0,5% GDP) được đề xuất đầu tư
cho các lĩnh vực sử dụng nhiều vốn tự nhiên như các ngành nông nghiệp, lâm
nghiệp, nước sạch và thủy sản. Trong mô hình kinh tế vĩ mô, các tác giả cũng đã tính
toán và chỉ ra rằng, xét trong dài hạn, đầu tư vào nền kinh tế xanh sẽ cải thiện hiệu
quả kinh tế và tăng tổng lượng của cải trên toàn cầu. Xây dựng một nền kinh tế xanh
được khẳng định không thay thế và mâu thuẫn với phát triển bền vững. Nguyên nhân
do phát triển bền vững nhằm đạt được các mục tiêu dài hạn (mục tiêu thiên niên kỷ),
còn xanh hóa nền kinh tế là phương tiện đưa tới đích của phát triển bền vững.
Sterner và Damon (2011) trong một nghiên cứu về chiến lược khí hậu toàn
cầu đã nhấn mạnh đến cơ chế sử dụng hiệu quả năng lượng hóa thạch nhằm hướng
tới một thị trường cacbon thấp cộng với việc giải quyết các vấn đề về biến đổi khí
hậu. Tăng trưởng xanh được lựa chọn là định hướng, con đường thay thế duy nhất
đối với sự phát triển bền vững. Nền kinh tế thế giới sẽ cần công cụ chính sách rõ
ràng và hà khắc hơn đối với tăng trưởng hướng tới bền vững và sẽ ngây thơ nếu nghĩ
còn con đường khác để đi. Tăng trưởng xanh sẽ thúc đẩy nhu cầu tiêu thụ năng
lượng. Nhiều thách thức sẽ nảy sinh nếu các vấn đề liên quan đến sử dụng hợp lý
năng lượng không được xem xét cẩn trọng.
Kết quả nghiên cứu xây dựng mô hình tổ chức nền kinh tế công nghiệp
cacbon thấp của Shaohong và Sipeng (2011) cho thấy mô hình doanh nghiệp hiệu
quả được xây dựng dựa trên cơ sở các yếu tố kinh tế và kỹ thuật cũng như các yếu tố
tài nguyên sinh thái cho phép tối ưu hóa thống nhất các lợi ích kinh tế và sinh thái,
do đó, là tiếp cận tốt nhất để thực hiện TTX. Một nghiên cứu tương tự của
5


Schmalensee (2012) về chính sách năng lượng đã cung cấp một cái nhìn tổng quan
về một số tác động của chính sách năng lượng đến môi trường, đặc biệt là chính sách
năng lượng sạch sẽ cung cấp những lợi ích to lớn đối với môi trường như thế nào.
Trong công trình “TTX, từ sáng kiến đến triển khai”, hai tác giả Jouvet và
Perthuis (2013) đã chỉ ra rằng: TTX liên quan đến việc chuyển đổi quy trình sản xuất
và tiêu thụ để duy trì hoặc khôi phục lại các chức năng quan trọng của nguồn vốn tự
nhiên trên hành tinh. Quá trình đó đòi hỏi các nhân tố môi trường phải được xem xét
là một yếu tố thiết yếu của sản xuất và không chỉ đơn thuần là một yếu tố tác động từ
bên ngoài. Trong thực tế, quá trình chuyển đổi này phụ thuộc vào công nghệ hiện đại
đang được thực hiện theo bốn lĩnh vực: mở rộng khái niệm về hiệu quả; chuyển đổi
năng lượng; kết hợp các giá trị của vốn tự nhiên trong đời sống kinh tế... Nghiên cứu
tổng luận của Bartelmus (2013) đã đưa bức tranh tổng thể về thực trạng của TTX
trên toàn thế giới. Theo đó, TTX hay phát triển bền vững là phép đo của sự phát triển
toàn diện, nó bao gồm sự tăng trưởng kinh tế, bền vững về môi trường và chất lượng
cuộc sống con người.
Gần đây nhất, khi nghiên cứu về “Năng lượng tái tạo, sản xuất và TTX”, tác
giả Mathews (2014) đã đưa ra những nhận định: năng lượng tái tạo, công nghệ sạch
có thể đóng góp rất lớn vào việc giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu, cũng như
bảo vệ môi trường và giảm phát thải cacbon. Trong nghiên cứu này, tác giả đã so
sánh lợi nhuận giữa việc khai thác năng lượng (dạng nhiên liệu) với việc khai thác
năng lượng tái tạo của thiên nhiên, theo đó việc khai thác các nhiên liệu hóa thạch so
với việc chuyển đổi sang năng lượng tái tạo sẽ là một lĩnh vực nghiên cứu có hiệu
quả trong tương lai cho môi trường bền vững.
Một nghiên cứu đáng chú ý khác của Wong và các cộng sự (2014) đã phân
tích vai trò, nền tảng của khoa học công nghệ và tác động mạnh mẽ đến xu thế TTX
của các nền kinh tế. Nghiên cứu này sử dụng các sáng chế khoa học và công nghệ, và
các phân tích với ba phần chính: xu hướng sản xuất, bắt kịp xu hướng và mô hình hội
tụ qua đó đã phát hiện bốn điểm nổi bật cần được xem xét bởi các nhà hoạch định
chính sách: (i) ASEAN-4 có độ trễ đáng kể đằng sau các nền kinh tế tiên tiến hơn
(Hàn Quốc, Đài Loan và Trung Quốc) mặc dù hiệu suất của các quốc gia này giống
hệt nhau trong đầu những năm 1990. Trung Quốc đã tiến lên phía trước về các sáng
chế khoa học và sản xuất, nhưng bị tụt hậu trong các sáng chế chất lượng; (ii) so với
mức trung bình của thế giới, khu vực nói chung có tiềm năng lớn trong sản xuất năng
lượng cacbon thấp; (iii) các nền kinh tế phát triển ở châu Á đã khởi động phát triển
khoa học và công nghệ năng lượng cacbon thấp hơn từ công nghệ sản xuất, điều này
cho thấy sự cần thiết cho một nền tảng cơ sở khoa học công nghệ mạnh mẽ và một
mức độ cao trong sự phát triển công nghệ năng động đối với ngành năng lượng
6


cacbon thấp; và (iv) các nền kinh tế đã chứng minh các xu thế trái ngược trong phát
triển, tập trung giữa cung và cầu của công nghệ năng lượng.
Nói tóm lại, các công trình nghiên cứu đã được tổng quan ở trên đều phản ánh
TTX là xu thế chủ đạo của khoa học công nghệ và sự phát triển của nền kinh tế thế
giới trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu hiện nay.
* Xu hướng quốc tế và một số nội dung chính về tăng trưởng xanh
Đến nay, thực tế cho thấy TTX đã được xác định là trọng tâm trong chính
sách phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới trong nỗ lực đạt được sự phát triển
bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu, đáng chú ý nhất là khu vực Đông Á
(Hàn Quốc, Nhật Bản) và Liên minh châu Âu (EU). Các quốc gia thuộc khu vực này
đã đi tiên phong trong việc thúc đẩy TTX với nhiều nội dung quan trọng thể hiện sự
cam kết mạnh mẽ hướng tới nền kinh tế xanh. Trung Quốc cũng đã có kế hoạch phát
triển quốc gia nhấn mạnh vào nền kinh tế tuần hoàn. Tại khu vực ASEAN, Lào,
Campuchia cũng đang nỗ lực xây dựng một kế hoạch hành động chi tiết sau khi ban
hành lộ trình TTX quốc gia; Thái Lan nhấn mạnh vào nền kinh tế đầy đủ với những
đặc điểm chính của nền kinh tế xanh.
TTX và kinh tế biển xanh đang trở thành mối quan tâm toàn cầu và được xem
là động lực để phục hồi, thúc đẩy kinh tế toàn cầu và là công cụ để PTBV. Các nỗ
lực quốc tế đã thể hiện rõ quan điểm và các bài học chia sẻ trong các Tuyên bố Đại
dương Manađô, Tuyên bố Manila về Biến đổi khí hậu và Quản lý tổng hợp vùng bờ
biển (2009), Tuyên bố Đại dương Rio+20, Chương trình Nghị sự Đại dương đến
2030 (2012), các Hội nghị thượng đỉnh Khu vực và Thế giới về Kinh tế Đại dương
và TTX vào cuối các năm 2012 và 2013 lần lượt ở Bali và Washington D.C.
Tại Hội nghị Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) tổ
chức tháng 11/2011 tại đảo Hawaii, Hoa Kỳ, các nhà lãnh đạo APEC đã thông qua
Tuyên bố Honolulu, trong đó, APEC xác định cần phải giải quyết các thách thức môi
trường và kinh tế của khu vực bằng cách hướng đến nền kinh tế xanh, cacbon thấp,
nâng cao an ninh năng lượng và tạo động lực mới cho tăng trưởng kinh tế và việc
làm. Để thúc đẩy các mục tiêu TTX, APEC sẽ thực hiện các biện pháp như giảm
45% mức độ sử dụng năng lượng của APEC vào năm 2035 so với năm 2005, kết hợp
các chiến lược phát triển về thải cacbon thấp vào các kế hoạch tăng trưởng kinh tế.
Đầu tháng 12/2011, hội nghị quốc tế về Biến đổi Khí hậu tại Nam Phi với 194
nước tham dự đã nhất trí thành lập quỹ Khí hậu xanh và các bước đi mới nhằm thực
hiện các cam kết cắt giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính sau năm 2020. Theo thoả
thuận mới đạt được, tất cả các nước đều phải thực hiện cam kết kiểm soát khí thải
theo cùng một khuôn khổ pháp lý. Các đại biểu cũng nhất trí gia hạn Nghị định thư
7


Kyoto thêm 5 năm nữa trong điều kiện hiện tại chỉ có các nước công nghiệp phát
triển phải thực hiện các chỉ tiêu mang tính ràng buộc pháp lý về cắt giảm khí thải.
Kết quả của hội nghị cho thấy thế giới đang đi tới sự nhất trí cao trong việc giảm
phát thải khí nhà kính, một trong những yếu tố cơ bản để có được nền kinh tế cacbon
thấp hay còn gọi là kinh tế xanh.
* Thực tiễn triển khai TTX tại một số quốc gia
Ớ cấp độ quốc gia, Hàn Quốc là nước đầu tiên xây dựng và ban hành Chiến
lược TTX, ít cácbon, làm định hướng phát triển trong 60 năm tới. TTX cacbonđược
Tổng thống Lee Myung Bak chính thức công bố trong bài phát biểu ngày 15/8/2008,
nhân dịp kỉ niệm 60 năm ngày thành lập nước Đại Hàn Dân quốc. Kế hoạch thích
ứng với biến đổi khí hậu và năng lượng quốc gia của Hàn Quốc được thông qua ngày
20/08/2008 đã đưa ra mục tiêu tăng tỷ lệ năng lượng tái sinh lên đến 11% trong tổng
mức năng lượng sử dụng vào năm 2030. Chiến lược quốc gia về TTX của Hàn Quốc
với trọng tâm: Duy trì tăng trưởng kinh tế trong khi giảm đến mức tối đa việc sử
dụng năng lượng và tài nguyên; Hạn chế tối đa các tác động lên môi trường với việc
sử dụng năng lượng và tài nguyên; Dùng công nghệ xanh và năng lượng sạch làm
động lực phát triển. Các hành động cụ thể bao gồm: (i) Giảm phát thải khí nhà kính
hiệu quả; (ii) Giảm sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch; (iii) Thích ứng với
BĐKH; (iv) Phát triển công nghệ xanh; (v) Xanh hóa các ngành công nghiệp hiện có;
(vi) Phát triển các ngành công nghiệp tiên tiến; (vii) Xây dựng nền tảng cho kinh tế
xanh; (iix) Xây dựng không gian xanh và giao thông vận tải xanh; (ix) Thực hiện
cuộc cách mạng xanh về lối sống; (x) Hỗ trợ quốc tế cho TTX. Hàn Quốc cũng là
nước đầu tiên trên thế giới ban hành Luật cơ bản về TTX, cacbon thấp, có hiệu lực từ
ngày 14/4/2010, nhằm giảm 30% lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính cho đến năm
2020 so với hiện nay .
Tại Trung Quốc, từ năm 2010, Chính phủ đã và đang thực hiện Chiến lược
phát triển mới: chuyển từ phương thức phát triển kinh tế tiêu hao nhiều tài nguyên
sang phương thức phát triển kinh tế sử dụng tiết kiệm tài nguyên và BVMT. Các
hành động cụ thể bao gồm: (i) ưu tiên tiết kiệm tài nguyên và hiệu quả sản xuất trong
phát triển nền kinh tế quốc dân; (ii) phát triển kinh tế tuần hoàn, kinh tế sản sinh
lượng cacbon thấp; (iii) tiết kiệm năng lượng, tiết kiệm nước, tiết kiệm nguyên liệu,
tiết kiệm đất; (iv)
Tại Hoa Kỳ, tiếp cận kinh tế cacbon thấp lấy tiêu chí hiệu quả kinh tế để thực
thi chính sách, động lực thị trường thúc đẩy đổi mới công nghệ. Thực thi bảo vệ môi
trường có khoa học và kế hoạch rõ ràng chia theo giai đoạn, trước hết người dân phải
hiểu, thứ đến phải có can thiệp khoa học và cuối cùng thực Trong nông nghiệp,
khuyến khích sản xuất nông sản hữu cơ, phát triển trang trại không sử dụng hoá chất
8


diệt côn trùng và các dịch vụ hỗ trợ khoa học kỹ thuật khác. Trong công nghiệp, vấn
đề được chú trọng nhất là tiết kiệm năng lượng và sử dụng năng lượng thay thế nhằm
hạn chế sử dụng nhiên liệu hoá thạch. cacbonĐối với phát triển đô thị, nhà được thiết
kế theo dạng kiến trúc xanh, tiết kiệm năng lượng, sử dụng nước mưa tự nhiên, tận
dụng chất thải và nhiều sáng kiến khác.
Các nước đang phát triển có trình độ công nghệ thấp hơn các nước phát triển,
sản xuất chủ yếu dựa vào nông nghiệp, khai thác và xuất khẩu thô tài nguyên thiên
nhiên, lao động giá rẻ. Định hướng phát triển nền kinh tế xanh, sẽ là cơ hội cho các
nước tham gia để khôi phục nguồn tài nguyên tái tạo, duy trì và phát triển hệ sinh
thái tự nhiên và BVMT, tăng phúc lợi và giảm nghèo.
Như vậy, những bài học thực tiễn được phân tích ở trên cho thấy, TTX là con
đường tất yếu và là trọng tâm hiện nay trong chính sách phát triển quốc gia của nhiều
nước trên thế giới, tăng trưởng xanh vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an
sinh, tăng cường phúc lợi xã hội vừa duy trì BVMT, bảo tồn đa dạng sinh học và
thích ứng với biến đổi khí hậu.
b) Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, quan điểm phát triển nhanh và bền vững đã được nhận thức rất
sớm và thể hiện trong nhiều chủ trương, nghị quyết của Đảng. Ngay từ Đại hội Đảng
lần thứ III năm 1960 và Đại hội Đảng lần thứ IV năm 1976, Đảng ta đã đặt mục tiêu
“tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”. Đại hội Đảng lần thứ
VII thông qua Chiến lược Phát triển KTXH giai đoạn 1991 - 2000, nhấn mạnh
“Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn
hoá, bảo vệ môi trường”. Đại hội Đảng lần thứ VIII nêu bài học “Tăng trưởng kinh
tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc, bảo
vệ môi trường sinh thái”. Chiến lược Phát triển KTXH giai đoạn 2001 - 2010 thông
qua tại Đại hội Đảng lần thứ IX khẳng định “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền
vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ
môi trường”. Đại hội Đảng lần thứ X nêu bài học về phát triển nhanh và bền vững,
trong đó ngoài các nội dung phát triển KT, XH, MT còn bổ sung yêu cầu phát triển
toàn diện con người, thực hiện dân chủ và xác định mục tiêu tổng quát của Kế hoạch
phát triển 5 năm 2006 - 2010 là “Phấn đấu tăng trưởng kinh tế với nhịp độ nhanh,
chất lượng cao và bền vững hơn, gắn với phát triển con người”.
Như vậy, quan điểm phát triển bền vững đã sớm được Đảng và Nhà nước ta
đặt ra với nội dung ngày càng hoàn thiện và đã trở thành một chủ trương nhất quán
trong lãnh đạo, quản lý, điều hành tiến trình phát triển của đất nước trong nhiều thập
kỷ qua. Nhà nước ta cũng đã có những cam kết mạnh mẽ về phát triển bền vững. Đại
9


hội Đảng lần thứ XI đã nêu rõ “Tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hòa với phát
triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất
lượng cuộc sống của nhân dân. Phát triển kinh tế xã hội phải luôn coi trọng bảo vệ
và cải thiện chất lượng môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu”. Nghị
quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI và sau đó là Kết luận Hội nghị Trung ương
3 (khoá XI) đã xác định nhiệm vụ đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với tái cơ cấu
nền kinh tế nhằm đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững.
Từ các Nghị quyết, chủ trương, chính sách của Ðảng, Chính phủ đã ban hành
ba văn bản quan trọng có tính chất chiến lược: Quyết định số 432/QÐ-TTg ngày 124-2012 phê duyệt Chiến lược phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011-2020;
Quyết định số 1393/QÐ-TTg ngày 25-9-2012 phê duyệt Chiến lược quốc gia về TTX
thời kỳ 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2050 và Quyết định số 339/QÐ-TTg ngày
19-2-2013 phê duyệt Ðề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình
tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh giai
đoạn 2013-2020. Nội dung ba văn bản này hầu như đã bao quát hết nội hàm, ý nghĩa,
mục tiêu, quan điểm, nguyên tắc, giải pháp, cách thức thực hiện,... là cơ sở pháp lý
thúc đẩy TTX ở Việt Nam.
Bên cạnh những định hướng phát triển, tăng trưởng xanh cũng được đề cập tới
trong một số công trình nghiên cứu gần đây ở Việt Nam.
Báo cáo của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (2014) về “TTX và
chính sách tài khoá về nhiên liệu hoá thạch ở Việt Nam” nhấn mạnh rằng những nỗ
lực cải cách gần đây cần được thúc đẩy đáng kể để đáp ứng các mục tiêu tham vọng
của Chiến lược TTX và để Việt Nam tiến tới một quỹ đạo tăng trưởng bền vững và
bao trùm hơn. Cải cách chính sách tài khóa nhiên liệu hóa thạch đòi hỏi phải cải cách
ngành năng lượng tổng thể, cải cách giá và một chiến lược truyền thông và tham vấn
để kêu gọi sự ủng hộ trên diện rộng đối với cải cách, dựa trên các công trình nghiên
cứu của nhiều đối tác nghiên cứu trong nước và các chuyên gia quốc tế, cũng như
thông qua đối thoại rộng khắp với các bên liên quan chính bao gồm các hộ, doanh
nghiệp, các đối tác phát triển và các nhà hoạch định chính sách.
Nguyễn Chu Hồi, Trung tâm Nghiên cứu Biển và Hải đảo, Ðại học Quốc gia
Hà Nội trong tác phẩm “Quy hoạch không gian biển và ven biển” nhận định: Quản lý
tổng hợp biển theo không gian đòi hỏi xác lập một cơ chế phối hợp liên ngành trong
quản lý biển và giải quyết dồng bộ các quan hệ phát triển khác nhau, trong đó quan
hệ giữa các mảng không gian cho phát triển kinh tế biển và tổ chức không gian biển
hợp lý cho phát triển kinh tế biển bền vững là một trong những nhiệm vụ quan trọng.
Công cụ cơ bản giúp tổ chức hợp lý không gian biển cho phát triển bền vững chính là
quy hoạch không gian biển.
10


Phạm Ngọc Đăng và các cộng sự (2013) trong xuất bản phẩm “các giải pháp
thiết kế công trình xanh ở Việt Nam” đã đưa ra nhận định: “Phát triển công trình
xây dựng xanh, chính là phát triển ngành xây dựng thích ứng với BĐKH, cũng là sự
cam kết thực hiện PTBV có hiệu quả nhất của ngành xây dựng đối với sự nghiệp
PTBV của quốc gia”. Phát triển công trình xây dựng xanh mang lại nhiều lợi ích về
kinh tế, xã hội và môi trường cho bản thân chủ đầu tư công trình, cũng như cho xã
hội và quốc gia. Giá đầu tư xây dựng công trình xanh có thể ít hơn hoặc nhiều hơn từ
5 - 10% tùy theo công trình cụ thể so với công trình thông thường, tuy nhiên chi phí
vận hành thấp hơn; do đó, tổng chi phí đầu tư và chi phí sử dụng công trình xanh về
lâu dài luôn luôn nhỏ hơn so với công trình thông thường.
1.1.2. Các công trình liên quan tới khu vực nghiên cứu
Để triển khai Kết luận số 72 của Bộ Chính trị về xây dựng Hải Phòng trở
thành “Thành phố cảng xanh” trong giai đoạn từ nay cho đến năm 2020, tầm nhìn
đến năm 2050, TP. Hải Phòng đã và đang nghiên cứu, triển khai nhiều đề án, dự án:
Quy hoạch mạng lưới quan trắc môi trường trên địa bàn thành phố đến năm 2025; Kế
hoạch hành động đa dạng sinh học TP. Hải Phòng đến năm 2020; Đẩy mạnh tuyên
truyền về quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững môi trường TP. Hải Phòng; Kế
hoạch ứng phó biến đổi khí hậu và nước biển dâng TP. Hải Phòng đến năm 2025; Kế
hoạch ứng phó sự cố tràn dầu trên địa bàn TP. Hải Phòng đến năm 2025; Phân loại
cơ sở ô nhiễm công nghiệp trên địa bàn thành phố đến năm 2015, kế hoạch tới năm
2020; Quy hoạch chung môi trường đô thị TP. Hải Phòng đến năm 2025 và tầm nhìn
đến năm 2050; Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học thành phố đến năm 2025, tầm
nhìn đến năm 2050; Điều tra, thống kê, đánh giá nguồn thải, phân loại chất lượng và
BVMT nguồn nước mặt trên địa bàn thành phố; Phân vùng sử dụng không gian vùng
bờ phục vụ quy hoạch không gian biển Quảng Ninh-Hải Phòng (2011-2013); Nghị
Quyết số 44/NQ-CP của Chính phủ về Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và Kế
hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) của TP. Hải Phòng, Quy hoạch tổng
thể phát triển kinh tế xã hội quận Đồ Sơn, Hải An, Hồng Bàng, Dương Kinh, Ngô
Quyền đến năm 2020; Quy hoạch cải tạo, xây dựng Bến tàu thủy nội địa khu vực
Bến Bính; Quy hoạch phát triển công nghiệp Hải Phòng giai đoạn 2011 - 2020; Quy
hoạch Đô thị theo hướng chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu; Quy hoạch chung
xây dựng Khu Kinh tế Đình Vũ - Cát Hải, TP. Hải Phòng đến năm 2025; Quy hoạch
tổng thể phát triển ngành công nghiệp tàu thủy,...
Việc ưu tiên xây dựng các đề án, dự án nghiên cứu triển khai theo định hướng
kinh tế biển xanh, TTX hướng tới PTBV biển, hải đảo và vùng ven biển có vai trò
quan trọng và ý nghĩa cần thiết cho khu vực trong hiện tại và tương lai.
11


1.2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC KHÔNG GIAN THEO ĐỊNH HƯỚNG
TĂNG TRƯỞNG XANH TẠI KHU VỰC VEN BIỂN
1.2.1. Tổ chức không gian lãnh thổ - kinh tế
Trên quan điểm địa lý đổi mới và phát triển, có thể coi tổ chức lãnh thổ là một
hành động dịa lý học có chủ ý nhằm hướng tới sự công bằng về mặt không gian. Xét
dưới khía cạnh quản lí đất nước, lãnh thổ - đó là bề mặt lãnh thổ thuộc quyền tài
phán của một quốc gia, bao gồm phần đất liền, nội thuỷ, lãnh hải vùng đặc quyền
kinh tế, lòng đất, vùng trời thuộc chủ quyền. Giới hạn của lãnh thổ là đường biên
giới quốc gia (trên đất liền và vùng lãnh hải). Lãnh thổ còn được quan niệm đầy đủ
hơn, đó là thể thống nhất, hay nói chung là một thực thể được tổ chức bởi các cộng
đồng xã hội. Ðó là nơi sinh sống của cộng đồng xã hội, được cộng đồng này chiếm
giữ để đảm bảo sự cung cấp các nhu cầu thiết yếu của nó, và sự tái sinh sản của
chính nó. Tổ chức lãnh thổ được hiểu như toàn bộ quá trình hay hành động của con
người nhằm phân bố các cơ sở sản xuất và dịch vụ, phân bố dân cư, sử dụng tự
nhiên, có tính đến các mối quan hệ, liên hệ của chúng, các sự phụ thuộc lẫn nhau của
chúng. Các hành động này được thực hiện phù hợp với các mục tiêu của xã hội trên
cơ sở các quy luật kinh tế trong hình thái KTXH tương ứng.
Mục tiêu cơ bản của tổ chức lãnh thổ là nhằm tiết kiệm lao động xã hội nhờ
cải thiện cơ cấu sản xuất - lãnh thổ của nền kinh tế và cải thiện cơ cấu tổ chức sản
xuất của đất nước hay của từng vùng cụ thể theo hướng phát triển tổng hợp nhằm đạt
hiệu quả tối ưu trong sản xuất, sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên và BVMT sinh
thái. Tổ chức lãnh thổ KTXH còn được hiểu như sự kết hợp của các tổ chức lãnh thổ
đang hoạt động: cấu trúc lãnh thổ quần cư, cấu trúc không gian xã hội, cấu trúc
không gian sử dụng tự nhiên v.v... Ở đây, không thể bỏ qua nội dung phân vùng và
quy hoạch vùng, đó là việc xác định các tỷ lệ và quan hệ hợp lý về phát triển KTXH
giữa các ngành trong một vùng, giữa các vùng nhỏ trong vùng lớn, giữa các vùng lớn
trong một quốc gia và trên mức độ nào đó có xét đến các mối liên kết khu vực và
quốc tế. Cấu trúc này được thống nhất bởi các cơ cấu quản lý quá trình tái sản xuất
xã hội, làm cơ sở cho việc nghiên cứu tổ chức lãnh thổ KTXH của một vùng nhất
định, bao gồm các điểm, các ‘cực’, các nút, và các dải, các tuyến lực và một không
gian bề mặt. Các yếu tố đó có quan hệ, sức hút lan toả và ảnh huởng lẫn nhau.
Ðể tiến hành nghiên cứu tổ chức lãnh thổ phải có sự phân tích những phân dị
địa lý nhằm xác định các cấu trúc không gian (cấu trúc lãnh thổ), các mối quan hệ
lãnh thổ, sự tác động qua lại với các cấu trúc không gian thành phần để nhận dạng
một không gian tổng quát mà ta gọi là không gian chiến lược. Theo nghĩa mở rộng,
để làm việc này, cộng đồng và xã hội phải quyết định hành động can thiệp nhằm tổ
12


chức lại không gian cho phù hợp với chiến lược phát triển, điều kiện kỹ thuật và
công nghệ, kể cả văn hoá, tâm lý và khiếu thẩm mỹ không gian vốn có nữa.
1.2.2 Lý thuyết và các mô hình tăng trưởng xanh
a) Các quan điểm về tăng trưởng xanh trên thế giới
TTX hiện là một trong những vấn đề lý luận mang tính thời sự trên thế giới và
là trọng tâm được ưu tiên hàng đầu trong chính sách phát triển của nhiều quốc gia,
khu vực, vì sự phát triển bền vững. Tuy nhiên cho tới nay vẫn chưa có một định
nghĩa chuẩn về TTX trong các cuộc bàn luận chính sách và trong công chúng.
Khái niệm TTX lần đầu tiên được đưa ra cho khu vực Châu Á - Thái Bình
Dương năm 2005 trong bối cảnh đây là khu vực được coi là dễ bị tổn thương nhất
trước các biến cố về môi trường. Có nhiều nguyên nhân khiến khu vực này cần phải
nhanh chóng chuyển sang TTX. Trước hết ở đây có những ngành công nghiệp gây ô
nhiễm nặng nề do thường sử dụng công nghệ lạc hậu và hoạt động dưới một chế độ
kiểm soát ô nhiễm yếu, sản xuất công nghiệp trong khu vực giai đoạn 1995 - 2002 đã
tăng 40%, cao hơn nhiều so với mức bình quân 23% của thế giới. Thứ hai là sản xuất
nông nghiệp từ năm 1992 đến 2002 đã tăng 62% mà phần lớn là do sử dụng nhiều
hoá chất nông nghiệp vượt xa mức trung bình của thế giới. Thứ ba là sự tăng trưởng
của cư dân đô thị với 600 đến 800 triệu người trong khu vực được cho là không được
cung cấp đầy đủ về vệ sinh. Thứ tư, sự phát triển trong xử lý nước thải, quản lý chất
thải rắn và hạ tầng giao thông không theo kịp với sự tăng dân số đô thị. Cuối cùng là
nhu cầu về nước tăng đã gây áp lực đáng kể lên môi trường. Đây là khu vực chiếm
tới 2/3 số người nghèo của thế giới. UNESCAP đã gợi mở xu hướng TTX để giúp
các nước Châu Á và Thái Bình Dương hướng tới phát triển bền vững, tìm kiếm sự
hoà hợp giữa hai nhu cầu “tăng trưởng kinh tế” và “bền vững về môi trường”, tạo ra
sự phối hợp cùng thắng (win - win) giữa môi trường và kinh tế và để cho môi trường
được coi như một cơ hội hơn là chi phí và gánh nặng đối với nền kinh tế.
Uỷ ban Kinh tế Xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương của Liên Hợp
Quốc (UNESCAP) định nghĩa: “TTX là chiến lược tìm kiếm sự tối đa hoá trong sản
lượng kinh tế và tối thiểu hoá gánh nặng sinh thái. Cách tiếp cận mới tìm kiếm sự
hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế và tính bền vững môi trường bằng việc thúc đẩy
những thay đổi cơ bản trong sản xuất và tiêu dùng xã hội”. TTX khác với tăng
trưởng truyền thống là không lấy phương châm "phát triển trước, BVMT sau", mà
lấy việc phòng ngừa, lồng ghép BVMT, giảm phát thải cácbon trong sản xuất, kinh
doanh làm động lực để tăng trưởng. Có 6 nội dung chính của tăng trưởng xanh, bao
gồm: (i) Sản xuất và tiêu dùng bền vững; (ii) Xanh hóa thị trường và các hoạt động
sản xuất kinh doanh; (iii) Xây dựng cơ sở hạ tầng bền vững; (iv) Cải tổ thuế và ngân
13


sách xanh; (v) Đầu tư/bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và hệ sinh thái; (vi) Xây dựng và
thực hiện các chỉ số hiệu quả về sinh thái. Các nguyên tắc mà UNESCAP đề ra đối
với TTX là: (i) Chất lượng của tăng trưởng kinh tế: TTX phải đảm bảo sự tăng
trưởng về kinh tế, thể hiện qua chỉ tiêu về sự gia tăng của GDP. Tuy nhiên, cần phải
đảm bảo phúc lợi cho xã hội giải quyết việc làm, mang đến sự thịnh vượng cho tất cả
mọi người, phân phối công bằng giữa các tầng lóp dân cư, sản xuất và tiêu dùng bền
vững; (ii) Hiệu quả sinh thái của tăng trưởng kinh tế: TTX phải đảm bảo hiệu quả
sinh thái của tăng trưởng kinh tế, đây là một trong những chìa khóa quan trọng, đảm
bảo nguyên tắc phát triển bền vững. Các quốc gia cần phải sử dụng hợp lý tài
nguyên, tối đa hóa hiệu quả sử dụng tài nguyên và tối thiểu hóa ô nhiễm do quá trình
sản xuất, kinh doanh; (iii) Thực hiện bền vững về môi trường: TTX phải kiểm soát ô
nhiễm, đạt được các mục tiêu môi trường, thông qua tập trung cải thiện sản xuất và
tiêu dùng để giảm thiểu những tác động đến môi trường.
Một số định nghĩa đáng lưu ý khác về TTX được các tổ chức quốc tế đưa ra:
“quá trình tái cơ cấu lại hoạt động kinh tế và cơ sở hạ tầng để thu được kết quả tốt
hơn từ các khoản đầu tư cho tài nguyên, nhân lực và tài chính, đồng thời giảm phát
thải khí nhà kính, những rủi ro môi trường và những thiếu hụt sinh thái, đồng thời
giảm đáng kể các chất thải và giảm sự mất công bằng trong xã hội” (Tổ chức Sáng
kiến của Liên Hợp Quốc), “... quá trình tăng trưởng sử dụng tài nguyên hiệu quả,
sạch hơn và tăng cường khả năng chống chịu mà không làm chậm quá trình này”
(Ngân hàng Thế giới), “... cách tiếp cận để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế và
phát triển trong BVMT, ngăn chặn sự mất mát về đa dạng sinh học và giảm thiểu
việc sử dụng không bền vững tài nguyên thiên nhiên”.
Chiến lược TTX của các nước OECD bao gồm các nội dung đáng lưu ý sau:
(i) Loại bỏ các rào cản cho TTX: Tăng cường kết nối chính sách, loại bỏ các rào cản
đối với hàng hóa và dịch vụ môi trường, loại bỏ các khoản trợ cấp có hại; (ii) Thúc
đẩy sự thay đổi: Xây dựng các chính sách tổng họp, bao gồm các chính sách dựa vào
thị trường và công cụ phi thị trường; Đẩy mạnh phổ biến và tăng cường công nghệ
xanh; Khuyến khích các phương pháp sản xuất và tiêu dùng sạch hơn, đổi mới các
chính sách tài chính; (iii) Hỗ trợ cho sự chuyển đổi: Hỗ trợ cho sự phân bổ lại lực
lượng lao động thông qua thị trường lao động và các chính sách lao động, nâng cao
kỹ năng cho người lao động...; (iv) Tăng cường họp tác quốc tế: Tăng cường cơ chế
tài chính cho các hàng hóa công cộng toàn cầu, hỗ trợ đối tượng cận nghèo cho TTX,
nhấn mạnh vào những vấn đề cạnh tranh, tăng cường chuyển đổi công nghệ. (v)
Phương pháp đạt được TTX: Phát triển một khung hạch toán mới và thiết lập các chỉ
số của TTX, phát triển phương pháp đo lường các tác động chính sách đặc thù,...
Như vậy, để tiến tới TTX đòi hỏi sự can thiệp của Chính phủ thông qua các chính
14


sách để thúc đẩy đổi mới, quản lý quá trình chuyển đổi sang phát triển nền kinh tế
xanh.
Chiến lược phát triển kinh tế của Liên minh châu Âu (EU) bao gồm ba nội
dung ưu tiên có quan hệ bổ sung cho nhau: (i) Tăng trưởng thông minh: Phát triển
kinh tế dựa vào tri thức và nghiên cứu đột phá cải tiến công nghệ; (ii) Tăng trưởng
bền vững: Thúc đẩy nền kinh tế sử dụng hiệu quả tài nguyên, xanh hơn và có khả
năng cạnh tranh cao hơn; (iii) Tăng trưởng bình đẳng: Khuyến khích nền kinh tế với
nhiều việc làm, tạo sự gắn bó trong xã hội và bình đẳng giữa các vùng miền. Các
hành động cụ thể bao gồm xây dựng một nền kinh tế có tính cạnh tranh cao, sử dụng
hiệu quả tài nguyên, tận dụng vị thế tiên phong của châu Âu trong công cuộc phát
triển những quy trình, công nghệ mới, bao gồm công nghệ xanh, áp dụng sâu rộng
lưới điện thông minh, sử dụng công nghệ thông tin, tận dụng mạng lưới toàn EU và
củng cố tính cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong kinh doanh, cũng
như hỗ trợ khách hàng đánh giá đúng tầm quan trọng của việc tiết kiệm tài nguyên.
Nói tóm lại, kinh nghiệm tăng trưởng xanh ở nhiều nước và tổ chức kinh tế
trên thế giới cho thấy, chuyển đổi phương thức phát triển, thúc đẩy TTX để hướng
tới nền kinh tế xanh được xác định là trọng tâm trong chính sách phát triển quốc gia,
phù hợp với xu thế phát triển bền vững. Hơn thế nữa, TTX được xác định là con
đường tất yếu của sự phát triển nền kinh tế.
b) Quan điểm về tăng trưởng xanh tại Việt Nam
Tại Việt Nam, TTX được xác định là sự tăng trưởng dựa trên quá trình thay
đổi mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế nhằm tận dụng lợi thế so sánh, nâng
cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế thông qua việc nghiên cứu và áp dụng
công nghệ tiên tiến, phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại để sử dụng hiệu quả tài
nguyên thiên nhiên, giảm phát thải khí nhà kính, ứng phó với biến đổi khí hậu, góp
phần xóa đói giảm nghèo, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế một cách bền
vững.
Định hướng TTX đã được đề cập một cách trực tiếp hoặc gián tiếp trong
nhiều văn bản quan trọng. Chiến lược phát triển KTXH 2011-2020 thông qua tại Đại
hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI đã xác định: “Phát triển nhanh gắn liền với
phát triển bền vững, phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược,...
Gắn phát triển kinh tế với BVMT, phát triển kinh tế xanh”. Chiến lược BVMT quốc
gia đến 2020 tầm nhin 2030, Định hướng Chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam
(Chương trình nghị sự 21 năm 2004), Báo cáo quốc gia tại Hội nghị cấp cao của Liên
Hợp Quốc về Phát triển bền vững (RIO+20) “Chiến lược phát triển bền vững ở Việt
Nam” (2012) và gần đây nhất là Quyết định số 1393/QĐ-TTg ngày 25/09/2012 của
15


Thủ tướng Chính phủ về “Chiến lược quốc gia về TTX thời kỳ 2011 - 2020 và tầm
nhìn đến 2050” đã xác định:
- TTX là một nội dung của phát triển bền vững, đảm bảo phát triển kinh tế
theo hướng nhanh, hiệu quả và bền vững, đồng thời góp phần quan trọng thực hiện
Chiến lược Quốc gia về biến đổi khí hậu.
- TTX phải do con người và vì con người, góp phần tạo việc làm, xóa đói
giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân.
- TTX dựa trên tăng cường đầu tư vào bảo tồn, phát triển và sử dụng hiệu quả
các nguồn vốn tự nhiên, giảm phát thải khí nhà kính, cải thiện nâng cao chất lượng
môi trường, qua đó kích thích tăng trưởng kinh tế.
- TTX phải dựa trên cơ sở khoa học và công nghệ hiện đại, phù hợp với điều
kiện Việt Nam, nguồn nhân lực chất lượng cao, kết hợp giữa nội lực với mở rộng
hợp tác quốc tế.
- TTX là sự nghiệp của toàn Đảng, các cấp chính quyền, các bộ, ngành và địa
phương; của các cơ quan, doanh nghiệp, đoàn thể xã hội, các cộng đồng dân cư và
mọi người dân”.
Từ những quan điểm nêu trên, nội hàm của TTX cần có sự đồng thuận giữa
các nước đang phát triển để cùng thực hiện từ sử dụng hiệu quả tiết kiệm tài nguyên,
BVMT, xóa đói giảm nghèo, đầu tư cho bảo tồn và phát triển, giảm thiểu phát thải
khí nhà kính đến sự nỗ lực của toàn xã hội, không chỉ các tổ chức chính quyền mà
còn cả người dân và doanh nghiệp cùng phải nhận thức đầy đủ và thực hiện,...
c) Nội dung cơ bản của chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn
2011 - 2020, tầm nhìn đến năm 2050 và những vấn đề áp dụng
Chiến lược quốc gia về TTX ở Việt Nam thời kỳ 2011 - 2020 và tầm nhìn đến
năm 2050 đề ra mục tiêu tổng quát. Theo đó, TTX nhằm tiến tới nền kinh tế cacbon
thấp, làm giàu vốn tự nhiên trở thành xu hướng chủ đạo trong phát triển kinh tế bền
vững; giảm phát thải và tăng khả năng hấp thụ khí nhà kính dần trở thành chỉ tiêu bắt
buộc và quan trọng trong phát triển KTXH.
Để thực hiện các mục tiêu như trên, Chiến lược TTX tập trung vào 03 nhiệm
vụ chủ yếu: (i) Xanh hóa sản xuất; (ii) Giảm cường độ phát thải khí nhà kính và thúc
đẩy sử dụng năng lượng sạch năng lượng tái tạo; (iii) Xanh hóa lối sống và thúc đẩy
tiêu dùng bền vững.
d) Kế hoạch hành động về tăng trưởng xanh của thành phố Hải Phòng
giai đoạn 2014 - 2020
16


Nhận thức rõ tầm quan trọng của phát triển bền vững, hướng tới nền kinh tế
xanh, thành phố Hải Phòng đã định hướng nhằm thu hút, quản lý đầu tư khi quy
hoạch xây dựng đã quan tâm dành tỷ lệ đất cho các mảng xanh, mặt nước, giao thông
tĩnh, quy hoạch các khu công nghiệp tập trung bảo đảm xử lý ô nhiễm môi trường.
Trong thời gian vừa qua, thành phố Hải Phòng đã xây dựng danh mục các dự án, đề
án, ưu tiên bố trí kinh phí, nâng cao năng lực phòng ngừa, kiểm soát ô nhiễm, bảo vệ
môi trường, trong đó tập trung cho các dự án quản lý và xử lý chất thải rắn, xây dựng
hệ thống thoát nước, xử lý nước thải nhằm khai thác, sử dụng hợp lý, bảo vệ đa dạng
sinh học, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân đô thị và nông thôn. Mô hình
tăng trưởng kinh tế tới năm 2020, tầm nhìn tới năm 2050 của thành phố Hải Phòng
được điều chỉnh, trong đó định hướng phát triển nền kinh tế xanh giữ vai trò chủ đạo.
Một số dự án cấp thành phố đã được lập, bao gồm; quy hoạch không gian biển
(MSP) và quy hoạch tổng hợp vùng bờ biển (ICOM); xây dựng đề án phát triển
nguồn nhân lực chất lượng cao theo yêu cầu của các ngành kinh tế xanh,… Kế hoạch
hành động tăng trưởng xanh của Tp.Hải Phòng được cụ thể hóa tại nhiều hội thảo
quốc tế. Tại hội thảo “Diễn đàn chính sách tăng trưởng xanh đô thị Châu Á năng
động” do thành phố Hải Phòng và Tổ chức Hợp tác Phát triển Kinh tế (OECD) phối
hợp tổ chức, Hải Phòng được xác định là 1 trong 3 thành phố, cùng Bangkok (Thái
Lan), Joho Rans (Malaixia), được OECD lựa chọn hỗ trợ về chính sách và kinh phí
200.000 EUR triển khai trong hai năm 2014 - 2015. Trong bối cảnh phát triển mới,
định hướng tăng trưởng xanh của TP.Hải Phòng nhằm thu hút các nguồn lực đầu tư
phục vụ phát triển KTXH và BVMT.
1.2.3. Lý luận về tổ chức không gian theo định hướng tăng trưởng xanh áp dụng
cho khu vực ven biển
Tổ chức không gian theo định hướng tăng trưởng xanh cho khu vực ven biển
trong phạm vi đề tài luận văn được dựa trên các cơ sở khoa học và pháp lý sau đây:
- Không gian biển và quy hoạch không gian biển: Khác với trên đất liền,
không gian kinh tế biển rộng mở, khá đa dạng và luôn tác động tương hỗ nhau cả về
mặt tự nhiên và phát triển theo các cấp độ khác nhau.
Trên cơ sở bình đồ tổ chức không gian biển - ven biển, việc quy hoạch không
gian cho từng khu vực biển, vùng ven biển thông qua tính toán đầy đủ các nguồn lực
(nội lực, ngoại lực), đặc biệt là các giá trị sinh thái của vùng quy hoạch, xác định thế
mạnh phát triển, hiện trạng khai thác, sử dụng vùng biển theo không gian và thời
gian, quy hoạch không gian biển để phân bổ không gian cho các hoạt động của con
nguời trong vùng quy hoạch, đạt được các mục tiêu KTXH và sinh thái.

17


Trên cơ sở quy hoạch sử dụng không gian, cần tiến hành xác định “chế độ
pháp lý” cho các mảng không gian phân chia cho các ngành, nguời sử dụng để bảo
đảm mức độ tuân thủ quy hoạch cao nhất, giảm thiểu mâu thuẫn lợi ích trong sử
dụng đa ngành và tối ưu hóa lợi ích kinh tế trong khi vẫn bảo toàn được chức năng
sinh thái và BVMT theo huớng phát triển bền vững ở vùng quy hoạch.
- Luật BVMT năm 2014: Luật này quy định quy hoạch BVMT phải đảm bảo
các nguyên tắc phù hợp với điều kiện tự nhiên, KTXH; và vì vậy phải phù hợp với
chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển KTXH, quốc phòng, an ninh, quy hoạch sử
dụng đất; thống nhất giữa các nội dung cơ bản của quy hoạch BVMT và phải đảm
bảo nguyên tắc BVMT dựa trên cơ sở sử dụng hợp lý tài nguyên, giảm thiểu chất
thải,... Với những nguyên tắc này, việc xây dựng quy hoạch BVMT không làm đảo
lộn các quy hoạch cơ bản hiện có bởi vì nếu làm đảo lộn các quy hoạch cơ bản hiện
có, quy hoạch BVMT sẽ không có tính thực thi. Quy hoạch BVMT phải dựa trên
hiện trạng tự nhiên, kinh tế, xã hội để phân vùng môi trường, bảo tồn ĐDSH, quản lý
môi trường, quản lý chất thải, xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật BVMT.
Ứng phó với biến đổi khí hậu liên quan đến nhiều lĩnh vực và nhiều nội dung,
các quy định ứng phó với BĐKH trong Luật BVMT có tính cơ bản và tính nguyên
tắc, làm cơ sở pháp lý để xây dựng các chương trình, kế hoạch, dự án cụ thể trong
lĩnh vực ứng phó với biến đổi khí hậu trong mối liên quan với BVMT, các quy định
về nội dung ứng phó với biến đổi khí hậu phải được thể hiện trong chiến lược, quy
hoạch, kế hoạch phát triển KTXH; quản lý phát thải khí nhà kính; quản lý các chất
làm suy giảm tầng ô-zôn; phát triển năng lượng tái tạo; sản xuất và tiêu thụ thân
thiện với môi trường; thu hồi năng lượng từ chất thải; quyền và trách nhiệm của cộng
đồng trong ứng phó với biến đổi khí hậu.
Quy định chung về BVMT biển và hải đào quy định nguyên tắc BVMT biển,
bảo tồn và sử dụng hợp lý tài nguyên biển, kiểm soát xử lý ô nhiễm môi trường biển
và tổ chức phòng ngừa, ứng phó sự cố trên biển, “Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch
phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng, an ninh liên quan đến biển và hải đảo phải có
nội dung về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu”.
- Nghị quyết số 09/NQ-TW của Trung ương Đảng về Chiến lược biển Việt
Nam đến năm 2020 đã đề ra nhiệm vụ của phát triển kinh tế biển gắn với đảm bảo an
ninh quốc phòng vùng biển: "Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển KTXH với an ninh quốc phòng, để vừa bảo vệ chủ quyền, vừa phát triển kinh tế; xây dựng ở vùng duyên
hải các trung tâm kinh tế, khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất lớn gắn với các
hoạt động kinh tế biển để làm động lực quan trọng đối với sự nghiệp phát triển đất
nước", “... tổ chức phát triển không gian biển một cách tối ưu khoa học, trên cơ sở
phát huy tối đa lợi thế và nguồn lợi từ biển để phát triển KTXH trên từng vùng lãnh
18


thổ có vai trò quan trọng trong phát triển gắn với bảo vệ quốc phòng, an ninh chủ
quyền quốc gia”.
- Chương trình Hợp tác Việt Nam - Thụy Điển về “Tăng cường Năng lực
Quản lý Đất đai và Môi trường” nêu cách tiếp cận lồng ghép các yếu tố môi trường
và biến đổi khí hậu vào quá trình lập quy hoạch đất khu vực ven biển phù hợp với
các điều kiện và xu thế TTX của từng địa phương bao hàm một số nội dung sau: (i)
Xác định các mục tiêu phát triển trong kế hoạch phát triển KTXH và các quy
hoạch/kế hoạch ngành có tác động tới môi trường giúp cải thiện/giải quyết một số
vấn đề về môi trường, ví dụ: thiết lập cơ sở hạ tầng môi trường, di dời, phục hồi khu
vực bị ô nhiễm, thiết lập vùng đệm hạn chế tối đa diện tích rừng bị mất, trồng và
khoanh nuôi rừng, khuyến khích sản xuất sạch,...; (ii) Xác định các vấn đề về môi
trường, xu thế môi trường, điểm nóng môi trường của khu vực quy hoạch, bao gồm
nước biển dâng, thiếu hụt nguồn nước, lụt lội, bão, xâm nhập mặn,... Việc lồng ghép
các yếu tố môi trường, biến đổi khí hậu vùng ven biển vào quy hoạch sử dụng đất
trong đó chú trọng vào củng cố công tác đánh giá môi trường, đồng bộ hóa quy trình
đánh giá môi trường chiến lược trong tất cả các ngành nhằm thích ứng với các tác
động của phát triển kinh tế và biến đổi khí hậu là hết sức cần thiết.
Trong luận văn, vấn đề tổ chức không gian theo định hướng TTX thực chất
được hiểu là phân định các không gian trong cùng một lãnh thổ theo các đặc trưng
tổng hợp về tự nhiên, KT - XH - MT và lồng ghép các tiêu chí của TTX trong định
hướng phát triển. Đối với khu vực ven biển, vai trò của quy hoạch sử dụng đất khu
vực ven biển cũng cần phải được mở rộng hơn, bao trùm cả các yếu tố môi trường,
biến đổi khí hậu, xã hội và kinh tế. Các giải pháp cụ thể bao gồm:
- Xây dựng và sử dụng có hiệu quả hệ thống thông tin về tài nguyên đất ven
biển;
- Xây dựng và ban hành các chính sách, các quyết định về quản lý đất lưu vực
sông và đất ngập nước ven biển;
- Lồng ghép tốt hơn nữa các chính sách quốc gia với các kế hoạch hành động
quốc tế về việc chống thoái hóa và sử dụng đất bền vững.
- Quy hoạch và tổ chức không gian, duy trì, bảo tồn, mở rộng diện tích rừng
ngập mặn, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng ven biển, bãi bồi để bảo vệ môi trường
ven biển, chống xói lở và đẩy nhanh quá trình bồi lắng ven bờ là giải pháp cần thiết
và quan trọng.
1.2.4. Nội dung nghiên cứu về tổ chức không gian theo định hướng tăng trưởng
xanh cho các quận ven biển thuộc thành phố Hải Phòng
19


Qua lý luận cho thấy, dù sử dụng khái niệm tổ chức không gian hay tổ chức
lãnh thổ thì nội hàm chủ yếu cũng là sắp xếp các đối tượng/hoạt động của con người
trong một vùng lãnh thổ hay một không gian xác định, trong đó con người tổ chức tối
ưu hoạt động sản xuất của mình, hướng tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế, sử dụng
hợp lý tài nguyên thiên nhiên và BVMT.
Các quận ven biển có đầy đủ các yếu tố là cực tăng trưởng KTXH của trung
tâm TP. Hải Phòng, chính vì vậy phát triển KTXH của các quận ven biển luôn gắn
chặt với sự phát triển KTXH của Hải Phòng và là cầu nối liên kết Hải Phòng với Hà
Nội và các tỉnh phía Bắc. Để làm được điều này cần có sự phân tích những phân dị
địa lý nhằm xác định các cấu trúc không gian (cấu trúc lãnh thổ), các mối quan hệ
lãnh thổ, sự tác động qua lại với các cấu trúc không gian thành phần, các vấn đề quy
hoạch không gian KTXH, tài nguyên môi trường sẽ tác động đến cuộc sống, sinh kế,
tài nguyên thiên nhiên, cấu trúc xã hội, hạ tầng kỹ thuật và nền kinh tế trong đó quy
hoạch, tổ chức sử dụng hợp lý tài nguyên đất: đất đô thị, đất công nghiệp và dịch
vụ….có ý nghĩa quan trọng.
Nội dung nghiên cứu tổ chức không gian theo hướng TTX các quận ven biển
thuộc TP. Hải Phòng bao gồm:
- Phân tích hiện trạng, diễn biến về phát triển KTXH và chất lượng môi
trường các quận ven biển thuộc TP. Hải Phòng.
- Phân tích và đánh giá thực trạng quy hoạch, phân vùng chức năng phát triển
KTXH và quản lý môi trường khu vực nghiên cứu dưới góc độ TTX.
- Phân tích và đánh giá các vấn đề về KTXH và môi trường nổi cộm tại các
tiểu vùng chức năng.
- Đề xuất phương án tổ chức không gian theo định hướng TTX tại khu vực
nghiên cứu.
1.3. QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG PHÁP VÀ CÁC BƯỚC NGHIÊN CỨU
1.3.1. Các quan điểm nghiên cứu
- Quan điểm tổng hợp:
Nghiên cứu này được thực hiện theo nhiều công đoạn, từ phân tích hiện
trạng, đánh giá biến động sử dụng đất, các yếu tố tự nhiên, kinh tế xã hội, cho đến
các định hướng phát triển và điều kiện môi trường cụ thể của địa phương. Các kết
quả nghiên cứu đưa ra vừa có tính khoa học, vừa phản ánh điều kiện khách quan, phù
hợp với các điều kiện đặc thù của lãnh thổ nghiên cứu, là tài liệu tham khảo cho các
cơ quan quản lý trong việc lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch tổ chức không gian
đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững của các quận.
20


- Quan điểm phát triển bền vững:
Với mục tiêu định hướng tổ chức không gian lâu dài được đặt ra cho các
quận, khu vực này có thể quy hoạch cũng như hoạch định chính sách một cách chính
xác phù hợp và hiệu quả nhất cho quá trình phát triển bền vững của vùng. Với quan
điểm nghiên cứu này, việc tổ chức không gian hợp lý, đảm bảo đầy đủ chức năng của
không gian lãnh thổ sẽ đảm bảo cho khu vực nghiên cứu có một lộ trình phát triển
phù hợp và đưa ra những chính sách quản lý phù hợp với đặc trưng của các tiêu vùng
theo hướng phát triển bền vững.
1.3.2. Hệ phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp kế thừa:
Những dữ liệu, tài liệu và các văn bản pháp lý cũng như những bài báo, tạp
chí thu thập được trong và ngoài nước về khu vực nghiên cứu cũng như các tài liệu
phù hợp với mục tiêu nghiên cứu trong những năm gần đây được sử dụng giúp làm
rõ cơ sở khoa học và cơ sở pháp lý trong đề xuất giải pháp.
- Các phương pháp khảo sát trên thực địa:
Được sử dụng nhằm thu thập thông tin và dữ liệu cần thiết thông qua bảng
hỏi, quan sát và phỏng vấn, thảo luận trực tiếp tại thực thực địa, lấy ý kiến phản hồi
về dữ liệu, phương án.
- Phương pháp phân tích SWOT:
Phương pháp phân tích SWOT (còn gọi là ma trận SWOT) là phương pháp
phân tích các điểm mạnh (Strengths), điểm yếu (Weaknesses), cơ hội (Opportunities)
và rủi ro (Threats). Điểm mạnh và điểm yếu là sở trường và sở đoản là những yếu tố
hệ thống tạo nên (hoặc làm giảm) giá trị của các không gian được tổ chức. Trong khi,
cơ hội và rủi ro là các yếu tố tồn tại bên ngoài hệ thống tạo nên (hoặc làm giảm) giá
trị các không gian được tổ chức. Cơ hội và rủi ro xuất phát từ yếu tố địa lý, kinh tế,
chính trị, xã hội, hay văn hóa. Phân tích SWOT nhằm vào việc đánh giá và xác định
thách thức - cơ hội - điểm mạnh - điểm yếu trong định hướng tổ chức không gian.
- Phương pháp tham vấn ý kiến chuyên gia:
Quá trình tham vấn được thực hiện ở 2 cấp quản lý Nhà nước về môi trường:
Bộ Tài nguyên và Môi trường và Sở Tài nguyên và Môi trường TP. Hải Phòng. Bản
đồ phân vùng chức năng, bản đồ tổ chức không gian và các bảng nội dung thuyết
minh sau khi xây dựng được gửi cho một số chuyên gia ở cấp Bộ và cấp Sở xem xét,
đánh giá và góp ý. Các nội dung tham vấn đề cập tới tính phù hợp về cơ sở pháp lý

21


và tính xác thực đối đối với điều kiện thực tiễn địa phương của bản đồ định hướng
TTX.
- Phương pháp bản đồ và hệ thông tin địa lý (GIS):
Phương pháp được sử dụng tại nhiều thời điểm khác nhau trong quá trình
nghiên cứu nhằm thể hiện mối quan hệ giữa các đối tượng địa lý trong không gian
lãnh thổ TP. Hải Phòng. Phương pháp cho phép sử dụng bản đồ nghiên cứu trên thực
địa và lập bản đồ chuyên đề. Phần mềm được sử dụng để thành lập các bản đồ
chuyên đề là MapInfo 10.0.
1.3.3. Các bước nghiên cứu
Luận văn được thực hiện theo các bước sau:
- Bước 1: Thu thập các tài liệu về TTX ở trong và ngoài nước, điều kiện tự
nhiên, KTXH, về mục tiêu chiến lược, quy hoạch phát triển KTXH, phát triển đô thị,
BVMT; số liệu thống kê kết quả phát triển KTXH các năm, các giai đoạn phát triển
của khu vực nghiên cứu; các định hướng phát triển chung của vùng Đồng Bằng Bắc
Bộ, của TP. Hải Phòng, các bản đồ hành chính, bản đồ quy hoạch không gian…
- Bước 2: Điều tra khảo sát thực tế, tổng hợp, phân tích tài liệu, số liệu.
- Bước 3: Phân vùng chức năng dự trên các tiêu chí tổng hợp
- Bước 4: Đề xuất định hướng tổ chức không gian phục vụ TTX các quận ven
biển thuộc TP. Hải Phòng.

22


Chương 2 - PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG VÀ DIỄN BIẾN VỀ
KINH TẾ XÃ HỘI VÀ MÔI TRƯỜNG TẠI CÁC QUẬN
VEN BIỂN THUỘC THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
2.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
Khu vực nghiên cứu gồm 5 quận nội thành ven biển thuộc TP. Hải Phòng là
Hồng Bàng, Ngô Quyền, Hải An, Dương Kinh và Đồ Sơn. Các quận nằm ở phía
đông nam của thành phố, có vị trí địa lý trong khoảng 20°40’66” - 20°52’98” vĩ độ
Bắc và 106°37’14” - 106°48’57” kinh độ Đông; phía Bắc và Đông Bắc giáp huyện
Thủy Nguyên, phía Tây Bắc giáp huyện An Dương, quận Lê Chân, phía Tây Nam
giáp huyện Kiến An, Kiến Thụy và phía Đông là biển Đông (hình 1.1). Khu vực
nghiên cứu có tổng diện tích khoảng 218,6 km2, bao gồm 45 phường chiếm 14,39%
diện tích toàn thành phố. Vị trí địa lý tạo cho khu vực nghiên cứu nhiều lợi thế trong
phát triển kinh tế xã hội. Nằm ở dải ven biển, khu vực có các đầu mối giao thông
quan trọng, bao gồm các tuyến đường bộ (điển hình là Quốc lộ 5 nối liền Hà Nội với
Hải Phòng), đường thuỷ (với mật độ cảng lớn như cảng Chùa Vẽ, cảng Cửa Cấm,
cảng Quân sự và một số cảng chuyên dùng khác), đường sắt (từ ga Lạc Viên đến
cảng Chùa Vẽ) và đường hàng không (sân bay Cát Bi). Địa bàn các quận được bao
quanh bởi hệ thống sông Lạch Tray, sông Cấm có cửa Nam Triệu đổ ra Vịnh Bắc
Bộ. Các đặc điểm trên là lợi thế quan trọng phục vụ phát triển kinh tế, xã hội (điển
hình là các hoạt động phát triển cảng biển, khu công nghiệp ven biển, đô thị...) của
các quận ven biển nói riêng và TP. Hải Phòng nói chung. Địa hình khu vực có tính
phân bậc thể hiện xu hướng thấp dần về phía nam. Theo Nguyễn Đức Đại (1996),
khu vực Hải Phòng có 4 kiểu địa hình chính: núi đá vôi, đồi núi thấp, đồi núi sót và
đồng bằng. Các quận ven biển chủ yếu là địa hình đồng bằng ven biển có độ cao từ
2-10 m, cao ở phía tây bắc, bắc và thấp dần về phía nam, đông nam tới bờ biển.
Trong khu vực có các hệ thống đứt gãy tân kiến tạo và kiến tạo hiện đại với 3
hướng chủ đạo: tây bắc - đông nam; đông bắc - tây nam và á vĩ tuyến. Các thành tạo
địa chất ở khu vực nghiên cứu được chia thành: các thành tạo đá gốc trước Đệ Tứ và
các trầm tích Đệ Tứ. Trong đó, các thành tạo trong khu vực nghiên cứu chủ yếu là
trầm tích Đệ tứ với nhiều nguồn gốc khác nhau: biển, biển - sông, sông biển, đầm lầy
- biển, hồ - đầm lầy. Trầm tích phổ biến là các loại hạt mịn như bùn, bột, sét bột, màu
tím, xám đen, xám nâu thùy thuộc vào từng loại nguồn gốc. Tại huyện Thủy Nguyên
có thể quan sát thấy các dải đồi đá vôi và đá phiến sét; tại quận Đồ Sơn quan
23


Hình 2.1. Bản đồ vị trí khu vực nghiên cứu trong thành phố Hải Phòng
24


sát thấy các dải đồi đá phiến sét chiếm ưu thế. Các dải đồi thành tạo trên đá phiến sét
có dạng sót này nằm trong đất liền và các dải hẹp xen kẽ với đá vôi, chủ yếu được
hình thành trên đá sét thành phần chính là các hạt sét có đường kính <0,01mm, ngoài
khoáng sét còn có sắt, canxi,... bị ép lại tạo thành từng lớp khá rõ rệt. Đá chịu sự
phong hoá mạnh của các yếu tố tự nhiên nên đất hình thành do sản phẩm phong hoá
của loại đá này tầng đất dày, thành phần cơ giới nặng, màu đỏ vàng, độ phì tự nhiên
khá, bề mặt tương đối bằng phẳng, đường chia cắt không rõ, sườn phẳng hoặc hơi
lồi, độ dốc trung bình 15-25o.
Bờ biển các quận nghiên cứu có hướng một đường cong lõm của bờ vịnh Bắc
Bộ, thấp và khá bằng phẳng, cấu tạo chủ yếu là cát bùn do 5 cửa sông chính đổ ra.
Trên đoạn chính giữa bờ biển, mũi Đồ Sơn nhô ra như một bán đảo, đây là điểm mút
của dải đồi núi chạy ra từ trong đất liền, có cấu tạo đá cát kết tuổi Đevon, đỉnh cao
nhất đạt 125 m, độ dài nhô ra biển 5 km theo hướng Tây Bắc - Đông Nam.
Về khí hậu, khu vực nghiên cứu mang những đặc trưng chung của thành phố
Hải Phòng, hoàn toàn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, chịu ảnh
hưởng của khí hậu biển, mùa hè nóng, mưa nhiều; mùa đông lạnh và khô. Bình quân
số liệu nhiều năm một số chỉ tiêu khí tượng cho thấy:
- Mùa hạ nóng kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, nhiệt độ trung bình đạt trên
25 C, mưa nhiều, lượng mưa tháng ổn định ở khoảng trên 100 mm. Mùa đông lạnh
kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau; nhiệt độ trung bình dưới 20oC. Tổng tích
ôn năm khoảng 8.500oC. Độ ẩm không khí trung bình năm 84%; tổng thời gian nắng
1690 giờ. Lượng mưa trung bình năm dao động từ 1500-1700 mm, nhưng phân bố
không đều trong các tháng. Từ tháng 5 đến tháng 9 lượng mưa trung bình tháng trên
170 mm và chiếm khoảng 76 - 80% lượng mưa cả năm, các tháng còn lại có lượng
mưa dưới 100 mm/tháng là những tháng thiếu ẩm.
o

- Bão hàng năm thường xảy ra vào khoảng thời gian từ tháng 5 đến tháng 9.
Bão kèm mưa lớn kéo dài hàng ngày với lượng 200-300 mm gây vỡ đê biển, gây
nhiễm mặn hoặc ngập úng trên diện rộng.
- Gió mùa Đông- Nam thịnh hành từ tháng 5 đến tháng 10; gió mùa Đông-Bắc
từ tháng 3 đến tháng 11 năm sau.
Khu vực nghiên cứu có mạng lưới sông dày đặc thuộc phần hạ lưu của hệ
thống sông Thái Bình. Hầu hết các sông lớn trong khu vực đều là sông nhánh cấp 2
hoặc cấp 3 của hệ thống sông chung. Các sông lớn đều có cửa trực tiếp đổ ra biển và
chịu ảnh hưởng của chế độ thuỷ triều vịnh Bắc Bộ. Chế độ dòng chảy ở mỗi sông
phân bố không đều theo mùa: mùa lũ chiếm 75-85% lượng dòng chảy cả năm, trong
đó 3 tháng 7,8,9 có lượng dòng chảy lớn nhất chiếm 50-70%. Tổng lượng lũ lớn nhất
25


x

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×