Tải bản đầy đủ

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG và PHÂN TÍCH DIỄN BIẾN CHẤT LƯỢNG nước mặt TỈNH NGHỆ AN

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Dương Thanh Nga

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ PHÂN TÍCH DIỄN BIẾN
CHẤT LƯỢNG NƯỚC MẶT TỈNH NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội – Năm 2012


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Dương Thanh Nga

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ PHÂN TÍCH DIỄN BIẾN
CHẤT LƯỢNG NƯỚC MẶT TỈNH NGHỆ AN


CHUYÊN NGÀNH

: MÔI TRƯỜNG

MÃ SỐ

: 60 85 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: PGS.TS LƯU ĐỨC HẢI

Hà Nội – Năm 2012


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS.
Lưu Đức Hải đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình viết khóa luận tốt
nghiệp.
Tôi chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô trong khoa Môi trường, Trường Đại
học Khoa học Tự nhiên đã tận tình truyền đạt kiến thức trong 2 năm học tập. Với
vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học không chỉ là nền tảng cho quá
trình nghiên cứu luận văn mà còn là hành trang quí báu để tôi bước vào đời một
cách vững chắc và tự tin. Xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong hội đồng
chấm luận văn đã cho tôi những đóng góp quý báu để hoàn chỉnh luận văn này.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tập thể Lãnh đạo, nhân viên Trung tâm
Quan trắc và Kỹ thuật Môi trường Nghệ An đã tạo điều kiện thuận lợi, cung cấp
nguồn số liệu phong phú để tôi có thể hoàn thành tốt luận văn này. Cảm ơn gia
đình đã luôn ở bên, giúp đỡ, động viên, tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành đề
tài.
Cuối cùng Tôi kính chúc quý Thầy, Cô dồi dào sức khỏe và thành công
trong sự nghiệp cao quý!

Vinh, ngày 25 tháng 12 năm 2012
Người thực hiện

Dương Thanh Nga


MỤC LỤC


DANH MỤC BẢNG BIỂU


DANH MỤC HÌNH


MỞ ĐẦU
70% cơ thể con người là nước (não chứa 85% nước, xương 22%, cơ bắp
75%, máu 92%, dịch bao tử 95%, răng 10%...). Nước là nguồn tài nguyên rất quan
trọng đối với sự sống và phát triển của con người. Tuy nhiên, tài nguyên nước mặt
trên Thế giới vô cùng hạn chế. Nước được dùng trong các hoạt động nông nghiệp,
công nghiệp, dân dụng, giải trí và môi trường. Hầu hết các hoạt động trên đều cần
nước ngọt. 97% nước trên Trái Đất là nước biển, chỉ 3% còn lại là nước ngọt nhưng
gần hơn 2/3 lượng nước này tồn tại ở dạng băng hà tại hai cực và băng tuyết trên
các đỉnh núi cao[16]. Phần còn lại không đóng băng được tìm thấy chủ yếu ở dạng
nước ngầm (0,6%), và chỉ một tỷ lệ nhỏ tồn tại trên mặt đất và trong không khí
(0,03%).
Là quốc gia nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, tổng lượng mưa lớn, Việt
Nam có nguồn tài nguyên nước mặt phong phú. Tổng lượng dòng chảy trong năm
đạt 835,5Km3, lượng nước bình quân 9210 m3/nguời/năm, cao hơn so với trung bình
thế giới. Tuy nhiên, tài nguyên nước mặt của chúng ta hiện đang chịu tác động
mạnh mẽ bởi các hoạt động của con người dẫn đến cạn kiệt và ô nhiễm nguồn nước.
Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Nghệ An, vị thế của tài
nguyên nước mặt ngày càng được nâng cao và coi trọng. Theo chỉ tiêu đánh giá của
Hội tài nguyên nước Quốc tế (IWRA), Nghệ An được xếp vào khu vực đủ nước sử
dụng. Chất lượng nước mặt ngày càng trở thành vấn đề quan tâm của các cấp các
ngành cũng như cộng đồng dân cư hưởng lợi từ nguồn tài nguyên này. Hiện tại trên
địa bàn tỉnh Nghệ An, công tác điều tra cơ bản về tài nguyên nước cũng như khả
năng tiếp nhận của các nguồn nước bắt đầu được tiến hành tại một số huyện. Báo
cáo tổng quan về hiện trạng chất lượng nước mặt trên địa bàn tỉnh Nghệ An phục vụ
công tác quản lý nhà nước, cũng như cung cấp thông tin đến cộng đồng hiện chưa
được thực hiện. Từ nhu cầu thực tế đó, tác giả luận văn đã chọn đề tài “Đánh giá
hiện trạng và phân tích diễn biến chất lượng nước mặt trên địa bàn tỉnh Nghệ An”
giai đoạn 2010 -2012 , đề xuất một số giải pháp bảo vệ chất lượng nước mặt trên địa bàn.

6


Chương 1- TỔNG QUAN

1.1.

Tổng quan về đánh giá và phân tích diễn biến chất lượng nước
Hiện trạng môi trường của khu vực hoặc quốc gia là trạng thái môi trường

được thể hiện chủ yếu trên 3 phương diện: hiện trạng môi trường tự nhiên, hiện
trạng kinh tế - xã hội tác động lên môi trường và các giải pháp bảo vệ môi trường đã
thực hiện.
Đánh giá hiện trạng môi trường cung cấp một bức tranh tổng thể về tình
trạng của môi trường và tài nguyên thiên nhiên, tác động của các hoạt động của con
người đến tình trạng môi trường cũng như các mối quan hệ của chúng đến sức khỏe
và phúc lợi kinh tế của con người.
Đánh giá hiện trạng môi trường nước là bộ phận của đánh giá hiện trạng môi
trường, cung cấp bức tranh tổng thể về hiện trạng môi trường nước và tác động của
con người đến hiện trạng đó; cũng như các mối quan hệ của chúng đến sức khỏe và
phúc lợi kinh tế của con người; đồng thời phân tích diễn biến chất lượng nước.

1.2.

Tổng quan về môi trường nước mặt

1.2.1. Định nghĩa nước mặt
Nước mặt là một dạng tài nguyên nước. “ Nước mặt là nước tồn tại trên mặt
đất liền và hải đảo” [2].
Nước mặt là nước trong sông, hồ hoặc nước ngọt trong vùng đất ngập nước.
Nước mặt được bổ sung một cách tự nhiên bởi nước mưa và chúng mất đi khi chảy
vào đại dương, bốc hơi và thấm xuống đất.

1.2.2. Các dạng tồn tại của nước mặt
Các dạng tồn tại chủ yếu của nước mặt trên thế giới là:

- Nước băng tuyết trên các vùng núi cao và địa cực
- Nước hồ
- Nước đầm lầy
- Nước sông, suối

7


1.2.3. Trữ lượng nước mặt
Trữ lượng nước hồ hiện nay vẫn chưa có số liệu thống kê đầy đủ. Ước tính
sơ bộ trên toàn thế giới có 2,8 triệu hồ tự nhiên, trong đó145 hồ có có diện tích mặt
nước trên 100 Km2, chiếm 95% tổng khối lượng nước, trong đó có 56% là các hồ
nước ngọt. Ngoài ra, trên lục địa còn có trên 10.000 hồ nhân tạo có sức chứa 5000
Km3 (1,78%)nhằm chứa nước phục vụ cho nhu cầu của con người[16].
Bảng : Đặc trưng một số hồ nhân tạo lớn trên thế giới[16]
Tên hồ

Vị trí
Sông

Oden-fols và Vicloria
Nil
Bratxk
Angara
Cariba
Zambezi
Naxer
Nit
Volta
Volta

Châu, Nước
Châu Phi
CHLB Nga
Dămbia và Rodedia Nam
Xuđăng, Ai Cập
Gana

Dung
tích
(Km3)
205
169,3
160,4
157,0
148,0

Diện
tích
(Km2)
76000
5470
4450
5120
8480

Ở Việt Nam, hầu hết các hồ chứa đều được xây dựng cho nhiều mục đích
khác nhau như phòng chống lũ lụt, tưới tiêu, thủy điện, cấp nước và các mục tiêu
quản lý lưu lượng dòng chảy khác. Cả nước có khoảng 3.600 hồ chứa, trong đó
chưa đến 15% là các hồ cỡ vừa và lớn (dung lượng trên 1 triệu m 3 hoặc có độ cao
lớn hơn 10m).
Bảng : Một số hồ chứa ở Việt Nam[16]
Hồ chứa
Hòa Bình
Thác Bà
Trị An
Dầu Tiếng
Thác Mơ
Yaly
Phú Ninh
Kẻ Gỗ
Hồ Cửa Đạt
Hồ Vực Mấu
Núi Cốc
Cấm Sơn

Diện tích lưu vực
(km2)
51.700
6.100
14.600
2.700
2.200
7.455
235
223
-

Dung tích Diện tích tưới tiêu Thủy điện
(106. M3)
(ha)
(MW)
9.450
1.920
2.940
108
2.760
420
1.580
7.200
1.370
150
1.037
720
414
23.000
345
17.000
1.450
87.000
97
26,4
1524
175
250
-

8


Sông Rác

-

124,5

-

-

Nước đầm lầy ước tính 11.470 km3 với tổng diện tích 2.682 km2 . Trong đó
trên phần lãnh thổ châu Âu là 925 km 2 , châu Phi 341 km2 , Bắc Mỹ 180 km2 , Nam
Mỹ 1332 km2 và châu Úc 4 km2. Đầm lầy ở nước ta phân bố chủ yếu ở Đồng bằng
sông Cửu Long. Đây là các đầm lầy ngập không thường xuyên, tập trung ở vùng
Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên[17].
Nước sông luôn vận động và tuần hoàn. Tuy thể tích chứa của các sông ước
tính khoảng 1.200 km3 nhưng tổng lượng dòng chảy của sông rất phong phú, lên tới
41.500 km3/ năm, nghĩa là dòng sông tái hồi. Tái hồi trung bình 34,6 lần trong năm.
Nhờ vậy khả năng khai thác dòng sông cho các mục đích khác nhau tăng lên đáng
kể. Điểm nổi bật là dòng chảy của sông phân bố không đều theo không gian và thời gian.
Bảng : Dòng chảy sông theo lục địa
Tên lục
địa

Diện tích
Lượng dòng chảy bình quân năm
3
2
(10 km ) Tổng số Bình quân diện tích Bình quân đầu người
(km3)
( 103 m3/ người)
( 103km3 / người)
Châu Á
44.363
13.400
302
4,6
Châu Mỹ 42.081
17.822
914
37,9
Châu Phi 30.319
4.020
133
8,9
Châu Úc
8.511
1.890
222
75,6
Châu Âu
10.507
3.140
299
6,8
Toàn cầu 148.817 41.500
279
9,02
Bảng : Tài nguyên nước của các sông chính ở Việt Nam
Diện tích lưu vực
Lưu vực
Tổng diện tích % tạo ra
sông
ở VN (km2) trong VN
Kỳ Cùng –
11.220
94
Bằng Giang
Hồng – Thái
155.000
55
Bình
Mã – Chu
28.400
62
Cả
27.200
65
Thu Bồn
10.350
100
Ba
13.900
100
Đồng Nai
44.100
85
Mê Kông
795.000
8

9

Tổng
(Tỷ m3)

Tổng dung lượng
Tổng lưu lượng % tạo ra
tạo ra trong VN trong VN

8,9

7,3

82

137

80,3

59

20,2
27,5
17,9
13,8
36,6
580

16,5
24,5
17,9
13,8
32,6
55

82
89
100
100
89
11


Việt Nam có hệ thống sông ngòi dày đặc, trong đó khoảng 2.360 sông có
chiều dài lớn hơn 10km. Cả nước có 8 con sông có diện tích lưu vực lớn, trên
10.000km2. Tổng dòng chảy trong năm đạt 835 tỉ m3, mùa khô chỉ chiếm 15% -30%
tổng lượng dòng chảy cả năm.

1.2.4. Chất lượng nước mặt
Chất lượng nước mặt được đánh giá qua nồng độ hoặc hàm lượng các tác
nhân vật lý, hóa học, sinh học có trong nước qua các tiêu chuẩn cho từng mục đích
sử dụng. Thông thường con người sử dụng nước với 5 mục đích:

- Nước cấp sinh hoạt
- Nước phục vụ cho nông nghiệp
- Nước phục vụ nuôi trồng thủy sane và bảo vệ đời sống hoang dã
- Nước phục vụ cho nhu cầu giải trí, thể thao dưới nước
- Nước cấp cho công nghiệp
Mỗi mục đích sử dụng cần có tiêu chuẩn và phương pháp đánh giá riêng về
mức độ phù hợp cho nhu cầu sử dụng.

1.2.4.1. Chất lượng nước sông ở Việt Nam
Đặc trưng nổi bật của chất lượng nước sông ở Việt Nam là độ đục khá lớn do
hiện tượng xói mòn rửa trôi. 80 – 90% tổng lượng cát bùn trong năm tập trung vào
mùa lũ[16]. Độ đục trung bình năm biến đổi từ 100g/m 3 đến 500g/m3. Hệ thống sông
Hồng có độ đục lớn nhất, có khi lên đến 1000g/m3[16]. Hàng năm, các sông ngòi Việt
Nam chuyển ra biển 400 -500 triệu tấn cát bùn, riêng sông Hồng khoảng 120 triệu
tấn.
Độ khoáng hóa của sông Việt Nam vào loại trung bình, khoảng 25 – 250
mg/l. Nước thuộc loại mềm và rất mềm. Nhiều vùng bị nhiễm mặn, đặc biệt là vào
mùa kiệt, điển hình là Đồng bằng sông Cửu Long[16].
Về tổng thể, chất lượng nước mặt ở nước ta khá tốt, ít bị ô nhiễm, đáp ứng
tiêu chuẩn sử dụng nước. Việc rửa trôi, pha loãng nước sông vào mùa lũ giúp các
sông nhanh chóng phục hồi trạng thái, chất lượng nước được đảm bảo. Song không
vì thế mà xem nhẹ vấn đề chống ô nhiễm. Sự tăng trưởng các ngành công nghiệp,

10


nông nghiêp đi kèm quá trình đô thị hóa đã gây ô nhiễm môt số đoạn sông và nguy
cơ ô nhiễm cao một số sông ngòi đi qua thành phố lớn và các khu công nghiệp.
Một số sông có hiện tượng ô nhiễm cục bộ do sản xuất công nghiệp, nông
nghiệp, chế biến lâm sản và chất thải sinh hoạt chưa qua xử lý…Ô nhiễm dầu, hiện
tượng axit hóa rất phổ biến và mức độ ô nhiễm có xu hướng tăng dần về phía hạ lưu
trên sông Sài Gòn và sông Đồng Nai. Ô nhiễm trên các sông chảy qua một số đô thị
lớn ( Hải Phòng, Huế, Hạ Long), mức độ ô nhiễm đều vượt TCCP loại A. Các sông
nội thành Hà Nội đã bị ô nhiễm, đặc biệt là các sông thoát nước thải như Kim
Ngưu, Tô Lịch…Các sông này không còn khả năng tự làm sạch, chất lượng nước
không đạt tiêu chuẩn cho phép loại B.

1.2.4.2. Chất lượng nước ao hồ Việt Nam
Hệ thống các ao, hồ, kênh rạch ở các thành phố lớn đều có hiện tượng ô
nhiễm ở các mức độ khác nhau. Các hồ trong nội thành ở các thành phố lớn (Hà
Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Huế) phần lớn ở tình trạng thái phú
dưỡng. Một số hồ chất lượng còn khá sạch (đạt tiêu chuẩn loại B) như hồ Tây, Đầm
Vạc (Vĩnh Phúc) có hàm lượng chất hữu cơ cao hơn TCCP loại B. Hồ Thành (Bắc
Ninh), hồ Bạch Đằng ( Hải Dương) đang bị ô nhiễm nặng. Ở vùng ngoại thành và
nông thôn, chất lượng môi trường nước hồ, ao được cải thiện, đã và đang đáp ứng
nhu cầu về sử dụng nước.
Trong sự nghiệp hiện đại hóa đất nước, sự tăng trưởng các ngành công
nghiệp, nông nghiệp đã kèm quá trình đô thị hóa đã gây ô nhiễm một số đoạn sông
và nguy cơ ô nhiễm cao ở một số sông ngòi đi qua các thành phố lớn, các khu công
nghiệp. Gây ô nhiễm nặng một số hồ là nơi tiếp nhận nguồn nước thải. Đây là vấn
đề thách thức lớn đối với việc khai thác, sử dụng nước trong tương lai.

1.2.5. Các tác nhân gây ô nhiễm nước mặt
Ô nhiễm môi trường nước có thể gây ra do hiện tượng tự nhiên (núi lửa, lũ
lụt, xâm nhập mặn, phong hóa…) nhưng hoạt động của con người là nguyên nhân
phổ biến và quan trọng nhất. Các hoạt động của con người trong sinh hoạt, sản xuất
công nghiệp, nông nghiệp, khai khoáng, xây dựng các công trình thủy lợi, giao

11


thông đường thủy, du lịch…đưa khối lượng lớn nguồn thải vào nước sông, hồ, gây
suy giảm rõ rệt chất lượng nước tự nhiên ở hầu hết các quốc gia trên thế giới.
Có nhiều loại tác nhân gây ô nhiễm nguồn nước, tuy nhiên để tiện lợi cho
việc quan trắc và kiểm soát ô nhiễm người ta có thể chia chúng làm 10 nhóm cơ bản
sau:
+ Các chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học
+ Các chất hữu cơ bền
+ Các kim loại nặng
+ Các ion vô cơ
+ Các khí độc hòa tan
+ Dầu mỡ
+ Các chất phóng xạ
+ Vi sinh vật gây bệnh
+ Các chất có mùi
+ Các chất thải rắn
1.3. Các Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An
Thành phần tự nhiên của nước nước mặt chịu tác động to lớn của các yếu tố
như vị trí địa lý, địa chất, địa hình, điều kiện khí hậu, thủy văn, ...cũng như điều
kiện kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An.
1.3.1. Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý
Nghệ An là tỉnh thuộc vùng Bắc Trung Bộ, có tọa độ địa lý 18 033’10’’ đến
20001’43’’ vĩ độ Bắc và từ 103052’53’’ đến 105048’50’’ kinh độ Đông. Với vị trí tiếp
giáp:
Phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hóa;
Phía Đông giáp biển Đông;
Phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh;
Phía Tây giáp nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào.

12


Tỉnh Nghệ An có 1 thành phố loại 2, 02 thị xã và 17 huyện: Thành phố Vinh;
Thị xã Cửa Lò; Thị xã Thái Hòa; 10 huyện miền núi: Thanh Chương, Kỳ Sơn,
Tương Dương, Con Cuông, Anh Sơn, Tân Kỳ, Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp,
Nghĩa Đàn; 7 huyện đồng bằng: Đô Lương, Nam Đàn, Hưng Nguyên, Nghi Lộc,
Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Yên Thành.
Nghệ An nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, chịu tác động mạnh
mẽ của các loại gió thổi theo mùa. Gió mùa mùa đông khô, lạnh tuy nhiên khi vào
đến Nghệ An độ ẩm được cải thiện phần nào nhờ vùng biển rộng lớn. Gió mùa mùa
hạ khô nóng, thiêu đốt vùng núi phía tây, tới tận đồng bằng ven biển.
- Địa chất
Các thành tạo địa chất trên địa bàn tỉnh Nghệ An được phân chia theo nguồn
gốc thành: các đá dạng xâm nhập, phun trào, biến chất, trầm tích và các tích tụ bở
rời.
Các loại đá xâm nhập phân bố dưới dạng các khối hoặc dải núi lớn, điển hình
ở khối Phu Hoạt (H. Quế Phong), khối Phu Lon (H. Kỳ Sơn). Ngoài ra, chúng còn
thể hiện dưới dạng các núi sót rải rác như ở khu vực H. Quỳ Châu, Quỳ Hợp.
Các đá phun trào phân bố chủ yếu dưới dạng lớp phủ bazan, điển hình ở khu
vực huyện Nghĩa Đàn, thị xã Thái Hòa.
Các thành tạo biến chất phân bố tập trung ở phía Tây Bắc tỉnh, chủ yếu trên
địa bàn huyện Quế Phong, Quỳ Châu.
Các thành tạo trầm tích chiếm tỷ lệ diện tích lớn nhất so với các loại đá khác
trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Trong đó chia làm 2 nhóm: nhóm trầm tích lục địa, vũng
vịnh ven rìa và trầm tích biển khơi.
Hoạt động kiến tạo phá hủy hình đồ cấu trúc cổ, tạo lập cấu trúc mới, làm
biến vĩ mạnh mẽ đất đá. Những dấu hiệu đặc trưng cho hoạt động đứt gãy khác như:
các đới đập vỡ, dăm kết, mặt trượt, vết xước, phay cũng như những dấu hiệu đặc
trưng riêng cho đứt gãy giai đoạn Tân kiến tạo, thể hiện trên ảnh vệ tinh và địa hình;

13


làm biến dạng các thành tạo Kainozoi; làm xuất hiện các dị thường về địa hóa, địa
nhiệt, xuất lộ các nguồn nước khoáng, nước nóng.
- Địa hình
Nằm ở Đông Bắc dãy Trường Sơn, Nghệ An có địa hình đa dạng, phức tạp,
bị chia cắt mạnh bởi các dãy đồi núi và hệ thống sông, suối. Về tổng thể, địa hình
nghiêng theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, với ba vùng sinh thái rõ rệt: Miền núi,
Trung du, Đồng bằng ven biển. Trong đó, miền núi chiếm tới 83% diện tích lãnh
thổ. Địa hình có độ dốc lớn, đất có độ dốc lớn hơn 8 O chiếm gần 80% diện tích tự
nhiên toàn tỉnh, đặc biệt có trên 38% diện tích đất có độ dốc lớn hơn 25 0. Nơi cao
nhất là đỉnh Pulaileng (2.711m) ở huyện Kỳ Sơn, thấp nhất là vùng đồng bằng các
huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Yên Thành, có nơi chỉ cao 0,2 m so với mặt nước
biển (xã Quỳnh Thanh, huyện Quỳnh Lưu). Đặc điểm địa hình trên là một trở ngại
lớn cho việc phát triển mạng lưới giao thông đường bộ, đặc biệt là các tuyến giao
thông vùng trung du và miền núi, gây khó khăn cho phát triển lâm nghiệp và bảo vệ
đất đai khỏi bị xói mòn, gây lũ lụt cho nhiều vùng trong tỉnh. Tuy nhiên, hệ thống
sông ngòi có độ dốc lớn, với 117 thác lớn, nhỏ là tiềm năng lớn có thể khai thác để
phát triển thuỷ điện và điều hoà nguồn nước phục vụ sản xuất và dân sinh.
- Đất đai
Nghệ An có diện tích tự nhiên là 16.490,25 km 2. Hơn 80% diện tích là vùng
đồi núi nằm ở phía tây gồm 10 huyện, và 1 thị xã; Phía đông là phần diện tích đồng
bằng và duyên hải ven biển gồm 7 huyện, 1 thị xã và thành phố Vinh. Phân chia
theo nguồn gốc hình thành thì có các nhóm đất như sau:
+ Đất nguồn gốc trầm tích
Phân bố tập trung chủ yếu ở các huyện đồng bằng, ven biển, bao gồm 5
nhóm đất: đất cát; đất phù sa, dốc tụ; đất mặn; đất phèn mặn; đất bạc màu và biến
đổi do trồng lúa. Chiếm vị trí quan trọng trong số này có 189.000 ha đất phù sa và
nhóm đất cát, có ý nghĩa lớn đối với sản xuất nông nghiệp của tỉnh. Sau đây là đặc
điểm của hai loại chính:

14


* Đất cát cũ ven biển: 21.428 ha (tập trung ở vùng ven biển), đất có thành
phần cơ giới thô, kết cấu rời rạc, dung tích hấp thụ thấp. Các chất dinh dưỡng như
mùn, đạm, lân đều nghèo, kali tổng số cao, nhưng kali dễ tiêu nghèo, thích hợp và
đã được đưa vào trồng các loại cây như: rau, lạc, đỗ, dâu tằm, ... .
* Đất phù sa thích hợp với canh tác cây lúa nước và màu: Bao gồm đất phù
sa được bồi hàng năm, đất phù sa không được bồi, đất phù sa lầy úng, đất phù sa cũ
có sản phẩm Feralit. Nhóm này có diện tích khoảng 163.202 ha, trong đó đất phù sa
không được bồi hàng năm chiếm khoảng 60%. Đất thường bị chia cắt mạnh,
nghiêng dốc và lồi lõm, quá trình rửa trôi diễn ra liên tục cả bề mặt và chiều sâu.
Loại đất này tập trung chủ yếu ở vùng đồng bằng, phần lớn được dùng để trồng lúa
nước (khoảng 74.000 ha). Các dải đất, bãi bồi ven sông và đất phù sa cũ có địa hình
cao hơn thường trồng ngô và cây công nghiệp ngắn ngày khác.
* Ngoài hai loại đất chính trên còn có đất cồn cát ven biển và đất bạc màu,
tuy nhiên, diện tích nhỏ và có nhiều hạn chế trong sản xuất nông nghiệp.
+ Đất phát triển trong vỏ phong hóa đá gốc: Loại đất này tập trung chủ yếu
ở vùng núi (74,4%) và bao gồm các nhóm đất sau:
* Đất đỏ vàng phát triển trên đá phiến thạch sét (Fs)
Tổng diện tích 433.357 ha, phân bố trên một phạm vi rộng lớn ở hầu khắp
và tập trung nhiều ở các huyện Tương Dương, Con Cuông, Tân Kỳ, Anh
Sơn, Thanh Chương, Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp.
Đất đỏ vàng trên phiến sét có ở hầu hết tất cả các loại địa hình nhưng tập
trung ở vùng núi thấp, độ dốc lớn, tầng đất khá dày. Đây là loại đất đồi núi khá tốt,
đặc biệt là về tính chất vật lý (giữ nước và giữ màu tốt), phù hợp để phát triển các
loại cây công nghiệp và cây ăn quả. Thời gian qua, loại đất này đã được đưa vào sử
dụng để trồng các loại cây như: chè, cam, chanh, dứa, hồ tiêu,... Diện tích loại đất
này còn nhiều và tập trung thành vùng lớn, nhất là ở các huyện Anh Sơn, Thanh
Chương, Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Quỳnh Lưu. Đây là một thế mạnh của Nghệ An so
với nhiều địa phương khác ở miền Bắc để phát triển các loại cây công nghiệp và
cây ăn quả.

15


* Đất vàng nhạt phát triển trên sa thạch và cuội kết (Fq)
Tổng diện tích 315.055 ha, phân bố rải rác theo dải hẹp xen giữa các dải đất
phiến thạch kéo dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam của tỉnh qua nhiều huyện
miền núi và trung du như Thanh Chương, Anh Sơn, Tân Kỳ, Tương Dương, Kỳ
Sơn.... Do thành phần cơ giới tương đối nhẹ hơn so với đất phiến thạch sét, nên đất
vàng nhạt trên sa thạch thường bị xói mòn mạnh, tầng đất tương đối mỏng và nhiều
nơi trơ sỏi đá. Chỉ có một số nơi địa hình đồi núi cao, thảm thực vật che phủ khá
mới có độ dày tầng đất từ 50-70 cm. Đất vàng nhạt trên sa thạch thường nghèo
dinh dưỡng, khả năng giữ nước và kết dính kém, thành phần keo sét thấp, khả năng
giữ màu, đến nay hầu như không sử dụng vào sản xuất nông nghiệp. ở vùng cao có
khả năng trồng một số cây công nghiệp nhưng phải có chế độ bảo vệ nguồn nước
và chống xói mòn tốt mới duy trì được hiệu quả sử dụng đất.
* Đất vàng đỏ phát triển trên các đá axít (Fa)
Tổng diện tích khoảng 217.101 ha, phân bố rải rác ở các huyện Anh Sơn,
Con Cuông, Tương Dương, Quỳ Châu... Phần lớn đất vàng đỏ trên đá axít có thành
phần cơ giới nhẹ, nghèo dinh dưỡng, bị xói mòn rửa trôi mạnh, độ chua lớn
(PHKCL< 4), dung để trồng rừng.
* Đất đỏ nâu trên đá vôi (Fv)
Tổng diện tích khoảng 34.064 ha, phân bố rải rác ở các huyện: Tân Kỳ,
Nam Đàn, Quỳ Hợp... Đất đỏ nâu trên đá vôi ở các vùng địa hình thấp thường có
tầng dày hơn; ở vùng núi cao đất đá vôi bị phong hoá và rửa trôi mạnh nên tầng đất
mỏng hơn. Tuy nhiên, phần lớn đất đá vôi có độ dày tầng đất khá thường trên 50
cm, độ phì ở đất đá vôi khá. Đất đỏ nâu trên đá vôi thích hợp cho việc trồng nhiều
loại cây lâu năm như: cam, chè, cà phê, cao su... và có tầng đất dày, độ dốc thoải và
độ phì khá. Tuy nhiên, diện tích đất đá vôi này không lớn mà phân bố manh mún,
có thể kết hợp với những đất khác để tạo nên những vùng cây trồng có hiệu quả
kinh tế cao.

16


*Đất nâu đỏ trên bazan (Fk)
Tổng diện tích khoảng 14.711 ha, phân bố chủ yếu ở vùng kinh tế Phủ Quỳ.
Đây là loại đất tốt, thoát nước tốt nhưng giữ nước kém, có tầng dày trên 1 m, địa
hình khábằng phẳng, ít dốc (độ dốc nhỏ hơn 100), rất thích hợp với cây công nghiêp
dài ngày. Hầu hết loại đất này đã được sử dụng vào sản xuất, chủ yếu là trồng cao
su, cà phê, cam,... và cho hiệu quả kinh tế cao.
*Đất Feralit đỏ vàng trên núi, đất mùn trên núi cao
Loại đất này chiếm gần 20% diện tích thổ nhưỡng. Tuy có độ phì cao, song
khả năng phát triển sản xuất nông nghiệp bị hạn chế do tập trung chủ yếu trên núi
cao, địa hình dốc và bị chia cắt mạnh, thích hợp cho sản xuất lâm nghiệp.
- Đặc điểm khí hậu
+ Chế độ nhiệt
Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 23 – 240C, tương ứng với tổng nhiệt năm là
8.7000C. Sự chênh lệch nhiệt độ giữa các tháng trong năm khá cao. Nhiệt độ trung
bình các tháng nóng nhất (tháng 6 đến tháng 7) là 33 0C, nhiệt độ cao tuyệt đối
42,70C; nhiệt độ trung bình các tháng lạnh nhất (tháng 12 năm trước đến tháng 2
năm sau) là 190C, nhiệt độ thấp tuyệt đối - 0,50C. Số giờ nắng trung bình/năm là
1.500 - 1.700 giờ.
+ Chế độ mưa
Nghệ An là tỉnh có lượng mưa trung bình so với các tỉnh khác ở miền Bắc.
Lượng mưa bình quân hàng năm dao động từ 1.200-2.000 mm/năm với 123 - 152
ngày mưa, phân bổ cao dần từ Bắc vào Nam và từ Tây sang Đông và chia làm hai
mùa rõ rệt:
* Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa chỉ chiếm 15 - 20%
lượng mưa cả năm, tháng khô hạn nhất là tháng 1, 2; lượng mưa chỉ đạt 7 - 60
mm/tháng.
* Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa tập trung chiếm 80 - 85%
lượng mưa cả năm, tháng mưa nhiều nhất là tháng 8, 9 có lượng mưa từ 220 540mm/tháng, số ngày mưa 15 - 19 ngày/tháng, mùa này thường kèm theo gió bão.

17


+ Độ ẩm không khí
Độ ẩm hàng năm dao động từ 80 - 90%, có sự phân hóa giữa các vùng và
theo mùa. Chênh lệch giữa độ ẩm trung bình tháng ẩm nhất và tháng khô nhất tới 18
- 19%; vùng có độ ẩm cao nhất là thượng nguồn sông Hiếu, vùng có độ ẩm thấp
nhất là vùng núi phía Nam (huyện Kỳ Sơn, Tương Dương). Lượng bốc hơi từ 700 940 mm/năm.
+ Chế độ gió
Nghệ An chịu ảnh hưởng của hai loại gió chủ yếu: gió mùa Đông Bắc và gió
phơn Tây Nam.
* Gió mùa Đông Bắc thường xuất hiện vào mùa Đông từ tháng 10 đến tháng
4 năm sau, bình quân mỗi năm có khoảng 30 đợt gió mùa Đông Bắc, mang theo
không khí lạnh, khô làm cho nhiệt độ giảm xuống 5 - 10 oC so với nhiệt độ trung
bình năm.
* Gió phơn Tây Nam là một loại hình thời tiết đặc trưng cho mùa hạ của
vùng Bắc Trung Bộ. Loại gió này thường xuất hiện ở Nghệ An vào tháng 5 đến
tháng 8 hàng năm, số ngày khô nóng trung bình hằng năm là 20 - 70 ngày. Gió Tây
Nam gây ra khí hậu khô, nóng và hạn hán, ảnh hưởng không tốt đến sản xuất và đời
sống sinh hoạt của nhân dân trên phạm vi toàn tỉnh.
+ Các hiện tượng thời tiết khác
Là tỉnh có diện tích rộng, có đủ các dạng địa hình: miền núi, trung du, đồng
bằng và ven biển nên khí hậu tỉnh Nghệ An đa dạng, đồng thời có sự phân hoá theo
không gian và biến động theo thời gian. Bên cạnh những yếu tố chủ yếu như nhiệt
độ, lượng mưa, gió, độ ẩm không khí thì Nghệ An còn là một tỉnh chịu ảnh hưởng
của bão và áp thấp nhiệt đới. Trung bình mỗi năm có 2 - 3 cơn bão, thường tập
trung vào tháng 8 và 10 và có khi gây ra lũ lụt.
Sương muối chỉ có khả năng xảy ra ở các vùng núi cao và một vài vùng
trung du có điều kiện địa hình và thổ nhưỡng thuận lợi cho sự thâm nhập của không
khí lạnh và sự mất nhiệt do bức xạ mạnh mẽ của mặt đất như khu vực Phủ Quỳ.

18


Nhìn chung, Nghệ An nằm trong vùng khí hậu có nhiều đặc thù, phân dị rõ
rệt trên toàn lãnh thổ và theo các mùa, tạo điều kiện cho nhiều loại cây trồng phát
triển. Khí hậu có phần khắc nghiệt, đặc biệt là bão và gió Tây Nam gây trở ngại
không nhỏ cho sự phát triển chung, nhất là sản xuất nông nghiệp.
- Thủy văn
Nghệ An có hệ thống sông ngòi khá dày đặc, mật độ lưới sông trung bình
khoảng 0,62 km/km2. Toàn tỉnh có 06 con sông trực tiếp đổ ra biển Đông. Trừ sông
Cả, sông Hiếu các con sông còn lại có lưu vực nhỏ, khoảng 500 km 2 với chiều dài
trung bình khoảng 50 - 60 km.
Các sông khác bắt nguồn trong tỉnh chảy thẳng ra biển với đặc trưng các sông
đều ngắn, trữ lượng nước không lớn, lòng sông hẹp, nước chảy chậm, phần lớn là sông
nước mặn. Bao gồm các sông:
- Sông Hoàng Mai dài 44 km;
- Sông Dâu và sông Thái (Quỳnh Lưu) là sông nhiễm mặn;
- Sông Bùng dài 53 km;
- Sông Cấm dài 47 km.
Ngoài các con sông trên, Nghệ An còn có hệ thống kênh đào nối các sông với
nhau như kênh nhà Lê, là hệ thống sông đào nối Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nghi Lộc vào
đến Hưng Nguyên, với mục tiêu chính là dẫn nước ngọt, ngăn nước mặn và phục vụ
giao thông, thuỷ lợi cho các huyện ven biển.
1.3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
Các yếu tố kinh tế xã hội như dân số, sự phát triển kinh tế (công nghiệp,
nông nghiệp, dịch vụ…) là những yếu tố tác động mạnh mẽ tới chất lượng môi
trường nước mặt tỉnh Nghệ An
- Kinh tế
+ Tình hình tăng trưởng kinh tế
Tốc độ tăng trưởng GDP năm 2011 đạt 10,38% , cao hơn hẳn tốc độ tăng
bình quân 5,9% của cả nước. Tổng GDP của tỉnh năm 2011 đạt 49.759 tỷ đồng[7]
(tính theo giá trị hiện hành). GDP bình quân đầu người là 16,9 triệu đồng/người.

19


Cơ cấu kinh tế của Nghệ An cũng chuyển dịch khá nhanh theo hướng công
nghiệp hóa. Năm 2011, tỷ trọng nông nghiệp 27,06%, công nghiệp xây dựng
34,86%, dịch vụ 38,08%[7]. Tỷ trọng trong GDP của khu vực công nghiệp - xây
dựng tăng nhanh từ 18,6% năm 2000 lên 34,86% năm 2011. Trong khi đó, tỷ trọng
khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm đáng kể, từ 44,3% còn 27,06% năm
2011. Khu vực dịch vụ tăng từ 37,1% năm 2000 lên 38,08% năm 2011[7]. Chuyển
dịch cơ cấu kinh tế đã diễn ra theo chiều sâu và theo hướng tiến bộ; tích lũy tài sản
và đầu tư tăng, đời sống dân cư được cải thiện rõ rệt.
+ Ngành Nông - Lâm - Thủy sản
Nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm (nông - lâm - thủy sản) hiện nay vẫn
là ngành kinh tế cơ bản của tỉnh Nghệ An hiện đang từng bước có sự chuyển dịch
cơ cấu theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Trong có cấu nông - lâm - thủy sản, nông nghiệp vấn chiếm tỷ trọng cao nhất
(85%)[7] trong khi đó, tỷ trọng của ngành lâm nghiệp chỉ chiếm 7%, ngành thủy sản
là 8% trong năm 2009. Trong ba nhóm ngành nông - lâm - thủy sản, ngành thủy sản
có tốc độ tăng nhanh nhất, trung bình giai đoạn 2005- 2009 là 10,5%/năm, tiếp đến
là nông nghiệp 6,3% và lâm nghiệp 3,3%.
Trong tỉnh đã hình thành những vùng sản xuất chuyên môn hóa như: Vùng
lúa ở các huyện đồng bằng Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nghi Lộc, Hưng Nguyên; Vùng
mía ở Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Tân Kỳ, Quỳ Châu...; Cà phê ở Nghĩa Đàn; Cao su ở
Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Quỳ Hợp...; Dứa ở Quỳnh Lưu, Yên Thành, Nghĩa Đàn. Vùng
sắn làm nguyên liệu cho các nhà máy chế biến ở các huyện miền núi thấp. Tại các
huyện ven biển, xuất hiện các khu vực nuôi trồng thủy sản như tôm, cá, cua, ngao...
+ Công nghiệp
Trong những năm qua nhờ tổ chức có hiệu quả Luật Doanh nghiệp, Luật
Hợp tác xã và các văn bản quy phạm pháp luật về sản xuất kinh doanh nên đã tạo
cho các hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và sản xuất công nghiệp nói riêng
có nhiều thay đổi theo hướng tích cực. Vì vậy, số lượng của các cơ sở sản xuất công

20


nghiệp cũng như kết quả hoạt động đạt được đã và đang khẳng định được vai trò
của mình trong tăng trưởng kinh tế.
- Dân số
Năm 2011, dân số tỉnh Nghệ An là 2.942.900[7] người, mật độ dân cư 178
người/km2, tỉ lệ gia tăng dân số 11,6%. Trong đó, 86,7%[7] dân số tập trung ở nông
thôn, chỉ có 13,3% dân số sông ở thành thị.
Nguồn lao động dồi dào, 1.757.800 người[7]. Trong đó làm việc trong các
ngành kinh tế là 1,38 triệu người. Năm 2010, toàn tỉnh đã giải quyết việc làm cho
34.000 lao động. Tỷ lệ lao động được đào tạo khoảng 40%.
- Y tế và sức khỏe cộng đồng
Số cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc Sở Y tế là 529 cơ sở[7], trong đó có 26
bệnh viện đa khoa, 22 phòng khám khu vực[7], 1 bệnh viện điều dưỡng và 479 trạm
y tế, cơ quan, xã, phường. Có 6-75% đạt chuẩn quốc gia về y tế. Toàn tỉnh có 1397
bác sỹ, 1327 y sỹ, 2629 y tá và 910 nữ hộ sinh. Có 42 dược sỹ cao cấp, 461 dược sỹ
trung cấp và 294 dược tá[7].
Các cơ sở y tế ngày càng được nâng cấp, chất lượng khám chữa bệnh được
nâng lên, do đó số ca tử vong trong điều trị giảm.
Công tác phòng dịch tốt nên không xẩy ra dịch bệnh đáng kể, số ca tử vong
trong điều trị giảm. Công tác kiểm tra an toàn vệ sinh có nhiều chuyển biến. Chủ
trương sử dụng muối iốt được thực hiện khá tốt. Công tác tiêm chủng mở rộng 6
loại vắc xin cho các cháu dưới 1 tuổi, tiêm phòng uốn ván cho phụ nữ có thai, tiêm
phòng viêm não...
- Giáo dục
Công tác giáo dục ở Nghệ An được phát triển mạnh mẽ. Cho đến nay tất cả
các huyện, thành, thị trong tỉnh và 100% số xã, phường đã được công nhận phổ cập
tiểu học và chống mù chữ.
Năm 2011, toàn tỉnh có 533.864 học sinh phổ thông học tập tại 1.043 trường
với 33.188 giáo viên tham gia giảng dạy[7]. Trong đó có 41% số trường đạt chuẩn

21


quốc gia. Tỉ lệ tốt nghiệp phổ thông đạt 97,73%[7]. Toàn tỉnh có 16.224 sinh viên cao
đẳng và đại học với 927 giảng viên[7]. 100% giáo viên đạt chuẩn[7].
Thực hiện chính sách xã hội hóa giáo dục; quy mô các cấp học tiếp tục được
phát triển đảm bảo nhu cầu học tập; tăng cường chất lượng giáo dục toàn diện.
1.4. Tổng quan về nước mặt tỉnh Nghệ An
1.4.1. Đặc điểm mạng lưới sông suối
Tỉnh Nghệ An nằm ở Đông Bắc dãy Trường Sơn, trong Tỉnh có 06 lưu vực
sông (có cửa riêng biệt), tuy nhiên đa số là các con sông ngắn ven biển có chiều dài
dưới 60 km và duy nhất có sông Cả có lưu vực là 15.346 km 2 chiếm tới 93,1% diện
tích thủy vực toàn tỉnh với chiều dài qua Nghệ An là 361 km[6].
Địa hình núi thấp và gò đồi chiếm tỷ lệ lớn nên mạng lưới sông suối trong
khu vực khá đa dạng với mật độ trung bình 0,62 km/km 2, nhưng phân bố không đều
trên toàn vùng. Vùng núi có độ dốc địa hình lớn, chia cắt mạnh, mạng lưới sông
suối phát triển mạnh hơn, mật độ trên 1 km/km2; khu vực trung du địa hình gò đồi
nên mạng lưới sông suối kém phát triển, trung bình 0,5 km/km 2[6]. Tính chất cửa
sông hạn chế phát triển mạng lưới sông vùng hạ du, vì vậy mật độ sông suối ở đây
đạt dưới 0,8 km/km2.
Lưu vực sông Cả chạy dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. Phần hạ du
sông Cả với sự nhập lưu của sông Hiếu và sông Ngàn Sâu cùng với sự đổi hướng
dòng chảy; độ dốc lưu vực cũng như đáy sông giảm, cũng như dãy cồn cát ven biển
cao hơn vùng đồng bằng đã làm giảm rất nhiều năng lực tiêu nước ra biển, gây hiện
tượng ngập lụt.
Ngoài lưu vực sông Cả, các lưu vực sông nhỏ còn lại chủ yếu diện tích lưu
vực dưới 500 km2. Những con sông này đổ trực tiếp ra biển, vì vậy trong những
tháng mùa kiệt, nguồn nước các sông này thường bị xâm nhập mặn[6].
Trong tỉnh Nghệ An, dòng chảy không lớn và có sự phân mùa dòng chảy sâu
sắc. Hàng năm, lượng nước lớn nhất và nhỏ nhất có thể chênh nhau hàng ngàn lần
và là nguyên nhân tiềm ẩn gây ra tai biến môi trường. Nhìn chung, nguồn nước khá

22


dồi dào, đủ để đáp ứng cho sản xuất và phục vụ cho đời sống sinh hoạt của nhân
dân.
1.4.2.Trữ lượng nước mặt
Do vị trí địa lý của tỉnh Nghệ An trải dài từ biển vào sâu trong đất liền với
nhiều dạng địa hình (từ vùng đồng bằng thấp ven biển tới vùng gò đồi và vùng núi
cao) nên lượng mưa dao động từ dưới 1000 mm (nơi địa hình bị che khuất như:
Mường Xén, Tương Dương) đến trên 2000 mm (Quỳ Châu, Nghĩa Khánh) [6]. Tính
trung bình hàng năm toàn tỉnh Nghệ An nhận lượng mưa là 1745 mm. Do các điều
kiện khí hậu lạnh khô, nóng và khuất gió ẩm; nên bốc hơi tiềm năng của tỉnh cao,
đạt tới 1348 mm tại vùng ven biển và (1100 - 1200) mm ở núi; tính trung bình bốc
thoát hơi tiềm năng đạt 1220 mm. Lượng bốc thoát hơi thực tế trên lưu vực đạt 796
mm; với sự chênh lệch lượng bốc thoát hơi thực tế và bốc thoát hơi tiềm năng lớn
(trên 400 mm) nên Nghệ An là vùng đất khô hạn tiềm năng.
Hàng năm, lượng nước trên bề mặt tỉnh Nghệ An đổ vào các sông suối trung
bình đạt là 13,5 tỷ m3 nước ứng với lớp dòng chảy 820 mm và hệ số dòng chảy đạt
0,47. Lượng dòng chảy phân bố không đều trên lưu vực, vùng có lượng dòng chảy
lớn nhất thuộc về lưu vực sông Hiếu với lớp dòng chảy đạt tới 960 mm, phần
thượng du khuất gió lượng dòng chảy chỉ đạt 560 mm [6]. So với lãnh thổ nước ta,
đây là khu vực có lượng dòng chảy thấp. Do tác động của hoàn lưu gió mùa và các
nhiễu động thời tiết; nên lượng dòng chảy biến động qua các năm khá lớn, trung
bình đạt hệ số biến động dòng chảy Cv = (0,25 - 0,30), thể hiện tính chất thất
thường của lượng dòng chảy trên lưu vực. Trong năm lượng dòng chảy trên sông
còn biến động mạnh mẽ hơn, chia thành hai mùa rõ rệt:
Mùa lũ: xuất hiện từ tháng (VII-XI) chiếm tới 73,5% lượng dòng chảy năm.
Ba tháng (VIII-X) có lượng dòng chảy lớn nhất chiếm tới 55,4% lượng dòng chảy
năm. Tháng có lượng dòng chảy lớn nhất là tháng IX, chiếm 21,8% lượng dòng
chảy năm. Đây cũng là thời kỳ hoạt động mạnh của dải hội tụ nhiệt đới ở khu vực
này[6]. Lũ trên tỉnh Nghệ An không lớn, trung bình moduyn đỉnh lũ Mmax = 400
l/s/km2

23


Do địa hình thấp, trũng và sự chuyển hướng dòng chảy ở đoạn cuối sông Cả
ra biển nên lũ trên sông Cả thường xuyên gây ngập lụt cho khu vực đồng bằng hạ
du.
Mùa kiệt : Lượng dòng chảy trên sông giảm hẳn với moduyn dòng chảy
trung bình chỉ đạt 10,3 l/s/km2. Ba tháng có dòng chảy nhỏ nhất rơi vào tháng (IIIV) chiếm 7,39% lượng dòng chảy năm và tháng III có lượng dòng chảy nhỏ nhất
chiếm 2,33% lượng dòng chảy năm. Có thể thấy rằng trên sông Cả dòng chảy mùa
kiệt rất nhỏ, do tỷ lệ nước ngầm tầng nông so với dóng chảy toàn phần thấp (30%)
và lượng mưa trong mựa kiệt ở đây cũng rất nhỏ[6].
Tóm lại, nguồn tài nguyên nước mặt Nghệ An được xếp vào mức trung bình
trong cả nước, hàng năm trung bình nhận 28,8 tỷ m3 nước mưa và đã sinh ra 13,5 tỷ
m3 dòng chảy vào mạng lưới sông suối, tương ứng với moduyn dòng chảy 26
l/s.km2. Với dân số tính đến năm 2011 là 2.942.900 người; thì lượng nước mặt tính
theo bình quân đầu người hiện nay là 4587 m 3/người.năm[6]. Theo chỉ tiêu đánh giá
của Hội tài nguyên nước Quốc tế (IWRA), Nghệ An được xếp vào khu vực đủ nước
sử dụng. Tuy nhiên, do tài nguyên nước phân bố không đều theo không gian, nên đã
xuất hiện các khu vực thiếu nước (huyện Mường Xén, Con Cuông) đến những khu
vực thừa nước (Quỳ Châu, Nghĩa Khánh).
Bên cạnh đó, sự phân phối nguồn nước không đều theo thời gian trong năm
trên các sông suối trong tỉnh cũng làm giảm khả năng sử dụng nguồn nước mặt
phong phú này. Hàng năm, 73,5% lượng dòng chảy tập trung từ 5 tháng mùa lũ và 7
tháng còn lại, lượng dòng chảy trên sông rất nhỏ. Theo các số liệu thống kê KT –
XH trong tỉnh Nghệ An, đến năm 2005, lượng nước cần cho các nhu cầu sử dụng
nước theo các ngành:
- Nông nghiệp (bao gồm cả tưới, chăn nuôi và thủy sản): 1570 triệu m3/năm
- Công nghiệp: 0,35 triệu m3/năm
- Sinh hoạt: 63,9 triệu m3/năm
Và tổng lượng nước dùng là: 1,634 tỉ m 3/năm chiếm 12,1% lượng nước
đến[6]. Lượng nước cần trong mùa kiệt là 1,06 tỷ m 3 chiếm tới 29,6% lượng nước

24


đến[6]. Như vậy kết quả phân tích cân bằng nước giữa nhu cầu nước sử dụng và
nguồn nước hiện có (đã có tính đến các công trình điều tiết hiện đang sử dụng) cho
thấy nước trên sông suối tỉnh Nghệ An hiện tại đáp ứng được nhu cầu sử dụng nước
kể cả trong mùa kiệt.

25


x

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×