Tải bản đầy đủ

BIỆN PHÁP ĐỀ PHÒNG VÀ KHẮC PHỤC CÁC HIỆN TƯỢNG HỌC KÉM Ở TIỂU HỌC

MUÏC LUÏC
PHẦN I- PHẦN MỞ ĐẦU
Lí do chọn đề tài
Mục đích nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Các luận điểm chỉ đạo

trang
trang
trang
trang

3
4
5
6

PHẦN II- KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương 1- Cơ sở lí luận

trang 8


Chương 2- Cơ sở thực tiễn-Thực trạng
- Đánh giá thực trạng

trang 11
trang 13

Chương 3- Các giải pháp
1. Tìm hiểu kỉ HS ngay từ đầu năm học
trang 14
2. Biện pháp phòng ngừa các hiện tượng học kém trang 16
3. Biện pháp khắc phục các hiện tượng học kém
Chương 4- Kết quả kiểm nghiệm

trang 19
trang 22

PHẦN III- KẾT LUẬN & KHUYẾN NGHỊ
trang 24
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Các bài viết của Chuyên gia Giáo dục:
- TS. Nguyễn Văn Lê
- PGS. Trần Trọng Thủy

1


2


I.

LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Việc nâng cao chất lượng dạy học là yêu cầu thiết yếu của giáo dục hiện
nay. Trong xã hội ngày càng phát triển mạnh mẽ về nhiều mặt, nhiệm vụ của
công tác giáo dục đứng trước những đòi hỏi mới. Giáo dục phải đào tạo nên
những sản phẩm thích nghi cao với thị trường lao động với đầy đủ các phẩm
chất, năng lực, chủ động, sáng tạo. Đặc biệt là việc giáo dục không cho phép có
phế phẩm, do đó khắc phục hiện tượng học sinh học kém là công việc đòi hỏi sự

quan tâm của giáo viên để đáp ứng được các nhu cầu ngày càng cao của xã hội.
Ở bậc tiểu học, con số học sinh học kém rất đáng lo ngại. Kết quả học tập cả
năm không đạt chuẩn có khi chiếm đến 9%. Tình trạng này do nhiều nguyên
nhân: những thiếu sót trong giáo dục và giảng dạy từ phía giáo viên và nhà
trường, trong giáo dục gia đình, những ảnh hưởng xấu từ môi trường bên ngoài...
Những nguyên nhân này cần được quan tâm nghiên cứu, giải quyết.
Phần đông giáo viên tiểu học cho rằng nhóm nguyên nhân từ phía chủ thể
học sinh có ảnh hưởng mạnh nhất tới tình trạng học sinh học kém. Mức độ ảnh
hưởng của nhóm nguyên nhân từ phía gia đình giảm dần từ lớp 1 đến lớp 5, và
ngược lại, mức độ ảnh hưởng của nhóm nguyên nhân từ phía chủ thể học sinh lại
tăng dần. Học sinh thiếu nguyện vọng học tập, nhu cầu nhận thức phát triển
chậm đã làm giảm độ bền vững và cường độ động cơ đích thực của hoạt động
học tập dẫn tới việc thiếu tích cực học tập. Chúng ta có thể nhận thấy ở các em
thái độ chán chường và thụ động trong hoạt động học tập. Đa số các em sợ học.
Việc học của các em đều nhằm đối phó với giáo viên hoặc để vui lòng cha mẹ
chứ không phải vì bản thân hoạt động nhận thức. Nói cách khác, có những học
sinh thiếu nhu cầu đối với việc lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo mới cho nên hoạt
động học tập không được thúc đẩy bởi những nhân tố nằm trong đối tượng chính
của hoạt động học tập, dẫn tới thiếu tích cực học tập và né tránh nhiệm vụ chính
của mình.
Có thể nói, khó khăn và phức tạp nhất trong lao động của giáo viên và cán
bộ quản lí trường học là việc đề phòng và khắc phục các hiện tượng học sinh
học kém. Lương tâm và tinh thần trách nhiệm của nhà giáo thể hiện ở sự kiên
nhẫn tìm tòi và phát hiện các nguyên nhân học kém ở từng học sinh cụ thể và áp
dụng công phu các biện pháp phòng ngừa và khắc phục các hiện tượng học kém
ấy. Đây là cuộc đấu tranh thường xuyên để nâng cao chất lượng giáo dục.
Với những lí do nêu trên, đề tài BIỆN PHÁP ĐỀ PHÒNG VÀ KHẮC
PHỤC CÁC HIỆN TƯỢNG HỌC KÉM Ở TIỂU HỌC được hình thành.
3


II- MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
- Nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng mục tiêu giáo dục toàn diện
của bậc học.
- Giúp giáo viên có thêm biện pháp hỗ trợ việc đổi mới phương pháp dạy
học một cách hiệu quả.
- Giải quyết một số vướng mắc của giáo viên khi thực hiện nhiệm vụ phụ
đạo cho học sinh.
- Giới hạn đề tài: ĐỀ PHÒNG VÀ KHẮC PHỤC HIỆN TƯỢNG HỌC
KÉM MÔN TIẾNG VIỆT TIỂU HỌC
III- KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
1- Khách thể nghiên cứu:
- Hình thức tổ chức và phương pháp dạy học ở trường tiểu học.
- Phương pháp dạy học sinh cá biệt.
2- Đối tượng nghiên cứu:
- Nguyên nhân học kém của học sinh Tiểu học.
- Môi trường và hoàn cảnh sống của học sinh.
3- Đối tượng khảo sát:
- Học sinh lớp 4 trong giờ học Tiếng Việt.
- Chất lượng giáo dục và chất lượng bộ môn Tiếng Việt của học sinh trường
Tiểu học Long Hưng trong năm học 2011-2012.
IV- GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
- Nếu đề tài được triển khai, việc phụ đạo học sinh sẽ khả thi và mang lại
hiệu quả giáo dục cao hơn.
- Việc đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học sẽ nhanh chóng đi vào nề
nếp, tiến đến chất lượng nếu được chia sẻ kinh nghiệm và cùng nhau áp dụng các
giải pháp đã kinh qua thực tiễn.
- Việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông sẽ mau chóng thành công
và phát triển bền vững nếu chất lượng giáo dục được nâng lên.

4


V- NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu các luận điểm chỉ đạo và cơ sở lí luận của vấn đề chất lượng
giáo dục ở trường tiểu học.
- Nghiên cứu cơ sở thực tiễn - thực trạng của việc phụ đạo ở trường tiểu
học, chú ý đến những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng học sinh học kém.
- Đề xuất những giải pháp khả thi qua việc tổng kết kinh nghiệm và nghiên
cứu tư liệu.
VI- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1- Điều tra - phỏng vấn:
* Mục đích: lấy ý kiến về vấn đề nghiên cứu, thu thập thông tin để đánh giá
thực trạng chính xác, khách quan.
* Đối tượng điều tra - phỏng vấn: giáo viên đồng nghiệp trong và ngoài nhà
trường, học sinh trong trường cùng một số cha mẹ học sinh.
* Biện pháp: Thực hiện một phần ý tưởng thông qua hội thảo chuyên đề ở
trường, trao đổi rút kinh nghiệm, lấy ý kiến giáo viên. Trao đổi với phụ huynh
học sinh. Thống kê chất lượng giáo dục, chất lượng môn Tiếng Việt của học sinh
trong một năm học.
2- Đọc tài liệu tham khảo:
* Mục đích: nắm chắc các luận điểm chỉ đạo của vấn đề nghiên cứu, có cơ
sở vững chắc đề ra những giải pháp.
* Phân loại tư liệu tham khảo:
- Văn bản mang tính cơ sở pháp lí: Luật Giáo dục
- Văn bản của ngành: Điều lệ trường Tiểu học, Mục tiêu - Kế hoạch Giáo
dục Tiểu học
- Tác phẩm của các nhà nghiên cứu giáo dục: PGS. Nguyễn Trọng Thủy,
PTS. Nguyễn Văn Lê.
3- Nghiên cứu sản phẩm:
* Mục đích: thực nghiệm và kiểm nghiệm kết quả với một quá trình để
khẳng định tính hiệu quả của giải pháp.
* Các hoạt động nghiên cứu:
- Nghiên cứu hiệu quả đào tạo năm học 2011-2012.
- Thực nghiệm các giải pháp và ghi chép tình hình thực nghiệm.
- Kiểm nghiệm các kết quả.
- Hệ thống các giải pháp thành công.

5


VII- CÁC LUẬN ĐIỂM CHỈ ĐẠO
Nhiều nhà khoa học cho rằng, bậc tiểu học là bậc học của phương pháp, bậc
học của cách học. Trong nhiều năm nghiên cứu, đổi mới giáo dục tiểu học về
quan điểm giáo dục, nội dung, phương pháp và phương thức tổ chức giáo dục,
mãi cho đến những năm gần đây những người làm công tác giáo dục tiểu học
mới ý thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của bậc học đầu tiên có tính chất nền
tảng này và đã nhận thức rõ hơn, đúng đắn hơn về vấn đề cơ bản của tiểu học.
Về phương pháp giáo dục, phương pháp dạy học ở tiểu học, từ 1994, Bộ đã
đưa ra những quy định có tính nguyên tắc như: “Học sinh là nhân vật trung tâm
trong giờ học tập, vui chơi, rèn luyện…(ở trên lớp và ngoài giờ lên lớp), hoạt
động theo hướng dẫn của giáo viên. Phát huy tính chủ động tích cực của từng
học sinh, của tập thể học sinh trong quá trình dạy học và giáo dục”.
Về phương pháp giáo dục phổ thông, Luật giáo dục cũng quy định:
“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động,
sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi
dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn;
tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho học sinh”.
Phương pháp dạy học ở bậc tiểu học là phương pháp cụ thể, là cách dạy học
sinh học, cách tổ chức cho học sinh học tập ở trường tiểu học. Các cụ xưa
thường nói: “Ăn vóc, học hay” nghĩa là người đời, từ xa xưa, đã nhắc nhở nhau
và đặc biệt là nhắc nhở con trẻ rằng phải ăn, phải biết ăn uống để cơ thể trưởng
thành khỏe mạnh, phải học, phải biết cách học để ngày càng khôn hơn, để có sự
phát triển về trí tuệ, để phong phú lành mạnh về tâm hồn. Ở lứa tuổi học sinh
tiểu học, sự học, việc học của các em không thể thoát li khỏi người thầy. Thầy
giáo tiểu học giữ vai trò chủ đạo trong giáo dục học sinh tiểu học “nhằm giúp
học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài
về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục
học trung học cơ sở ” (Điều 23, Luật Giáo dục).

6


7


CHƯƠNG I - CƠ SỞ LÍ LUẬN
Ngăn ngừa và khắc phục tình trạng học kém ở học sinh là vấn đề “muôn
thuở” của nhà trường. Giáo viên và các cán bộ quản lí trường học đã dành một
phần không nhỏ thời gian của mình vào công việc này.
Thời gian gần đây, số lượng học sinh lưu ban đã giảm đi một cách đáng kể.
Nhưng liệu điều đó có nghĩa là số lượng trẻ lĩnh hội một cách không bảo đảm
chất lượng chương trình của nhà trường đã giảm đi hay không?
Cho đến nay, nhà trường vẫn đang sử dụng những phương pháp rất nghèo
nàn và không hoàn thiện để giúp đỡ các học sinh kém, học sinh lưu ban như tổ
chức phụ đạo ngoài giờ học các tiết học bổ sung mà chúng lặp lại các phương
pháp dạy học trên lớp hoặc mời phụ huynh học sinh đến nhằm “chỉnh” các em
học kém.
Những biện pháp này không chỉ kém hiệu quả mà còn dễ gây tác hại.
Nghiên cứu của nhà tâm lí học V.I.Zukova đã chỉ ra rằng, có nhiều đứa trẻ đã
nhanh chóng thích nghi với các biện pháp trừng phạt đó. Một số trẻ khác, dấu vết
của những trải nghiệm chấn thương còn mạnh đến nỗi đã gây nên tính ức chế
trong các giờ học. Khi hỏi các học sinh này, các em thường bối rối, trả lời không
đúng chỗ... Dần dần trẻ mất lòng tin vào khả năng của mình và ngừng việc học
tập nói chung.
Sự không hoàn thiện của các phương pháp tác động tâm lí – giáo dục đối
với các học sinh lưu ban đã dẫn đến sự tách rời khỏi tập thể của các em. Chúng
tìm những liên hệ bè bạn ở bên ngoài nhà trường, những nhóm xã hội có khuynh
hướng tiêu cực. Cuối cùng, những biện pháp như vậy đã dẫn đến sự dập tắt nhu
cầu nhận thức ở trẻ.
Các nhà sư phạm đã nhìn thấy nguyên nhân dẫn đến tình trạng học kém
trước hết ở sự không hoàn thiện của các phương pháp giảng dạy. Nhưng nhiều
giáo viên lại có khuynh hướng giải thích sự học kém của học sinh bằng những
thiếu sót của những phẩm chất ý chí và đạo đức ở trẻ, bằng sự thiếu chuyên cần
và chăm chỉ. Từ đó, đã muốn dùng các biện pháp trừng phạt.
Trong suốt nhiều năm, một nhóm các nhà bác học do N.A.Menchinskaija
đứng đầu đã nghiên cứu vấn đề học kém này. Trên cơ sở các đặc điểm tâm lí của
học sinh học kém, các nhà khoa học đã đưa ra khái niệm “lực học”. Các nhà
nghiên cứu nhấn mạnh sự cần thiết phải phân biệt lực học chung và lực học
riêng. Loại thứ nhất được thể hiện trong việc học mọi môn học, loại thứ hai chỉ
8


được thấy trong việc nghiên cứu một môn học nào đó. Họ nhấn mạnh rằng, các
đặc điểm tư duy của học sinh là quan trọng nhất trong số những quá trình tâm lí
để lại dấu ấn ở lực học của học sinh.
Trong khi tiến hành dạy học cho các học sinh học kém và nghiên cứu trong
những tình huống thực nghiệm đặc biệt, các nhà bác học đã đi đến kết luận rằng:
những trẻ học kém không biết suy lí diễn dịch; đối với chúng, sự khái quát hóa
trên cơ sở tách ra những dấu hiệu bản chất được thực hiện một cách khó khăn.
Người ta cũng nhận thấy có những khó khăn khi tiến hành sự phân tích tương
quan; mức độ trừu tượng hóa và khái quát hóa thường là thấp hơn mức độ mà sự
giải quyết vấn đề một cách có hiệu quả cao đòi hỏi phải có.
Sự phát triển tư duy từ ngữ - logic ở những học sinh học kém tụt lại một
cách rõ rệt so với tư duy trực quan - hành động, điều này dẫn đến hoặc là sự
không hiểu được những biểu đạt của quy tắc, hoặc là hiểu biết hình thức về quy
tắc không trùng hợp với sự giải quyết đúng đắn nhiệm vụ. Những học sinh như
thế dễ dàng tái tạo các chi tiết riêng lẻ của bản vẽ, nhưng trong sự chứng minh
lại có thể bỏ qua cái bản chất nhất. Việc sử dụng tài liệu trực quan trên lớp
không giúp gì được cho một số những học sinh đó vì làm các em lãng quên
những dấu hiệu bản chất đang hiện hữu trong tài liệu ấy.
Chính những đặc điểm này của tư duy đã đặt dấu ấn lên diễn biến của các
quá trình tâm lí có liên quan chặt chẽ với khả năng yếu trong khâu tự tổ chức,
với việc không biết điều khiển sự chí ý có chủ định, với sự không muốn và
không biết nỗ lực để tập trung chú ý của những học sinh này. Trong khi muốn
tránh khỏi hoạt động trí óc, các em tìm kiếm những con đường vòng vo, giải
thoát chúng khỏi sự cần thiết phải tư duy. Hậu quả của điều này là tải trọng trí
tuệ thấp một cách có hệ thống sẽ dẫn đến sự hạ thấp rõ rệt mức độ phát triển trí
tuệ.
Nếu không được tiếp nhận những biện pháp sư phạm có hiệu quả, thì những
học sinh có lực học thấp kém sẽ càng ngày càng tụt lại so với bạn bè. Dần dần sẽ
hình thành một thái độ nhất định của tập thể đối với chúng, hình thành sự định
kiến của giáo viên, và điều quan trọng nhất có thể xảy ra là bản thân học sinh
mất đi niềm tin ở mình, ở sức lực mình, ở khả năng thực hiện các nhiệm vụ,
ngay cả trong những trường hợp mà thực tế có thể đảm đương được, nghĩa là xảy
ra sự hạ thấp việc tự đánh giá.
Một trong những động lực quan trọng của việc học là động cơ thành đạt ở
số học sinh này cũng dần dần biến mất. Chúng quen với những sự đánh giá xấu
và bắt đầu tiếp nhận nó như là một cái gì đó phải như vậy vì không tránh khỏi.

9


Nhưng những đặc điểm của các quá trình tâm lí nói trên lại không phải là
những đặc điểm bệnh lí. Đại đa số những trường hợp lực học yếu được giải thích
hoặc là bởi những lệch lạc trong giới hạn chuẩn, hoặc là bởi sự kìm hãm phát
triển tâm lí nhất thời. điều này cũng là tự nhiên như là một đứa trẻ lớn lên tạm
thời chậm đôi chút so với những đứa trẻ khác, khi tụt lại so với chuẩn trung bình
của lứa tuổi.
Do đặc điểm tâm lí của học sinh học kém quá phức tạp nên việc ngăn ngừa
và khắc phục các hiện tượng học kém sẽ cực kì khó khăn. Nhà trường cần phát
hiện kịp thời các học sinh có dấu hiệu học kém và tiến hành tìm hiểu kĩ các
nguyên nhân dẫn đến tình trạng ấy của từng đối tượng cụ thể để áp dụng những
biện pháp khả thi và hiệu quả.

10


CHƯƠNG II- CƠ SỞ THỰC TIỄN - THỰC TRẠNG
THẾ NÀO LÀ HỌC SINH HỌC KÉM?
Học sinh học kém là những học sinh chưa đủ khả năng hoàn thành những
yêu cầu có tính mắt xích của các giai đoạn trung gian trong quá trình học tập,
biểu hiện sức học yếu và kết quả học tập không đạt chuẩn tối thiểu.
Học sinh học kém có thể tồn tại ở nhiều dạng khác nhau: học kém mang
tính thời điểm hoặc lâu dài; học kém ở một môn hoặc nhiều môn... Về bản chất,
học sinh học kém chưa đủ khả năng hoàn thành độc lập toàn bộ các hành động
học tập trong quy trình lĩnh hội khái niệm khoa học và do đó chưa nắm bắt được
bản chất khái niệm khoa học. Sự tích lũy liên tục tình trạng này khiến cho năng
lực học tập của các em giảm sút và dần dần mất đi hứng thú học tập.
1/ Các dấu hiệu để xác định hiện tượng học sinh học kém:
- Có những lỗ hổng trong các kiến thức và các kĩ năng bộ môn gây trở ngại
cho việc lĩnh hội các kiến thức tối thiểu và gây trở ngại cho việc thực hiện những
bài tập thực hành cần thiết.
- Có những lỗ hổng, những khuyết điểm trong các thói quen hoạt động nhận
thức làm hạ thấp nhịp độ học tập tới mức, với thời gian quy định, vẫn không đủ
khả năng nắm vững khối lượng kiến thức, kĩ năng cần thiết.
- Có trình độ phát triển không đầy đủ và trình độ khiếm khuyết về phẩm
chất, nhân cách; do đó không biểu hiện được tính độc lập, tính kiên nhẫn, tính tổ
chức và những phẩm chất cần thiết khác để học tập có kết quả.
2/ Các dấu hiệu ban đầu dẫn đến hiện trạng học kém:
- Làm bài phạm nhiều lỗi.
- Thời gian để làm các bài tập ở lớp, ở nhà vượt quá các định mức thuộc về
vệ sinh và khoa học trong học tập.
- Không làm một số bài tập ở nhà.
- Thường xuyên đòi hỏi các bạn giúp đỡ, quay cóp.
- Có những biểu hiện giảm hứng thú học tập bộ môn.

11


NGUYÊN NHÂN ĐIỂN HÌNH CỦA CÁC HIỆN TƯỢNG HỌC KÉM
Điều quan trọng trước tiên là cần xem xét các yếu tố và các điều kiện bên
trong, bên ngoài (trong sự thống nhất và trong mối liên hệ qua lại) đối với mỗi
học sinh để quy định các khả năng học tập thực tế của học sinh đó.
Trong phức hợp các nguyên nhân học kém cần phát hiện các nguyên nhân
cơ bản nhất, chiếm ưu thế trong từng thời điểm và trong những điều kiện nhất
định. Việc phát hiện các nguyên nhân ưu thế chỉ có thể thực hiện được nếu ta
nghiên cứu toàn bộ phức hợp các nguyên nhân học kém và mức độ ảnh hưởng
của chúng tới nhân cách của học sinh.
Một số nguyên nhân cơ bản, nổi lên hàng đầu dẫn đến tình trạng học sinh
học kém:
1/ Những lỗ hổng trong kĩ năng hoạt động học tập, nhận thức của học
sinh:
Việc phân tích, so sánh các nguyên nhân học kém của học sinh cho thấy
nhiều trường hợp những lỗ hổng này do khả năng làm việc yếu của học sinh có
vấn đề về sức khỏe; một số trường hợp xuất phát từ việc xây dựng kỉ luật học tập
và thái độ đúng đối với yêu cầu của giáo viên, của cha mẹ còn yếu; nhóm học
sinh có hiện tượng thiếu kỉ luật, hạnh kiểm chưa đạt thường dẫn đến việc phải
lưu ban hoặc rèn luyện thêm trong hè.
Việc nghiên cứu, so sánh kĩ năng hoạt động học tập, nhận thức ở trẻ học có
kết quả và trẻ học kém cho thấy có sự sai biệt rõ rệt về kĩ năng xác định cái chủ
yếu, các ý chính của bài, kĩ năng giải đúng bài tập, kĩ năng thực hiện việc tự
kiểm tra, đặc biệt là kĩ năng trình bày tóm tắt cái đã học, xây dựng dàn bài cho
bài tập làm văn ...
2/ Thái độ tiêu cực với việc học tập do nhiều nguyên nhân mang lại:
Quá trình nghiên cứu các nguyên nhân học kém cũng cho thấy thái độ tiêu
cực đối với việc học của trẻ nam có tỉ lệ cao hơn trẻ nữ; trình độ thấp về mặt
giáo dục ở nam cũng cao hơn so với nữ. Phức hợp của 2 nguyên nhân (thái độ
tiêu cực đối với việc học và tính vô tổ chức, vô kỉ luật) đối tượng học sinh nam
cũng chiếm đa số.
Các học sinh học kém và yếu trước hết biểu hiện hoạt tính tư duy thấp trong
quá trình hoạt động nhận thức do giáo viên tổ chức. Các em ưa thích học để tái
hiện theo trí nhớ. Việc giải các bài tập đòi hỏi các thao tác tư duy như phân tích,
tổng hợp, khái quát hóa, cụ thể hóa đối với các em là rất khó khăn; do đó các em
thường dựa dẫm vào bạn bè, người thân.
12


3/ Ảnh hưởng của gia đình hoàn toàn bất lợi:
Thời gian sau này, nguyên nhân học kém do thiếu sức khỏe, điều kiện gia
đình không thuận lợi đã giảm đi rất nhiều. Các điều kiện xã hội - kinh tế thay
đổi đã tạo nên những khả năng thuận lợi cho sự phát triển thể chất và tinh thần
của trẻ em. Tuy nhiên đây vẫn là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn
đến tình trạng học sinh học kém.
4/ Các lỗ hổng kiến thức ở các lớp dưới:
Các dấu hiệu trên cho ta cơ sở để nói rằng các nguyên nhân học kém liên
tục của học sinh trước hết là các nhược điểm trong quá trình giảng dạy, giáo dục
của nhà trường như việc giảng dạy giáo dục có ảnh hưởng yếu ớt đến sự phát
triển tư duy của học sinh, thiếu sự chăm sóc cá nhân cần thiết đối với học sinh,
giáo viên thiếu kĩ năng tạo ra nhu cầu nhận thức cho học sinh, thiếu kĩ năng khắc
phục nhanh chóng các lỗ hổng kiến thức có liên quan tới các nội dung đã học,
thiếu kĩ năng chống lại ảnh hưởng xấu của gia đình, của môi trường ...
Việc đề phòng và khắc phục hiện trạng học kém của học sinh Tiểu học đòi
hỏi trước hết việc hiểu biết toàn diện về những học sinh cụ thể của một nhà
trường cụ thể, trên cơ sở đó mới có thể lựa chọn được các phương pháp giải
quyết tối ưu.
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG
Nhìn chung, việc khắc phục hiện trạng học sinh học kém nhiều năm nay có
những thuận lợi và khó khăn cụ thể như sau:
1/ Thuận lợi:
- Giáo viên được tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ đầy đủ nên nắm chắc mục
tiêu đào tạo và nhiệm vụ giáo dục học sinh của mình.
- Tài liệu Hướng dẫn thực hiện Chuẩn kiến thức, kĩ năng từng bộ môn giúp
giáo viên rất nhiều trong công tác soạn giảng, phụ đạo học sinh:
+ Tài liệu nêu rõ những yêu cầu cần đạt giúp giáo viên dễ dàng xác định mục
tiêu tiết học, căn cứ vào chuẩn để phát hiện các hiện tượng học sinh học kém.
+ Giải quyết được vấn đề “quá tải ” trong sách giáo khoa, có thêm thời gian để
giáo viên giúp đỡ học sinh học kém.
+ Nâng dần được hiệu quả từng tiết học do giáo viên bám sát chuẩn, dạy sâu
hơn, học sinh học chắc hơn.
+ Học sinh học kém được tạo điều kiện nỗ lực nhiều hơn để theo kịp các bạn, kĩ
năng tự học được hình thành và củng cố thường xuyên trong quá trình học tập.

13


2/ Khó khăn:
- Ngoài lòng yêu trẻ, công tác giúp học sinh kém còn đòi hỏi sự chịu khó,
kiên trì, nhẫn nại của giáo viên, điều này không phải giáo viên nào cũng có.
- Ý thức tự học của học sinh chưa cao, việc rèn luyện chưa thực hiện một
cách tự giác nên khó nâng được chất lượng học tập.
- Việc chọn hình thức tổ chức dạy học để vừa chuyển tải nội dung trọng
tâm, giúp đỡ học sinh có khó khăn trong học tập, vừa tạo điều kiện để học sinh
khá giỏi rèn luyện thêm là vấn đề gây nhiều lúng túng nhất cho giáo viên hiện
nay.
- Áp lực thời gian trong từng tiết học cũng gây khó khăn không ít cho giáo
viên khi có nhiều học sinh kém trong một lớp.

CHƯƠNG III- CÁC GIẢI PHÁP
GIẢI PHÁP 1
GIẢI PHÁP 1
TÌM HIỂU KĨ HỌC SINH NGAY TỪ ĐẦU NĂM HỌC
Việc nghiên cứu tìm hiểu học sinh cần phải tiến hành theo một chương
trình đặc biệt. Chương trình này một mặt phải toàn diện bao hàm các thành phần
cơ bản của cấu trúc nhân cách và các điều kiện bên ngoài có quan hệ với chúng.
Mặt khác chương trình phải được thực hiện một cách thuận tiện vừa sức, trong
hoàn cảnh nhà trường có nhiều lớp và trong hoàn cảnh bận rộn của các giáo viên.
1/ Nội dung nghiên cứu tìm hiểu học sinh:
- Về trình độ được giáo dục về tư tưởng, đạo đức: tìm hiểu về ý thức trách
nhiệm đối với các nhiệm vụ được giao; về thái độ và hành vi trước tập thể, thái
độ công phẫn đối với hành vi phá hoại quyền lợi của xã hội.
- Về thái độ đối với việc học tập: xem xét học sinh có ham muốn học tập tốt
không, tình cảm biểu hiện khi học tập thành công hay không đạt, về xu hướng
thực hiện mọi yêu cầu và chỉ dẫn của giáo viên, về sự hiểu biết ý nghĩa cá nhân
và ý nghĩa xã hội của việc học tập.
- Về các hứng thú và khuynh hướng chủ đạo: xem xét học sinh ham thích
môn học nào, loại hoạt động ngoài giờ nào.
- Về sự phát triển trí lực: xem xét về sự chú ý, trí nhớ, tư duy, về kĩ năng
nêu được các điểm chính, chủ yếu của bài học, về nhịp độ lĩnh hội kiến thức, về
tính độc lập tư duy và việc sử dụng các kiến thức trong giải bài tập.

14


- Về thói quen lao động học tập: xem xét học sinh về mặt kĩ thuật tổ chức
hợp lí việc học tập ở nhà, tự kiểm tra đánh giá kết quả học tập của mình.
- Về phẩm chất, ý chí: xem xét về khả năng biểu hiện tính kiên định trong
việc đạt các mục đích đã đặt ra, về xu hướng khắc phục các khó khăn trong học
tập và trong hạnh kiểm cá nhân, về kĩ năng thể hiện tính tổ chức và khả năng
khắc phục các ảnh hưởng làm cho mình bị xao lãng việc học tập.
- Về tầm hiểu biết văn hóa và sự phát triển thẩm mĩ: xem xét học sinh về
khả năng đọc sách, về bề rộng của các hứng thú văn hóa, về kĩ năng nhìn nhận
và hiểu biết cái đẹp trong nghệ thuật, trong đời sống, về sự biểu hiện thái độ của
mình, về sự tham gia tích cực vào công việc của tập thể có liên quan đến việc
giáo dục thẩm mĩ cho học sinh.
- Về sự phát triển thể chất: trước tiên xem xét tình trạng sức khỏe và mức độ
mệt mỏi của học sinh trong học tập và trong các hoạt động khác.
- Về hạnh kiểm và ý thức kỉ luật: xem xét học sinh có hiểu rõ ý nghĩa xã
hội, ý nghĩa cá nhân của việc thực hiện các quy tắc trong nội quy học sinh, về kĩ
năng thực hiện các nguyên tắc đó mà không cần sự nhắc nhở, về kĩ năng áp dụng
các thủ thuật tự giáo dục, về việc đấu tranh tích cực chống hành vi vô kỉ luật.
- Về ảnh hưởng giáo dục của gia đình: xem xét thái độ của gia đình đối với
việc xây dựng cho học sinh sự ham muốn hiểu biết, về việc tạo ra những điều
kiện tinh thần và sinh hoạt thuận lợi cho việc học tập của con em, về ảnh hưởng
của việc người lớn trong gia đình nêu gương cho trẻ em, về thái độ của phụ
huynh đối với yêu cầu của nhà trường.
- Về ảnh hưởng giáo dục các bạn cùng lứa tuổi ở nơi cư trú: xem xét tính
chất các hoạt động tụ họp của trẻ và tính chất các cuộc vui chơi giải trí trong thời
gian tự do, ảnh hưởng của các gương tốt đến hạnh kiểm của học sinh.
2/ Phương pháp nghiên cứu tìm hiểu học sinh:
Để thực hiện chương trình tìm hiểu học sinh cần sử dụng nhiều phương
pháp, phối hợp các bộ phận trong và ngoài nhà trường, tham khảo ý kiến của
nhiều người trên việc đánh giá cùng một trẻ và tránh những kết luận vội vàng vì
có những mặt nhân cách cần có thời gian quan sát dài mới có thể có được những
nhận định chính xác và khách quan về trẻ. Do vậy, ngay từ đầu năm, giáo viên
cần thống nhất với lãnh đạo nhà trường, thông báo cho các đối tượng cần phối
hợp về ý định xây dựng chương trình tìm hiểu học sinh để học có thể tham gia có
ý thức vào công tác này.
- Khi nghiên cứu các điều kiện sống của trẻ trong gia đình, giáo viên có thể
cùng với phụ huynh xây dựng ngắn gọn lịch sử cuộc sống của trẻ từ tuổi ấu thơ
cho đến thời điểm hiện tại.
- Tạo ra tình huống và xem xét trẻ sẽ tự giải quyết tình huống như thế nào.
15


- Phương pháp hỏi, viết nếu được sử dụng một cách khôn khéo sẽ cho các
giáo viên biết được nhiều điều về thế giới nội tâm của trẻ.
- Quan sát hoạt động, trao đổi trực tiếp với học sinh, với phụ huynh cũng sẽ
giúp giáo viên tìm hiểu các khía cạnh nhân cách của trẻ.
- Tổ chức ra nhóm hội đồng sư phạm để các giáo viên dạy cùng một lớp trao
đổi về học sinh, trong đó người chủ trì là giáo viên chủ nhiệm lớp. Việc này nên
làm 2 lần trong năm học: sau khảo sát đầu năm học và cuối học kì I.
- Đầu năm học, nhà trường tổ chức kĩ khâu bàn giao lớp, giáo viên lớp trên
cung cấp đầy đủ thông tin của học sinh, đặc biệt là học sinh có dấu hiệu học kém
để giáo viên chủ nhiệm nhanh chóng tiếp cận học sinh.

GIẢI PHÁP 2
BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA CÁC HIỆN TƯỢNG HỌC KÉM
Hệ thống các biện pháp phòng ngừa học kém phải hướng vào phát triển
phức hợp các thành tố cơ bản của khả năng học tập hiện thực của mỗi học sinh,
nghĩa là hướng vào việc phát triển đồng thời các mặt trí lực, ý chí, tình cảm, của
nhân cách vào việc bảo đảm sự thống nhất giữa giảng dạy và giáo dục, vào việc
xây dựng thái độ tích cực đối với việc học tập, đối với tập thể, với việc phát triển
khả năng làm việc, vào việc bảo đảm các điều kiện bên ngoài thuận lợi cho việc
học tập ... Sự đánh giá không đúng tầm quan trọng của việc xây dựng từng mặt
trong khả năng học tập thực hiện của học sinh sẽ làm cho hệ thống các biện pháp
trở thành không đầy đủ, không toàn vẹn và không giải quyết được nhiệm vụ đặt
ra. Thái độ tiếp cận phức hợp nói trên đòi hỏi việc thực hiện nhất quán các biện
pháp đề phòng toàn trường, toàn lớp, thuộc về nhóm, thuộc về cá nhân về mặt
giảng dạy và giáo dục.
1/ Biện pháp phòng ngừa học sinh học kém ở phạm vi toàn trường:
Kết quả của việc phòng ngừa học sinh học kém trước hết phụ thuộc vào
hoạt động tổ chức của nhà trường, vào khả năng của các nhà giáo lôi cuốn vào
công tác này các đội viên thiếu niên, các phụ huynh học sinh và các tổ chức xã
hội của địa phương.
- Tổ chức cho tập thể nhà trường nghiên cứu một cách có hệ thống những
điều chỉ dẫn của khoa sư phạm và của kinh nghiệm tiên tiến về các con đường,
các biện pháp phòng ngừa học sinh học kém, các nguyên nhân điển hình gây ra
học kém. Đồng thời giới thiệu các bài báo về giáo viên giỏi, tập thể giáo viên
tiên tiến về vấn đề này. Các nội dung này đem ra thảo luận ở hội đồng sư phạm

16


nhằm mục đích tự bồi dưỡng và cũng có thể tổ chức hội thảo trong hội cha mẹ
học sinh.
- Khái quát hóa các kết quả nghiên cứu và phân tích ở các lớp về nguyên
nhân học kém điển hình đối với trường mình thể hiện trong kế hoạch của nhà
trường các khâu chính và các giai đoạn chủ yếu của công tác giảng dạy giáo dục
cần hoàn thiện nhằm mục đích đề phòng học sinh học kém.
- Xác định trên quy mô toàn trường khả năng hoàn thiện cơ sở vật chất,
trang thiết bị dạy học, hoàn thiện các điều kiện vệ sinh, bảo vệ sức khỏe nhằm
thực hiện phòng ngừa hiện tượng học kém.
- Nghiên cứu môi trường sinh hoạt của học sinh nhằm hiểu rõ các yếu tố và
các hiện tượng có ảnh hưởng tiêu cực đến thái độ học sinh đối với việc học. Tiếp
xúc các cơ quan chính quyền và tổ chức xã hội nhằm kết hợp tìm biện pháp giải
quyết các hiện tượng trên.
- Tổ chức kiểm tra nội bộ trường học một cách có hệ thống nhằm ngăn ngừa
học sinh học kém:
+ Kiểm tra tình hình nghiên cứu học sinh của các giáo viên chủ nhiệm và
giáo viên bộ môn của từng lớp, tình hình các bài làm kiểm tra của số học sinh
học kém.
+ Khi dự giờ, chú ý đặc biệt đến việc các giáo viên áp dụng các thủ thuật đề
phòng học kém (chú ý các chương khó, việc nêu điểm chính, củng cố và ôn tập
có hệ thống, phân tích các lỗi của học sinh, áp dụng các biện pháp chăm sóc học
sinh kém một cách phân hóa theo nhóm, chăm sóc cá biệt...)
+ Phân tích có hệ thống các kết quả học tập từng giai đoạn về tình hình học
sinh học kém, số liệu về các bài kiểm tra toàn lớp và kiểm tra chẩn đoán có thể
đưa lên thành các biểu đồ toàn trường. Làm nổi bật các thiếu sót điển hình, các
nguyên nhân của chúng có thể đưa đến hiện trạng học kém và thống nhất biện
pháp khắc phục.
+ Thực hiện việc kiểm tra đặc biệt về công tác đề phòng học sinh học kém
nhằm nắm chắc tình trạng học kém và tình hình các em được giúp đỡ, giáo dục.
+ Nghiên cứu, phân tích tình hình phối hợp công tác của giáo viên với các
tổ chức trong và ngoài nhà trường nhằm đảm bảo sự tác động thống nhất nhằm
giáo dục học sinh có trách nhiệm đối với việc học tập và xây dựng kĩ năng học
tập cho các em.
+ Nghiên cứu những khó khăn trong công tác của giáo viên, hoàn thiện việc
giáo viên tự phân tích công tác giảng dạy giáo dục và tự bồi dưỡng để nắm các
phương pháp đề phòng học sinh học kém.
2/ Biện pháp phòng ngừa học kém ở quy mô toàn lớp, theo nhóm và
theo từng cá nhân:

17


Các biện pháp phòng ngừa học kém ở quy mô toàn lớp cần được kết hợp
với các biện pháp theo nhóm và theo từng cá nhân. Trên cơ sở các đặc điểm hoạt
động học tập nhận thức của học sinh kém, cần thực hiện sự chăm sóc cá biệt,
trước hết nhằm rèn luyện những thói quen đặt kế hoạch, tổ chức hợp lí việc học
tập, tìm ra điểm chính trong bài, thực hiện tự kiểm tra, biểu hiện tích cực và độc
lập trong việc làm bài. Việc chăm sóc đặc biệt chủ yếu bằng cách giúp đỡ học
sinh một cách có phân hóa, kịp thời và khôn khéo trong tất cả các giai đoạn của
bài giảng.
a/ Kiểm tra đầu giờ: giáo viên cần kiểm tra kĩ về các kiến thức thường là
phức tạp đối với học sinh, phân tích chu đáo các thiếu sót điển hình của lớp.
Kiểm tra kĩ các học sinh vắng mặt trong các giờ ôn tập chương vì tiết này không
những tổng kết về các kiến thức đã thu được mà còn nêu lên những ưu, khuyết
điểm trong kĩ năng học tập. Khâu kiểm tra cần tạo nên một không khí đặc biệt
thiện chí khi hỏi học sinh, hạ thấp nhịp độ hỏi, ghi câu hỏi trước đưa cho học
sinh, kích thích học sinh bằng những lời khen hoặc cho điểm tốt.
b/ Dạy bài mới: giáo viên cần nắm được học sinh có hiểu các kiến thức cơ
bản đang giảng không, động viên học sinh nêu những điểm khó hiểu, gây hứng
thú cho học sinh khi lĩnh hội các kiến thức, sử dụng phương pháp dạy học đa
dạng giúp cho nhiều đối tượng học sinh có thể lĩnh hội các kiến thức. Liên hệ
kiến thức với đời sống, nêu bật điểm mới, điểm có tính thời sự, nội dung vui. Đặt
câu hỏi nhiều hơn cho học sinh kém để các em có nhiều cơ hội biểu hiện mức độ
hiểu bài, sử dụng các em trong việc giúp đỡ giáo viên chuẩn bị dụng cụ, mô tả
các thí nghiệm, dựa vào các đồ dùng dạy học giải thích vấn đề nhằm chuyển từ
tư duy trực quan sang tư duy khái niệm, động viên các em nêu lại những kết luận
do giáo viên hay học sinh khá nêu lên.
c/ Cho làm bài tập tại lớp: giáo viên cần chọn bài tập như thế nào để luyện
tập được các kiến thức cơ bản và khó nhất để với một số ít bài tập có hệ thống sẽ
đạt được hiệu quả lĩnh hội cao. Đưa vào nội dung bài tập những điểm nhằm sửa
chữa thiếu sót mà học sinh đã mắc phải khi trả lời miệng. Hướng dẫn học sinh
trình tự thực hiện công tác độc lập, động viên học sinh hỏi giáo viên khi gặp khó
khăn, khéo léo giúp đỡ học sinh nhằm phát huy tính độc lập trong học tập.
Giáo viên có thể giúp học sinh kém bằng cách chia cắt một bài phức tạp
thành từng giai đoạn, thành nhiều phần đơn giản, nhắc đến một bài tập tương tự
đã làm trước đây, gợi ý về phương pháp làm bài, chỉ rõ chỗ sai và kiểm tra xem
các em đã sửa được chưa.
Khi tổ chức cho học sinh thi đua giải bài tập, giáo viên cần khéo léo: nội
dung bài tập phù hợp trình độ, đôi bạn thi đua không quá chênh lệch về lực học.

18


Như thế các em mới có điều kiện hoàn thành nhiệm vụ và xây dựng được sự tự
tin, học sinh học kém sẽ cố gắng hơn trong học tập.
d/ Ra bài tập về nhà: giáo viên cần điều hòa khối lượng các bài tập ở nhà
để tránh làm việc quá sức, đặc biệt là học sinh kém. Nội dung bài tập cần đảm
bảo cho học sinh ôn tập được kiến thức cơ bản cần thiết. Cần hướng dẫn rõ ràng
trình tự thực hiện và kiểm tra xem những học sinh kém đã hiểu rõ những điều
giáo viên hướng dẫn chưa. Đôi khi cần giao nhiệm vụ ôn tập các kiến thức cần
thiết để giúp các em hiểu bài mới. Đối với học sinh kém do hổng kiến thức và kĩ
năng, giáo viên cần có kế hoạch để từng cá nhân học sinh có thể thanh toán các
lỗ hổng ấy dần dần.

GIẢI PHÁP 3
BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC CÁC HIỆN TƯỢNG HỌC KÉM
Các biện pháp phòng ngừa không phải lúc nào cũng mang lại hiệu quả tốt
đẹp do nhiều nguyên nhân, vì vậy, cần có biện pháp riêng biệt nhằm khắc phục
nạn học kém, các biện pháp này chủ yếu mang tính chất tác động cá nhân.
1/ Làm tốt công tác chẩn đoán:
Hiện tượng học kém thường bắt buộc bao hàm những lỗ hổng kiến thức, kĩ
năng và thói quen học tập, vì thế trong hệ thống các biện pháp khắc phục phải có
việc thanh toán các lỗ hổng đó. Cần làm rõ tính chất và độ sâu của các lỗ hổng,
làm rõ các lỗ hổng nằm ở chương nào, về kiến thức nào, hoặc kĩ năng vận dụng
những điều đã học vào công tác thực hành, vào việc giải bài tập... Để làm việc
này, các giáo viên cần phải thực hiện các biện pháp sau:
- Ra bài kiểm tra chẩn đoán, trao đổi với học sinh nhằm mục đích chẩn
đoán.
- Phân tích một cách có hệ thống những sai sót điển hình, những khó khăn
điển hình bộc lộ ra trong qua trình hỏi bài thường ngày, trong khi học sinh làm
bài viết ở trường và ở nhà.
Sau khi xác định được những hạn chế và nguyên nhân những thiếu sót của
học sinh, giáo viên vạch ra kế hoạch giúp các em nhanh chóng khắc phục. Trong
việc đặt kế hoạch giúp đỡ học sinh học kém, giáo viên cần suy nghĩ về một hệ
thống bài tập tổng hợp mà với số lượng không nhiều, học sinh cũng đủ nắm được
các phương pháp làm các bài tập cùng loại. Tránh việc ra quá nhiều bài tập gây
ra sự làm việc quá sức, làm học sinh nản lòng và không tin tưởng ở khả năng
19


khắc phục sự học kém của mình. Giáo viên có thể ra bài tập theo phương pháp
chương trình hóa, nghĩa là một vấn đề nào đó được chia nhỏ thành từng phần để
học sinh tự giải quyết. Giáo viên sẽ kiểm tra việc nắm kiến thức từng phần một
cách có hiệu quả hơn là bắt học sinh nắm toàn bộ vấn đề cùng một lúc.
2/ Giúp học sinh nhận ra nguyên nhân học kém của mình và tự khắc
phục:
Các sai sót đặc trưng của học sinh là cơ sở để giáo viên phân tích các
nguyên nhân xuất hiện chúng. Đó có thể là các lỗ hổng về kiến thức, kĩ năng,
thói quen ở một môn, mà cũng có thể là ở cả các môn học khác nữa. Thí dụ: học
sinh phạm lỗi khi làm bài tập toán là do không thuộc bảng nhân chia, giáo viên
cần giải thích cho học sinh rõ được lợi ích khi nắm chắc kiến thức cần thiết để
tính toán và khuyến khích các em tự giác khắc phục. Hoặc khi giúp học sinh
khắc phục những lỗ hổng trong kĩ năng và các thói quen tổ chức lao động học
tập hợp lí, giáo viên cần làm cho học sinh thấy rằng nếu không chịu khó suy nghĩ
để xây dựng dàn bài cho bài tập làm văn thì bài làm sẽ không đầy đủ, thiếu ý
hoặc thiếu logic; ngược lại một bài làm được trình bày theo dàn ý đã suy nghĩ kĩ
thường đầy đủ ý, ngắn gọn nhưng xúc tích. Công tác sửa chữa thiếu sót được
giáo viên hỏi đến mỗi khi kiểm tra miệng học sinh hoặc giao cho nhóm hỗ trợ.
Nếu sau khi đã giúp học sinh khắc phục được lỗ hổng kiến thức về một phần nào
đó, giáo viên ra những bài tập tương ứng thì học sinh sẽ phấn khởi và dần lấy lại
sự tự tin.
3/ Giúp học sinh tự kiểm tra, đánh giá hoạt động học tập của mình:
Điều giáo viên cần lưu ý là kĩ năng và thói quen tự kiểm tra của những học
sinh học kém thường có nhiều thiếu sót, học sinh thường trả lời rằng em đã
chuẩn bị bài chu đáo nhưng kết quả là học sinh vẫn bị điểm xấu vì trong khi
chuẩn bị bài ở nhà, các em không biết mình đã nắm vững kiến thức tới mức nào.
Việc học bài và hiểu bài một cách hời hợt, việc không tự đặt ra những câu hỏi để
tự trả lời làm cho học sinh lúng túng khi giáo viên hỏi bài.
Để xây dựng kĩ năng kiểm tra có thể ra các bài tập đặc biệt như bài tập yêu
cầu học sinh tìm ra những sai sót trong một bài làm mà giáo viên cố ý tạo ra
nhiều lỗi hoặc tổ chức cho học sinh chữa bài cho bạn... Để giúp học sinh khắc
phục những lỗ hổng về kĩ năng xây dựng dàn bài cho các bài tập làm văn thì tốt
nhất là cho học sinh trao đổi trong nhóm khi đối chiếu dàn bài chưa hoàn chỉnh
và dàn bài đã xây dựng tốt.
Nếu không có khả năng khắc phục tình trạng học kém bằng cách tổ chức tốt
việc tự học của học sinh kém thì có thể tổ chức các hình thức tương trợ đa dạng,
trong đó cả học sinh kém lẫn học sinh khá được phân công giúp đỡ nhau.
4/ Kiểm tra hoạt động học tập của học sinh học kém:
20


Khi kiểm tra bài học sinh, giáo viên không nên tập trung vào đối tượng khá
giỏi; nên chú ý học sinh học kém, kiểm tra tất cả bài làm ở nhà, hướng dẫn học
sinh chữa lỗi đầy đủ. Trong tiết học, cần hỏi miệng nhiều hơn kiểm tra viết. Cần
phải sử dụng đúng đắn việc cho điểm học sinh kém. Nếu giáo viên lạm dụng
những điểm “một, hai” thì sẽ phá hủy những ham muốn học tập tích cực. Cần
tuyên dương những tiến bộ cho dù rất nhỏ. Bảng danh dự ở lớp, những phần
thưởng không nên chỉ dành học sinh giỏi mà cần có tên những học sinh học kém
nhưng tiến bộ. Có như thế thì các em mới nỗ lực hơn nữa trong học tập để vươn
lên bằng các bạn.
5/ Thái độ của giáo viên khi giúp đỡ học sinh kém góp phần tăng hiệu
quả:
Giáo viên cần tạo ra một bầu không khí gần gũi và tình cảm trong khi giúp
học sinh kém, nói với các em bằng giọng đầy thiện chí, khích lệ những kết quả
đầu tiên, khen ngợi những câu trả lời đạt, lắng nghe các em nói lên những khó
khăn, những thắc mắc, những nguyện vọng của mình. Quan tâm mọi câu hỏi của
học sinh dầu rằng có tỏ ra ngờ nghệch và nhầm lẫn đến mức nào chăng nữa. Cần
bình tĩnh, kiên nhẫn khi học sinh mãi vẫn chưa khắc phục được hạn chế. Thái độ
đó làm cho thầy và trò thông cảm với nhau, khích lệ học sinh vượt qua những
khó khăn trong học tập.
5/ Tổ chức phụ đạo ngoài giờ lên lớp:
Việc phụ đạo học sinh cần tập trung vào những nội dung sau:
- Hướng dẫn học sinh kĩ năng nêu lên những khó khăn trong học tập.
- Giúp đỡ học sinh nắm vững phương pháp chung để giải bài tập, xây dựng
cho được kĩ năng sử dụng các phương pháp chung đó vào việc giải bài tập.
- Lựa chọn tài liệu phụ đạo như thế nào để không những giúp học sinh khắc
phục những lỗ hổng kiến thức, kĩ năng và thói quen, mà còn chuẩn bị cho học
sinh tham gia tích cực vào việc xây dựng bài mới.
Cần nhấn mạnh rằng việc phụ đạo ngoài giờ tuy có đem lại kết quả tốt
nhưng tạo ra khuynh hướng đi chệch khỏi quá trình giảng dạy, giáo dục bình
thường. Vì vậy chỉ nên sử dụng biện pháp này trong một thời gian nhất định mà
thôi.

21


CHƯƠNG IV- KẾT QUẢ KIỂM NGHIỆM
THỐNG KÊ KẾT QUẢ GIÁO DỤC MÔN TIẾNG VIỆT
CỦA TRƯỜNG TH LONG HƯNG
Năm học 2011 – 2012
Giỏi
4

ĐẦU NĂM
Khá
TB
Yếu
31

35

11

TB
70
81.6%

Giỏi
53

CUỐI HỌC KÌ II
Khá
TB
Yếu
27

1

0

TB
81
100%

Năm học 2012 – 2013:
Giỏi
7

ĐẦU NĂM
Khá
TB
Yếu
57

59

18

TB
123
87.2%

Giỏi
61

CUỐI HỌC KÌ I
Khá
TB
Yếu
59

21

0

TB
141
100%

Quá trình áp dụng các giải pháp của đề tài Đề phòng và khắc phục hiện
trạng học sinh học kém những năm qua đã cho thấy kết quả một cách cụ thể:
- Chất lượng dạy học được nâng lên. Khắc phục được hiện tượng học sinh
học kém nhiều năm liền.
- Các tiết học trở nên sinh động, các đối tượng học sinh đều được tạo điều
kiện, được cuốn hút vào các hoạt động học tập, rèn kĩ năng một cách tự giác; đa
số tiết học đạt mục tiêu: tự nhiên, nhẹ nhàng, chất lượng và hiệu quả.
- Học sinh giỏi có điều kiện phát huy tối đa năng lực của mình, học sinh yếu
và trung bình cũng được lôi cuốn vào các hoạt động học tập, thúc đẩy việc hình
thành ý thức tự giác rèn luyện để tiến bộ.
- Thành công của đề tài còn góp phần vào việc hình thành kĩ năng tự học
cho học sinh, tạo tiền đề tốt cho việc học các lớp trên.

22


23


I. KẾT LUẬN
Việc đề phòng và khắc phục hiện trạng học kém đòi hỏi trước hết việc hiểu
biết toàn diện về những học sinh cụ thể của một nhà trường cụ thể, trên cơ sở đó
mới có thể lựa chọn được các phương pháp giải quyết tối ưu. Các biện pháp giáo
dục cần có sự thống nhất mọi cố gắng của giáo viên, cha mẹ, các tổ chức xã hội
và của bản thân học sinh nhằm xây dựng cho các em những động cơ học tập
đúng đắn, từ đó xây dựng thái độ chăm chỉ và có trách nhiệm cho việc học tập
của mình. Cần làm cho học sinh thấy mình được thầy cô, cha mẹ và bè bạn quan
tâm, giúp đỡ và họ đang mong đợi những cố gắng của mình. Kết quả là học sinh
kém sẽ biểu hiện xu hướng muốn tự học, tự giáo dục tốt hơn. Trên cơ sở đó, tổ
chức sự giúp đỡ học sinh về các phương pháp tự học, các phương pháp rèn luyện
sự chú ý, trí nhớ, tư duy và nghị lực trong học tập. Các phụ huynh học sinh là
những người giúp đắc lực của thầy giáo. Ngay từ đầu năm, giáo viên cần liên hệ
mật thiết với phụ huynh học sinh học kém, đề nghị họ phối hợp thực hiện những
biện pháp cụ thể nhằm giáo dục và giúp đỡ các em.
Trong tình hình hiện nay, các hình thức dạy thêm học thêm không còn được
ủng hộ. Các biện pháp cơ bản nhất để giải quyết hiện trạng học kém phải được
xây dựng trên cơ sở tối ưu hóa quá trình giảng dạy-giáo dục của các thầy cô giáo
trong khuôn khổ của tổ chức nhà trường và ngành giáo dục cho phép. Việc giảng
dạy theo phương pháp cá biệt hóa mang lại cho học sinh nhiều khả năng phát
triển năng lực cá nhân. Không chỉ riêng bộ môn Toán mà tất cả các tiết học, môn
học nào giáo viên cũng cần khuyến khích, tạo điều kiện cho học sinh có khả
năng rèn luyện thêm. Đối với học sinh học kém, tuy sẽ gặp không ít khó khăn
trong quá trình thực hiện nhưng có cố gắng chắc chắn sẽ gặt hái thành công.

24


II. KHUYẾN NGHỊ
Đề phòng và khắc phục các hiện tượng học kém thực chất là xây dựng quá
trình giảng dạy, giáo dục như thế nào để loại trừ các yếu tố và các điều kiện làm
giảm khả năng học tập của học sinh. Nhiệm vụ của nhà giáo là đề phòng các hiện
tượng học kém dưới bất cứ dạng biểu hiện nào, tập trung sự chú ý vào việc khắc
phục các biểu hiện ban đầu, không để cho các dấu hiện ban đầu trầm trọng thêm
và không để cho sự học kém lan truyền từ bộ môn này sang bộ môn khác.
- Cần hiểu biết một cách toàn diện thì nhà giáo mới có thể chọn giải pháp
thích hợp cho từng đối tượng. Một trong những đặc điểm tâm lí của học sinh học
kém là nhiều em thiếu một thái độ học tập tích cực và bền vững, lúc thì tự nhiên
ham muốn học, lúc thì tắt ngấm. Một số thì tỏ ra chán học rõ rệt. Một số em tuy
trí lực kém nhưng có thái độ tích cực trong học tập. Các em cảm thấy cay đắng
khi kết quả học không đạt, có cố gắng học tập nhưng do cách học theo kiểu “vẹt”
máy móc nên không tiến lên được. Một số em khác có khả năng học tập nhưng
không biểu hiện khả năng đó trong nhà trường vì rằng các em không muốn học.
Các em này có những hứng thú nhận thức ngoài nhà trường và kết quả học tập
kém ở lớp được bù lại bằng các thành tích đọc sách, vẽ, làm mô hình, thể thao...
Tính vô tổ chức và tính không thích khuất phục trước các yêu cầu của nhà trường
thường dẫn đến xung đột với lớp và tách rời tập thể. Một điều cần chú ý là trong
số các học sinh học kém thường có những “nhà thực hành”, với kiểu tư duy trực
giác - thực hành phát triển mạnh hơn so với tư duy ngôn ngữ lôgic. Nhờ có kiểu
tư duy trực giác thực hành, một vài học sinh có thể thực hiện tốt hơn các thao tác
trí tuệ, do đó có thể tiến tới tự điều chỉnh. Điều này nhà giáo không nên đánh giá
thấp. Thường ta có cảm giác rằng trẻ học kém không có khả năng tập trung chú
ý. Nhưng khi người ta thử ra cho các học sinh một bài tập đặc biệt đòi hỏi sự chú
ý và nói rằng thời gian làm bài không hạn chế thì lúc đó các em có thể đạt các
kết quả không thấp hơn các bạn. Như vậy là trong những điều kiện nhất định các
em vẫn có thể tập trung chú ý nhưng cần cố gắng nhiều hơn. Ta không nên coi
sự chú ý kém là nguyên nhân số một của việc học kém và sự chú ý kém là do học
sinh chưa được lôi cuốn một cách thích hợp vào các hoạt động học tập tích cực.
- Cần khen ngợi kịp thời những tiến bộ trong học tập mà học sinh đạt được so
với giai đoạn trước. Có khi bằng cách thay đổi dạng bài tập và chủ yếu bằng
cách giúp đỡ học sinh một cách khôn khéo, ta tạo ra được những tình huống học
tập thắng lợi (chiến lược hình thành sự thắng lợi)nhằm tạo ra ở học sinh những
tình cảm tốt, niềm tin và tính kiên định.
- Cần nêu kinh nghiệm của những học sinh kém nhưng do tính cần mẫn, tính
kỉ luật trong học tập đã đạt được tiến bộ đáng kể để các em noi theo.
25


x

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×