Tải bản đầy đủ

Các Nhân Tố Hỗ Trợ và Cản Trở Hộ Nghèo Tiếp Cận các Nguồn Vốn Sinh Kế để Giảm Nghèo Bền Vững

BÁO CÁO TÓM TẮT

Các Nhân Tố Hỗ Trợ và Cản Trở Hộ Nghèo Tiếp Cận
các Nguồn Vốn Sinh Kế để Giảm Nghèo Bền Vững
1. Mở đầu
1.1. Lý do nghiên cứu
Trong khuôn khổ thực hiện các dự án nâng cao năng lực phát triển cộng đồng của
chương trình Chia Sẻ - SIDA, rất cần có các nghiên cứu về giải pháp nâng cao khả năng
của hộ nông dân trong tiếp cận và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực (vốn sinh kế) cho
phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo và phát triển cộng đồng bền vững.

1.2. Câu hỏi nghiên cứu
1) Người nghèo đang bị hạn chế trong tiếp cận các nguồn lực sinh kế như thế nào
(như đã được thể hiện trong khung sinh kế)?
2) Những nhân tố thuận lợi và cản trở hộ nghèo tiếp cận các nguồn vốn sinh kế để
giảm nghèo? Nhân tố nào đóng góp lớn nhất vào việc giảm nghèo trong ngắn hạn,
nhân tố nào đóng góp lớn nhất đối với việc giảm nghèo trong trung hạn và dài hạn?
3) Có những điểm mạnh, điểm yếu gì trong các cách tiếp cận đã được Chương trình
Chia Sẻ sử dụng trong các điểm nghiên cứu? Những cách tiếp cận nào có thể được
nhân rộng cho những điểm khác?
4) Nên điều chỉnh hay cải tiến những gì trong các chính sách của Chính phủ có thể

giúp người nghèo tiếp cận tốt hơn các nguồn lực sinh kế?

1.3. Giả thiết nghiên cứu


Hiện nay người nghèo đang bị hạn chế trong việc tiếp cận các nguồn lực sinh kế;



Ảnh hưởng của những nhân tố thuận lợi và những nhân tố cản trở những hộ nghèo
tiếp cận các nguồn vốn sinh kế để giảm nghèo bao gồm các nhân tố bên trong và
nhân tố bên ngoài là khác nhau;



Các cách tiếp cận của chương trình Chia Sẻ về giảm nghèo là phù hợp trong bối
cảnh của Việt Nam, cần được tổng kết để áp dụng tới các vùng nông thôn khác ở
Việt Nam trong những giai đoạn tiếp theo.



Những bài học từ thực hiện Chương trình Chia Sẻ ở Việt Nam sẽ là những gợi ý
quan trọng cho việc điều chỉnh các chính sách của Chính phủ để người nghèo tiếp
cận tốt hơn các nguồn vốn sinh kế và nâng cao hiệu quả của các chương trình giảm
nghèo.

1.4. Mục tiêu nghiên cứu
1.4.1. Mục tiêu tổng quát:
Xác định những nhân tố thuận lợi và cản trở hộ nghèo tiếp cận các nguồn lực
để giảm nghèo bền vững
1.4.2. Mục tiêu cụ thể:
1) Nghiên cứu những vấn lý luận và thực tiễn liên quan đến sinh kế nông dân nghèo,
nhóm nguồn lực, tiếp cận nguồn lực và chiến lược sinh kế;

1


2) Xác định những nhân tố thuận lợi và cản trở hộ nghèo tiếp cận các nguồn lực để
giảm nghèo. Đánh giá kết quả sinh kế của nông hộ sau khi tham gia dự án Chia Sẻ.
3) Nghiên cứu tiến trình và các cách tiếp cận của Chương trình Chia Sẻ trong thực

hiện dự án XĐGN ở các vùng nông thôn, xác định những phương pháp nào có thể
áp dụng rộng rãi trong các chương trình giảm nghèo của Chính phủ.
4) Đưa ra khuyến nghị chính sách để người nghèo tiếp cận tốt hơn những nguồn lực
sinh kế.

1.5. Phương pháp nghiên cứu
Thu thập số liệu:
1) Thu thập tài liệu thứ cấp: Tài liệu về khung sinh kế bền vững, văn kiện Chương
trình, báo cáo đánh giá chương trình Chia Sẻ, báo cáo đánh giá của các tổ chức/nhà
khoa học về XĐGN.
2) Phương pháp chuyên gia: Nghiên cứu sẽ sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp
các chuyên gia hay tổ chức các cuộc hội thảo lấy ý kiến rộng rãi của các chuyên
gia, các nhà khoa học, các nhà quản lý.
3) Phỏng vấn cấu trúc: Hệ thống câu hỏi phỏng vấn được soạn thảo và điều tra thử để
kiểm tra mức độ thu thập thông tin có thể và kiểm tra tính chính xác của thông tin
thu thập. Các câu hỏi in sẵn tập trung vào việc thu thập các tư liệu số liệu phục vụ
nghiên cứu thực trạng, đánh giá nhu cầu nâng cao năng lực tiếp cận nguồn vốn sinh
kế của người nghèo và những đề nghị của người nghèo về cơ chế, chính sách giúp
họ trong việc tiếp cận nguồn lực sinh kế.
4) Phương pháp RRA, PRA: Nghiên cứu sử dụng các công cụ RRA, PRA để thu thập
thông tin trong quá trình nghiên cứu như: Thăm thôn bản, thăm đồng ruộng, thảo
luận nhóm, phỏng vấn bán cấu trúc, bản đồ thôn bản, sa bàn thực tiễn ...
5) Phỏng vấn sâu cán bộ và người dân: Thông qua việc thu thập những người nắm tin
chính như cán bộ chương trình Chia Sẻ tỉnh, các Sở, Ban, Ngành liên quan, cán bộ
Chia Sẻ huyện, xã, người có vai trò trong thôn, bản nhằm mục đích thu thập các
thông tin chuyên sâu về tình hình đói nghèo của địa phương, thực trạng sử dụng
các nguồn vốn sinh kế trong những năm qua, khả năng tiếp cận các nguồn vốn sinh
kế của người dân. Yếu tố thúc đẩy và cản trở người dân tiếp cận nguồn lực. Đây là
những thông tin định tính quan trọng phục vụ cho nghiên cứu. (Bảng 1)
Phân tích số liệu
• Phương pháp thống kê mô tả: Phương pháp này được vận dụng để mô tả bức tranh
tổng quát về tình hình cơ bản các địa bàn nghiên cứu, thực trạng nghèo đói, thực trạng
các nguồn lực sinh kế cho giảm nghèo bền vững tại các địa phương. Bằng phương
pháp này chúng ta có thể mô tả được những nhân tố thuận lợi và cản trở sự tiếp cận
các nguồn vốn sinh kế đối với người nghèo.
• Phương pháp phân tích so sánh: Từ việc phân tổ thống kê các nhóm hộ theo các
tiêu chí phân tổ, chúng ta sẽ so sánh các nhóm hộ với nhau về điều kiện và khả năng
tiếp cận nguồn vốn sinh kế. Trên cơ sở đó phân tích được mức độ ảnh hưởng, nguyên
nhân của hạn chế giữa các vùng, các nhóm hộ. So sánh giữa các vùng tiếp cận dễ dàng
hay khó khăn đối với từng nguồn lực và khả năng của người dân trong việc tiếp cận,
và cuối cùng là so sánh giữa các hộ tham gia dự án Chia Sẻ và các hộ không tham gia
dự án Chia Sẻ để có sự đối chứng.

2


* Phương pháp phân tích định tính: Dựa vào nguồn số liệu PRA, phóng vấn sâu, để
phân tích định tính các vấn đề liên quan đến nghèo đói, những khó khăn trở ngại, các
nhân tố hỗ trợ người dân tiếp cận các nguồn vốn sinh kế để giảm nghèo bền vững.
Phân tích những khó khăn, tồn tại, cơ hội và thách thức (SWOT).

1.6. Giới hạn nghiên cứu
Với phạm vi nghiên cứu của đề tài rộng, lại chủ yếu ở vùng dân nghèo, dân trí thấp nên
bên cạnh phỏng vấn hộ, nghiên cứu sẽ sử dụng chủ yếu phương pháp thảo luận nhóm để
thu thập thông tin làm cơ sở để viết báo cáo. Phương pháp thảo luận nhóm (group
discussions) có điểm mạnh là giúp hệ thống hóa được các vấn đề ở các vùng dân trí thấp vì
có sự bổ sung, kiểm tra chéo thông tin trong quá trình thảo luận. Bên cạnh đó, nghiên cứu
cũng sẽ tiến hành một số nghiên cứu điển hình (case studies) để minh chứng cho các nhận
định trong báo cáo.

2. Tổng Quan Lý Thuyết Sinh Kế
2.1. Khái niệm sinh kế
Thuật ngữ “sinh kế bền vững” được sử dụng đầu tiên như là một khái niệm phát
triển vào những năm đầu 1990. Tác giả Chambers và Conway (1992) định nghĩa về sinh
kế bền vững như sau: Sinh kế bền vững bao gồm con người, năng lực và kế sinh nhai, gồm
có lương thực, thu nhập và tài sản của họ. Ba khía cạnh tài sản là tài nguyên, dự trữ, và tài
sản vô hình như dư nợ và cơ hội. Sinh kế bền vững khi nó bao gồm hoặc mở rộng tài sản
địa phương và toàn cầu mà chúng phụ thuộc vào và lợi ích ròng tác động đến sinh kế khác.
Sinh kế bền vững về mặt xã hội khi nó có thể chống chịu hoặc hồi sinh từ những thay đổi
lớn và có thể cung cấp cho thế hệ tương lai.

2.2. Khung phân tích sinh kế
Hình 1: Phân tích khung sinh kế của nông dân nghèo.

Bối cảnh
dễ tổn
thương
- Xu hướng
- Thời vụ
- Chấn động
(trong
tự
nhiên

môi trường,
thị trường,
chính
trị,
chiến
tranh…)

Con người

Xã hội

Vật chất

Tự nhiên

Tài chính

Chính sách, tiến
trình và cơ cấu

Các chiến
lược SK

-Ở các cấp khác
nhau của Chính
phủ, luật pháp,
chính sách công,
các động lực, các
qui tắc

-Các tác nhân
xã hội (nam,
nữ, hộ gia
đình,
cộng
đồng …)
-Các cơ sở tài
nguyên thiên
nhiên
-Cơ sở thị
trường
- Đa dạng
-Sinh
tồn
hoặc tính bền
vững

-Chính sách và
thái độ đối với
khu vực tư nhân
-Các thiết chế
công dân, chính
trị và kinh tế (thị
trường, văn hoá)

Các kết quả SK
-Thu nhập nhiều hơn
-Cuộc sống đầy đủ
hơn
-Giảm khả năng tổn
thương
-An ninh lương thực
được cải thiện
-Công bằng xã hội
được cải thiện
-Tăng tính bền vững
của tài nguyên thiên
nhiên
-Giá trị không sử
dụng của tự nhiên
được bảo vệ

Nguồn: DFID (2003)
3


2.3. Phương pháp tiếp cận giảm nghèo theo các nguồn vốn sinh kế
Hiện nay, “phương pháp sinh kế” đã được một số cơ quan phát triển áp dụng trong
các hoạt động phát triển. Như chúng ta thấy ở các phần sau, khó có thể nói là có một
phương pháp thống nhất khi mà các cơ quan áp dụng một cách khác nhau, từ các hoạt
động sơ khai như xây dựng các công cụ hay khung phân tích cho việc lập kế họach hoặc
đánh giá ban đầu đến một số loại hoạt động cụ thể của chương trình.
Ba yếu tố dẫn đường giải thích lý do của việc áp dụng “Phương pháp sinh kế bền
vững” trong công tác giảm nghèo.
Thứ nhất, thực tế cho thấy tăng trưởng kinh tế là cần thiết cho việc giảm nghèo
nhưng không có một liên hệ trực tiếp giữa hai tác nhân này từ khi nó hoàn toàn phụ thuộc
và khả năng của người nghèo tự tìm kiếm các cơ hội để phát triển kinh tế. Vì vậy, điều
quan trọng là tìm ra chính xác cái gì đã ngăn cản hoặc thách thức người nghèo cải thiện
sinh kế của họ trong điều kiện cụ thể để thiết kế các họat động hỗ trợ cho dự án.
Thứ hai, về nhận biết đói nghèo – như chính cảm nhận của những người nghèokhông chỉ là vấn đề thu nhập thấp mà còn bao gồm cả các yếu tố như chăm sóc y tế kém,
giáo dục kém, thiếu các dịch vụ xã hội, v.v…, như là tình trạng dễ bị tổn thương và cảm
giác của sự bất lực. Hơn nữa, đói nghèo hiện nay được xem là có sự liên kết giữa các yếu
tố gây ra nghèo đói và cải thiện một yếu tố có thể có tác động tích cực đối với yếu tố khác.
Cải thiện giáo dục có thể mang lại tác động tích cực cho việc chăm sóc y tế, mà nó có thể
tăng khả năng sản xuất. Giảm tình trạng dễ bị tổn thương cho người nghèo bằng cách nêu
rõ các rủi ro cho họ có thể gia tăng xu hướng để rơi vào các hoạt động rủi ro chưa được
kiểm chứng trước đó nhưng mà có hiệu quả kinh tế hơn, và cứ tiếp tục như thế v.v….
Cuối cùng, ngày nay chúng ta nhận ra rằng chính người nghèo thường hiểu về họ
và nhu cầu của họ tốt nhất và vì vậy phải lôi kéo họ tham gia trong việc thiết kế các chính
sách và dự án để cải thiện số phận của họ. Khi thiết kế, chúng thường được cam kết nhiều
hơn để thực hiện. Vì vậy, sự tham gia của người nghèo sẽ cải thiện kết quả của dự án.
Có ba điểm cơ bản hầu hết các phương pháp thường có. Thứ nhất là phương pháp
chú trọng vào sinh kế của người nghèo, mà trong đó giảm nghèo phải là mấu chốt. Thứ hai
là loại bỏ cách tiếp cận theo bộ phận đầu vào (nông nghiệp, nước sạch, hay y tế) và thay
vào đó là bắt đầu bằng việc phân tích các sinh kế hiện tại để xác định các tác động phù
hợp. Điểm cuối cùng là chú trọng sự tham gia của người nghèo trong việc xác định các
họat động phù hợp để triển khai (Lasse, 2001)
Bên cạnh đó, sự tác động cải thiện nâng cao sinh kết của hộ được bằng các họat
động nông nghiệp cho thấy rằng nông nghiệp chính là họat động sinh kế chính của người
dân nông thôn. Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới, có đến 86% dân số nông thôn sống
phụ thuộc vào nông nghiệp (WB, 2008).

3. Sơ Lược Về Địa Bàn Nghiên Cứu
3.1. Tỉnh Yên Bái
Dự án Chia Sẻ ở Yên Bái được thực hiện trong 5 năm từ 2003 - 2008 với tổng
ngân sách 134 tỷ đồng, đầu tư cho 6 lĩnh vực gồm: quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên,
giáo dục và đào tạo, y tế, xây dựng cơ sở hạ tầng quy mô nhỏ, sản xuất tạo thu nhập và an
sinh xã hội. Dự án này thí điểm một phương pháp tiếp cận mới trong xóa đói giảm nghèo,
thực hiện phân cấp trao quyền mạnh cho cơ sở theo cơ chế phân cấp quản lý đến cấp xã,
phân quyền đến cấp thôn; người dân tại thôn bản tham gia lập kế hoạch và quyết định việc
4


sử dụng nguồn lực. Trong quá trình đó, Ban quản lý cấp huyện chỉ đóng vai trò hướng
dẫn, hỗ trợ, giám sát việc lập kế hoạch ở cấp xã, thôn... Cách thức thực hiện này đã mang
lại nhiều ưu điểm trong quá trình triển khai Dự án.

3.2. Tỉnh Hà Giang
Hà Giang là tỉnh miền núi cao, nằm ở cực Bắc của tổ quốc có tổng diện tích tự
nhiên là 7.884,37 km2, dân số trên 680.000 người. Tỉnh có 22 dân tộc anh em cùng sinh
sống tạo nên một sự đa dạng về bản sắc văn hóa. Trong đó dân tộc Mông chiếm 30,6%,
Tày chiếm 24,9%, Dao chiếm 15,2%, dân tộc Kinh chiếm 12%.... Về đơn vị hành chính:
Hà Giang có một thị xã là trung tâm và 10 huyện, tổng số có 195 xã, phường, thị trấn,
trong đó có 112 xã đặc biệt khó khăn .

3.3. Tỉnh Quảng Trị
Dự án “Chia Sẻ” được triển khai ở Quảng Trị từ tháng 11/2003 trên địa bàn các xã
có tỷ lệ hộ đói nghèo cao và điều kiện kinh tế xã hội kém phát triển của hai huyện Gio
Linh và Vĩnh Linh được chọn tham gia với tổng kinh phí 13.328.835 USD, trong đó Chính
phủ Việt Nam đóng góp 1.752.252 USD. Qua hơn 3 năm thực hiện, dự án đã đạt được
nhiều kết quả khả quan, góp phần giúp người dân địa phương từng bước tiếp cận tốt các
nguồn lực xóa đói giảm nghèo đúng theo mục tiêu đề ra.

4. Phân Tích Các Nguồn Vốn Sinh Kế
4.1. Nguồn vốn con người
Những nhân tố thúc đẩy
Lực lượng lao động tương đối đông
Ở các tỉnh, các hộ điều tra không thiếu lao động, phần lớn các hộ có từ 2-4 lao
động. Bình quân có khoảng 2,59 lao động/ hộ, thời gian làm việc trung bình 1 lao động đạt
9,91 tháng /1 năm, tuy nhiên thời gian làm việc trong 1 tháng thấp, chủ yếu tập trung vào
thời điểm mùa vụ, chỉ có một số hộ ở những vùng có cây công nghiệp như cao su, hồ tiêu
(Quảng Trị)… mới có làm việc nhiều ngày trong 1 tháng nhưng thời gian làm việc trong
một ngày lại không nhiều (2-3 giờ/ngày/ lao động). Như vậy có thể khẳng định rằng ngoài
thời điểm mùa vụ, các hộ vẫn còn dư thừa lao động. Đây là yếu tố thuận lợi cho việc phát
triển ngành nghề, phát triển chăn nuôi hoặc phát triển các loại cây trồng yêu cầu sử dụng
nhiều thời gian lao động.
Lao động trẻ là yếu tố thuận lợi cho việc đào tạo văn hoá và chuyên môn và
nâng cao thu nhập cho nông hộ
Đa số lao động trong các địa phương là lao động trẻ, tập trung chủ ở độ tuổi dưới
45. Lao động có độ tuổi từ 46 trở lên chiếm tỷ lệ thấp, đặc biệt là lao động ngoài 60 tuổi
rất ít, chỉ chiếm 4.7% tổng số lao động trong các hộ điều tra. Lực lượng lao động vừa có
sức khỏe tốt vừa đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm sản xuất và đời sống lại có cải thiện
chất lượng bằng cách đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng thêm những kiến thức về đời sống và
sản xuất. Do vậy có thể kết luận rằng trình độ lao động là yếu tố thuận lợi cho việc mở
rộng sản xuất, nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm. (Bảng 19)
Sự hỗ trợ của dự án Chia Sẻ là yếu tố thuận lợi để nâng cao chất lượng lao động
Khi nghiên cứu về trình độ văn hoá và chuyên môn của lực lượng lao động địa
phương cho thấy: Trình độ văn hoá, chuyên môn của lực lượng lao động ở xã có dự án
Chia Sẻ thấp hơn ở xã không có dự án Chia Sẻ. Sự khác biệt về tỷ lệ lao động có chứng
chỉ, bằng cấp về trình độ chuyên môn giữa xã có dự án Chia Sẻ và xã không có dự án Chia
Sẻ là không nhiều vì dự án Chia Sẻ chỉ quan tâm đến việc tập huấn kiến thức thực tế về
sản xuất và đời sống chứ ít quan tâm đến việc đào tạo bằng cấp. Điều này là hoàn toàn phù
5


hợp với trình độ thực tế của lực lượng lao động vì nếu muốn đào tạo bằng cấp thì đòi hỏi
lực lượng lao động phải có một trình độ văn hoá nhất định mà ở các xã nghèo thì số lượng
lao động này lại không phải là phần đông. Kết quả thảo luận PRA cho thấy, sau 3 -4 năm
có dự án Chia Sẻ, các kiến thức về sản xuất và đời sống của người dân được nâng lên đáng
kể đã góp phần làm cho quy mô và hiệu quả sản xuất của người dân từng bước được tăng
lên. Như vậy có thể khẳng định rằng, sự có mặt của dự án Chia Sẻ là yếu tố thuận lợi để
nâng cao chất lượng của lực lượng lao động. (Bảng 20)
Sự hỗ trợ của nhà nước và các tổ chức trong nước và quốc tế là yếu tố thuận lợi
hỗ trợ người dân tiếp cận nguồn lực
Sự công khai trong việc chọn đối tượng tham gia tập huấn, nâng cao trình độ. Đối
với dự án Chia Sẻ, việc đào tạo tập huấn nâng cao trình độ được tiến hành và tổ chức xuất
phát từ nhu cầu của người dân địa phương. Một số thôn xã ở Yên Bái còn thực hiện cả
bằng tiếng dân tộc thiểu số tại địa phương. Đây là một phương pháp mới mang tính tích
cực. (Hộp 8)
Những nhân tố cản trở
Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp không phát triển, sản xuất thuần nông là chủ yếu là
nguyên nhân cản trở việc chuyển đổi lao động từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp

Phần lớn lao động nông thôn vẫn là lao động nông nghiệp (chiếm 90,52% tổng số
lao động trong các hộ điều tra), tỷ lệ lao động phi nông nghiệp rất thấp, trong đó đa số là
cán bộ địa phương, giáo viên, cựu chiến binh và cán bộ đã nghỉ hưu. Nguyên nhân chủ yếu
là do ở các địa phương công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ không
phát triển, bên cạnh đó số lượng lao động được đào tạo ngành nghề phi nông nghiệp ít cho
nên đại đa số lao động đều phải tham gia vào các hoạt động của sản xuất nông nghiệp.
Trong điều kiện hiện nay khi mà giá trị gia tăng của sản xuất nông nghiệp thấp thì đây là
một cản trở đáng kể đối với việc chuyển đổi lao động sang các ngành phi nông nghiệp
nhằm cải thiện kinh tế và nâng cao thu nhập của các hộ nông dân. (Bảng 21, Hộp 9)
Trình độ văn hoá và chuyên môn hạn chế của người lao động là một yếu tố cản trở
Kết quả điều tra cho thấy, đa số lao động có trình độ từ trung học cơ sở trở xuống, lực
lượng lao động có trình độ từ trung học phổ thông trở lên thấp, chủ yếu là các cán bộ của
địa phương. Do vậy trình độ văn hoá và chuyên môn thấp của lực lượng lao động ở các
điểm điều tra hiện nay đang là cản trở lớn đến việc tiếp nhận các loại khoa học kỹ thuật
mới nhằm thâm canh tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, tăng vụ, mở rộng quy mô sản
xuất… góp phần cải thiện đời sống của các hộ nông dân. (Bảng 22)
Việc đến trường của trẻ em gặp nhiều khó khăn
Hiện nay một số gia đình cần lao động để làm việc đã không cho con em đến
trường, nhiều gia đình không quan tâm tới việc học của con cái dẫn đến bỏ mặc chuyện
học hành, bên cạnh đó người dân lại có tập quán sinh nhiều con, trong khi đó giá trị sản
xuất tăng chậm đã làm cho nhiều hộ không đủ kinh phí cho con cái đi học, mưa lũ, sạt lở
đường làm cho học sinh bỏ học thường xuyên kết hợp với chất lượng giáo viên thấp, trang
thiết bị phục vụ công tác giáo dục hạn chế làm cho chất lượng giáo dục suy giảm, vì thế
mà nhiều em đã không thể học lên các cấp học cao hơn, từ đó tạo tâm lý chán trường dẫn
đến bỏ học…(Bảng 23)
Như đã phân tích ở phần trước, đa số trẻ em đều đi học đúng tuổi và tỷ lệ trẻ em
phải nghỉ học trong độ tuổi ở mức độ trung bình. Tuy nhiên, vẫn còn một số hộ do điều
kiện kinh tế khó khăn cho nên vẫn phải cho con em mình nghỉ học để lao động. Tỷ lệ này
không cao, dao động từ 4,9-12,8%. (Bảng 24)

6


Kết quả điều tra cho thấy: Hộ có điều kiện kinh tế càng thấp thì tỷ lệ trẻ em nghỉ
học càng cao. Điều này cho phép khẳng định điều kiện về kinh tế có ảnh hưởng đến tỷ lệ
trẻ em đến trường. Tỷ lệ trẻ em nghỉ học do điều kiện kinh tế cao nhất là ở nhóm hộ có thu
nhập dưới 10 triệu đồng/hộ/năm, chiếm 19% tổng số hộ điều tra và thấp nhất là ở nhóm hộ
có thu nhập trên 25 triệu đồng. Hộ nghèo chủ yếu nằm trong nhóm có thu nhập dưới 10
triệu đồng/năm, do vậy nhóm hộ nghèo sẽ là nhóm hộ có tỷ lệ trẻ em phải nghỉ học cao
nhất.
Những trở ngại do khoảng cách địa lý đối với hoạt động khám chữa bệnh
Đa số các xã hiện nay đều có trạm y tế cho nên khi ốm đau mọi người đều đến
trạm y tế xã để chữa bệnh. Khoảng cách từ nhà đến nơi khám chữa bệnh chính là từ nông
hộ đến trung tâm xã hoặc huyện. Khoảng cách này không xa và trung bình khỏang 5km.
Trong điều kiện hiện tại đa số người dân đều phương tiện xe máy để đi lại thì thời gian
cho họ đi khám hoặc cấp cứu những lúc ốm đau chỉ khỏang 20 phút. Tuy nhiên, một số hộ
dân cứu ở xa trong điều kiện đồi núi đi lại khó khăn với với một số xã ở Hà Giang và Yên
Bái thì thời gian cho họ đến trung tâm xã còn lâu hơn nhiều. (Bảng 25)
Có 8.2% số ý kiến cho rằng vẫn còn tình trạng có người bị chết do nhà ở xa nơi
khám chữa bệnh. Điều này hoàn toàn dễ hiểu vì đa số điểm điều tra thuộc khu vực miền
núi, có địa bàn rộng, dân cư lại sinh sống không tập trung, điều kiện kinh tế ở các vùng
này còn nghèo nên không thể xây dựng nhiều trạm y tế trong 1 xã, bên cạnh đó điều kiện
đi lại khó khăn cộng với việc tập quán thích sống ở trên cao của đồng bào dân tộc thiểu số
nên khoảng cách từ nhà đến trạm xá của nhiều hộ nông dân khá xa, làm cho thời gian đi
đến khám, chữa bệnh tại trạm y tế dài. Mặt khác do nhận thức của người dân về bệnh tật
còn nhiều hạn chế, nhiều người khi mới chớm mắc bệnh đã chủ quan, không chịu đưa đi
chữa trị sớm nên khi mắc phải các bệnh hiểm nghèo đã không kịp đưa người nhà đến các
trung tâm y tế để chữa trị.

4.2. Nguồn vốn vật chất
Nguồn vốn vật chất được phân chia làm 2 loại: Tài sản của cộng đồng và tài sản
của hộ. Tài sản của cộng đồng trong nghiên cứu này xem xét các cơ sở vật chất cơ bản
phục vụ nhu cầu sản xuất và sinh hoạt như: điện, đường giao thông, trường học, trạm y tế,
công trình thủy lợi, thông tin liên lạc. Tài sản của hộ trong nghiên cứu này khá phong phú
bao gồm cả các tài sản phục vụ sản xuất và các tài sản phục sinh hoạt của hộ.
Những nhân tố thúc đẩy
Sự quan tâm của nhà nước và hỗ trợ của các chương trình, dự án trong việc
đầu tư cơ sở hạ tầng tạo điều kiện cho nông hộ tiếp cận dễ dàng hơn
Trong những năm qua, được sự hỗ trợ của Chính phủ, các tổ chức trong nước và
quốc tế thông qua các chương trình, dự án, nhiều địa phương đã được cải thiện được hệ
thống đường giao thông, thuỷ lợi, xây dựng mới được trường học, trạm xá, nhà văn hoá
thôn, xã, các các loại thiết bị giáo dục và y tế đã được bổ sung… nhờ đó mà việc đi lại của
bà con nông dân đã bớt khó khăn hơn, nhiều diện tích trước đây phải nhờ hoàn toàn vào tự
nhiên, chỉ cấy, trồng được 1 vụ đến nay đã sản xuất được 2 vụ, hệ thống trường học và trạm
y tế, nhà sinh hoạt cộng đồng được cải thiện cả về chất lượng và số lượng, cục diện nông
thôn có những thay đổi rõ rệt. Các dự án như Chia Sẻ, 134, 135, dự án của World Bank
v.v… đã xây dựng cho nhân dân địa phương nhiều trường học, công trình đường, trạm điện,
trạm y tế…
Sự hỗ trợ của dự án Chia Sẻ
Sự có mặt của dự án Chia Sẻ ở một số địa phương không những đã làm thay đổi
cục diện nông thôn thông qua việc đầu tư xây dựng những công trình công cộng, mà còn
làm thay đổi khả năng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần thông qua việc đầu tư kinh
phí tổ chức các khoá tập huấn kiến thức đời sống xã hội cho nhân dân và đầu tư công cụ
7


sản xuất, vật tư đầu vào góp phần thay đổi khả năng sản xuất theo chiều hướng tích cực
cho hộ nông dân, đặc biệt là đối với nhóm hộ nghèo và cận nghèo.
Dự án Chia Sẻ đáp ứng kịp thời các nhu cầu từ sản xuất đến đời sống của nhân dân
như: Xây sân bê tông, làm mái che cho trường mầm non và trường tiểu học, xây mới
trường mầm non, mua sắm trang thiết bị cho trạm y tế, xây dựng đường giao thông nội
thôn, liên thôn hoàn thiện hệ thống kênh mương, xây dựng và mua sắm trang thiết bị cho
hội trường thôn, hỗ trợ sản xuất, hỗ trợ hộ nghèo đào giếng, làm nhà vệ sinh, xử lý rác
thải, hỗ trợ tiền cho hộ thuộc diện già cả, neo đơn và ốm đau, tai nạn đột xuất tổ chức các
khoá tập huấn về kỹ thuật sản xuất, công tác chăm sóc sức khoẻ sinh sản, tuyên truyền luật
giao thông…(Hộp 11)
Người dân tích cực tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng
Khi trao đổi với các hộ nông dân cho thấy, hầu hết các nông hộ đều mong muốn
cải thiện hệ thống cơ sở hạ tầng với phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm. Mặc
dù điều kiện sống của người dân còn nhiều khó khăn nhưng họ vẫn sẵn sàng đóng góp sức
người, sức của để xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng ở nơi mà họ đang sinh sống và sản
xuất. Đây thực sự là nhân tố thuận lợi trong việc triển khai thực hiện các chương trình dự
án hỗ trợ phát triển hạ tầng cho vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào thiểu số, vùng đặc biệt
khó khăn cũng như việc quản lý và sử dụng, khai thác các công trình sau này. (Hộp 12)
Người nghèo được nhiều dự án quan tâm hỗ trợ
Hầu hết các chương trình, dự án đều tập trung vào hỗ trợ nguồn lực cho các hộ
nghèo, đây là điều kiện thuận lợi để hộ nghèo tiếp cận nguồn vốn vật chất và phát triển
sản xuất. Chúng ta hoàn có thể khẳng định được điều này vì
+ Đối tượng mà các dự án 134, 135, 139… lựa chọn là xã nghèo, trong đó việc
xây bể nước, làm nhà vệ sinh, hỗ trợ gạo, xoá nhà tạm… chỉ có người nghèo mới được
hưởng.
+ Đối tượng mà các dự án Tầm nhìn thế giới, PLAN.. lựa chọn chủ yếu cũng vẫn
là người nghèo. Các dự án này hỗ trợ những người có trình độ thấp trong việc lập kế
hoạch sản xuất, tập huấn kiến thức chuyên môn kỹ thuật… trong đó chủ yếu là hộ nghèo.
+ Đối tượng mà dự án Chia Sẻ đầu tư cũng là những hộ nghèo, cận nghèo, được
bình bầu dân chủ trong những cuộc họp thôn với tinh thần hỗ trợ những người khó khăn
nhất trước, không phân biệt giới tính, không phân biệt dân tộc, tôn giáo.
Người dân có ý thức cao trong việc phát triển sản xuất
Qua điều tra cho thấy, đa số hộ nông dân có ý thức trong việc phát triển sản xuất
nâng cao thu nhập, từng bước tích luỹ, mua sắm công cụ, trang thiết bị phục vụ sản xuất.
(Hộp 13)
Sự công bằng trong việc tiếp cận nguồn vốn cơ sở hạ tầng
Kết quả thảo luận PRA cho thấy không có sự phân biệt theo giới tính, dân tộc,
trình độ, điều kinh kinh tế của các hộ gia đình trong việc tiếp cận các nguồn vốn này. Tất
cả các hộ nếu có nhu cầu chữa bệnh, nhu cầu cho con cái đi học hành đều được đáp ứng
như nhau. Tất cả các loại hộ đều được sử dụng các công trình công cộng như điện, nước,
nhà văn hoá thôn… và không có sự phân biệt nào.(Hộp 14)
Những nhân tố cản trở
Cơ sở hạ tầng khó khăn là cản trở lớn nhất của người dân
Đường giao thông nông thôn còn nhiều khó khăn, mặc dù tại tất cả các địa phương
đã có đường ô tô vào đến tận trung tâm thôn, xã. 100% số xã có đến trung tâm xã nhưng
đến nay đường vào trung tâm các thôn có tỷ lệ bê tông hoá thấp, chất lượng đường vào
thôn kém, người dân gặp phải rất nhiều khó khăn trong việc đi lại vào mùa mưa. (Hộp 15)

8


Một số địa phương do xây dựng các công trình trọng điểm quốc gia đã gây nên
tình trạng rất khó khăn trong đi lại và sản xuất.
Về giao thông nội đồng: Tỷ lệ diện tích có giao thông nội đồng ở thấp và đường
dẫn đến các vùng sản xuất chủ yếu là đường nhỏ, rất khó khăn cho việc vận chuyển vật tư
sản xuất và mang máy móc đến vùng sản xuất. Mặc dù những năm gần đây nhà nước,
nhân dân và các dự án, tổ chức hỗ trợ xây dựng đường giao thông nội đồng nhưng nhìn
chung đến nay giao thông nội đồng vẫn là vấn đề nhức nhối đối với sản xuất của bà con
nông dân.
Như vậy có thể kết luận rằng giao thông nông thôn và giao thông nội đồng chưa
được đầu tư thỏa đáng thực sự là cản trở lớn đối với hộ nông dân, đặc biệt là hộ nghèo
Về thuỷ lợi: Trong những năm qua dự án Chia Sẻ, dự án 135 và nhiều dự án khác
đã đầu tư cho bà con nông dân xây dựng nhiều công trình thuỷ lợi như: Bê tông hoá hệ
thống kênh mương, xây đập giữ nước… nhưng đến nay diện tích lúa không chủ động được
nước tưới còn nhiều, nguyên nhân chủ yếu là do thiếu kênh mương, thiếu nguồn nước dẫn
vào, nhiều diện tích phụ thuộc vào nước trời nên chỉ có thể trồng được 1 vụ. (Hộp 16)
Hệ thống tưới, tiêu chưa đảm bảo, tỷ lệ bê tông hoá vẫn còn thấp, khi có lũ lụt
thường xảy ra sạt lở gây mất chủ động trong tưới nước và tiêu nước khi ngập úng.
Nước sinh hoạt: Mặc dù đã được đầu tư khá nhiều nhưng nhìn chung nước sinh
hoạt cho bà con nông dân thiếu khá nhiều, đặc biệt là vào mùa khô. (Hộp 17)
Điện: Tại các địa phương dân sống tập trung đông, địa hình không khó khăn cho việc
xây dựng đường đây, trạm cao thế, hạ thế như Quảng Trị thì đa số nông hộ đều đã được kéo
điện và sử dụng điện lưới quốc gia, tuy nhiên đến nay điện phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất
vẫn còn thiếu trầm trọng, hệ thống đường dây kém chất lượng, vào mùa nóng xảy ra hiện
tượng mất điện thường xuyên do thiếu điện cấp. (Hộp 18)
Tại một địa phương vùng sâu, vùng xa do tập quán thích sống ở trên cao, dân lại ở
thưa thớt rất khó khăn cho việc mắc trạm điện đến từng khu vực người dân muốn mắc điện
thì phải tự chuẩn bị dây, cột nên nhiều hộ nghèo vẫn chưa được tiếp cận mạng lưới điện
quốc gia vì chi phí lắp đặt đường dây quá cao so với khả năng chi trả của họ. (Hộp 19)
Hệ thống truyền thông: Hầu hết các xã có loa đài truyền thông nhưng chủ yếu là
loa truyền thông cấp xã, hệ thống này không đảm bảo được việc cung cấp thông tin cho
người dân. Tỷ lệ thôn có loa phóng thanh thấp, chất lượng thiết bị kém, thời lượng phát
ngắn, không đáp ứng được nhu cầu thông tin của nhân dân. Đây là một trong những điểm
yếu của công tác truyền thông.
Các phương tiện truyền thông khác có sự khác biệt giữa các địa phương. Ở Quảng
Trị hệ thống thông tin truyền thông tốt hơn 2 tỉnh còn lại. (Hộp 20)
Về nhà văn hoá thôn: Hiện nay còn rất nhiều thôn chưa có nhà sinh hoạt cộng
đồng, đặc biệt là những thôn thuộc các xã vùng sâu, vùng xa. Để tổ chức các cuộc họp, các
lớp tập huấn, các buổi sinh hoạt cộng đồng, những thôn này phải nhờ gia đình của một ai
đó trong thôn. Nhiều thôn tuy đã có nhà sinh hoạt cộng đồng nhưng phần nhiều trong số
đó còn chật hẹp, xuống cấp trầm trọng, nhiều thôn có nguy cơ sụp, đổ, bên cạnh đó các
trang thiết bị phục vụ sinh hoạt không đủ, nhiều nhà văn hoá thôn không có ghế để cho
nhân dân ngồi mỗi khi đến dự họp. Chỉ có một số thôn do dự án Chia Sẻ hỗ trợ đảm bảo
được về mặt diện tích và trang thiết bị phục vụ sinh hoạt. (Hộp 21)
Các cơ sở chế biến NLS, các cơ sở dịch vụ SX: Tất cả các địa phương điều tra đều
không có cở sở chế biến nông lâm sản lớn, đa số nông sản được bán cho tư thương để đem đi
chế biến, tiêu thụ ở nơi khác. Chỉ có một số hộ rất ít hộ nông dân làm nghề tiểu thủ công nghiệp
nhỏ như: nấu rượu, làm đậu phụ, xay xát, phục vụ nhu cầu sinh hoạt của nhân dân. Đây thực sự
là cản trở đối với việc mở rộng quy mô sản xuất và tăng thu nhập trên một đơn vị sản phẩm.
Đô thị, khu CN: Trên địa bàn điều tra không có khu công nghiệp nào, đây là một
cản trở trong việc tiêu thụ nông sản cũng như tìm kiếm việc làm của lực lượng lao động tại
địa phương.
9


Các công trình dịch vụ công cộng: Nhìn chung, hệ thống trường học, trạm xá,
chợ nông thôn, nhà văn hoá thôn… chưa đáp ứng đủ nhu cầu học tập và khám chưa bệnh
cho nhân dân.
Hiện tại đã có nhiều trường học được xây dựng kiên cố nhưng các trường học ở
các địa phương vẫn đang thiếu lớp học, đặc biệt là thiếu lớp cho học sinh mẫu giáo và học
sinh tiểu học, có nơi còn thiếu cả trường cấp 2. Bên cạnh đó các trang thiết bị phục vụ
công tác giảng dạy và học tập đã lạc hậu và xuống cấp, nhiều thiết bị đến nay đã không thể
sử dụng được gây cản trở đáng kể cho công tác giảng dạy và học tập tại địa phương. (Hộp
22)
Hiện nay đa số xã có trạm y tế kiên cố, các trạm y tế tại các xã đều có từ 3-5
giường bệnh, đáp ứng được phần nào nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân. Tuy nhiên,
hầu hết các trạm y tế đều không có bác sỹ chuyên khoa, các loại thiết bị y tế còn thiếu, chỉ
có thể khám, chữa được những bệnh thông thường, do vậy khi có bệnh nặng người dân
phải chuyển lên tuyến huyện, tỉnh hoặc trung ương.
Về chợ nông thôn: Hiện nay đang thiếu chợ nông thôn để giao lưu, trao đổi hàng
hoá, trung bình khoảng 4-5 xã mới có 1 chợ nông thôn. Khoảng cách từ các hộ nông dân
đến chợ tương đối xa, đường xá đi lại khá khó khăn, với khoảng cách này các hộ nông dân
đang gặp phải rất nhiều khó khăn trong việc mua bán sản phẩm vật tư đầu vào, đầu ra của
các hộ nông dân.
Về máy móc phục vụ sản xuất: Hiện nay các hộ nông dân đã từng bước sử dụng
máy cày, máy bừa vào sản xuất, tuy nhiên do hệ thống giao thông nội đồng kém chất
lượng, trình độ sử dụng của bà con còn nhiều hạn chế nên việc đưa các máy móc hiện đại
vào sản xuất còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là đưa máy móc vào vùng ruộng bậc thang.
Việc sử dụng máy tuốt lúa, máy xay xát lúa đã được 100% hộ nông dân sử dụng, tuy nhiên
đây mới chỉ là một khâu trong quá trình sản xuất. Vấn đề đưa máy móc vào phục vụ sản
xuất cũng là một khó khăn đối với các hộ nông dân hiện nay. (Hộp 23)

4.3. Nguồn vốn tài chính
Những khó khăn về tài chính làm cho khả năng trỗi dậy của kinh tế nông hộ bị
giảm sút, muốn cải thiện được kinh tế nông hộ thì việc tăng đầu tư nhằm mở rộng quy mô
sản xuất, tăng năng suất và chất lượng sản phẩm là một nhu cầu tất yếu. Trong điều kiện
như hiện nay, khi mà khả năng tích luỹ của hộ nông dân rất thấp, sự hỗ trợ của Chính phủ
và các tổ chức phi chính phủ ngày càng giảm, thì việc vay vốn để đầu tư được coi là hành
vi quan trọng nhất để thoả mãn về mặt tài chính.
Những nhân tố thúc đẩy
Nhìn chung tỷ lệ hộ vay vốn là khá cao, đặc biệt là tỷ lệ hộ nghèo vay được vốn là
tương đối lớn. Có được điều này là do có 3 sự tác động hỗ trợ: Thứ nhất, trên các địa bàn
có nhiều nguồn tín dụng mà các hộ nông dân có thể tiếp cận như Ngân hàng Chính sách
Xã hội, Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT, các quỹ hỗ trợ phát triển, các dự án; Thứ 2, có
sự đóng góp rất lớn của Ngân hàng Chính sách Xã hội thông qua việc áp dụng chính sách
cho vay tín chấp với lãi suất ưu đãi; Thứ 3 là sự hỗ trợ của các tổ chức đoàn thể chính trị
xã hội thông qua việc đứng ra bảo lãnh tín chấp cho nông dân vay vốn và hướng dẫn làm
thủ tục vay vốn.
Qua điều tra cho thấy, ở các địa phương khác nhau thì tỷ lệ hộ vay được vốn của
các nhóm hộ cũng khác nhau, điều này cho thấy tính đặc thù về nguồn vốn và khả năng
tiếp cận các vốn của nông hộ ở mỗi địa phương. Tuy nhiên cho dù là ở địa phương nào đi
chăng nữa thì hộ trung bình và hộ nghèo vẫn là 2 nhóm vay nhiều nhất. Đây chính là yếu
tố thuận lợi thúc đẩy hộ nghèo tiếp cận nguồn vốn tài chính nhưng vấn đề là ở chỗ hộ
nghèo có nhu cầu vay vốn hay không và hộ nghèo có biết sử dụng vốn vay hay không.
(Bảng 40)
10


Kết quả điều tra cho thấy, tỷ lệ hộ vay được vốn của các nhóm hộ thuộc xã có dự
án Chia Sẻ và không có dự án Chia Sẻ ở các tỉnh có sự khác biệt. Nếu như tỷ lệ hộ vay
được vốn ở của các hộ thuộc xã có dự án Chia Sẻ 2 tỉnh Hà Giang và Quảng Trị cao hơn
hộ thuộc xã không có dự án Chia Sẻ thì điều này lại xảy ra ngược lại đối với trường hợp ở
tỉnh Yên Bái. Do vậy không có minh chứng để chứng minh khả năng hỗ trợ của dự án
Chia Sẻ trong việc tăng cường khả năng vay vốn từ các ngân hàng và các tổ chức tín dụng
của các nhóm hộ. Tuy nhiên, như đã đề cập ở trên số hộ được vay tín chấp ở vùng dự án
cao hơn so với ở địa phương ngoài vùng dự án mà nguyên nhân có thể là do ở trong vùng
dự án vốn xã hội đã được nâng cao đáng kể. (Bảng 41)
Nhìn chung, thủ tục vay vốn đơn giản, thời gian làm thủ tục vay vốn ngắn, bình
quân khi vay vốn mỗi hộ phải đến ngân hàng 2.3 lần và thời gian trung bình từ lúc nộp hồ
sơ đến lúc vay được là 19 ngày, có được điều này là do trong những năm qua các ngân
hàng đã tinh giảm tối đa các thủ tục rườm rà khi cho nông hộ vay vốn và đặc biệt là do có
sự hỗ trợ làm thủ tục vay vốn, đứng ra bảo lãnh tín chấp của các đoàn thể chính trị xã hội.
Qua điều tra cho thấy, nhiều phụ nữ, người dân tộc thiểu số, người không biết chữ - những
người không có khả năng làm thủ tục vay vốn đều được các đoàn thể đứng ra hướng dẫn
làm thủ tục vay vốn. Sự tồn tại của các đoàn thể chính trị xã hội thực sự là nhân tố hỗ trợ
đối với việc tiếp cận vay vốn của hộ nông dân, đặc biệt là hộ nghèo, dân tộc thiểu số, phụ
nữ và người mù chữ. (Bảng 42)
Được tập huấn sử dụng vốn có hiệu quả
Với trình độ dân trí như hiện nay việc tập huấn sử dụng đồng vốn sao cho có hiệu
quả là một nhu cầu quan trọng và cần thiết. Việc thường xuyên mở các lớp tập huấn kiến
thức sử dụng vốn sau khi vay cho hộ nông dân thực sự là nhân tố hỗ trợ có tác động tích
cực đến hiệu quả sử dụng vốn của mọi nhóm hộ.
Có được điều này là do các khoá tập huấn của dự án Chia Sẻ được hình thành trên
cơ sở nhu cầu kiến thức sản xuất của các hộ nông dân và đó cũng là động cơ chính mà
nông dân vay vốn. (Bảng 43)
Tuy ở mỗi địa phương có tỷ lệ hộ được tập huấn ở các nhóm hộ có sự khác nhau
nhưng nhìn nhóm hộ nào cũng có người được tập huấn. Trong điều kiện sản xuất kinh
doanh ở hộ nông dân khá đa dạng và phức tạp làm thời điểm vay vốn của các nông hộ
cũng đa dạng theo thì việc tập huấn kiến thức sử dụng vốn sau khi vay cho hộ nông dân sẽ
gặp phải nhiều khó khăn phức tạp vì thời gian vay vốn không đồng nhất nhưng tỷ lệ hộ
được tập huấn sau khi vay vốn vẫn đạt được 32,12% là một sự nỗ lực rất lớn của chính
quyền địa phương, các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội, các dự án... Như vậy có thể kết
luận rằng sự quan tâm của chính quyền và các đoàn thể, chính trị, các dự án trong việc tập
huấn kiến thức sử dụng vốn cho nông hộ sau khi vay là một nhân tố hỗ trợ nhằm nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn. (Bảng 44)
Mặc dù tỷ lệ được tập huấn còn thấp song đa số các hộ đã sử dụng vốn đúng mục
đích vì sau khi cho vay vốn một thời gian các ngân hàng và các tổ chức tín dụng luôn có
chương trình phối hợp với các địa phương để kiểm tra các hộ vay vốn xem có sử dụng vốn
vay đúng mục đích hay không, trong trường hợp hộ vay vốn không tuân thủ thoả thuận
ban đầu mà sử dụng sai mục đích thì ngân hàng sẽ thu hồi lại vốn, thậm chí tiến hành xử
phạt nên nhiều hộ nông dân không dám sử dụng vốn vay một cách tuỳ tiện. Tuy nhiên đến
nay tại các địa phương điều tra chưa có trường hợp nào buộc ngân hàng phải tiến hành thu
hồi lại vốn vay. (Bảng 45)
Những nhân tố cản trở
Hộ nông dân thiếu vốn sản xuất và tiêu dùng

11


Vốn là yếu tố quan trọng có vai trò quyết định trong sản xuất kinh doanh và tiêu
dùng của mọi đối tượng tham gia sản xuất, trong đó có nông dân. Mặc dù tỷ lệ hộ vay
được vốn khá cao song người dân ở các tỉnh điều tra vẫn thiếu vốn (chiếm tới 88% tổng số
hộ khảo sát), vậy nguyên nhân thực sự của vấn đề này là gì? Chúng tôi sẽ làm rõ các
nguyên nhân đó ngay trong phần dưới đây:
Kết quả thảo luận từ các cuộc PRA và kết quả điều tra cho biết có 2 dạng thiếu
vốn, trong đó có cả thiếu vốn sản xuất (chiếm 84% số trả lời) và thiếu vốn để tiêu dùng
(4% số trả lời) nhưng thiếu vốn để sản xuất là chủ yếu. Có 2 nguyên nhân chính dẫn đến
tình trạng thiếu vốn: Một là, người dân không có tích luỹ từ quá trình sản xuất; Hai là,
người dân không vay được vốn vì nhiều lý do khác nhau, cụ thể là: Do người dân có tâm
lý không dám vay ngân hàng vì lo sợ không trả được hoặc luôn nghĩ rằng mình thiếu vốn
để sản xuất; Do một số hộ không có tài sản thế chấp để vay vốn ngân hàng; Do hộ nông
dân có thể vay được từ tư nhân, HTX nhưng không thể vay được số lượng lớn và lãi suất
vốn vay từ các nguồn khá cao; Một lý do nữa đó là nhiều người có thể vay được vốn từ
Ngân hàng Chính sách Xã hội nhưng vay nguồn này thường có định mức thấp, lại không
đáp ứng đúng thời điểm vì cho vay theo đợt, đối tượng vay được từ nguồn này phải tham
gia các đoàn thể như (hội nông dân, hội cựu chiến binh, hội phụ nữ…) vì ngân hàng vay
tín chấp qua các đoàn thể nhưng tỷ lệ người tham gia các đoàn thể này lại không cao, bên
cạnh đó đối tượng ưu tiên vay vốn ở nguồn vốn này lại là hộ nghèo nên nhiều hộ giàu và
khá không tiếp cận vay vốn được từ nguồn này. (Bảng 46 và Hộp 24)
Nguồn vốn mà hộ nông dân dễ dàng vay vốn đó là vay từ họ hàng, anh em, bạn
bè… tuy không mất lãi suất nhưng chỉ vay được số tiền rất ít với thời gian ngắn để phục
vụ chi tiêu sinh hoạt trước mắt chứ không đáp ứng được nhu cầu cho sản xuất. Một số hộ
còn không có nguồn vốn để vay nhưng tỷ lệ này không nhiều.
Thiếu vốn là rào cản lớn đối với việc mở rộng quy mô sản xuất và tăng năng suất
cây trồng vật nuôi ở các hộ nông dân điều tra hiện nay. Kết quả điều tra cho thấy: Các hộ
điều tra thiếu cả vốn cho sản xuất và vốn để tiêu dùng, trong đó thiếu vốn cho sản xuất là
chủ yếu. Tỷ lệ hộ thiếu vốn của các xã có dự án Chia Sẻ là 86.43% thấp hơn so với tỷ lệ
hộ thiếu vốn ở xã không có dự án Chia Sẻ. Có được sự khác biệt này cũng là do có sự hỗ
trợ vật chất (con giống, tiền, công cụ sản xuất...) của dự án Chia Sẻ. (Bảng 47)
Tỷ lệ hộ thiếu vốn cho tiêu dùng ở các xã có dự án Chia Sẻ thấp hơn so với các xã
không có dự án Chia Sẻ và tỷ lệ hộ nông dân thiếu vốn cho sản xuất thấp hơn so với xã
không có dự án Chia Sẻ, điều này cho thấy các hỗ trợ trực tiếp của dự án Chia Sẻ có tác
dụng tích cực giúp hộ nông dân cải thiện điều kiện tài chính của mình. (Bảng 48)
Nghiên cứu về nguồn vay và khả năng vay vốn tối đa của các hộ nông dân tại các
tỉnh điều tra cho thấy: Mặc dù người dân có thể vay vốn ở nhiều nguồn khác nhau nhưng
khả năng vay vốn tối đa của họ lại rất thấp. Không có nguồn vốn nào mà hộ nông dân có
thể vay được bình quân/1 hộ đến 21 triệu đồng vì chính sách đặc thù của từng ngân hàng
và tổ chức tín dụng, vì người dân thiếu tài sản thế chấp… Mặt khác, người dân không thể
vay cùng một lúc từ nhiều nguồn (loại trừ trường hợp vay người thân thì chỉ vay được ít và
vay tư nhân thì phải chịu lãi suất rất cao). Trong 3 tỉnh điều tra, mức vốn tối đa có thể vay
cao nhất là ở Quảng Trị nhưng mức vay bình quân cao nhất là vay ở Quỹ tín dụng cũng
chỉ lên đến 20,23 triệu đồng/hộ. Khả năng vay vốn tối đa thấp thực sự là rào cản lớn đối
với sự phát triển của kinh tế nông hộ vì vốn ít thì đương nhiên sẽ kéo theo hạn chế đầu tư
mở rộng quy mô và nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. (Bảng 49)
Đa số hộ nông dân có khả năng vay vốn nhưng mức vay vốn bình quân/ 1 hộ thấp,
khả năng vay vốn giữa các hộ ở xã có dự án Chia Sẻ và xã không có dự án Chia Sẻ ít có sự
chênh lệch. Kết quả điều tra cho thấy: 80,3% số hộ có khả năng vay vốn ngân hàng, 8% số
12


hộ có thể vay vốn từ Quỹ tín dụng, 27,4% số hộ có thể vay vốn từ người thân, 6,1% số hộ
có thể vay vốn từ các nguồn khác. Bình quân mỗi hộ có thể vay ngân hàng tối đa là 13,8
triệu đồng, có thể vay quỹ tín dụng tối đa là 14,68 triệu đồng, vay người thân tối đa là 6,4
triệu đồng và vay các nguồn khác tối đa là 5,04 triệu đồng. Trong điều kiện giá cả leo
thang và đặc thù sản xuất của các địa phương như hiện nay, với lượng vốn tối đa mà hộ
nông dân có thể vay như vậy thì việc mở rộng quy mô sản xuất sẽ gặp rất nhiều khó khăn.
Do vậy có thể kết luận rằng hạn mức vốn mà hộ nông dân có thể vay được thấp là rào cản
đối với sự phát triển kinh tế nông hộ.
Xem xét nguồn vốn có thể vay của hộ nông dân theo điều kiện kinh tế cho thấy:
Hộ có thu nhập càng cao thì khả năng vay vốn càng lớn. Mặc dù đa số người nghèo đều có
thể vay được vốn từ Ngân hàng Chính sách Xã hội nhưng khả năng vay được vốn của họ
từ tất cả những nguồn vốn khác rất kém, bên cạnh đó việc vay vốn từ Ngân hàng Chính
sách Xã hội luôn gặp phải những rào cản như: phải có đợt cho vay, hạn mức cho vay thấp,
người vay vốn phải là người tham gia các tổ chức đoàn thể… Do vậy, thu nhập thấp cũng
là rào cản trong việc vay vốn. (Bảng 50)
Trình độ học vấn cũng là rào cản đối với việc tiếp cận nguồn vốn nhưng nó không
phải là rào cản trực tiếp mà gián tiếp ảnh hưởng đến khả năng vay vốn của nông hộ.
Chúng ta đã biết, mặc dù tại các địa phương luôn có các tổ chức đoàn thể hỗ trợ rất tích
cực trong việc làm thủ tục vay vốn cho các nông hộ, các tổ chức đoàn thể không những
giúp đỡ được phụ nữ và người nghèo có trình độ thấp vay vốn mà còn giúp đỡ được cả
những người mù chữ, người không biết nói tiếng phổ thông vay vốn. Tuy nhiên với sự hỗ
trợ của các tổ chức đoàn thể, những đối tượng này thường cũng chỉ vay từ 1-2 lần. (Bảng
51)
Như đã trình bày ở phần trước, có nhiều hộ nông dân vay được vốn, tuy nhiên vẫn
còn có khoảng 19.7% số hộ không vay được vốn. Lý do mà các hộ này không vay được
vốn có nhiều song chủ yếu vẫn là: thủ tục còn rườm rà, phức tạp, thiếu sổ đỏ để thế chấp
vay vốn và thời hạn vay ngắn..., trong đó thời hạn cho vay ngắn được coi là rào cản lớn
nhất đối với khả năng vay vốn của nông hộ. Thông thường thời gian vay vốn của các hộ
chỉ được khoảng 3 năm, với khoảng thời gian này các hộ không kịp quay vòng thì đã phải
trả cả lãi lẫn gốc, trong khi đó một số tổ chức tín dụng cho các hộ nông dân vay vốn với
thời gian dài nhưng yêu cầu phải có tài sản thế chấp, lãi suất lại cao, nếu người nông dân
vay được ở những nguồn vay thì cùng khó có khả năng trả nợ bởi lãi ngân hàng có thể cao
hơn cả lãi của người sản xuất. Bên cạnh đó, không có sổ đỏ hoặc thủ tục rườm rà, thời
gian xét duyệt lâu cũng là những lý do đáng kể để hộ không vay được vốn. Đây thực sự là
rào cản trong việc tiếp cận các nguồn vốn vay phục vụ cho nhu cầu sản xuất của bà con
nông dân.
Trong toàn bộ các hộ thuộc đối tượng điều tra của dự án có 76 hộ không được vay
vốn hay vay đủ vốn, trong đó có 43 hộ thuộc xã Chia Sẻ và 33 hộ thuộc xã không Chia Sẻ.
Các hộ không được vay vốn do một số nguyên nhân như sau:Thứ nhất là, Do thủ tục giấy tờ
quá phức tạp có 14,5% trong tổng số người không vay được vốn, cụ thể ở xã Chia Sẻ là
16,3%, xã không Chia Sẻ là 12,1% .Thứ hai là, Phải qua xét duyệt nhiều. ( Bảng 53)
Mặc dù các ngân hàng và tổ chức tín dụng đã tinh giảm tối đa các thủ tục vay vốn
rườm rà, phức tạp và các hộ nông dân luôn có các tổ chức đoàn thể ở bên cạnh hỗ trợ nhưng
vẫn còn tình trạng khó khăn trong khi làm thủ tục vay vốn, nguyên nhân chính là do năng
lực xây dựng phương án xin vay của cả nông hộ và cán bộ hướng dẫn vẫn còn nhiều hạn
chế. Đây cũng là một rào cản làm giảm khả năng tiếp cận nguồn vốn tài chính của nông hộ.
4.4. Nguồn vốn xã hội
Trong nghiên cứu này, nguồn vốn xã hội được xem xét trên các khía cạnh như:
quan hệ trong gia đình, tập quán và văn hóa địa phương, các luật tục và thiết chế cộng
13


đồng, vai trò của các tổ chức và chính trị xã hội cũng như sự tham của người dân vào các
họat động tập thể, khả năng tiếp cận và cập nhật thông tin của người dân đối với sản xuất
và đời sống.
Những nhân tố thúc đẩy
Trưởng thôn và cán bộ địa phương có vai trò tích cực trong việc truyền tải thông
tin đến người dân
Nguồn cung cấp thông tin đóng vai trò quan trọng đối với nguồn vốn xã hội, nó
được thể hiện qua sự trao đổi qua lại, mạng lưới cung cấp thông tin và khả năng truyền tải
các thông tin. Những thông tin giữa người trong cộng đồng với người ngoài cộng đồng,
giữa những người có tiếp cận với nhiều thông tin ở trong cộng đồng với các thành viên
khác trong cộng đồng… Một mạng lưới thị trường nông sản vận hành tốt, các bên tham
gia điều được hưởng lợi công bằng sẽ bền vững, còn nếu có sự mất công bằng thì mạng
lưới sẽ kém bền vững.
Các kênh thông tin chính hiện nay được chia làm 2 kênh là chính thống và không
chính thống. Số liệu khảo sát cho thấy kênh thông tin chính để truyền tải các thông tin đến
người dân vẫn theo hệ thống hành chính nhà nước từ cấp tỉnh, huyện, xã rồi đến thôn,
thông qua cán bộ thôn và các cuộc họp thôn có tỷ lệ người dân trả lời cao nhất với 74,2%
và 72,1% số hộ, tiếp đến là nguồn tin từ đài và ti vi với tỷ lệ 58%. Các nguồn tin từ cán bộ
xã, cán bộ khuyên nông, các đoàn thể cũng có vai trò đối với người dân nơi đây. Đây là
nhân tố hỗ trợ cho hộ nghèo trong việc tiếp cận các nguồn thông tin. Tuy nhiên, một số
nguồn thông tin quan trọng như từ việc trao đổi sản phẩm mua bán vật tư, trao đổi với bạn
bè hàng xóm vẫn còn hạn chế. Nếu so sánh mức độ tiếp cận các nguồn thông tin thì khả
năng tiếp cận tăng dần từ Hà Giang đến Yên Bái và cao nhất là Quảng Trị, nó phù hợp với
thực tế của các địa phương vì Yên Bái và Quảng Trị gần trung tâm và cơ sở hạ tầng tốt
hơn so với Hà Giang. (Bảng 55 và 56)
Nhà nước có chủ trương chính sách phát triển các tổ chức quần chúng, thu hút các
hội viên tham gia, thông qua các tổ chức đoàn thể để phát triển sản xuất, tăng cường mối
liên kết của cộng đồng, giúp đỡ nhau lúc hoạn nạn, hoà giải, đảm bảo an ninh trật tự...
trong thời gian gân đây các tổ chức đoàn thể còn được uỷ thác cho vay vốn của Ngân hàng
Chính sách Xã hội nhằm giúp người dân phát triển sản xuất, xoá đói giảm nghèo.
Việc tham gia các tổ chức đoàn thể lợi ích mang lại mởi chỉ dừng ở việc mở rộng
quan hệ và mang lại lợi ích chung cho cộng đồng, vấn đề ích ích tăng thu nhập cho người
dân vẫn đang mức khiêm tốn. (Bảng 57)
Phân theo địa bàn nghiên cứu thì vấn đề lợi ích mở rộng quan hệ xã hội khi tham
gia vào các đoàn thể, tỉnh Quảng Trị có tỷ lệ cao nhất (83,3%), sau đó là Yên Bái (73%)
và Hà Giang chỉ (57%), các lợi ích khác cũng tương tự, Quảng Trị cao nhất sau đó đến
Yên Bái và Hà Giang, tuy nhiên, vấn đề không mang lại lợi ích gì thì Hà Giang lại có tỷ lệ
cao nhất, mà nguyên nhân có thể là do tại các địa phương khảo sát địa hình chia cách,
thông tin liên lạc chưa đảm bảo, người dân ở xa rất khó tham gia. (Bảng 58)
Mạng lưới quan hệ gia đình, dòng họ của người dân địa phương khá mạnh
Việc lan toả thông tin trong cộng đồng và hộ gia đình đóng vai trò quan trọng đối
với việc nâng cao vốn xã hội của người dân. Nếu thông tin được truyền tải kịp thời, đúng
đối tuợng, đúng trọng tâm sẽ giúp người dân tăng khả năng hiểu biết về sản xuất, xu thế
thị trường, hiểu biết xã hội, làm tăng sự tự tin, nâng cao hiệu quả sản xuất...
Số liệu khảo sát cho thấy phần lớn chủ hộ khi có thông tin thường trao đổi với gia
các thành viên trong gia đình tỷ lệ 82,2%, kế tiếp là trao đổi với hàng xóm (52,9%), trao
đổi họ hàng (47,1%), trao đổi với người trong làng xã (21,5%) và trao đổi với người khác
chỉ có (4%). Tuy nhiên, phân theo địa điểm nghiên cứu thì có sự chênh lệch lớn về việc
trao đổi thông tin với người trong gia đình ở Quảng Trị (96,5%), Yên Bái (90,8%) và Hà
14


Giang chỉ có 59,2%, tương tự như thế việc trao đổi với các tác nhân khác ở Quảng Trị và
Yên Bái cũng có tỷ lệ cao hơn Hà Giang, duy chỉ có trao đổi với dòng họ Hà Giang có
nhỉnh hơn so với Yên Bái. Có thể thấy rằng ở vùng gần trung tâm hơn thì việc Chia Sẻ
thông tin tốt hơn. Việc trao đổi thông tin cho nhau ở Hà Giang vẫn còn rất hạn chế so với
Yên Bái và Quảng Trị. (Bảng 59)
Có nhiều đối tượng đươc trao đổi sau khi chủ hộ biết thông tin về sản xuất, trong
đó đối tượng đầu tiên được các chủ hộ trao đổi đó là người trong gia đình, tiếp đến là họ
hàng và hàng xóm, người trong làng… Như vậy đối tượng mà chủ hộ trao đổi thông tin
sau khi nắm được các thông tin về sản xuất khá đa dạng, thông qua đó chủ hộ sẽ nắm được
nhiều thông tin phản hồi từ các phía do vậy việc ra quyết định chọn lựa các phương án sản
xuất sẽ tốt hơn. (Bảng 60)
Quan hệ của người dân trong cộng đồng từ khi có dự án ngày càng tốt hơn
Trong những năm vừa qua các địa phương khảo sát đã có nhiều chương trình dự án
hỗ trợ, đồng thời nhà nước cũng có nhiều chính sách giúp tăng cường nguồn vốn xã hội
của người dân và cộng đồng. Điểm nổi bật là dự án Chia Sẻ đã hỗ trợ địa phương, người
dân phát triển hạ tầng cơ sở nhằm tăng sự giao lưu kết nối thông tin như nhà sinh hoạt
cộng đồng, hệ thống truyền thông, bên cạnh đó thì việc tăng cường năng lực cho cán bộ và
người dân cũng được chú trọng. (Bảng 61)
Quan số liệu thống kê cho thấy sau khi có dự án quan hệ cộng đồng đã được nâng
lên, thể hiện rõ nét nhất là ở Quảng Trị (91,8%), tiếp đến là Yên Bái (75,7%) và Hà Giang
(67,2%). Tuy nhiên, vẫn có một số trả lời là tác động của dự án đối với quan hệ trong công
đồng vẫn dữ nguyên hoặc xấu đi. Tỷ lệ này lại ngược khi Hà Giang có tỷ lệ cao nhất, sau
đó đến Yên Bái và Quảng Trị. Không có người nào tham gia sự án ở Quảng Trị trả lời là là
quan hệ xấu đi. Qua đó cho thấy hiệu quả trong hoạt động cộng đồng trong các dự án triển
khai ở địa phương này, với lại Quảng Trị và Yên Bái cơ sở hạ tầng thuận tiện hơn, cùng
với dân trí cao hơn so với Hà Giang.
Đa số người dân tham gia vào các tổ chức địa phương
Tham gia vào các hoạt động đoàn thể sẽ mang lại nhiều lợi ích cho người dân từ
việc mở rộng quan hệ trong cộng đồng, nắm bắt các thông tin kịp thời, Chia Sẻ giúp đỡ
nhau lúc khó khăn hoạn nạn cho đến các hoạt động cho vay vốn tạo thu nhập cho hộ gia
đình... Các điểm khảo sát các tổ chức hoạt động tương đối tốt, nhất là hội nông dân và hội
phụ nữ. So sánh giữa hai nhóm hộ có Chia Sẻ và không có Chia Sẻ không có sự khác biệt
nhiều trong tỷ lệ hộ tham gia vào các tổ chức đoàn thể, duy chỉ có hội nông dân và đoàn
thanh niên là có sự khác biệt giữa 2 nhóm Chia Sẻ và không Chia Sẻ. Phải chăng nhận
thức của người dân trong dự án Chia Sẻ về vấn đề tham gia các tổ chức đoàn thể cao hơn
so với nhóm hộ không có Chia Sẻ. (Bảng 62)
Mặc dù người dân tham gia các đoàn thể cũng mang lại khá nhiều lợi ích như: các
đoàn thể đứng ra tín chấp cho hộ nông dân vay vốn, tuyên truyền chính sách xã hội, tập
huấn kiến thức… nhưng nhìn chung mức độ tham gia các hoạt động đoàn thể của người
dân chưa cao, người dân chưa ý thức được hết những lợi ích này và một phần là do nếu
người dân không được hưởng những ưu đãi này từ phía các đoàn thể thì họ vẫn được
hưởng những lợi ích này từ các tổ chức khác như: chính quyền địa phương (thôn, xã,
huyện...), các cơ quan quản lý ngành và các dự án, các tổ chức phi chính phủ... Tỷ lệ hộ
tham gia công tác đoàn thể của người dân ít có sự chênh lệch giữa hộ thuộc xã có dự án và
không có dự án Chia Sẻ.
Bảng trên cho mức độ tham gia các tổ chức đoàn thể của người dân Quảng Trị là
rất cao, trong khi đó ở Yên Bái và Hà Giang vẫn còn nhiều hộ không tham gia và các hoạt
động đoàn thể (18 và 26 hô cho mỗi tỉnh). Trong các tổ chức đoàn thể thì hội Nông dân và
Phụ nữ được nhiều người tham gia nhất. Mọi phụ nữ của thôn Giàng Cài xã Nậm Lành
15


huyện Văn Chấn đều tham gia hội phụ nữ. (BBPRA trang 5). Ở thôn Nà Sài xã Minh
Ngọc huyện Bắc Mê tỉnh Hà Giang cũng vậy các tổ chức quần chúng hoạt động tương đối
hiệu quả nhất là vai trò của hội phụ nữ. (BBPRA Thon Na Sai trang 3) Vai trò của đoàn
thanh niên rất hạn chế.
Tham gia vào các tổ chức đoàn thể cũng là yếu tố mang lại lợi ích gián tiếp cho việc sản
xuất, kinh doanh của hộ. Các tổ chức đoàn thể chủ yếu là Hội nông dân, Hội phụ nữ, Hội
cựu chiến binh và Đoàn thanh niên. Các hộ thường tham gia hội nông dân nhất trong các
hiệp hội. Chia theo các tỉnh, số lượng thành viên tham gia hội nông dân ở Hà Giang là 84,
Yên Bái là 43 và Quảng Trị là 125.
Phong tục tập quán lạc hậu ngày càng được hạn chế
Các phong tục khác như đám cưới, đám ma không còn kéo dài như trước từ chỗ ăn
3-4 ngày và thách cưới đến ăn 1-2 ngày và lễ cưới. Đám cưới ngày nay cũng chỉ ăn uống
có một ngày, người dân không tốn kém nhiều chi phí cho họat động này nữa.
Các luật tục địa phương ngày càng bị mờ nhạt, chỉ còn lại một số phong tục vẫn duy trì
như: cúng, lễ hội…
Không có sự khác biệt lớn về tỷ lệ của các nhóm hộ phân theo trình độ học vấn.
Qua bảng trên cho thấy sự công bằng giới trong việc ra quyết định đã được nâng lên, đồng
thời vốn xã hội của dòng họ, cán bộ và những người sống trong cộng đồng đã được hình
thành, tuy nhiên, vẫn đang ở mức thấp. (Bảng 64)
So sánh giữa hai nhóm hộ có Chia Sẻ và không Chia Sẻ chúng ta có thể dễ dàng
nhận thấy có sự khác nhau giữa 2 nhóm về các vấn đề tham khảo ý kiến đối với vợ chồng
khi đưa ra quyết định, hộ có dự án Chia Sẻ thấp hơn so với không Chia Sẻ. Tuy nhiên, vấn
đề tham khảo ý kiến của cán bộ thôn, xã, cán bộ dự án và Hàng xóm thì nhóm hộ có Chia
Sẻ có tỷ lệ cao hơn nhóm hộ không Chia Sẻ. Qua đó cho thấy vốn xã hội của cán bộ, của
người dân trong dự án Chia Sẻ đã được nâng lên. (Bảng 65)
Quan hệ gia đình, dòng tộc, làng xóm… ảnh hưởng không nhỏ đến việc ra quyết
định trong sản xuất của hộ nông dân. Các hộ thường tham khảo ý kiến của nhiều đối tượng
trước khi ra quyết định trong sản xuất cũng như đời sống, tuy nhiên mức độ tham khảo của
chủ hộ đến các đối tượng có sự khác nhau. Kết quả thảo luận PRA cho thấy: Mức độ tham
khảo ý kiển cá nhân của hộ nông dân thuộc xã có dự án Chia Sẻ cao hơn với xã không có
dự án Chia Sẻ.
Trước khi ra quyết định sản xuất, kinh doanh 100% số chủ hộ đều tham khảo ý
kiến cá nhân, đã bàn bạc với những người thân như vợ hoặc chồng, họ hàng, hàng xóm..
thậm chí nhiều chủ hộ còn tham khảo ý kiến cán bộ địa phương hoặc cán bộ dự án… Để ra
quyết định một số chủ hộ đã tham khảo ý kiến của rất nhiều người nhưng có những chủ hộ
chỉ tham khảo ý kiến của 1-2 người. Người được các chủ hộ trao đổi nhiều nhất chính là
vợ hoặc chồng của chủ hộ, đối tượng thứ 2 mà chủ hộ trao đổi là cán bộ địa phương những người nắm được chủ chương, chính sách và thông tin đối tượng, thứ ba là họ hàng
của chủ hộ, thứ tư là hàng xóm và thứ năm mới là cán bộ dự án. (Bảng 65)
Những nhân tố cản trở
Người dân vẫn còn bị ép giá do thiếu thông tin thị trường
Trong những năm qua khả năng tiếp cận thông tin của người dân đã được nâng lên
thông qua các chương trình dự án như Chia Sẻ (Bảng 66). Các nguồn tin từ cán bộ xã,
thôn, cán bộ dự án được người dân trong dự án Chia Sẻ tiếp cận tốt hơn, cùng với đó thì
nguồn tin từ loa phóng thanh, sách báo tờ rơi, bạn bè và các nguồn tin từ trao đổi sản
phẩm cũng tốt hơn. Điều này có thể khẳng định công tác hỗ trợ người dân tiếp cận thông
tin của dự án là khá tốt. Tuy nhiên, mức độ tiếp cận các nguồn tin chung cho cả hai nhóm
vẫn còn thấp. Để người dân các điểm khảo sảt tiếp cận tốt các nguồn thông tin nhằm tăng
vốn xã hội lên thì còn phải nỗ lực nhiều từ phía nhà nước và người dân.
16


Hệ thống phân phân phối vật tư và thu mua sản phẩm nông sản giúp người dân tiếp
cận dễ dàng hơn với thị trường bên ngoài. Mua và bán các vật tư đầu vào và nông sản chủ
yếu qua các kênh tại chợ, tại nhà, bán qua thương nhân, bán tại đường quốc lộ, bán cho
khách vãng lai, bán nơi khác.
Hai kênh được dùng để trao đổi thường xuyên là bán tại chợ và bán cho khách
vãng lai. Tuy nhiên, giữa các tỉnh có sự khác nhau về việc bán sản phẩm, người dân Hà
Giang thường bán cho khách vãng lai và tại chợ, còn Yên Bái và Quảng Trị thường bán tại
nhà. Qua đấy cho thấy việc thu mua các sản phẩm nông sản đã được các tư thương tiếp
cận đến người dân, tuy nhiên, vấn đề này còn phụ thuộc vào hệ thống giao thông như ở Hà
Giang1 do một số xã đường sá khó khăn không có người đến thu mua nên người dân phải
mang đến chợ bán, trong khi đó ở Yên Bái và Quảng Trị tỷ lệ người dân đến chợ bán thấp
hơn nhiều.
Đối với việc mua các vật tư đầu vào thì người dân Hà Giang chủ yếu mua ở chợ
57%, tiếp đến Yên Bái 32,9% và Quảng Trị chỉ có 23,4 %. Việc giao thương thể hiện rõ
nét hơn ở Yên Bái và Quảng Trị nơi đã có các dịch vụ cung cấp vật tư đầu vào của tư nhân
phát triển và vai trò của Hợp tác xã trong cung ứng vật tư tốt hơn như ở Quảng Trị.
Việc hộ gia đình bị ép giá xảy ra nhiều ở tỉnh Quảng Trị là 41%, ở Yên Bái là 35%
và Hà Giang là 17%. Thông tin giá cả thị trường cập nhật là vấn đề cần quan tâm, vấn đề
này được thể hiện rõ qua số liệu của điểm nghiên cứu Quảng Trị nơi sản xuất đã cho ra các
sản phẩm hàng hoá như cao su, tiêu… hiện tượng tư thương thông đồng nhau để ép giá
vẫn xảy ra thường xuyên, mặc dù khoảng cách từ nhà đến chợ, đường quốc lộ của người
dân Vĩnh Linh là không xa. Mặt khác các tỉnh vùng sâu, miền núi như Yên Bái và Hà
Giang khả năng sản xuất các sản phẩm hàng hoá còn hạn chế, địa hình chia cắt, thông tin
tiếp cận ít nên nhiều khi người dân không biết mình bị ép giá hay không. (Bảng 67)
Việc trao đổi mua bán các sản phẩm nông sản cón phụ thuộc vào khoảng cách từ
các hộ tiếp cận với hệ thông thị trường như chợ, đường quốc lộ, tư thương... Trao đổi hàng
hoá có xu hướng giảm dân theo khoảng cách nếu hộ ở xa thì thường trao đổi nông sản và
các vất tư đầu vào qua thương nhân là chính, nếu hộ ở gần thi việc trao đổi này chủ yếu là
ở chợ hoặc tại nhà.
Việc tư thương ép giá là yếu tố phi chính sách tác động rất lớn tới giá cả của một
số sản phẩm nông sản, đặc biệt là đối với những loại sản phẩm thu hoạch tập trung và khó
khăn trong bảo quản. Qua thông kê cho thấy tình trạng người dân bị ép giá khi bán sản
phẩm khá nhiều, đặc biệt là khi bán các sản phẩm tại nhà hoặc tại chợ (Bảng 69 và Hộp
26).
Tương tự thì việc mua các vật tư đầu vào người dân cũng bị ép giá khi mua ở chợ
hoặc qua tư thương, nguyên nhân chủ yếu là do người dân thiếu tiền mặt để thanh toán
ngay nên phần lớn là mua ghi nợ (với lãi suất cao), người nghèo thiếu vốn buộc phải chấp
nhận mức giá mà các tư thương đặt ra. Mặt khác các tư thương trong cung cấp vật tư đầu
vào luôn có quan hệ mật thiết với nhau, họ cùng nhau liên kết tăng giá bán buộc nông dân
phải mua với giá cao, trong khi đó nông dân lại thiếu thông tin về giá cả thị trường, điều
này dẫn đến tình trạng nhiều hộ nông dân bị ép giá mà không biết. Đây thực sự là cản trở
lớn đối với nông dân trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất.
Vai trò của Hợp tác xã nông nghiệp trong cung cấp vật tư đầu vào ở Quảng Trị đã được
người dân hưởng ứng, bởi vì giá cả hợp lý, nguồn cung cấp ổn định và kịp thời. Đây là mô
hình cần được nhân rộng và áp dụng cho đồng bào vùng cao, nơi chịu rất nhiều thiệt thòi
từ các yếu tố phi chính sách.
1

Tổng hợp các thông tin PRA cho thấy việc trao đổi hàng hoá gặp khó khăn đối với người dân, vì tư thương
thường cân nhắc khi đến thu mua sản phẩm ở Bắc Mê, đường sá khó khăn, chi phí cước quá cao nên rất khó
cạnh tranh giá cả với những đia phương khác.

17


Mối quan hệ mua bán, trao đổi sản phẩm được nhìn nhận theo nhóm hộ có Chia Sẻ
và Không Chia Sẻ có sự khác biệt về việc mua bán đúng giá hay bị ép giá. Tuy khác biệt
không lớn lắm, nhưng những hộ có Chia Sẻ tỷ hộ mua bán đúng giá cao hơn so với nhóm
hộ không có Chia Sẻ, ngược lại thì tỷ lệ hộ Chia Sẻ bị ép giá ít hơn so với nhóm hộ không
Chia Sẻ. Qua đó cho thấy khả năng nhận thức của người dân có dự án Chia Sẻ về thông tin
thị trường tốt hơn nhóm không có dự án Chia Sẻ.
Khi trao đổi sản phẩm, người bán thường bị ép giá khi ở xa với trung tâm và chợ.
Tuy nhiên, kết quả điều tra trên cho thấy khoảng cách không ảnh hưởng đến số lượng
người bị ép giá.
Rất khó để có một phân ích rõ ràng do chọn mẫu ngẩu nhiên nên khi phân theo
khoảng cách rất khó so sánh, vì khoảng cách địa lý gần thường có số mẫu lớn hơn hộ ở xã.
Nhưng một thực tế cho thấy, những hộ ở xa, đường sá cách trở, thiếu thốn hạ tầng cơ sở,
phương tiên truyền thông thiếu là những hộ tiếp cận với thông tin thị trường yếu hơn cho
nên việc ép giá ở đây cũng nhiều hơn.
Do địa hình chia cắt, phân bố không tập trung nên khi kêu goi các hộ tham gia tiếp
thu thông tin gặp khó khăn, phương tiện truyền thông chưa có... Các nguồn thông tin về
giá chưa có nên người dân ở thôn bản hay bị hoang mang trước những tin đồn và bị ép giá
sản phẩm. (Bảng 71)
Nguồn thông tin chính của các điểm khảo sát chủ yếu thông qua từ các cuộc họp,
mặc dù vậy, việc tham gia họp hành trao đổi thông tin lại chỉ tập trung vào những người
có vai trò trong gia đình có hiểu biết, thông thạo tiếng phổ thông... dẫn đến một số thành
viên hộ gia đình không tiếp cận được thông tin hoặc tiếp cận thông tin không kịp thời nếu
như những người đi họp không truyền tải lại. Đối với những người mặc cảm tự ti (thường
là người nghèo) có tâm lý ngại đi họp hặc tham gia phát biểu ý kiến vì nghĩ rằng minh
đóng góp ý kiến thì ai nghe khi mình sản xuất kém hơn người khác, hoặc nghèo hơn họ.
Bên cạnh đó khả năng truyền tải thông tin không đuợc lưu loát cũng dẫn đến tình trạng
này. Điều này dẫn đến khoảng cách ngày càng dãn ra giữa các nhóm hộ trong việc tiếp cận
và truyền tải thông tin, vốn xã hội không phát triển thì mất kết các cơ hội tham gia vào xu
thế chung.
Tình trạng mất cân bằng về giới vẫn còn tồn tại
Bảng trên cho ta thấy rằng phần lớn các ý kiến cho rằng nam giới đi họp nhiều hơn nữ
giới, cùng với đó thì số nguời tham gia phát biểu nam giới cũng chiếm đa số. Do hiện nay
kênh cung cấp thông tin chính là qua các cuộc họp thì đây là điều thiệt thòi cho chị em.
Chưa tính đến vấn đề đi họp tiếp thu ý kiến của giới như thế nào, và về truyền đạt lại thôn
tin ra sao cho các thành viên khác trọng hộ gia đình. (Bảng 72 và Hộp 27)
Hoạt động của các tổ chức chính trị xã hội không rõ ràng, hoạt động chồng chéo
kém hiệu quả và khiến người dân lúng túng khi cần được cung cấp thông tin.
Ví dụ như theo ý kiến của ông Phạm Quang Hưng CBHĐ BTK Quảng Trị, việc
vay tiền qua tín chấp của các hội như đoàn Thanh Niên, hội Phụ nữ, hội Cựu chiến binh,
hội Nông Dân gây cho người dân không biết phải làm như thế nào, bắt đầu từ tổ chức nào
để việc tiếp cận các nguồn vốn. Các tổ chức đoàn thể tuy có, nhưng ở một số nơi rất khó
kết nối các hội viên vì vai trò của các tổ chức này chỉ ở mức tạo quan hệ cho cộng đồng,
hoặc vì mục đích chung chứ các vấn đề khác nhằm tăng thu nhập cho hộ vẫn chưa được
phát huy.
Phụ cấp cho chi hội trưởng thấp, chỉ có 50 nghìn đồng/tháng. phụ cấp cho trưởng
thôn rất thấp, chỉ đạt 80-120 nghìn đồng/tháng.
Phụ nữ bị hạn chế nhiều trong các hoạt động cộng đồng do gánh nặng gia đình và
do trình độ nhận thức thấp.
Theo ông Nguyễn Văn Đĩnh xã Hạnh Sơn – Văn Chấn: Bệnh thành tích, báo cáo
và những áp lực về con số, áp lực của cấp trên cần phải được xử lý
18


Việc được cung cấp thông tin và khả năng tiếp nhận, xử lý thông tin, ứng dụng
thông tin còn có khoảng cách lớn. Nhiều hộ nông dân sau khi tiếp nhận được thông tin,
đặc biệt là các thông tin về kỹ thuật sản xuất nhưng không có khả năng ứng dụng nên chỉ
dừng lại sau khi tiếp nhận được thông tin, chính vì lý do này mà hiệu quả của công tác
thông tin thấp và chưa đi vào đời sống. (Bảng 73)
Sự hòa nhập của người dân vào cộng đồng còn hạn chế
Tham gia các cuộc họp giúp hộ gia đình tiếp cận nhiều thông tin các chủ trương
đường lối của nhà nước, hoạt động sản xuất, thông tin kinh tế xã hội... Đây là nơi giúp
người dân tiếp nhận và trao đổi các thông tin giữa những người dân trong cộng đồng. Số
lần tham gia vào các cuộc họp/năm của Quảng Trị cao hơn so với Yên Bái và Hà Giang.
Tuy nhiên, việc phát biểu thường xuyên ở Yên Bái lại cao nhất, tiếp đến là Hà Giang và
cuối cùng là Quảng Trị. Tỷ lệ người dân hiếm khi phát biểu ở Quảng Trị và Hà Giang cao
hơn Yên Bái nhiều, nhưng tỷ lệ người không bao giờ phát biểu ở Yên Bái lại cao nhất.
(Bảng 75)
Số lần đi họp/năm và tỷ lệ phát biểu của nhóm hộ có Chia Sẻ cao hơn so với nhóm
hộ không có Chia Sẻ, tuy nhiên, đối với nhóm hộ có Chia Sẻ vẫn tồn tại một tỷ lệ tương
đối khi tham gia cuộc họp, hiếm khi phát biểu hoặc không bao giờ phát biểu. Đây là hạn
chế của một số hộ trong dự án Chia Sẻ, một nguyên nhân sâu xa là xuất phát điểm của
những nhóm hộ này thấp (nghèo và rất nghèo), dự án Chia Sẻ tập trung vào các xã nghèo,
những xã không Chia Sẻ thường có dự án khác hỗ trợ hoặc có điều kiện kinh tế xã hội tốt
hơn.
Hộ nông dân được tham gia đi họp, tập huấn ở các địa phương khá nhiều, bình
quân đạt 12,5 lần/hộ/1năm, trong đó số lần đi họp, tập huấn của hộ nông dân thuộc các xã
có dự án Chia Sẻ cao hơn xã không có dự án Chia Sẻ.
Mức độ tham gia đóng góp ý kiến của hộ nông dân khá cao, trong đó người nghèo
chiếm đa số chỉ thỉnh thoảng phát biểu, thậm chí hiếm khi hoặc không bao giờ phát biểu ý
kiến. Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này một phần là do nhận thức của nông dân còn
hạn chế nhưng một phần cũng là do nội dung khoá học không đáp ứng nhu cầu của hộ
nông dân, nhiều hộ nông dân đi tập huấn là để điểm danh, nhận tiền thù lao chứ không
quan tâm đến nội dung khoá học. Nhiều hộ nông dân không có điều kiện để áp dụng các
kiến thức đã được tập huấn do thiếu tư liệu sản xuất nên mức độ quan tâm đến nội dung
của các khoá tập huấn giảm dần, có nhiều trường hợp sau khi kết thúc cuộc họp hoặc khoá
tập huấn đã không nắm được nội dung cuộc họp hoặc nội dung khoá tập huấn, thậm chí có
người còn không biết đến nơi tập trung để làm gì. (Hộp 28)
Số lần tham gia họp thể hiện tính dân chủ trong các công việc chung của cộng
đồng. Trung bình số lần tham dự họp ở tỉnh Hà Giang là 10,06, tỉnh Yên Bái là 10,84, và
tỉnh Quảng Trị là 16,79. Tuy nhiên, mức độ tham gia phát biểu ý kiến của người dân tại
các cuộc họp vẫn còn trường hợp hiếm khi phát biểu hoặc không phát biểu bao giờ. Một
số do không biết nói gì, một số khác ngại nói, cuộc họp đông quá, không đủ thời gian để
góp ý. Đây là yếu tố cản trở trong Chia Sẻ và tiếp cận thông tin của người dân.

4.5. Nguồn vốn tự nhiên
Những nhân tố thúc đẩy
Diện tích đất có khả năng khai hoang, phục hóa còn nhiều cùng với sự dồi dào
và đa dạng của các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác
Nguồn tài nguyên đất dồi dào là một thuận lợi lớn cho người dân các vùng nghiên cứu
trong việc tiếp cận nguồn lực tự nhiên. Tại Hà Giang và Yên Bái diện tích đất có khả năng
khai hoang còn rất lớn.
19


Về nguồn tài nguyên động thực vật, sự đa dạng và dồi dào cũng mang lại một nguồn
lợi đáng kể cho người dân. Ví dụ tại Quảng trị, có giàu tiềm năng biển nên khả năng khai
thác, đánh bắt và nuôi trồng hải sản ở ven bờ biển Quảng Trị tương đối lớn. Năng suất đánh
bắt tôm, cá tự nhiên đạt khoảng 152 - 255 kg/ha và sản lượng đánh bắt hàng năm đạt tới
hàng chục ngàn tấn. Hàng nghìn ha mặt nước ở những nơi có rạn đá ngầm có thể nuôi tôm
hùm xuất khẩu.
Không có sự phân biệt của các dự án đối với các đối tượng hộ dân nhưng chính sự
khác biệt giữa nguồn lực kinh tế, nhận thức, v.v… của các hộ gia đình dẫn đến việc khả
năng tiếp cận nguồn tài nguyên khác nhau giữa các hộ.
Thêm vào đó, việc người dân có ý thức tốt, tích cực tham gia vào các chính sách,
các hoạt động của dự án là tạo điều kiện tốt hơn cho chính bản thân họ tiếp cận nguồn vốn.
Tại huyện Bắc Mê tỉnh Hà Giang việc trồng, chăm sóc, khoanh nuôi và bảo vệ rừng được
cán bộ và người dân thực hiện tốt, hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch đề ra.
Dự án Chia Sẻ trong quá trình triển khai đã quan tâm khá nhiều đến phát triển
bền vững
Một yếu tố thuận lợi nữa cho người dân để tiếp cận nguồn vốn là việc các dự án tại
địa bàn quan tâm đến việc phát triển bền vững. Đối với Dự án Chia Sẻ, việc nghiên cứu hỗ
trợ phải luôn đi đôi với việc tìm ra hướng phát triển bền vững cho người dân. Dự án Chia
Sẻ đầu tư cho người dân những hạng mục mang tính lâu dài như ở xã Yên Phong, Dự án
đầu tư xây dựng hệ thống kênh mương dẫn nước, đào giếng cho người dân sử dụng, xây
dựng hệ thống tưới tiêu, giúp cho người dân về cơ sở hạ tầng để người dân có thể tiếp cận
các nguồn lực tự nhiên trong thời gian trước mắt và cả lâu dài. Hơn thế nữa, dự án còn rất
quan tâm đến phát triển bền vững qua việc thực hiện kết hợp cả việc khai thác và tái tạo tài
nguyên thiên nhiên, vừa hướng dẫn người dân khai thác nguồn vốn tự nhiên một cách hợp
lý và hỗ trợ người dân phục hồi, phát triển các nguồn tài nguyên ấy. Dự án hỗ trợ nhân dân
trồng rừng, phát triển rừng để duy trì nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá này. Ngoài ra
dự án còn hướng dẫn các hộ dân các kiến thức để sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên
một cách hiệu quả hơn, những kiến thức này chính là hành trang lâu dài cho người dân
trong việc nâng cao khả năng sử dụng, tiếp cận các nguồn vốn tự nhiên. (Bảng 31)
“Trong thời gian qua đời sống nhân dân đã được tăng lên, hộ nào cũng có nhà ở,
chỉ còn đói bữa không còn hiện tượng đói triền miên như trước đây. Dân trí phát triển lên,
nhiều nhà phát triển kinh tế tốt, chăn nuôi trâu bò lợn phát triển. Nhờ dân trí tăng lên do
chính sách hỗ trợ và các dự án hỗ trợ. Vấn đề nhận thức được nâng lên là quan trọng
nhất.” (Phỏng vấn sâu Ông Nông Đức Dinh, Yên Phong, Bắc Mê, Hà Giang)
Những nhân tố cản trở
Vị trí địa lý không thuận lợi
Đây là một trong những nhân tố gây cản trở người dân trong việc tiếp cận nguồn
lực tự nhiên. Vị trí địa lý không thuận lợi có thể gây khó khăn trong việc vận chuyển
giống, các phương tiện kỹ thuật hay thậm chí cả sản phẩm. Vì vậy gây ảnh hưởng tiêu cực
đến việc sản xuất của người dân, thậm chí làm cho giá thành sản phẩm thấp, giảm khả
năng tiêu thụ sản phẩm nên không khuyến khích được người dân tăng gia sản xuất. (Hộp
32)
Như vậy vị trí địa lý không thuận lợi không chỉ cản trở sự kết nối của người dân
với những điều kiện cơ sở vật chất, phương tiện, kỹ thuật, kiến thức sản xuất mà từ đó còn
cản trở sự tiếp cận của người dân với các nguồn vốn tự nhiên.
Khí hậu khắc nghiệt và một số khó khăn khác từ việc thiếu một số loại tài
nguyên

20


Khí hậu tại 3 tỉnh nghiên cứu đều gây ra rất nhiều khó khăn cho người dân. Tại 2
tỉnh vùng núi cao, do khí hậu khắc nghiệt nên các xã thường chỉ làm được 1 vụ. Về mùa
đông và mùa xuân vùng cao có nơi có sương muối, băng giá, gió lạnh, không có mưa gây
thiếu nước. Hiện tượng băng giá gây chết cây trồng vật nuôi hàng loạt khiến nhiều người
dân phải lao đao lâm vào tình cảnh khó khăn, trâu bò chết, hộ dân mất sức kéo trong sản
xuất, thậm chí có những gia đình trở nên nợ nần, không có khả năng tiếp tục tham gia sản
xuất. Đối với tỉnh Quảng Trị bão lũ cũng xảy ra liên tiếp vào mùa mưa, hạn hán diễn ra
thường xuyên vào mùa khô. Khí hậu khắc nghiệt còn ảnh hưởng xấu một cách gián tiếp tới
việc tiếp cận nguồn tài nguyên của người dân thông qua việc đi lại, vận chuyển, xây dựng
hệ thống thủy lợi, v.v…(Hộp 33)
Khó khăn về nguồn nước là một trong những khó khăn lớn đối với người dân tại 3
tỉnh nghiên cứu. Các sông ở hai tỉnh Hà Giang và Yên Bái đều có độ dốc lớn, nhiều thác
ghềnh, không thuận lợi cho việc sử dụng trong giao thông đường thủy và việc khai thác
các nguồn lợi nước ngọt. Nguồn nước sinh hoạt và tưới tiêu thiếu trên toàn bộ các vùng
nghiên cứu. Đất dốc lại ở vùng đồi núi cao nên việc đào giếng để lấy nước sinh hoạt là rất
khó khăn đối với người dân Yên Bái và Hà Giang. Người dân Quảng Trị tuy có thể đào
giếng nhưng mùa khô hạn ở đây nhiệt độ lên rất cao làm cho nguồn nước cạn đi, ảnh
hưởng không nhỏ tới đời sống của nhân dân. Trong khi đó tại 2 tỉnh vùng cao về mùa mưa
hiện tượng lũ quét xảy ra thường xuyên gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới mùa vụ và đời
sống.
Thị trường đất đai kém phát triển
Nhìn chung việc chuyển nhượng đất đai ở các địa phương vẫn còn nhiều khó khăn.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này, trong đó nguyên nhân chủ yếu là do không
có người bán đất hay cho thuê đất; việc làm thủ tục chuyển nhượng đất đai tại địa phương
cũng gặp phải những khó khăn nhất định; giá cao cũng là một nguyên nhân làm cho việc
chuyển nhượng đất đai gặp phải khó khăn. (Bảng 82)
Tại các xã có dự án Chia Sẻ khả năng chuyển đổi đất đai khó khăn hơn rất nhiều so
với ở các xã không có dự án Chia Sẻ, nguyên nhân sâu xa của nó là do người dân đã thấy
được hiệu quả sử dụng đất đai, thấy được giá trị thực sự của đất đai đối với sản xuất nên
nảy sinh tâm lý không muốn bán đất. Đây là khó khăn trong việc tích tụ đất đai để tăng
cường thúc đẩy sản xuất hàng hoá nhưng việc người dân tích cực “cày” trên mảnh đất của
họ lại là yếu tố thuận lợi thúc đẩy kinh tế hộ phát triển.
Hiện nay đa số các hộ đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Mặc dù hộ
có quyền chuyển nhượng đất đai nhưng việc này diễn ra rất ít. Đa số các hộ khi cho rằng
việc chuyển nhượng rất đai xảy ra ít là do không có người bán. Trong tình hình đất đai sản
xuất ngày càng trở nên khan hiếm thì việc giao dịch chuyển nhượng càng khó khăn do giá
cả tăng nhanh. Đất nông nghiệp cũng tăng giá nhanh làm cho người mua khó có thể mua
được.
Ngoài các yếu tố như: sổ đỏ, thủ tục của xã, giá cả v.v… Nghiên cứu còn xem xét
ảnh hưởng từ trình độ học vấn của người dân đến việc chuyển nhượng đất đai. Kết quả
đánh giá được biểu diễn trong bảng sau:
Tuy dân trí không ảnh hưởng đến việc chuyển nhượng đất đai của người dân
nhưng lại gây ra một số ảnh hưởng bất lợi cho người dân trong việc tiếp cận các nguồn lực
tự nhiên. Trình độ dân trí thấp dẫn đến khó khăn trong sản xuất canh tác, trong việc tiếp
thu các kiến thức về canh tác, sử dụng đất, rừng v.v… Một số người dân thiếu ý thức vẫn
còn tham gia chặt phá trộm rừng, gây cháy rừng. Dân trí thấp còn là một trong những
nguyên nhân gây tăng dân số. Dân số đông gây khó khăn lớn cho người dân tiếp cận các
nguồn vốn tự nhiên. (Bảng 84)
Tập quán canh tác lạc hậu
21


Tại các xã vùng cao tập tục sản xuất quảng canh rất phổ biến. Việc này dẫn đến
việc sản xuất không tranh thủ được nguồn nước tưới từ các công trình thủy lợi, lại ít được
đầu tư về phân bón, công lao động nên sản lượng thấp và tình trạng đói ăn xảy ra thường
xuyên. Tại xã Vĩnh Nam, Quảng Trị, không có doanh nghiệp nào đóng trên địa bàn, sản
xuất độc canh không có sản phẩm hàng hoá, không áp dụng kỹ thuật, không đủ giống tốt
để mua, không chủ động về giống.

4.6. Đánh giá vai trò giảm nghèo của các nguồn vốn sinh kế
Qua phần phân tích trên, sự đóng góp các nguồn vốn sinh kế vào trong quá trình
giảm nghèo đối với các nguồn vốn có sự khác nhau. Vì vậy, cần có cách điều chỉnh khác
nhau trong việc tác động các nguồn vốn sinh kế vào mục tiêu giảm nghèo.
Xét trong ngắn hạn, nguồn vốn tài chính và một phần nguồn vốn con người có tác
động tích cực trong quá trình giảm nghèo. Việc hỗ trợ gia tăng nguồn vốn tài chính từ các
kênh khác nhau sẽ làm tăng nguồn vốn sản xuất kinh doanh của hộ. Và điều này mang lại
giảm nghèo trong ngắn hạn. Bên cạnh đó, việc hỗ trợ gia tăng nguồn vốn con người từ
việc đào tạo tập huấn ngắn hạn cũng có tác động nhanh chóng.
Xét về trung hạn, sự gia tăng nguồn vốn con người trên khía cạnh giáo dục, cơ sở
hạ tầng sẽ mang lại kết quả giảm nghèo về trung hạn, ít nhất là trong thời hạn từ 3- 5 năm.
Ví dụ, việc xây dựng đường giao thông hay cầu cống chỉ mang lại hiệu quả tốt cho giảm
nghèo khi mà sản xuất của họ đã phát triển đến mức có thể tiếp cận với thị trường để gia
tăng thu nhập. Hoặc là việc đào tạo chỉ có tác dụng tốt khi người dân được đào tạo đã có
quá trình tích lũy kiến thức để có thể phát huy trong đời sống và sản xuất.
Cuối cùng, việc tác động vào việc gia tăng các nguồn vốn xã hội và vốn tự nhiên
chỉ có thể giảm nghèo trong dài hạn. Ví dụ: Việc thay đổi một phong tục tập quán tiêu cực
sẽ mang lại giá trị tốt trong dài hạn. Nguồn vốn tự nhiên là nguồn vốn khó có thể tác động
để giảm nghèo nhất. Ví dụ: Khó có thể thay đổi được chất lượng tài nguyên đất hay khí
hậu, khoáng sản. Việc thay đổi này dường như là không thể thực hiện được.

5. Phân Tích Kết Quả Sinh Kế
Từ các phân tích kết quả sinh kế, chương này sẽ trả lời các câu hỏi như sau: (1) Có những
điểm mạnh, điểm yếu gì trong các cách tiếp cận đã được Chương trình Chia Sẻ sử dụng
trong các điểm nghiên cứu? Những cách tiếp cận nào có thể được nhân rộng cho những
điểm khác? (2) Nên điều chỉnh hay cải tiến những gì trong các chính sách của Chính phủ
có thể giúp người nghèo tiếp cận tốt hơn các nguồn lực sinh kế?

5.1. Cải thiện mức sống và giảm nghèo, tăng cường an ninh lương thực
Cải thiện thu nhập
Với các nỗ lực hỗ trợ từ Chương trình giảm nghèo Chia Sẻ thông qua các họat động hỗ trợ
trực tiếp và gián tiếp, thu nhập của người dân ngày càng được cải thiện. (Hộp 35)
Nâng cao đời sống và đảm bảo an ninh lượng thực (Hộp 36)
Đời sống người dân địa phương liên tục được cải thiên qua các năm. Các yếu tố này được
đánh giá qua các đời sống vật chất và tinh thần, tài sản của hộ liên tục gia tăng.
Bên cạnh những hỗ trợ từ bên ngoài, nỗ lực của người dân cũng đóng góp vai trò quan
trọng trong việc cải thịện đời sống. Sự tự vươn lên của người dân là yếu tổ quyết định
trong việc cải thiện đời sống (vấn đề ở đây là nhận thức của người dân được nâng lên, xoá
đi các quan niệm lạc hậu và mặc cảm tự ty).
22


Tuy là những tỉnh sản xuất thuần nông, nhưng vấn đề an ninh lương thực chưa được đảm
bảo, đặc biệt là ở Yên Bái2 và Hà Giang3 có tới 47,5% và 33,8% hộ trong diện khảo sát
vẫn còn thiếu đói và Quảng Trị có đỡ hơn với chỉ 8,3%. Số tháng thiếu đói trong năm là
rất cao trung bình tới 3,3 tháng/năm. Đây là trở ngại lớn để người dân thoát nghèo, khi mà
giá cả lương thực ngày một leo thang, nhưng hộ đói phải vay nặng lãi, bán lúa non, khai
thác lâm sản, đi làm thuê để đảm bảo cuộc sống hàng ngày.
Trước tình hình đó, dự án Chia Sẻ đã có những hỗ trợ cho người dân trong việc phát triển
sản xuất lương thực để đảm bảo anh ninh lương thực như: khai hoang ruộng nước, hỗ trợ
kênh mương, các hoạt động nâng cao thu nhập khác…(Hộp 37)
Giảm nghèo
Mục tiêu chính của Dự án Chia Sẻ là giảm nghèo. Qua các năm triển khai của dự án tình
hình đói nghèo đã thay đổi đáng kể. Cảm nhận của người dân địa phương về tình trạng đói
nghèo đã được cải thiện tốt hơn. Tuy nhiên, xét về tỷ lệ các xã có thực hiện dự án Chia Sẻ
và các xã không có dự án thì tỷ lệ này không thay đổi nhiều. Nguyên nhân chính là việc
lựa chọn các xã để thực hiện dự án là các xã có tỷ lệ nghèo cao hơn. Đây là một tiêu chí để
chọn xã thực hiện dự án Chia Sẻ. Vì vậy, qua các năm triển khai thì tỷ lệ nghèo của những
xã này cũng chỉ giảm xuống tương với các xã không được hỗ trợ từ dự án. Đa số các hộ
được phỏng vấn đều cho rằng tình hình đói nghèo đã được cải thiện tốt hơn từ khi có dự
án Chia Sẻ. (Hộp 38 và Biểu đồ 1, Biểu đồ 2)
Đa dạng hóa nguồn thu nhập
Bảng dưới đây phân tích mức thu nhập của hộ và các nguồn thu nhập của hộ trong
năm vừa qua. Trong tổng thể các hộ điều tra, số hộ được phân loại kinh tế trung bình
chiếm 50% số hộ điều tra.
Do phần lớn lao động làm nghề nông nên qua bảng trên cho thấy số hộ có nguồn thu nhập
từ trồng trọt và chăn nuôi chiếm tỷ lệ cao với 414/425 hộ có thu nhập từ trồng trọt và
349/425 hộ có thu nhập từ chăn nuôi. Số hộ có thu nhập từ làm thuê cũng tương đối với
141/425 hộ, thu nhập từ nguồn khác 113/425 hộ. Ngành nghề và dịch vụ tại các địa
phương này còn kém phát triển, với tổng hộ khảo sát là 425 hộ nhưng chỉ có 26 hộ có thu
nhập từ dịch vụ và 17 hộ có thu nhập từ ngành nghề. Mức thu nhập trung bình từ trồng trọt
vẫn có giá trị cao nhất với 7,4 triệu đồng, tiếp theo là dịch vụ 6,5 triệu, chăn nuôi và làm
thuê tương đương 6 triệu, khác 5,7 triệu và cuối cùng là ngành nghề chỉ có 4,7 triệu. Qua
đây, có thể nhận xét là vai trò của nông nghiệp rất quan trọng đối với các nhóm hộ từ
nghèo đến giàu tại các điểm nhiên cứu. Nguồn thu từ lao động làm thuê bắt đầu có vai trò
trong kinh tế hộ, tuy nhiên mức lao động làm thuê vẫn chưa cao, vì các hoạt động làm thuê
chỉ mang tính chất thời vụ lúc nông nhàn, chứ không phải lao động làm thuê thường
xuyên. (Hộp 39 và Biểu đồ 3)
Nhìn vào cơ cấu thu nhập của các địa phương cho thấy có sự phân biệt rõ nét giữa
cơ cấu thu nhập của 2 tỉnh miền núi là Hà Giang, Yên Bái và tỉnh miền xuôi Quảng Trị.
Đối với Hà Giang và Yên Bái chăn nuôi lại mang về cho kinh tế hộ thu nhập cao hơn
trồng trọt và cá (Bảng 86)

2

Điểm khảo sát Văn Chấn cho thấy nhiều hộ thiếu đất sản xuất lúa, họ đã chuyển qua sản xuất cây công
nghiệp như trồng chè, tuy nhiên hiệu quả không cao do chi phí đầu vào lớn, và thị trường đầu ra lại không
đảm bảo.
3
Đối với người dân huyện Bắc Mê, Hà Giang thì ngược lại không phải là do thiếu đất mà do địa hình dốc,
đất thiếu dinh dưỡng, không đủ nước tưới, phần lớn chỉ sản xuất được 1 vụ đã ảnh hưởng đến an ninh lương
thực của người dân.

23


Qua bảng cơ cấu thu nhập phân theo điều kiện kinh tế hộ có sự phân hoá khá rõ nét các
nguồn thu nhập chính giữa các nhóm hộ từ giàu đến rất nghèo. Đối với trồng trọt mức thu
nhập trung bình của nhóm giàu là 11,5 triệu đồng, khá 8,5 triệu đồng, trung bình 8,3 triệu
đồng, nghèo 5 triệu đồng và rất nghèo chỉ có 2,3 triệu đồng. Qua đó cho thấy khả năng sản
xuất trồng trọt của hộ nghèo và rất nghèo là không hiệu quả. Chăn nuôi thì nhóm hộ khá
lại có mức thu nhập trung bình cao hơn với 9,4 triệu, tiếp sau đó mới đến hộ giàu, trung
bình, nghèo và rất nghèo. Tuơng tự như trồng trọt, thì hiệu quả sản xuất từ chăn nuôi có sự
chênh lệch lớn từ nhóm hộ khá, giàu và nhóm hộ trung bình, nghèo. Nguồn thu nhập khác
chủ yếu rơi vào nhóm hộ khá, trung bình và nghèo, tuy nhiên mức thu nhập trung bình
nhóm giàu cao hơn, kế tiếp là trung bình, nghèo, khá và rất nghèo. Đây là những hộ có
người làm công ăn lương, người nghỉ hưu, gia đình chính sách, được hưởng các trợ cấp xã
hội… Đối với nguồn thu từ làm thuê và dịch vụ cũng vậy nhóm hộ giàu có thu nhập bình
quân từ nguồn này cao hơn nhóm khá, trung bình, nghèo và rất nghèo. Qua đó có thể
khẳng định ngoài trừ thu nhập từ nguồn thu khác thì các nguồn thu còn lại nhóm hộ khá
giả cao hơn hẳn so với nhóm trung bình và nghèo. Sự phân hoá này cho thấy khả năng sản
xuất có sự khác biệt lớn giữa các nhóm hộ (nguyên nhân của sự khác biệt này có thể là
vốn, khoa học và kỹ thuật hay tư liệu sản xuất)
Tính bền vững của hỗ trợ cải thiện sinh kế
Các họat động của Dự án mang lại lợi ích cho việc cải thiện và nâng cao mức sống của
người dân địa phương. Đây là yếu tố ban đầu đảm bảo sự phát triển về kinh tế. Tính bền
vững về kinh tế được đánh giá khi dự án kết thúc thì người dân còn các tiềm lực kinh tế do
dự án hỗ trợ để tiếp tục phát triển sản xuất hay không? Phần này không đi sâu phân tích
các tác động về mặt kinh tế của dự án mà đánh giá tính bền vững của các họat động đó
trong dài hạn. (Bảng 87)
Những hỗ trợ mang tính đầu vào như tập huấn, hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng hoặc các hộ
trợ trực tiếp cho thấy rằng nó đảm bảo về mặt kinh tế trong tương lai. Ví dụ: Xây kênh
mương cho người dân có thể sử dụng trong một thời gian dài.
Qua khảo sát người dân trong dự án Chia Sẻ, phần lớn người dân đánh giá chương trình
Chia Sẻ có nhiều mặt tích cực. Vấn đề được đánh giá tích cực nhất đó là nâng cao năng
lực, kiến thức cho người dân (nhận thức của người dân) với 91,3% trả lời có tốt hơn, 6,7%
như cũ và chỉ có 2% trả lời là xấu đi (đây là trường hợp cá biệt, do họ chưa bằng lòng với
cách làm của Chia Sẻ). Tiếp theo là vấn đề đói nghèo đã được cải thiện với 88,7% trả lời
tốt hơn, tỷ lệ giảm nghèo qua các năm rất ấn tượng (Ví dụ: tỷ lệ giảm nghèo đạt 11%/năm
ở Hà Giang trong những năm qua). Bên cạnh đó các vấn đề công bằng giới, an sinh xã hội,
môi trường và chăm sóc sức khoẻ đã được cải thiện đáng kể, đặc biệt là vấn đề dân chủ cơ
sơ, ý kiến của người dân trong các cuộc họp bàn đã được cộng đồng và chính quyền địa
phương chấp nhận.
Ngoài ra, dự án Chia Sẻ còn hỗ trợ người dân trong việc lập kế hoạch, trực tiếp hỗ trợ sản
xuất, xây dựng công trình phục vụ sản xuất, mở mang đất đai, qũy vay vốn quay vòng, hỗ
trợ chăm sóc sức khỏe và xây dựng chuồng trại. Các hỗ trợ chính mà hộ nhận được là
nâng cao kiến thức, được tham gia lập kế hoạch, cơ sở hạ tầng được phục vu sản xuất và
hỗ trợ trực tiếp. (Bảng 88)
Để đánh giá một phần gián tiếp hiệu quả các họat động của dự án mang lại với địa
phương, việc so sánh các khó khăn của người dân gặp phải trước khi có dự án là một công
cụ cho rằng sau khi có dự án thì tất cả các khó khăn trên đã được giải quyết.

24


Trước khi Chia Sẻ bắt đầu triển khai người dân gặp rất nhiều vấn đề khó khăn, có tới 55 ý
kiến cho rằng vấn đề giao thông là trầm trọng nhất, sau đó đến kỹ thuật (37 ý kiến), tư liệu
sản xuất (32 ý kiến), tiếp theo là các ý kiến về vấn đề nước sạch, chuồng trại, sản xuất gặp
khó khăn và đói nghèo. Ngoại trừ vấn đề giao thông và kỹ thuật, nhóm hộ có thu nhập trên
25 triệu và nhóm hộ có mức thu từ 5 đến 10 triệu có nhiều ý kiến nhất. Các vẫn đề còn lại
không có sự khác biệt lớn giữa các mức thu nhập. (Bảng 89)
Qua hai bảng trên cho thấy rằng kết quả mang lại của dự án Chia Sẻ đã giải quyết phần lớn
các khó khăn gặp phải của người dân như: giao thông, chuồng trại, nước sinh họat, kỹ
thuật sản xuất. Đồng thời còn hỗ trợ các mặt khác như: cơ sở hạ tầng, tăng cường năng
lực, môi trường cho người dân địa phương. (Bảng 90)
Phân theo tỉnh thì ý kiến về các vấn đề khó khăn gặp phải của Quảng Trị và Hà Giang
tương đương nhau, Yên Bái thì ít hơn. Nhưng vấn đề cải thiện giao thông thì ý kiến nhiều
nhất là Quảng Trị, sau đến Yên Bái và Hà Giang. Nhưng vấn kề kỹ thuật thì cả 3 tỉnh có
nét tương đồng. Vấn đề tư liệu sản xuất thì Hà Giang có nhiều ý kiến hơn, tiếp đó là
Quảng Trị và Yên Bái. Vấn đề nước sạch đối với Hà Giang trầm trọng nhất so với 2 tỉnh
còn lại. Đối với vấn đề chuồng trại thì Yên Bái có nhiều ý kiến nhất, kế tiếp là Quảng Trị
và Hà Giang. Vấn đề sản xuất khó khăn thì các ý kiến của Quảng trị và Hà Giang gần như
nhau, Yên Bái có ít ý kiến hơn. Do đặc điểm của mỗi miền mỗi vùng nên khó khăn gặp
phải giữa các điểm nghiên cứu có sự khác nhau, tuy nhiên nhưng điểm chung ở đây là giao
thông và kỹ thuật sản xuất.
Những khó khăn đối mặt của người dân trước khi có Chia Sẻ được nhìn nhận qua điều
kiện kinh tế thực tế của hộ cho thấy số ý kiến rơi vào nhóm hộ trung bình là chính sau đó
đến hộ nghèo, khá, giàu và rất nghèo. Các vấn đề gặp phải từ giao thông và kỹ thuật điều
tương đồng với ý kiến tổng thể. Tuy nhiên, các vấn đề như tư liệu sản xuất, thiếu đói, khó
khăn sản xuất và nước thì nhóm hộ giàu và khá không gặp phải hoặc ít hơn so với nhóm
hộ trung bình và nghèo. Vấn đề chuồng trại thì nhóm nghèo là gặp phải nhiều hơn so với
nhóm hộ khá, trung bình và giàu, do tập quán lâu đời của người dân, nhất là miền núi chủ
yếu chăn nuôi thả rông, nên vấn đề chuồng trại là vấn đề lớn khi chuyển qua chăn nuôi tập
trung. (Bảng 91 và Hộp 40)

5.2. Giảm thiểu tình trạng dễ bị tổn thương
Tình trạnh dễ bị tổn thương được tạo ra do các biến động (shock) về các yếu tố tự
nhiện kinh tế xã hội, môi trường chính trị, hoặc các xu hướng biến đổi của dân số, tài
nguyên, quốc tế và trong nước, khoa học kỹ thuật hoặc các yếu tố biến đổi mang tính mùa
vụ như: sản xuất, giá cả, sức khỏe, cơ hội việc làm.
Trong nghiên cứu này, tình trạng dễ bị tổn thương của hộ được xem là các rủi ro
mà hộ gặp phải trong đời sống và sản xuất. Các rủi ro hộ gặp phải như thiên tai, gia súc bị
bệnh chết, gia đình có người đau ốm, đặc biệt trong những năm gần đây thời tiết thay đổi,
giá rét kéo dài đã ảnh hưởng đến sản xuất trồng trọt và chăn nuôi. (Biểu đồ 4)
Nhìn vào biểu đồ có thể nhận thấy các khó khăn rủi ro gặp phải trong 3 năm qua
tập trung chủ yếu vào nhóm hộ trung bình và nghèo. Rủi ro người dân thường gặp phải là
mất mùa và vật nuôi chết. Đợt rét đậm đầu năm 2008 đã gây chết nhiều gia súc.
Các rủi ro mà hộ gia đình các điểm khảo sát gặp phải trong 3 năm qua, nhiều nhất là vật
nuôi chết (185 hộ) với mức độ thiệt hại trung bình 4,4 triệu đồng/hộ, tiếp đến là mất mùa
(176 hộ) mức độ thiệt hại 2,7 triệu đồng/hộ, người đau ốm (50 hộ) cso mức độ thiệt hại
cao nhất với 8,3 triệu đồng/hộ, lũ quét (31 hộ) mức thiệt hại 4,5 triệu đồng/hộ, bão (23 hộ)
25


x

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×