Tải bản đầy đủ

Nghiên cứu biến đổi số lượng bản sao ADN ti thể ở bệnh nhận ung thư vú

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
--

Nguyễn Hồng Nhung

NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỔI SỐ LƯỢNG
BẢN SAO ADN TI THỂ Ở BỆNH NHÂN
UNG THƯ VÚ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội-2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
--

Nguyễn Hồng Nhung


NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỔI SỐ LƯỢNG
BẢN SAO ADN TI THỂ Ở BỆNH NHÂN
UNG THƯ VÚ

Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm
Mã số: 60420114

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS. Trịnh Hồng Thái
TS. Đỗ Minh Hà

Hà Nội-2015


LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên em xin chân thành bày tỏ lòng cảm ơn và kính trọng sâu sắc đối
với thầy, PGS. TS. Trịnh Hồng Thái, người đã tận tình hướng dẫn em trong suốt
quá trình học tập và thực hiện luận văn này. Thầy đã mở ra cho em những vấn đề
khoa học rất lý thú, hướng em vào nghiên cứu các lĩnh vực hết sức thiết thực và vô
cùng bổ ích, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho em học tập và nghiên cứu. Em đã
học hỏi được rất nhiều ở Thầy phong cách làm việc, cũng như phương pháp nghiên
cứu khoa học.
Em cũng xin trân trọng cảm ơn đến TS. Đỗ Minh Hà và thầy giáo, cô giáo
trong khoa Sinh học, trường Đại học Khoa học Tự nhiên, đặc biệt là các thầy cô
giáo trong bộ môn Sinh lý Thực vật và Hóa sinh học đã tận tình giảng dạy dìu dắt
tôi trong suốt thời gian học tập tại trường.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các anh chị đã tận tình giúp đỡ và chỉ
bảo tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn tại Phòng Proteomics và
Sinh học Cấu trúc thuộc Phòng thí nghiệm Trọng điểm Công nghệ Enzyme và
Protein, các bạn học viên cao học và các em sinh viên làm việc tại phòng, những
người đã làm cùng tôi, luôn ở bên tôi lúc thất bại hay những lúc thành công.
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ và tạo điều
kiện thuận lợi của PTNTĐ Công nghệ Enzym và Protein, Trường Đại học KHTN,
sự giúp đỡ của các cán bộ nhân viên thuộc khoa Tế bào và Giải phẫu bệnh, bệnh
viện K, Hà Nội trong việc cung cấp mẫu nghiên cứu. Tôi xin chân thành cảm ơn.
Luận văn được thực hiện trong phạm vi nội dung và kinh phí củađề tài cấp
nhà nước (mã số KC.04.10/11-15). Tôi xin chân thành cảm ơn.

Con xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Bố, Mẹ người đã vất vả nuôi con khôn
lớn và dạy con những bài học làm người đầu tiên, con cảm ơn ông bà, cô
chú…những người thân của con, những người luôn dành tình cảm và những lời
động viên con.
Và cuối cùng tôi xin cảm ơn các bạn bè của tôi, những người luôn ủng hộ và
giúp đỡ tôi.
Hà Nội, tháng 8 năm 2015
Học viên

Nguyễn Hồng Nhung


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ADN

Acid Deoxyribonucleic

APS

Ammonium persulfate

ARN

Acid Ribonucleic

ATP

Adenosine Triphosphate

AcN

Acetonitrile

Bp

Base pair (cặp bazơ)

cs

cộng sự

EDTA

Ethylenediaminetetraacetic Acid

EtBr

Ethidium Bromide

HCC

Ung thư biểu mô tế bào gan (Hepatocellular carcinoma)

HPLC

Sắc



lỏng

hiệu

năng

cao

(High-performance

liquid

chromatography)
MT/mt

Mitochondria (ti thể)

mtADN

ADN ti thể (mitochondrial DNA)

nADN

ADN nhân (nuclear DNA)

PCR

Phản ứng chuỗi trùng hợp (polymerase chain reaction)

Smac/DIABLO

Chất hoạt hóa caspase thứ hai từ ti thể/ chất ức chế trực tiếp của
protein gắn trong quá trình apoptosis trong điều kiện pI thấp.
(Second

mitochondria-derived

activator

of

inhibitor of apoptosis-binding protein with low pI)
TEA

Triethylamine

TEAA

Triethylammonium acetate

tARN

ARN vận chuyển (transfer RNA)

rARN

ARN ribosome (RNA ribosome)

caspase/direct


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1

Các hóa chất chính sử dụng cho nghiên cứu

Bảng 2

Thành phần hóa chất chạy HPLC

Bảng 3

Thành phần phản ứng PCR

Bảng 4

Thành phần phản ứng PCR thể tích 15 µl

Bảng 5

Công thức đổ gel polyacrylamide 10% bản 7cm

Bảng 6

Bảng 7

Bảng 8

Bảng 9

Bảng 10

Bảng 11

Số liệu phân tích HPLC với các mẫu có tỉ số hàm lượng ADN chuẩn
400bp/100bp khác nhau
Số liệu phân tích HPLC với các mẫu có tỉ số lượng mt/ACTB khác
nhau
Biến đổi tỉ số mt/ACTB trong các loại mẫu ở bệnh nhân ung thư vú
và bệnh nhân u xơ vú
Biến đổi tỉ số mt/ACTB và đặc điểm bệnh học ở bệnh nhân ung thư

Biến đổi tỉ số mt/ACTB trong các loại mẫu ở bệnh nhân ung thư vú
và bệnh nhân u xơ vú bằng phương pháp ImageJ
Biến đổi tỉ số mt/ACTB và đặc điểm bệnh học ở bệnh nhân ung thư
vú phân tích bằng phương pháp ImageJ


DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1

Phân bố gen trên ADN ti thể

Hình 2

Sơ đồ quy trình thí nghiệm

Hình 3

Chương trình chạy HPLC

Hình 4

Chu trình nhiệt cho phản ứng PCR nhân đoạn gen mt và ACTB
Hình ảnh điện di ADN tổng số tách chiết từ mô vú của bệnh nhân

Hình 5

ung thư vú (điện di trên gel agarose 0,8% và nhuộm ethidium
bromide)

Hình 6

Hình 7

Hình 8

Hình 9

Hình 10

Kết quả phân tích HPLC với ADN chuẩn 100_200bp và
200_400bp
Hình ảnh điện di sản phẩm PCR đoạn mt và ACTB trên gel
agarose 1,7%
Hình ảnh điện di sản phẩm PCR đa mồi ở các chu kì khác nhau
trên gel polyacrylamide 10%, nhuộm bạc
Hình ảnh điện di sản phẩm PCR đa mồi mt_ACTB ở 28 chu kì của
các mẫu khác nhau
Hình ảnh khuẩn lạc sau khi plasmid được biến nạp vào tế bào
E.coli DH5α.

Hình 11

Hình ảnh điện di sau khi tách plasmid

Hình 12

Hình ảnh điện di sản phẩm PCR plasmid mt và ACTB

Hình 13

Kết quả giải trình tự plasmid có chứa đoạn mt

Hình 14

Kết quả giải trình tự plasmid có chứa đoạn ACTB

Hình 15

Hình ảnh phân tích HPLC và Biểu đồ đường chuẩn tỉ số hàm
lượng ADN chuẩn 400bp/100bp

Hình 16

Hình ảnh phân tích HPLC và biểu đồ đường chuẩn tỉ số mt/ACTB.

Hình 17

Biểu đồ biến đổi tỉ số mt/ACTB ở các loại mẫu

Hình 18
Hình 19

Biểu đồ biến đổi tỉ số mt/ACTB theo nhóm tuổi ở bệnh nhân ung
thư vú.
Biểu đồ biến đổi tỉ số mt/ACTB theo kích thước khối u ở bệnh


nhân ung thư vú
Hình 20

Hình ảnh bản gel khi phân tích bằng phầm mềm ImageJ
Biểu đồ biến đổi tỉ số mt/ACTB theo loại mẫu phân tích bằng

Hình 21

phương pháp ImageJ


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU

1

Chương 1 - TỔNG QUAN

3

1.1.

TỔNG QUAN VỀ TI THỂ

3

1.1.1. Cấu trúc và chức năng của ti thể

3

1.1.2. Những biến đổi ti thể và bệnh ung thư

6

TỔNG QUAN VỀ UNG THƯ VÚ

11

1.2.

1.2.1. Phân loại ung thư vú

11

1.2.2. Các giai đoạn của ung thư vú

12

1.2.3 Các yếu tố nguy cơ

14

1.3.
NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỔI SỐ LƯỢNG BẢN SAO ADN TI THỂ
Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ VÚ
15
1.4.

CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH LƯỢNG ADN TI THỂ

Chương 2 - ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƯỢNG

16
19
19

2.1.1. Đối tượng nghiên cứu

19

2.1.2. Hóa chất

19

2.1.3. Dụng cụ

20

2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1. Tách chiết ADN tổng số

21
21

2.2.2. Thiết kế các cặp mồi cho phản ứng PCR đa mồi phục vụ mục đích
định lượng:
22
2.2.3. Định lượng ADN bằng HPLC và phần mềm ImageJ

26

2.2.4. Tính toán thống kê

28

Chương 3 – KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

29

3.1. TÁCH CHIẾT ADN TỔNG SỐ TỪ MÔ

29

3.2. THIẾT KẾ CÁC CẶP PRIMER CHO PHẢN ỨNG PCR ĐA MỒI

30


3.3. KẾT QUẢ ĐỊNH LƯỢNG SỐ BẢN SAO ADN TI THỂ

35

KẾT LUẬN

51

KIẾN NGHỊ

52

PHỤ LỤC

58


MỞ ĐẦU
Ti thể là bào quan quan trọng trong tế bào nhân chuẩn có vai trò chính tạo ra
năng lượng thông qua hô hấp hiếu khí, là nơi hình thành và đích đến của các gốc
oxy tự do (ROS) tác nhân gây ung thư. Mỗi tế bào có nhiều bản sao của ti thể, có
thể tới hàng trăm bản sao, tuy nhiên số lượng ADN ti thể (mtADN) tương đối ổn
định trong các tế bào trong điều kiện sinh lý. Những thay đổi trong mtADN về cấu
trúc, hay số lượng bản sao mtADN có thể đóng vai trò trực tiếp là tác nhân gây ung
thư. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh sự thay đổi số lượng bản sao mtADN có liên
quan đến hình thành và tiến triển của nhiều loại ung thư như ung thư hạch bạch
huyết (Non-Hodgkin lymphoma), ung thư phổi, ung thư dạ dày, ung thư thận, ung
thư tuyến tụy, ung thư đại trực tràng và ung thư vú,...
Ung thư vú là bệnh ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ trên toàn thế giới, hiện nay
tỷ lệ mắc ung thư vú cũng tăng lên nhanh chóng, đặc biệt ở các nước Châu Á như
Việt Nam. Mặc dù đã có nhiều phương pháp chẩn đoán, tầm soát ung thư giúp phát
hiện sớm như chụp nhũ ảnh và nhiều phương pháp điều trị hiện đại đã giúp giảm
đáng kể tỉ lệ mắc bệnh và tử vong do ung thư vú, tuy nhiên, ung thư vú vẫn là loại
ung thư gây tử vong hàng đầu ở nữ giới.
Phương pháp HPLC là phương pháp định lượng cơ bản kinh điển trong phân
tích hóa sinh học. Phương pháp này có độ nhạy cao, có khả năng ứng dụng rộng rãi,
cho phép phân tích với lượng mẫu nhỏ. Với sự pháp triển của khoa học hiện đại,
nhiều phần mềm đã được ra đời phục vụ mục đích bán định lượng dựa trên phân
tích hình ảnh các băng điện di như phần mềm ImageJ – NIH US, đây là phương
pháp đơn giản, ít tốn kém, tiện dụng, cho kết quả nhanh và có thể áp dụng rộng rãi.
Trên cơ sở đó, chúng tôi đã ứng dụng phương pháp HPLC và phân tích hình ảnh
bằng phần mềm ImageJ để thực hiện đề tài “Nghiên cứu biến đổi số lượng bản sao
ADN ti thể ở bệnh nhân ung thư vú”
Đề tài được thực hiện tại phòng Proteomics và Sinh học Cấu trúc thuộc
Phòng thí nghiệm Trọng điểm Công nghệ Enzyme và Protein, Trường Đại học
Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội. Kinh phí thực hiện từ đề tài cấp nhà

1


nước, mã số KC.04.10/11-15 “Nghiên cứu phát hiện các bệnh đột biến gen ti thể ở
người Việt Nam bằng các kỹ thuật sinh học phân tử”.

2


Chương 1 - TỔNG QUAN
1.1.

TỔNG QUAN VỀ TI THỂ

Ti thể là bào quan chuyển hóa năng lượng của tế bào nhân chuẩn, trong đó
năng lượng từ thức ăn được bộ máy chuyển hóa của cơ thể và tế bào chuyển đổi
thành ATP thông qua nhiều quá trình phức tạp mà mắt xích cuối là quá trình
phosphoryl oxi hóa diễn ra ở trong ti thể. Ti thể có lớp màng kép, màng ngoài phân
tách các ti thể với bào tương. Màng bên trong được gấp cuộn để tạo thành các nếp
gấp hướng vào tâm, bên trong có chứa chất nền. Phức hệ 5 enzyme của hệ thống
phosphoryl oxi hóa được gắn vào trong màng trong ti thể. Ti thể chứa bộ gen của
riêng mình, được gọi là ADN ti thể (mtADN) và phân chia độc lập với ADN nhân.
Trong tế bào động vật có vú, mỗi tế bào thường chứa nhiều bản sao giống hệt nhau
của mtADN [7].
Ti thể được cho là có nguồn gốc từ vi khuẩn hiếu khí bị cộng sinh vào tế bào
nhân chuẩn (thuyết nội cộng sinh). Trong quá trình tiến hóa để trở thành nhà máy
năng lượng của tế bào nhân chuẩn, các vi khuẩn cộng sinh đã chuyển nhiều gen thiết
yếu của mình vào các nhiễm sắc thể nhân. Tuy nhiên, ti thể vẫn mang các dấu ấn của
các vi khuẩn tổ tiên. Ví dụ, ti thể sử dụng N-formylmethionyl-tARN (fMet-tARN) để
kích hoạt quá trình tổng hợp protein [28].
1.1.1. Cấu trúc và chức năng của ti thể
1.1.1.1. Cấu trúc của ti thể
ADN ti thể người là phân tử vòng sợi kép có kích thước 16.569 bp. Các chuỗi
của ADN mạch kép dựa trên thành phần nucleotide khác nhau được chia thành chuỗi
nặng chứa nhiều Guannine và chuỗi nhẹ chứa nhiều Cytosine. Hầu hết các thông tin
được mã hóa trên chuỗi nặng, với gen mã hóa cho 2 rARN, 14 tARN và 12 chuỗi
polypeptide. Chuỗi nhẹ mã hóa cho 8 tARN và một chuỗi polypeptide (Hình 1). Tất
cả 13 protein sản phẩm là thành phần của phức hợp enzyme trong hệ thống
phosphoryl oxy hóa: 7 chuỗi polypeptide, từ ND1 đến ND6 và ND4L là các tiểu đơn
vị của phức hợp I (NADH dehydrogenase- ubiquinone reductase); 1 chuỗi
cytochrome b là tiểu đơn vị của phức hợp III (ubiquinol-cytochrome c reductase); 3
3


chuỗi: CO I, CO II và CO III là tiểu đơn vị xúc tác của phức hợp IV (cytochrome c
oxidase); ATPase 6 và 8 là tiểu đơn vị của phức hợp V (ATP synthetase) [2].

Hình 1- Phân bố gen trên ADN ti thể

mtADN được sắp xếp rất tiết kiệm, các gen không có intron, các trình tự mã
hóa tiếp giáp với nhau hoặc cách nhau bởi một vài nucleotide. Các phân tử rRNA và
tARN đều rất nhỏ. Một số gen mã hóa cho protein còn nằm gối lên nhau (ở người,
ATPase 6 và 8 gối nhau 46 nucleotide, ND4 và tiểu đơn vị ND4L gối nhau 7
nucleotide), trong một số trường hợp một phần của bộ ba kết thúc không mã hóa
trong mtADN mà được tạo ra sau phiên mã bởi quá trình thêm đuôi poly A của
mARN tương ứng. Ngoài ra còn có thay đổi trong việc sử dụng các bộ ba so với
ARN nhân. Ví dụ, UGA mã hóa cho tryptophan chứ không phải bộ ba kết thúc,
AUA, AUC và AUU được sử dụng như bộ 3 mở đầu, AGA và AGG không mã hóa
cho arginine mà là bộ 3 kết thúc [20].

4


1.1.1.2. Chức năng chính của ti thể
Năng lượng và quá trình trao đổi chất
Chức năng quan trọng nhất và đặc trưng nhất của ti thể là sản xuất adenosine
triphosphate (ATP) thông qua quá trình phosphoryl oxy hóa, được thực hiện bởi một
loạt các phức hợp protein, được gọi chung là chuỗi hô hấp, được mã hóa bởi cả
nADN và mtADN. Chuỗi hô hấp hoàn chỉnh chứa ít nhất 87 polypeptide, 13 trong số
đó là mã hóa bởi mtADN. Do đó, phần lớn các tiểu phần của chuỗi hô hấp mã hóa
trong nhân và được đưa vào ti thể sau khi được dịch mã trong nhân và đưa ra bào
tương. Phosphoryl oxy hóa là một quá trình sinh hóa độc đáo được tạo ra từ sự phối
hợp chặt chẽ của các protein sản phẩm từ hai bộ gen riêng biệt (nhân và ti thể). Tuy
nhiên, quá trình này không phải là cách duy nhất để tạo ra năng lượng cho tế bào.
Đường phân cũng có thể tạo ra ATP và cung cấp cơ chế thay thế khi quá trình
phosphoryl oxy hóa trở nên kém hiệu quả do chuỗi hô hấp có khiếm khuyết. Khi các
electron được vận chuyển thông qua chuỗi hô hấp trong quá trình hô hấp của ti thể,
một số electron có thể trốn khỏi hoặc rò rỉ từ các phức hợp vận chuyển electron và
phản ứng với oxy phân tử hình thành các gốc superoxide (O*2-). Dòng chảy electron
này xảy ra chủ yếu tại khu phức hợp I và III [27]. Do vậy một đột biến mtADN nhất
định có thể gây ra sự thay đổi các thành phần vận chuyển điện tử và tạo ra các gốc
superoxide, sau đó chuyển đổi thành các dạng gốc oxy hóa tự do (ROS). Các đột biến
mtADN và sự gia tăng quá trình oxy hóa đã được quan sát thấy trong các loại tế bào
ung thư khác nhau ở nhiều nghiên cứu độc lập [9]. Tuy nhiên, liên hệ trực tiếp giữa
đột biến mtADN và sự gia tăng hình thành ROS trong các tế bào ung thư vẫn chưa
được chứng minh bằng thực nghiệm.
Ti thể đóng vai trò điều tiết các cơ chế trung gian quan trọng trong quá trình
chuyển hóa carbohydrate, axid amin và axid béo. Chu trình acid tricarboxylic trong
chất nền của ti thể là một ví dụ điển hình của một con đường sinh hóa đòi hỏi nhiều
cơ chế trung gian quan trọng [13]. Một phần chính của chu trình urê cũng xảy ra
trong ti thể, nơi xảy ra quá trình xử lý các axid amin trung gian có chứa nitơ. Axit béo
được chia nhỏ thành các đơn vị hai carbon bởi một loạt các β-oxy hóa và tiếp tục xử
lý để acetyl CoA trong chất nền của ti thể. Như vậy, chức năng chính của ti thể là tạo
5


ATP qua quá trình phosphoryl oxy hóa không phải là thiết yếu, ti thể lại không thể
thiếu để các tế bào nhân chuẩn tham gia vào các quá trình trao đổi chất quan trọng
khác, điều này giải thích tại sao trong một số tế bào có mất đoạn mtADN, lượng ti thể
vẫn được duy trì mà không có các đoạn mtADN mã hóa các protein trong chuỗi hô
hấp [12].
Apoptosis và sự tồn tại của tế bào
Ti thể đóng một vai trò quan trọng trong quá trình apoptosis, một quá trình
sinh học cơ bản của các tế bào chết theo chương trình có kiểm soát. Một số nDNA
mã hóa protein tham gia quá trình apoptosis bao gồm cytochrome c, yếu tố cảm ứng
apoptosis (AIF), endonuclease G, và Smac/DIABLO được dự trữ trong ti thể. Khi
những yếu tố protein này được giải phóng khỏi ti thể, chúng sẽ tạo ra một loạt phản
ứng các sinh hóa để kích hoạt những tín hiệu của thác apoptois. Đặc điểm nổi bật
của sự khơi mào apoptosis là sự hoạt hóa caspase (một họ protease) bởi cytochrome
c và apaf-1 với sự có mặt của ATP hoặc dATP [17]. Quá trình chuyển AIF từ ti thể
tới nhân để gây apoptosis độc lập với caspase [26]. Quá trình apoptosis đóng vai trò
quan trọng trong việc phát triển bệnh ung thư và đáp trả lại tín hiệu của các tác nhân
chống ung thư. Tuy nhiên, vai trò chính xác của đột biến mtDNA trong phản ứng
chết theo chương trình của tế bào để đáp trả lại tín hiệu của các tác nhân chống ung
thư vẫn chưa được xác định.
1.1.2. Những biến đổi ti thể và bệnh ung thư
Khiếm khuyết chức năng ti thể từ lâu đã được cho là đóng vai trò quan trọng
trong sự phát triển và tiến triển của ung thư. Hơn 70 năm trước, Warburg tiên phong
nghiên cứu sự biến đổi trong quá trình hô hấp của ti thể với bệnh ung thư và đề xuất
cơ chế để giải thích ảnh hưởng của ti thể trong quá trình gây ung thư. Ông đưa ra giả
thuyết rằng một sự kiện then chốt trong ung thư liên quan đến sự phát triển tổn
thương của bộ máy hô hấp, dẫn đến tăng sản xuất ATP trong quá trình đường phân
[34]. Cuối cùng, các tế bào ác tính sẽ đáp ứng nhu cầu năng lượng bằng cách sản xuất
một phần lớn ATP thông qua quá trình đường phân chứ không phải thông qua sự
phosphoryl oxy hóa. Do hiệu suất của quá trình đường phân thấp, điều này có thể giải

6


thích phần nào các tế bào ác tính có nhu cầu tiêu thụ glucose lớn để đáp ứng nhu cầu
năng lượng. Điều này trái ngược với các tế bào bình thường, ưu tiên sử dụng quá
trình phosphoryl oxy hóa tạo ATP với hiệu quả cao. Sự khác biệt về trao đổi năng
lương giữa các tế bào bình thường và ung thư là một cơ sở sinh hóa để phát triển
chiến lược điều trị để tiêu diệt tế bào ung thư có chọn lọc. Kể từ khi ấn phẩm đầu tiên
của Warburg ra đời hơn nửa thế kỷ trước, đến nay nhiều khiếm khuyết của ti thể liên
quan đến ung thư đã được xác định và mô tả. Những khiếm khuyết này bao gồm các
thay đổi trong biểu hiện và hoạt động của các tiểu đơn vị trong chuỗi hô hấp và các
enzym đường phân và đột biến mtADN [10].
Hầu hết các protein ti thể được mã hóa bởi ADN nhân (nADN) và đưa vào ti
thể. Mặc dù các quá trình nhân bản của mtADN là không đồng bộ với quá trình nhân
bản nADN, số lượng tổng thể của ti thể trong mỗi tế bào vẫn tương đối ổn định trong
các loại tế bào cụ thể trong quá trình tăng sinh, cho thấy rằng quá trình tạo ti thể quyết
định phần lớn bởi các tín hiệu ngoài ti thể. Sự sinh tổng hợp của ti thể có thể tiếp tục
ngay cả khi mất mtADN. Như vậy, việc nhân bản ti thể không cần sự có mặt của
mtADN và không chịu ảnh hưởng của các đột biến trong mtADN, dẫn đến việc duy
trì các khiếm khuyết của ti thể [5].
1.1.2.1. Đột biến gen ti thể và bệnh ung thư
Hầu hết các tế bào của động vật có vú có chứa hàng chục, hàng trăm ti thể,
mỗi ti thể lại có chứa 2-10 bản sao mtADN [25]. Trong một cá thể, tất cả các bản sao
mtADN thường giống hệt nhau (homoplasmy), nhưng đột biến có thể phát sinh, duy
trì và được khuếch đại, do đó các bản sao đột biến khác nhau cùng tồn tại với kiểu
mtADN ban đầu (heteroplasmy). Khi tế bào phân chia, bộ gen ti thể được phân bố
ngẫu nhiên cho các tế bào con và do đó, mặc dù chỉ bắt đầu từ một trường hợp
heteroplasmy nhất định, nhưng kết quả có thể tồn tại mức độ khác nhau của
heteroplasmy và thậm chí có thể homoplasmy mtADN trong dòng tế bào khác nhau [14].
Bộ gen ti thể được đi truyền theo dòng mẹ; một vài ti thể từ tinh trùng có thể
xâm nhập vào trứng trong quá trình thụ tinh sẽ bị loại bỏ bởi cơ chế phụ thuộc
ubiquitin. Trong quá trình tạo trứng, chỉ có số lượng nhỏ phân tử mtADN được

7


khuếch đại và truyền tới thế hệ sau con [18]. Hiện tượng này giải thích tại sao một đột
biến có thể trở thành dạng homoplasmy sau một hoặc một vài thế hệ.
Tỷ lệ biến đổi của mtADN nhanh hơn rất nhiều so với bộ gen nhân. Một trong
những nguyên nhân là mtADN không được bảo vệ bởi protein (histone), thêm vào đó
ti thể là nhà máy năng lượng của tế bào, nơi xảy ra các quá trình photphoryl oxi hóa
và nhiều quá trình sinh hóa khác, các quá trình này tạo ra các gốc oxy hóa tự do ROS
nên mtADN rất dễ bị tổn thương. Mặt khác, ti thể lại không có các cơ chế sửa chữa
ADN như nhân, theo một số công bố mtADN đột biến đột biến cao hơn nADN 10100 lần [22].
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh các đột biến và thay đổi trong mtADN đóng
một vai trò quan trọng trong một số bệnh như bệnh thần kinh thị giác di truyền Leber,
bệnh tiểu đường di truyền theo dòng mẹ, hội chứng Leigh [8]. Bên cạnh các bệnh của
ti thể là đột biến dòng mầm, các đột biến soma mtADN cũng được tìm thấy ở nhiều
bệnh khác nhau, đặc biệt là ung thư. Với vai trò quan trọng của ti thể trong quá trình
chuyển hóa ATP, trong tạo ra các gốc oxy hóa tự do và trong việc điều hòa quá trình
apoptosis, đột biến ở mtADN có khả năng ảnh hưởng đến năng lượng tế bào, gây ra
tổn thương ADN trung gian qua ROS và làm thay đổi phản ứng của tế bào cảm ứng
apoptosis với các tác nhân chống ung thư. Ngày càng có nhiều nghiên cứu chứng
minh ảnh hưởng của đột biến mtADN đối với sự phát triển, di truyền và tiến triển
của nhiều bệnh ung thư khác nhau. Hơn nữa, tần suất đột biến mtADN cao trong ung
thư và sự xuất hiện của chúng trong giai đoạn sớm của bệnh có thể là chỉ thị để phát
hiện sớm bệnh ung thư [19].
Ung thư đại trực tràng: Trong một nghiên cứu đã tiến hành trên mô thường
và mô u của 10 bệnh nhân ung thư đại trực tràng đã phát hiện 7 trong số 10 bệnh
nhân có đột biến soma mtADN. Các đột biến được tìm thấy trên các gen 12S rRNA,
16S rRNA, ND1, ND4L, ND5, Cytochrome b, COXI, COXIIvà COXIII [23]. Phần lớn
các đột biến là đột biến điểm soma ở vùng D-Loop không mã hóa trong đó A  T và
G  C và các đột biến mất đoạn được phát hiện bằng cách kết hợp 2 phương pháp
phân tích sợi đôi tương đồng heteroduplex và phương pháp biến tính sợi đơn (SSCP)
[1]. Một số nghiên cứu khác đã cho thấy mức độ biểu hiện tăng của mARN mã hóa
8


ND2 ở các mô u so với các mô lành ở bệnh nhân ung thư đại trực tràng, mARN của
ND1 và rARN mã hóa cho tiểu đơn vị 16S tăng trong mẫu u của bệnh nhân polip
tuyến gia đình so với mô lành ruột kết [6].
Ung thư buồng trứng: Liu và cs đã phân tích mtADN từ mô bình thường và
mô u được lấy từ 10 bệnh nhân ung thư buồng trứng. Giải trình tự hoàn chỉnh
mtADN của cặp mô và so sánh phân tích, đã xác định được các đột biến soma với tỉ
lệ cao (60%). Hầu hết các đột biến được xác định là T  C hoặc G  A. Các đột biến
soma chủ yếu trên 4 khu vực của mtADN: D-loop, 12S rRNA, 16S rRNA và
cytochrome b [16].
Ung thư vú: Nhiều nghiên cứu toàn diện về đột biến mtADN ở ung thư vú đã
được công bố gần đây. Trong một nghiên cứu của Tan và cs, đã sử dụng kết hợp
phương pháp điện di và giải trình tự ADN trực tiếp để đưa ra trình tự hoàn chỉnh bộ
gen ti thể có đột biến ở 19 bệnh nhân, trên mẫu u và mẫu mô thường và đã xác định
được ở mtADN của 14 bệnh nhân có đột biến soma (74%). Phần lớn các đột biến
nằm trong vùng D-loop (81,5%). Tuy nhiên, đột biến cũng được phát hiện trên gen
16S rRNA, ND2 và ATPase [29]. Trong một nghiên cứu khác sử dụng phương pháp
sinh thiết khối u nguyên phát của 18 bệnh nhân, đột biến soma được phát hiện trong
phần lớn các bệnh nhân (61%) và hầu hết các đột biến xác định là ở vùng D-loop, còn
lại đột biến đã được tìm thấy trên các vùng gen ND1, ND4, ND5 và cytochrome b
[21]. Các nghiên cứu trước đó cũng cho thấy tồn tại đột biến điểm và mất đoạn
mtDNA ở bệnh nhân ung thư vú. Đột biến mất đoạn phổ biến nhất 4977 bp được tìm
thấy trong mô u ác tính và mô vú lành của các bệnh nhân có các bất thường vú [4].
Ngoài đột biến ở mtADN, biểu hiện cao của mARN cytochrome c oxidase II cũng
được phát hiện trong mô u ở một số bệnh nhân so với mô bình thường [24].
1.1.2.2 Biến đổi số lượng bản sao gen ti thể và bệnh ung thư
Như đã nêu ở trên, mỗi tế bào chứa hàng trăm, ngàn ti thể, trong mỗi ti thể lại
chứa 2-10 bản sao mtADN, tuy nhiên số lượng bản sao mtADN tương đối ổn định trong
diều kiện sinh lí. Nhiều nghiên cứu ở bệnh nhân ung thư nguyên phát đã chỉ ra rằng thay
đổi số lượng bản sao mtADN là một yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của ti thể và có liên

9


quan đến sự hình thành và phát triển ở nhiều loại ung thư. Biến đổi số lượng bản sao
mtADN liên quan đến bệnh ung thư đã được nghiên cứu rộng rãi bằng nhiều phương
pháp tiếp cận.
Năm 2004, Yin và cs đã nghiên cứu biến đổi số lượng bản sao mtADN và ti
thể ở bệnh nhân ung thư biểu mô gan (HCC). Ở bệnh nhân HCC số lượng bản sao
mtADN giảm ở mô u so với mô lành tương ứng. Biểu hiện thụ thể kích hoạt
peroxisome proliferator γ coactivator-1 bị ức chế mạnh ở bệnh nhân, trong khi các
biểu hiện của các protein liên kết với mtADN sợi đơn lại tăng, cho thấy hoạt động
chức năng sinh học của ti thể bất thường ở bệnh nhân HCC. Đáng chú ý là 22%
bệnh nhân HCC mang một đột biến soma trong vùng D-loop của mtADN. Vùng gan
lành của bệnh nhân HCC có tiền sử uống rượu trong nhiều năm có số lượng bản sao
mtADN giảm và mức độ mất đoạn 4977 bp cao hơn so với bệnh nhân không uống
rượu. Kết quả cho thấy số lượng bản sao mtADN giảm, suy giảm chức năng ti thể
và đột biến soma trong mtADN là những sự kiện quan trọng trong quá trình sinh
ung thư HCC [38]. Bên cạnh đó trong một nghiên cứu năm 2006 của Yamada và cs
ở 31 bệnh nhân HCC đã chứng minh rằng hàm lượng mtADN thấp có liên quan mật
thiết với kích thước khối u và xơ gan. Bệnh nhân HCC có hàm lượng mtADN thấp
hơn thường có tiên lượng xấu hơn và thời gian sống ngắn hơn [36]. Đối với bệnh
nhân ung thư phổi NSCLC, tìm ra mối liên hệ giữa giảm số lượng bản sao mtADN
được gắn liền với sự phát triển của khối u. Tương tự, sự giảm hàm lượng mtADN
phổ biến hơn ở các bệnh nhân ung thư dạ dày [33]
Một số nghiên cứu khác cho thấy số lượng bản sao mtADN trong mô ung thư
cao hơn so với các mô lân cận. Năm 2006, Wang và cs cho thấy ở ung thư buồng
trứng, số lượng bản sao mtADN thấp ở giai đoạn đầu và cao hơn nhiều giai đoạn
sau, cho thấy mối tương quan giữa việc tăng số lượng bản sao mtADN tới tiến triển
của bệnh nhân ung thư buồng trứng [31].
Trong báo cáo năm 2008 của Lin và cs, việc giảm số lượng bản sao mtADN
trong các mô ung thư có thể làm giảm tổn thương của quá trình oxy hóa mtADN,
thúc đẩy quá trình phát triển và tạo điều kiện cho tế bào ung thư trở thành bất tử.
Mẫu ung thư phổi không phải tế bào nhỏ (NSCLC) đã được thu thập từ 29 bệnh
10


nhân ở giai đoạn III sau khi hóa trị hỗ trợ trị liệu và phẫu thuật cắt bỏ. Số lượng bản
sao mtADN tương đối và các tổn thương oxy hóa mtADN của mỗi mô ung thư được
xác định bằng phương pháp PCR định lượng. Kết quả cho thấy số lượng bản sao
mtADN ít và quá trình ôxy hoá mtADN mức độ thấp có tương quan với sự tiến triển
của khối u. Hơn nữa, số lượng bản sao mtADN và tổn thương của quá trình oxy hóa
mtADN thấp hơn ở những bện nhân NSCLC sau khi hóa trị. Phát hiện này cho thấy
sự suy giảm hàm lượng mtADN có thể dẫn đến giảm mật độ của ti thể trong tế bào
ung thư, dẫn đến giảm sản xuất ROS nội sinh và giảm ROS gây tổn thương ADN để
tế bào ung thư trở thành bất tử [15].
1.2.

TỔNG QUAN VỀ UNG THƯ VÚ

Ung thư vú là loại ung thư phổ biến thứ hai trên thế giới và là bệnh ung thư
thường gặp nhất ở phụ nữ với ước tính 1,67 triệu trường hợp ung thư mới được chẩn
đoán vào năm 2012 (25% của tất cả các trường hợp mắc bệnh ung thư). Nó là loại
ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ cả ở các nước kém phát triển (883.000 trường hợp) và
các nước phát triển (794.000). Tỉ lệ mắc bệnh rất khác nhau giữa các khu vực trên thế
giới, dao động từ 27 trên 100.000 ở khu vực Trung Phi và Đông Nam Á và 96 ở khu
vực Tây Âu. Ung thư vú rất hiếm gặp ở nam giới nhưng lại rất phổ biến ở phụ nữ. Tỷ
lệ mới mắc ung thư vú ở nam ít hơn 100 lần so với nữ [40].
Theo hồ sơ từ tổ chức Globocan về tình hình ung thư thế giới, ung thư vú là
nguyên nhân tử vong đứng thứ năm do ung thư nói chung (522.000 trường hợp tử
vong) và là loại ung thư hàng đầu gây tử vong ở phụ nữ ở khu vực kém phát triển
(324.000 người chết, 14,3% trên tổng số) và thứ hai ở khu vực phát triển hơn
(198.000 người chết, 15,4%) sau ung thư phổi [44].
1.2.1. Phân loại ung thư vú
Có nhiều loại ung thư vú phát sinh từ các dạng tế bào khác nhau, nhưng phổ
biến nhất là hai loại: Ung thư biểu mô ống và ung thư biểu mô tuyến, được dặt tên
theo dạng tế bào mà chúng bắt nguồn [41].

11


 Ung thư biểu mô ống: Ung thư xuất phát từ tế bào biểu mô ống dẫn sữa, là
dạng ung thư vú thường gặp nhất ở nữ giới, chiếm khoảng 85 - 90%. Ung thư biểu
mô ống có nhiều dạng phát triển khác nhau:
- Ung thư biểu mô nội ống (ung thư tại chỗ): Ung thư thời kì đầu, chỉ giới
hạn bên trong của hệ thống ống, không di căn.
- Ung thư biểu mô ống xâm lấn: Dạng phổ biến nhất của ung thư vú, chiếm
80% các trường hợp ung thư vú. Nó bắt đầu từ các tế bào lót nằm trong
đường ống dẫn sữa của vú, phá vỡ thành ống và bắt đầu di căn đến các nơi
khác của cơ thể.
 Ung thư biểu mô tuyến: Ung thư xuất phát từ tế bào biểu mô tuyến sữa,
chiếm khoảng 8%. Nó thường xảy ra ở phụ nữ ngoài 40 và 50 tuổi:
- Ung thư biểu mô tuyến tại chỗ: Chỉ giới hạn trong hệ thống tuyến.
- Ung thư biểu mô tuyến xâm lấn: Thường làm dầy lên phần vòng cung của
vú.
Ngoài ra có một số loại ít gặp hơn như:
 Ung thư biểu mô tuyến hình ống: chiếm khoảng 2%, là dạng ung thư biểu mô
tế bào dạng ống có cấu trúc hình ống khi nhìn dưới kính hiển vi.
 Ung thư biểu mô tiết niêm dịch: chiếm khoảng 1-2%. Sự khác biệt chính đặc
trưng của dạng ung thư này là sản xuất ra dịch nhầy và rất khó tìm thấy tế bào.
 Ung thư vú dạng viêm: chiếm khoảng 1-3% các trường hợp ung thư vú, có
biểu hiện rất rõ, gây tắc các mạch bạch huyết dưới da.
 Bệnh Paget núm vú: Trông giống như bị phát ban da hoặc da thô ráp ở phần
đầu vú và có thể ngứa. Khi có triệu chứng ngứa và đóng vảy (nếu bị trầy xước) có thể
là dấu hiệu ung thư, có thể dưới bề mặt của da bị phá vỡ, ung thư sau đó sẽ xâm lấn
các vùng khác của vú.
1.2.2. Các giai đoạn của ung thư vú
Phương pháp phân giai đoạn bệnh ung thư dựa vào kích thước khối u, hạch
lympho và di căn (TNM, Tumor - Lymph Node - Metastasis) được đề xuất bởi
Clifton Mountain và đã được Liên Ủy ban ung thư Hoa Kỳ (AJCC) và Hiệp hội

12


chống ung thư quốc tế (UICC) thông qua năm 1974. Theo cách phân giai đoạn này,
các giai đoạn T, N, M của ung thư vú được xác định như sau [42]:
 Theo yếu tố T - Tumor (u nguyên phát)
- Tx: Không thể xác định được khối u
- Tis: Ung thư biểu mô tại chỗ (bao gồm DICS, LICS hoặc bệnh Paget
núm vú không có ung thư liên quan)
- T0: Không thấy được sự rõ ràng của khối u
- T1 (bao gồm T1a , T1b, T1c): kích thước khối u nhỏ hơn hoặc bằng 2cm
- T2: Kích thước khối u lớn hơn 2cm nhưng nhỏ hơn 5cm.
- T3: Khối u có kích thước lớn hơn 5cm.
- T4: Khối u có kích thước bất kỳ lan đến da và thành ngực.
 Theo yếu tố N - lymph Node (Hạch)
- Nx: Không xác định được vùng hạch bạch huyết gần đó.
- N0: Ung thư không lây lan đến các hạch bạch huyết gần đó.
- N1: Ung thư đã lan rộng đến các hạch lympho vùng nách.
- N2: Ung thư đã lan rộng 4 - 9 hạch bạch huyết dưới cánh tay hoặc đã mở
rộng đến các hạch bạch huyết trong vú.
- N3: Di căn tới hạch lympho bên trong tuyến sữa ở cùng một bên.
 Theo yếu tố M - Metastasis (mức độ di căn)
- Mx: Không đánh giá được sự di căn.
- M0: Không có di căn xa.
- M1: Có sự di căn đến các cơ quan khác, phổ biến nhất là xương, phổi,
não và gan.

13


1.2.3 Các yếu tố nguy cơ
Nguyên nhân gây ra bệnh ung thư vú hiện giờ vẫn chưa được xác định rõ,
nhưng người ta đã tìm ra các mối liên quan của một số yếu tố nguy cơ đối với bệnh
ung thư vú [43].
 Giới tính: Nữ giới có nguy cơ mắc bệnh ung thư vú cao hơn 100 lần so với
nam giới và nguy cơ mắc bệnh cũng tăng theo tuổi.
 Các yếu tố di truyền: Khoảng từ 5% đến 10% trường hợp ung thư vú được
cho là liên quan đến những thay đổi di truyền (đột biến) trong một số gen nhất định,
phổ biến nhất là của các gen BRCA1 và BRCA2. Gen nằm trên nhiễm sắc thể số 17,
đột biến gen này liên quan tới 55%-85% trường hợp mắc ung thư vú. Bệnh nhân mắc
hội chứng Li-Fraumeni với đột biến gen p53, hội chứng Conden đột biến gene
PTEN… cũng là yếu tố làm tăng nguy cơ ung thư vú [32].
 Tiền sử gia đình: Những phụ nữ có thân nhân cận huyết từ cả gia đình nội
ngoại mắc ung thư vú có nguy cơ mắc bệnh này cao hơn. Đặc biệt những người có
mẹ, chị em gái, hay con gái bị ung thư vú sẽ có nguy cơ tăng gấp đôi. Tuy nhiên, hầu
hết phụ nữ bị ung thư vú (trên 85%) lại không có lịch sử gia đình về bệnh này.
 Ung thư vú cũng có nguy cơ tái phát bệnh, một người đã từng bị ung thư ở
một vú có thể bị tái phát ở vú đó hoặc mắc ung thư ở vú còn lại. Đặc biệt, ung thư
biểu mô thuỳ tại chỗ có nguy cơ phát triển ung thư cao hơn 7-11 lần ở vú bên kia so
với các trường hợp ung thư vú khác. Những phụ nữ có u vú lành tính hay người có
mô tuyến dầy đặc cũng có nguy có mắc ung thư vú cao hơn những người khác.
 Ung thư vú liên quan mật thiết đến sự thay đổi hormon trong cơ thể người
phụ nữ. Sự thay đổi hormon mạnh mẽ ở một số giai đoạn đặc biệt ở phụ nữ và các
liệu pháp hormon làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư vú. Người ta nhận thấy mối
liên hệ giữa ung thư vú với các hormon estrogen và progesterone. Ở những phụ nữ
bắt đầu có kinh sớm (trước tuổi 12) hoặc những người mãn kinh muộn (sau tuổi 55),
thời gian có kinh kéo dài tức là có sự thay đổi nhiều hơn đối với 2 hormon này và họ
có nguy cơ mắc cao hơn. Liệu pháp thay thế hormon kết hợp hai hormon estrogen và
progesterone được sử dụng sau thời kì mãn kinh giúp giảm các triệu chứng của mãn
14


kinh và giúp ngăn ngừa loãng xương và giảm nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung nhưng
lại có nguy cơ mắc ung thư vú tăng. Những người có con muộn hoặc không có con và
người sử dụng thuốc tránh thai cũng có nguy cơ này. Một số nghiên cứu còn chỉ ra
rằng nếu cho con bú từ 1,5 đến 2 năm có thể làm giảm nguy cơ mắc ung thư vú.
 Ngoài ra còn có nhiều yếu tố khác: Một số yếu tố có thể ảnh hưởng đến mật
độ tuyến vú như tuổi tác, tình trạng mãn kinh, một số loại thuốc (bao gồm liệu pháp
hormone mãn kinh), mang thai và di truyền. Những người đã từng tiếp xúc với phóng
xạ, hay từng trải qua xạ trị, người thừa cân hoặc béo phì, vận động ít, sử dụng rượu
thường xuyên hay sử dụng nhiều chất béo…cũng góp phần làm tăng nguy cơ ung thư vú.
1.3. NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỔI SỐ LƯỢNG BẢN SAO ADN TI THỂ
Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ VÚ
Năm 2007, Yu và cs đã phân tích số lượng bản sao mtADN ở 59 mẫu mô u
và mô lân cận u bằng phương pháp PCR định lượng. Kết quả cho thấy rằng mức độ
của mtADN giảm đáng kể trong các mô u so với mô lân cận u liền kề. Số lượng bản
sao mtADN giảm có liên quan với nhóm tuổi từ 50 trở lên. Ngoài ra, trong khối u
mang đột biến ở vùng D-loop, có số lượng bản sao mtADN thấp hơn đáng kể. Việc
giảm số lượng bản sao mtADN có thể tham gia vào quá trình hình thành và tiến
triển ở ung thư vú và có nhiều tiểm năng được sử dụng như một công cụ để chẩn
đoán tiên lượng. Đột biến soma ở vùng D-loop có lẽ là một trong những yếu tố góp
phần quan trọng dẫn đến giảm số lượng bản sao mtADN trong các khối u vú [39].
Năm 2009, Xia và cs tiến hành nghiên cứu mẫu máu ngoại vi được thu thập
từ 60 bệnh nhân ung thư vú và 51 đối chứng là người bình thường khỏe mạnh có độ
tuổi tương ứng. ADN được tách chiết từ máu ngoại vi, được định lượng mtADN và
nDNA bằng phương pháp PCR định lượng đa mồi (multiplex real-time PCR) để
khuếch đại trình tự của gen ATP8 và gen glyceraldehyde-3-phosphate
dehydrogenase. Lượng mtADN được xem xét tương ứng với giai đoạn của khối u,
tình trạng kinh nguyệt, tuổi, tình trạng hạch bạch huyết, các biểu hiện của thụ thể
estrogen (ER), thụ thể progesterone (PR) và protein / neu-2 của bệnh nhân ung thu
vú. Họ đã thu được kết quả lượng mtADN ở bệnh nhân ung thư vú giai đoạn I thấp

15


hơn đáng kể so với các giai đoạn khác. Số lượng bản sao mtADN giảm được tìm
thấy trong nhóm bệnh nhân ung thư trong giai đoạn mãn kinh. Không có sự khác
biệt về số lượng bản sao mtADN liên quan đến tuổi, số hạch, ER, PR, Her-2 / neu.
Trong nghiên cứu này, số lượng bản sao mtADN giảm trong máu ngoại vi của bệnh
nhân ung thư vú được gắn liền với giai đoạn I. Việc sử dụng mtADN có thể có giá
trị chẩn đoán và nghiên cứu sâu hơn, có tiềm năng trở thành một chỉ thị để phát
hiện sớm ung thư vú [35].
Năm 2013, Thyagarajan và cs đã nghiên cứu mối liên quan giữa số lượng
bản sao mtADN trong máu ngoại vi và nguy cơ ung thư vú ở 184 bệnh nhân ung thư
vú và 529 mẫu đối chứng. Số lượng bản sao mtADN được xác định bằng phương
pháp PCR định lượng. Các phân tích đã cho thấy rằng có mối liên hệ giữa số lượng
bản sao mtADN và nguy cơ ung thư vú. Nguy cơ cao đối với những bệnh nhân ung
thư vú nguyên phát mắc dưới 3 năm có số lượng bản sao mtADN trong máu ngoại
vi cao. Không có mối liên quan giữa số lượng bản sao mtADN và nguy cơ ung thư
vú ở phụ nữ đã cung cấp mẫu máu trên 3 năm trước khi chẩn đoán ung thư vú.
Nghiên cứu này cho thấy tiềm năng giữa số lượng bản sao mtADN và nguy cơ ung
thư vú phụ thuộc vào thời gian lấy máu và chẩn đoán ung thư vú [30].
Hiện nay trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về biến đổi số lượng bản sao
ADN ti thể, nhưng ở Việt Nam đây là một hướng nghiên cứu rất mới. Cho đến nay,
chúng tôi vẫn chưa tìm thấy một công bố chính thức về nghiên cứu biến đổi số lượng
bản sao mtADN đối với bệnh ung thư nói chung và ung thư vú nói riêng ở Việt Nam.
1.4.

CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH LƯỢNG ADN TI THỂ

Nghiên cứu biến đổi số lượng bản sao mtADN đang là một hướng nghiên cứu
chỉ thị ung thư khả quan và có nhiều hứa hẹn. Các phương pháp nghiên cứu được sử
dụng nhiều để nghiên cứu biến đổi số lượng bản sao mtADN hiện nay gồm:
Phương pháp PCR định lượng
Đây là phương pháp được phát triển dựa trên phương pháp PCR, được sử
dụng để khuếch đại và định lượng một đoạn ADN đích. Trong đó kết quả khuếch
đại được hiển thị ngay sau mỗi chu kì phản ứng. Đo đó cho phép xác định số lượng

16


x

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×