Tải bản đầy đủ

Đề án tốt nghiệp Cao cấp lý luận chính trị

Mục Lục
A. MỞ ĐẦU...........................................................................................................................1
1- Lý do xây dựng Đề án ..................................................................................................1
2- Mục tiêu của Đề án........................................................................................................4
2.1. Mục tiêu chung............................................................................................................4
2.2. Mục tiêu cụ thể............................................................................................................5
3- Giới hạn của Đề án.........................................................................................................5
B. NỘI DUNG........................................................................................................................6
I. CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN..........................................................................................6
1. Cơ sở khoa học, lý luận:.................................................................................................6
1.1- Quan niệm về văn hóa và đời sống văn hóa................................................................6
3. Cơ sở thực tiễn.........................................................................................................18
II. NỘI DUNG THỰC HIỆN ĐỀ ÁN..................................................................................19
2. Thực trạng công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở trên địa bàn huyện Lâm Thao
giai đoạn 2010 – 2015......................................................................................................22
2.1- Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp trong huyện...............22
2.2- Các kết quả đạt được.................................................................................................25
3. Nội dung cụ thể Đề án cần thực hiện...........................................................................33
3.1- Mục tiêu, phương hướng...........................................................................................34
3.2- Các nhiệm vụ, giải pháp thực hiện Đề án.................................................................36
4. Tổ chức thực hiện Đề án.............................................................................................47

4.1. Phân công trách nhiệm thực hiện Đề án...................................................................47
4.2. Tiến độ thực hiện Đề án............................................................................................51
4.3. Kinh phí thực hiện các nội dung của Đề án..............................................................52
5. Dự kiến hiệu quả của Đề án........................................................................................53
5.1. Ý nghĩa thực tiễn của Đề án.....................................................................................53
5.2. Đối tượng hưởng lợi của Đề án................................................................................53
5.3. Những thuận lợi, khó khăn và tính khả thi của Đề án..............................................53
C. KIẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN.........................................................................................54
1. Một số kiến nghị...........................................................................................................54
1.1- Đối với cấp Trung ương ...........................................................................................55
1.2- Đối với Bộ Văn hoá - Thể thao và Du lịch...............................................................55
1.3- Đối với cấp tỉnh .......................................................................................................56
1.4- Đối với cấp huyện....................................................................................................57
2. Kết luận..................................................................................................................57
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................................................1


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cảm ơn các quý thầy giáo, cô giáo tại Học viện
Chính trị khu vực I đã truyền dạy, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập,
cho tôi được tiếp cận những kiến thức quý báu và bổ ích trong thời gian học
tập tại trường.
Xin trân trọng cảm ơn cô giáo chủ nhiệm lớp B1 – 14 Ngô Thị Hoàng
Yến, các thầy giáo, cô giáo Khoa Văn hóa và Phát triển; đặc biệt cảm ơn cô
giáo, giảng viên chính, thạc sỹ Lưu Khương Hoa – Phó Trưởng Khoa Văn
hóa và Phát triển đã quan tâm, tạo điều kiện, tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi
hoàn thành Đề án tốt nghiệp.
Trân trọng cảm ơn các đồng chí lãnh đạo Tỉnh ủy Phú Thọ, các đồng
chí lãnh đạo huyện Lâm Thao đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi theo học
Chương trình Cao cấp Lý luận chính trị hệ tập trung tại Học viện Chính trị
Khu vực I, hoàn thành Đê án tốt nghiệp và thực hiện tốt khóa học.
Trân trọng cảm ơn các phòng, ban, ngành, đoàn thể ở huyện, các xã,
thị trấn trong huyện Lâm Thao đã quan tâm, tạo điều kiện giúp tôi có được
các tư liệu, hình ảnh về xây dựng đời sống văn hóa cơ sở tại huyện Lâm Thao
để tôi hoàn thành Đề án tốt nghiệp.
Quá trình xây dựng Đề án, tôi đã nỗ lực, cố gắng, nhưng do còn những
hạn chế nhất định của bản than, sự chi phối điều kiện khách quan nên không
tránh khỏi những khiếm khuyết. Xin trân trọng tiếp thu, chỉnh sửa để Đề án
thực sự có ý nghĩa trong thực tiễn.
Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 28 tháng 5 năm 2015
HỌC VIÊN

Hoàng Anh Tuấn


A. MỞ ĐẦU
1- Lý do xây dựng Đề án
Trong tiến trình phát triển của lịch sử, loài người đã để lại cho chúng ta
những di sản văn hoá vô cùng to lớn. Ngày nay, các quốc gia, dân tộc trên thế
giới đều muốn tìm tòi, phát triển và sáng tạo làm phong phú thêm kho tàng
văn hoá của nhân loại.
Văn hóa không phải là toàn bộ đời sống con người - xã hội, nhưng là
phần cốt tủy, là tinh hoa được trưng cất, kết tụ nên bản chất, bản sắc, linh hồn
của dân tộc, của thời đại; nó được thăng hoa từ hơi thở cuộc sống, từ năng lực
và trình độ của mỗi cá nhân, cộng đồng; và đến lượt mình, nó lại có mặt trong
mọi hoạt động từ suy nghĩ đến hành động, từ hoạt động cá nhân đến hoạt
động xã hội, từ hoạt động vật chất đến hoạt động tinh thần.
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta ngày càng xác lập và
hoàn thiện quan điểm đường lối về văn hoá. Bước vào công cuộc đổi mới,
Đảng khẳng định: xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc là nền tảng tinh thần, là mục tiêu, là động lực cho phát
triển kinh tế - xã hội (Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII). Đây là một trong
những quan điểm hết sức đúng đắn và sáng suốt của Đảng ta. Nhìn lại hệ
thống quan điểm của Đảng qua các văn kiện, nghị quyết và thực tiễn đời sống
văn hóa của đất nước, có thể khẳng định, Đảng ta ngày càng có sự quan tâm
đặc biệt đến lĩnh vực văn hoá - đã thể hiện tầm nhìn quan trọng về lý luận của
Đảng và còn là cơ sở định hướng hết sức quan trọng trong thực tiễn xây dựng
đời sống văn hóa của nước ta trong sự nghiệp đổi mới và phát triển hiện nay.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa
VIII đã khẳng định: “Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục
tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội” 1. Điều đó cũng có
1

ĐCSVN, VKHN lần thứ năm BCHTW Đảng khóa VIII, Nxb CTQG, H.1998, tr.55

1


nghĩa, văn hóa không chỉ là diện mạo của dân tộc, mà còn là một trong những
động lực quan trọng dẫn dắt sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Từ
định hướng mục tiêu đúng đắn ấy, trong những năm qua nền văn hoá Việt
Nam nói chung và đời sống văn hóa cơ sở nói riêng đã đạt được những thành
tựu quan trọng, khơi dậy được những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc
kết hợp với tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại; tạo nên sức mạnh
vật chất và tinh thần vô cùng to lớn góp phần ổn định về chính trị, giữ vững
quốc phòng - an ninh, đưa đất nước ta thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, từng
bước hội nhập và phát triển.
Đời sống văn hóa là một bộ phận của đời sống xã hội, bao gồm tổng thể
những yếu tố hoạt động văn hóa vật chất và tinh thần, những tác động qua lại
lẫn nhau trong đời sống xã hội để tạo ra những quan hệ có văn hóa trong cộng
đồng, trực tiếp hình thành nhân cách và lối sống của con người. Đời sống văn
hoá cơ sở là bộ phận cấu thành quan trọng trong toàn bộ nền văn hoá. Đời
sống văn hoá cơ sở là nơi khơi nguồn sáng tạo, đồng thời là nơi hưởng thụ các
giá trị văn hoá của nhân dân. Đời sống văn hoá cơ sở là nơi bảo tồn và phát
huy mạnh mẽ tính đa dạng, phong phú của văn hoá các dân tộc…Xây dựng
đời sống văn hoá cơ sở là nền tảng, là bước đi ban đầu để thực hiện thành
công đường lối văn hoá của Đảng là xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Thông qua hoạt động xây dựng đời sống văn
hoá cơ sở mà các quan điểm, đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của
Nhà nước đến với người dân, được nhân dân thực hiện.
Trước tình hình hiện nay, khi đất nước thực hiện đổi mới, công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước, thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa, giao lưu hợp tác, hội nhập sâu rộng với các nước trong khu vực và
thế giới, tạo điều kiện cho đất nước phát triển, nhưng cũng đặt ra nhiều nguy
cơ, thách thức tiềm ẩn; cùng với sự phát triển rộng khắp của công nghệ, sự

2


bùng nổ thông tin, sự giao thoa, đan xen và du nhập nhiều nét văn hóa của các
nước trên thế giới (từ phim, ảnh, sách, báo, tạp chí, từ các Việt Kiều, từ người
lao động nước ngoài tại Việt Nam .v.v.) đến nền văn hóa truyền thống của dân
tộc ta, vấn đề đặt ra là làm sao và bằng cách nào để vừa xây dựng được một
nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc vừa phù hợp với bước tiến của
thời đại, đảm bảo hội nhập quốc tế, song, không làm phai nhạt hoặc mất đi
các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Đây là vấn đề đặt ra cho các cấp,
các ngành trong công tác quản lý văn hoá nói riêng và toàn xã hội nói chung,
đó là làm thế nào để đời sống văn hoá của Việt Nam được nâng lên, nhân dân
ngày càng có điều kiện và thực sự trở thành chủ thể sáng tạo, hưởng thụ các
giá trị văn hoá một cách đích thực. Cho nên việc nâng cao chất lượng hoạt
động văn hóa là vấn đề cấp bách và lâu dài của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ
quốc và cả hệ thống chính trị nhằm định hướng cho nhân dân giữ gìn và phát
huy truyền thống văn hóa của dân tộc.
Xây dựng đời sống văn hoá cơ sở hiện nay là một trong những vấn đề
cấp thiết, quan trọng nhằm tạo các điều kiện cần thiết để xây dựng nền văn
hoá mới, con người mới nhằm góp phần ổn định chính trị, giữ vững quốc
phòng, an ninh, tạo động lực mạnh mẽ cho việc phát triển kinh tế - xã hộị, đáp
ứng yêu cầu thực tiễn của đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Kết luận
Hội nghị lần thứ mười Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX đã xác
định: xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa là nhiệm vụ
trọng tâm và phải được đặt lên hàng đầu trong xây dựng nền văn hóa tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc giai đoạn hiện nay.
Cùng với những thành tựu đã đạt được trên các lĩnh vực chính trị, kinh
tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng trong công cuộc đổi mới của đất
nước; huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ cũng đang đứng trước những thời cơ
thuận lợi và khó khăn, thách thức như: Sự tác động của những quan điểm trái

3


chiều về văn hoá, những mặt trái của cơ chế thị trường và quá trình toàn cầu
hóa, sự xuống cấp về đạo đức, lối sống của một bộ phận thanh, thiếu niên…
đã tác động đến tư tưởng, lối sống, phong tục tập quán và việc xây dựng đời
sống văn hóa trên địa bàn huyện.
Là một cán bộ làm công tác tham mưu, giúp việc cho Huyện ủy, trực
tiếp là UBND huyện Lâm Thao trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý nhà
nước về văn hóa – thông tin, với mong muốn được đem những kiến thức đã
được học tập để tham mưu, giúp cho cấp ủy, UBND huyện lãnh đạo, chỉ đạo
có hiệu quả các nhiệm vụ đặt ra trên lĩnh vực văn hóa – thông tin, nhất là việc
xây dựng đời sống văn hóa cơ sở nên tôi lựa chọn vấn đề “Nâng cao chất
lượng, hiệu quả công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở trên địa bàn
huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2015 - 2020” làm Đề án tốt
nghiệp lớp Cao cấp Lý luận Chính trị, khoá học 2014– 2015 của mình.
2- Mục tiêu của Đề án
2.1. Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu, khảo sát, đánh giá khái quát về lý luận và thực
tiễn công tác xây dựng đời sống văn hoá cơ sở trên địa bàn huyện Lâm Thao
trong những năm qua (từ sau Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII) đến nay; từ
đó đưa ra những giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả
công tác xây dựng đời sống văn hoá cơ sở ở huyện trong những năm tới, trọng
tâm là: xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh trên cơ sở bảo tồn, kế thừa và
phát triển các giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể của thời đại Hùng Vương,
nền văn hóa Sơn Vy, văn minh lúa nước với các nét đẹp văn hóa truyền thống
và văn minh của thời kỳ CNH, HĐH đất nước thành bản sắc văn hóa riêng
của Lâm Thao; chú trọng tính kết nối chặt chẽ giữa huyện Lâm Thao với Khu
di tích lịch sử Đền Hùng trong phát triển văn hóa, kinh tế - xã hội góp phần
thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị chung của huyện Lâm Thao.

4


Mặt khác, thông qua nghiên cứu và xây dựng Đề án, học viên có nhận
thức đầy đủ và sâu sắc hơn về thực trạng hoạt động của đơn vị, cơ quan mình
công tác, từ đó vận dụng vào vị trí công việc hiện tại, qua đó, góp phần hoàn
thành tốt nhiệm vụ được giao.
2.2. Mục tiêu cụ thể
Các mục tiêu cụ thể của Đề án gồm:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận, chính trị pháp lý và thực tiễn của công tác
xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở cấp huyện.
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng và những nhân tố ảnh hưởng đến
chất lượng xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở.
- Đề ra những phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng,
hiệu quả của công tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở trên địa bàn huyện
giai đoạn 2015 -2020.
3- Giới hạn của Đề án
- Về phạm vi thực hiện: Đề án chỉ nghiên cứu riêng lĩnh vực xây dựng
đời sống văn hóa ở cơ sở và đề ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng,
hiệu quả của công tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở trên địa bàn huyện
Lâm Thao; trọng tâm là phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống
văn hóa” mà hạt nhân cốt lõi là xây dựng gia đình văn hóa, khu dân cư văn
hóa, làng, xã, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp văn hóa. Các nội dung khác vì
giới hạn phạm vi của Đề án (40 – 50 trang) nên chỉ nêu vài nét khái quát
nhằm mục đích tham khảo và để có cái nhìn tổng thể về vấn đề cần giải quyết.
- Về không gian: Đề án được thực hiện tại địa bàn 14 xã, thị trấn và 26
cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị, trường học (có tổ chức công đoàn) trên địa
bàn huyện Lâm Thao.
- Về thời gian: Đề án được thực hiện trong giai đoạn 2015 – 2020.

5


B. NỘI DUNG
I. CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
1. Cơ sở khoa học, lý luận:
1.1- Quan niệm về văn hóa và đời sống văn hóa
1.1.1- Quan niệm về văn hóa
Có thể nói, lịch sử của văn hóa gắn liền với lịch sử phát triển của loài
người. Từ văn hóa được ghi lại trong sử sách, cách ngày nay khoảng 3000
năm. Văn hóa là một khái niệm rất rộng, rất phong phú; định nghĩa về văn
hóa khó diễn tả hết được nội hàm đầy đủ và đã có hàng trăm quan niệm của
các tác giả về văn hóa. Nói một cách ví von như quan niệm của UNETSCO:
Văn hóa chính là thẻ căn cước, là chứng minh thư của một dân tộc để nói lên
anh là ai, đến từ đâu; hay Người Pháp quan niệm: Văn hóa là thứ còn lại khi
người ta quên đi tất cả, là thứ còn thiếu khi người ta học tất cả.
Ở Phương Đông, từ văn hóa đã có trong đời sống ngôn ngữ từ rất sớm.
Trong Chu Dịch, quẻ Bi đã có từ “văn” và từ “hóa”: Xem dáng vẻ con người,
lấy đó mà giáo hóa thiên hạ (Quan hồ nhân văn dĩ hóa thành thiên hạ). Ở
Phương Tây, để chỉ đối tượng mà chúng ta nghiên cứu, người Pháp, người
Nga có từ kultura (những chữ này có chung gốc Latinh là chữ cultus animi là
trồng trọt tinh thần; vậy chữ cultus là văn hóa với hai khía cạnh: trồng trọt,
thích ứng với tự nhiên, khai thác tự nhiên và giáo dục đào tạo cá thể hay cộng
đồng để họ không còn là vật tự nhiên và họ có những phẩm chất tốt đẹp).
Tuy vậy, khái niệm văn hóa không đơn giản và thay đổi theo thời gian;
thuật ngữ văn hóa với nghĩa “canh tác tinh thần” được sử dụng vào thế kỷ
XVII – XVIII bên cạnh nghĩa gốc là quản lý, canh tác nông nghiệp2.
2

1, 2 Học viện CTHCQG Hồ Chí Minh, Học viện CTKVI, Khoa VH&PT: Một số chuyên

đề văn hóa và phát triển, NXB chính trị - hành chính, HN. 2012. Tr.11.

6


Vào thế kỷ XIX, thuật ngữ văn hóa được những nhà nhân loại học
phương Tây sử dụng như một danh từ chính. Theo E.B Taylo “Văn hóa hiểu
theo nghĩa rộng nhất của nó, là toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín
ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, những khả năng và tập
quán khác mà con người có được với tư cách là một thành viên của xã hội”3.
Năm 1982, tại Mêhicô, Hội nghị thế giới về chính sách văn hóa vì sự
phát triển đã nêu ra định nghĩa: “Theo nghĩa rộng, ngày nay văn hóa có thể
được coi là toàn bộ các đặc tính đặc biệt về tâm hồn, vật chất, trí tuệ và tình
cảm đặc trưng cho một xã hội hay một nhóm xã hội. Nó không chỉ bao gồm
nghệ thuật và văn học, mà cả lối sống, các quyền cơ bản của nhân loại, các
hệ thống giá trị truyền thống và tín ngưỡng”4.
Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích
của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết,
đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật những công cụ
cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ
những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hòa của
mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản
sinh ra nhằm thích ứng với nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” 5.
Có thể nói văn hoá là một khái niệm trừu tượng, nội hàm của văn hoá
không xác định cụ thể, nên rất khó có một khái niệm về văn hoá rõ ràng, đầy
đủ, chính xác. Tuy vậy, từ những điểm tương đồng trong rất nhiều khái niệm
khác nhau về văn hoá, ta cũng có thể xác định được những nét tương đồng với
3
41, 3

Học viện CTHCQG Hồ Chí Minh, Học viện CTKVI, Khoa VH&PT: Một số chuyên

đề văn hóa và phát triển, NXB chính trị - hành chính, H.2012. Tr.13, Tr 16 - 17.
2

Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, Tr 431.

5

7


nhau ở những điểm rất cơ bản: “Văn hoá là toàn bộ các hệ thống giá trị vật
chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong hoạt động thực tiễn lịch sử xã hội, mang tính chân, thiện, mỹ, phục vụ cho sự sinh tồn và phát triển của
con người và xã hội loài người… Văn hoá là kết quả của sự thích nghi có ý
thức và chủ động của con người với tự nhiên… Văn hoá thể hiện đặc điểm,
đặc trưng của mỗi xã hội, mỗi cộng đồng, văn hoá là thước đo trình độ phát
triển và đặc tính riêng của mỗi dân tộc6.
Nói tóm lại, theo nghĩa rộng: văn hóa là toàn bộ hệ thống giá trị vật
chất và tinh thần do con người sang tạo, tích lũy trong quá trình hoạt động
thực tiễn lịch sử - xã hội.
Theo nghĩa hẹp: văn hóa chỉ bao gồm các giá trị tinh thần tạo nên nền
tảng tinh thần của xã hội, có nhiều lĩnh vực trong đó, tư tưởng, đạo đức, lối
sống và đời sống văn hóa là những lĩnh vực cơ bản nhất hiện nay.
1.1.2- Quan niệm về đời sống văn hóa
Đời sống văn hóa là một bộ phận của đời sống xã hội, bao gồm tổng thể
những yếu tố hoạt động văn hóa vật chất và tinh thần, những tác động qua lại
lẫn nhau trong đời sống xã hội để tạo ra những quan hệ có văn hóa trong cộng
đồng, trực tiếp hình thành nhân cách và lối sống của con người. Đời sống văn
hóa bao gồm những nội dung không tách rời các lĩnh vực của đời sống xã hội
và các yếu tố cơ bản tạo nên văn hóa.
Đời sống văn hóa gồm 4 yếu tố chính:
- Văn hóa vật thể và phi vật thể tồn tại ở mỗi cộng đồng như: thiết chế
văn hóa, tác phẩm, sản phẩm văn hóa, phương tiện thông tin đại chúng và
truyền bá văn hóa, lễ hội, văn hóa - văn nghệ dân gian, trường học, nhóm văn
hóa...
6

8


- Cảnh quan VH (do tự nhiên hoặc do con người tạo ra) hiện diện ở mỗi
cộng đồng như: di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, công viên,
tượng đài...
- Yếu tố văn hóa cá nhân ở mỗi cộng đồng: trình độ học vấn, nhu cầu
sở thích và thị hiếu văn hóa, phong cách sinh hoạt, văn hóa ứng xử, giao tiếp,
nếp sống văn hóa...
- Những yếu tố văn hóa của các “tế bào” trong mỗi cộng đồng như: gia
đình, nhà trường, cơ quan, công sở, tổ nhóm lao động, học tập...
1.1.3- Quan niệm về đời sống văn hóa cơ sở, hoạt động chủ yếu của
đời sống văn hóa cơ sở
*) Đơn vị cơ sở trong tổ chức và xây dựng đời sống văn hoá ở đây được
quan niệm là loại thiết chế cơ bản của đời sống xã hội, là hình thức tổ chức cơ
bản của đời sống văn hóa. Đó là những cộng đồng dân cư có địa bàn sinh
sống ổn định, có quan hệ chặt chẽ về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và cả
quan hệ huyết thống (đối với thiết chế gia đình và một bộ phận làng xóm ở
nông thôn). Những cộng đồng dân cư này gắn kết với nhau một cách chặt chẽ
trong các sinh hoạt vật chất và tinh thần diễn ra trong đời sống hàng ngày
Đơn vị cơ sở trong xây dựng đời sống văn hóa được hiểu trên ba
phương diện:
- Một địa bàn, địa điểm cụ thể gắn với một đơn vị hành chính cơ bản
hoặc một tổ chức chính trị xã hội (làng, bản, thôn, xóm...).
- Cơ sở hành chính và mang tính hành chính (Việt Nam hiện nay gồm 4
loại: đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn; đơn vị sản xuất kinh doanh; đơn
vị hành chính sự nghiệp; đơn vị lực lượng vũ trang).
- Tế bào hạt nhân gia đình.
Có thể phân chia văn hóa cộng đồng theo những tiêu chí khác nhau
như: theo tiêu chí huyết thống có văn hóa gia đình, văn hóa dòng họ; theo địa

9


bàn cư trú có văn hóa làng, bản, xóm thôn, buôn sóc, khu phố; theo tổ chức xã
hội có văn hóa đoàn thể; theo tổ chức sản xuất có văn hóa xí nghiệp .v.v.
*) Các hoạt động chủ yếu của đời sống văn hóa cơ sở
Cơ sở là nơi diễn ra các hoạt động văn hóa tinh thần phong phú và đa
dạng của cộng đồng. Ở Việt Nam hiện quy tụ thành một số hoạt động chủ yếu
sau:
+ Thông tin tuyên truyền cổ động,
+ Câu lạc bộ, nhà văn hóa; thư viện, đọc sách báo,
+ Giáo dục truyền thống,
+ Nghệ thuật quần chúng,
+ Xây dựng nếp sống văn hóa,
+ Thể dục thể thao, vui chơi giải trí,
+ Xã hội từ thiện.
Như vậy, đơn vị cơ sở trong tổ chức xây dựng đời sống văn hoá và các
hoạt động chủ yếu trong xây dựng đời sống văn hóa cơ sở có phạm vi rộng
lớn và có vị trí hết sức quan trọng trong đời sống xã hội, tất cả mọi hoạt động
xã hội đều diễn ra tại các đơn vị cơ sở. Toàn bộ đời sống xã hội chỉ có thể ổn
định và phát triển bền vững khi các đơn vị cơ sở ổn định và bền vững.
1.1.4- Vị trí, vai trò của đời sống văn hóa cơ sở và ý nghĩa của việc
xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở
Có thể nói, xây dựng đời sống văn hoá cơ sở chính là bước đi tạo ra cốt
cách văn hoá của một dân tộc, là cái nôi nuôi dưỡng sự phát triển bền vững
cho xã hội; nó có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc duy trì, xây dựng và
phát triển nền văn hoá.
Xây dựng đời sống văn hoá cơ sở là khơi dậy, lôi cuốn, bồi dưỡng và
huy động tối đa sự tham gia của đông đảo tầng lớp nhân dân, của các cấp, các
ngành vào hoạt động sáng tạo văn hoá nghệ thuật, tạo nên những sản phẩm

10


văn hoá của chính cộng đồng ngay tại cơ sở, nơi diễn ra đời sống thường ngày
của các cá nhân, gia đình trong từng cụm dân cư, làng xóm, cơ quan, đơn vị,
trường học… Xây dựng đời sống văn hoá cơ sở là hướng vào mục tiêu phát
triển toàn diện, đáp ứng các nhu cầu cơ bản của đời sống con người, đóng góp
vào phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, xây dựng cơ sở hạ tầng,
cảnh quan, môi trường sống của cộng đồng. Nâng cao học vấn, kiến thức và
kỹ năng sống, văn hoá ứng xử trong cộng đồng, phát triển các hình thức sinh
hoạt văn hoá, văn nghệ, thể thao, vui chơi giải trí, bài trừ mọi hoạt động văn
hoá phản tiến bộ. Thực hành nếp sống công dân, tôn trọng pháp luật. Xây
dựng lối sống dân chủ, tự quản trên cơ sở quy ước, hương ước của bản, tiểu
khu, tổ dân phố, xây dựng lối sống tình nghĩa, xoá đói giảm nghèo, tương
thân tương ái, giúp đỡ nhau trong cuộc sống.
Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở là một chủ trương lớn của Đảng và
Nhà nước ta, mang tính xã hội sâu sắc, với nội dung phong phú, toàn diện và
triển khai thực hiện lâu dài – là chủ trương có ý nghĩa chiến lược đối với sự
nghiệp xây dựng văn hóa, lối sống và con người Việt Nam, bảo vệ và phát
huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội
nhập kinh tế quốc tế.
Qua các kỳ Đại hội của Đảng cho đến nay, Đảng ta đã nhấn mạnh vấn
đề xây dựng đời sống văn hóa để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo có hiệu quả. Văn
kiện Đại hội XI của Đảng cũng đã xác định: Củng cố và tiếp tục xây dựng
môi trường văn hóa lành mạnh, phong phú, đa dạng. Đưa phong trào “Toàn
dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đi vào chiều sâu, thiết thực, hiệu
quả; xây dựng nếp sống văn hóa trong các gia đình, khu dân cư, cơ quan, đơn
vị, doanh nghiệp, làm cho các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi mặt đời sống,
được thể hiện cụ thể trong sinh hoạt, công tác, quan hệ hằng ngày của cộng
đồng và từng con người, tạo sức đề kháng đối với các sản phẩm độc hại. Tiếp

11


tục đẩy mạnh việc giáo dục, bồi dưỡng đạo đức, lối sống có văn hóa; xây
dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, tang, lễ hội; ngăn chặn và đẩy lùi
các hủ tục, bạo lực, gây rối trật tự công cộng, mại dâm, ma tuý, cờ bạc... góp
phần giữ gìn và phát triển những giá trị truyền thống của văn hoá, con người
Việt Nam, nuôi dưỡng, giáo dục thế hệ trẻ. Đúc kết và xây dựng hệ giá trị
chung của người Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
và hội nhập quốc tế.
Điều đó càng khẳng định vị trí, vai trò có ý nghĩa lâu dài, chiến lược
của xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, bởi bốn lý do sau:
Thứ nhất, Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở là nền tảng mang tính
hiện thực, trực tiếp để xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc.
Thứ hai, Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở là vấn đề trọng tâm, cốt
lõi của sự nghiệp văn hóa. Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở chính là phát huy
quyền làm chủ của nhân dân trong việc sáng tạo, hưởng thụ các giá trị văn
hóa, nghệ thuật, xây dựng lối sống lành mạnh, những phong tục tập quán tốt
đẹp mang đậm bản sắc dân tộc và phù hợp với trào lưu văn hóa của nhân loại.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: chỉ khi nào được mọi người dân, mọi tầng
lớp nhân dân, mọi tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể, các dân tộc, các tôn
giáo … tham gia vào một cách tự nguyện, chủ động vào công tác văn hóa, thì
lúc đó văn hóa mới phát triển mạnh mẽ. Chỉ khi nào thấm sâu vào toàn bộ đời
sống, vào mọi lĩnh vực, mọi quan hệ của con người thì lúc đó văn hóa mới
thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực và sức mạnh
nội sinh của sự phát triển.
Thứ ba, Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở là bảo tồn và phát huy mạnh
mẽ tính đa dạng, phong phú của bản sắc văn hóa các dân tộc, bản sắc dân tộc
của văn hóa Việt Nam.

12


Thứ tư, Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở là phát triển và hoàn thiện
mạng lưới các thiết chế văn hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của
văn hóa. Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở là xây dựng mạng lưới thiết chế
văn hóa bao gồm: trung tâm văn hóa, câu lạc bộ, thư viện, phòng đọc, tủ sách,
sân chơi, nhà truyền thống, trường học, trạm y tế, công viên, tạo môi trường
cảnh quan văn hóa cơ sở, đáp ứng từng bước nhu cầu đòi hỏi, nhu cầu hưởng
thụ văn hóa của nhân dân, vừa thể hiện tính dân tộc song cũng đảm bảo tính
hiện đại.
2. Cơ sở chính trị, pháp lý:
*) Cơ sở chính trị
- Tổ chức xây dựng đời sống văn hoá cơ sở là một trong những chủ
trương lớn của Đảng ta và được thể hiện ngay từ những năm 1940 của thế kỷ
XX, thông qua Đề cương Văn hóa năm 1943 do đồng chí Trường Chinh soạn
thảo. Đây được coi là Cương lĩnh đầu tiên về văn hóa của Đảng ta
- Cương lĩnh thứ 2 về văn hóa: Chủ nghĩa Mác và Văn hóa Việt Nam,
Báo cáo tại Hội nghị Văn hoá toàn quốc lần thứ hai, tháng 7/1948.
- Cương lĩnh thứ 3 về văn hóa: Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban
Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII về xây dựng và phát triển nền văn
hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
- Kết luận Hội nghị Trung ương mười khóa IX về tiếp tục thực hiện
Nghị quyết Hội nghị Trung ương năm khóa VIII về xây dựng và phát triển
nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
- Nghị quyết số 33- NQ/TW ngày 09/6/2014 của Hội nghị Trung ương
chín khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng
yêu cầu phát triển bền vững đất nước.
Qua các văn kiện của Đảng về văn hóa có thể khái quát chung đó là:
Văn hóa là nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là mục tiêu, động lực, sức

13


mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững
chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh.
*) Cơ sở pháp lý
- Luật Di sản văn hóa (Luật Số: 28/2001/QH10, ngày 29/6/2001).
- Các nghị định, quyết định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về
lĩnh vực văn hóa – thông tin.
- Các quyết định, thông tư, hướng dẫn của Bộ Văn hóa – Thể thao và
Du lịch về lĩnh vực văn hóa, xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở.
- Các văn bản của HĐND, UBND tỉnh Phú Thọ, huyện Lâm Thao về
lĩnh vực văn hóa.
- Các văn bản của Sở Văn hóa- Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ về
lĩnh vực văn hóa.
- Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính Phủ quy
định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ
máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập;
- Thông tư liên tịch số 43/2008/TTLT-BVHTTDL-BNV ngày
06/6/2008 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch - Bộ Nội vụ về hướng dẫn
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Văn hóa, Thể thao
và Du lịch thuộc UBND cấp tỉnh, Phòng Văn hóa và Thông tin thuộc UBND
cấp huyện; Thông tư liên tịch số 03/2008/TTLT-BTTTT-BNV ngày
30/6/2008 của Bộ Thông tin và Truyền thông - Bộ Nội vụ về hướng dẫn chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Thông tin và Truyền
thông thuộc UBND cấp tỉnh, Phòng VHTT thuộc UBND cấp huyện;
- Quyết định số 340/QĐ-UBND ngày 29/2/2012 của UBND huyện
Lâm Thao về việc ban hành Quy định chức năng, nhiệm vụ các phòng chuyên
môn, đơn vị sự nghiệp thuộc UBND huyện;

14


*) Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng đời sống văn hóa
cơ sở
Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở là:“…làm cho văn hoá thấm sâu vào
toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập
thể cộng đồng, từng địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ
con người, tạo ra trên đất nước ta đời sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí
cao, khoa học phát triển, phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh, tiến bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”7. Nghị quyết Hội nghị Trung
ương chín khóa XI tiếp tục nhấn mạnh: “Xây dựng đời sống văn hóa ở địa
bàn dân cư, các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đoàn kết, dân chủ văn minh,
đạt chuẩn thực chất về văn hóa; thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở; xây
dựng nếp sống văn hóa tiến bộ, văn minh… Nâng cao chất lượng, hiệu quả
các cuộc vận động văn hóa, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời
sống văn hóa”8
Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (1998) nhấn mạnh: “Xây dựng và
phát triển về văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu
tinh hoa văn hóa nhân loại, làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống
và hoạt động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng
đồng, từng địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con
người”9. Nghị quyết thực sự là điểm nhấn quan trọng và có ý nghĩa đến sự
phát triển chung của xã hội và sự phát triển của văn hóa Việt Nam nói riêng;
nghị quyết đã đề ra 5 quan điểm chỉ đạo đó là:

7

ĐCSVN, VKHN lần thứ năm BCHTW Đảng khóa VIII. Tr 54 – 55.

8

ĐCSVN, Nghị quyết số 33- NQ/TW ngày 09/6/2014 Hội nghị TW9 khóa XI, Tr 5
ĐCSVN, VKHN lần thứ năm BCHTW Đảng khóa VIII, Nxb CTQG. H.1998. Tr 54 – 55.

9

15


(1) Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là
động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.
(2) Nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc.
(3) Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong
cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
(4) Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng
ta lãnh đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng.
(5) Văn hóa là một mặt trận; xây dựng và phát triển văn hóa là một sự
nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì, thận
trọng.
Tổng kết 5 năm triển khai xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt
Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Hội nghị Trung ương 10, khoá IX
(2004) đã nhấn mạnh ba nhiệm vụ trọng tâm sau:
- Tiếp tục đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối
sống và đời sống văn hóa lành mạnh trong xã hội, trước hết là trong các tổ
chức đảng, nhà nước, mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân và trong từng
cá nhân, gia đình, thôn xóm, đơn vị, tổ chức cơ sở.
Cần xác định đây là nhiệm vụ quan trọng thường xuyên, vừa cấp bách,
vừa cơ bản, lâu dài.
- Nâng cao chất lượng, hiệu quả nhiệm vụ xây dựng con người Việt
Nam theo 5 đức tính được xác định trong Nghị quyết Trung ương 5 khóa
VIII; cụ thể hóa theo các đối tượng, gắn chặt mục tiêu xây dựng con người
với hoạt động thực tiễn và các phong trào thi đua yêu nước sâu rộng của quần
chúng. Quy tụ mọi hoạt động văn hóa, phát huy thế mạnh của từng loại hình
văn hóa thông tin phục vụ nhiệm vụ bồi dưỡng lòng yêu nước, phẩm chất tốt

16


đẹp của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng
chủ nghĩa xã hội.
- Chú trọng xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, nhất là cộng đồng dân
cư, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, tốt đẹp, phong phú.
Văn kiện Đại hội XI (2011) của Đảng đã chỉ rõ cần triển khai thực hiện
4 nhiệm vụ quan trọng trong chăm lo phát triển văn hóa:
(1) Củng cố và tiếp tục xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phong
phú, đa dạng.
(2) Phát triển sự nghiệp văn học, nghệ thuật; bảo tồn, phát huy giá trị
các di sản văn hóa truyền thống, cách mạng.
(3) Phát triển hệ thống thông tin đại chúng.
(4) Mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về văn hóa.
Có thể thấy rằng, phát huy tinh thần tự nguyện, tính tự quản và năng
lực làm chủ của nhân dân trong đời sống văn hoá. Đây là động lực lớn nhất,
đồng thời cũng là nguyên nhân có tính chất quyết định tạo nên tính bền vững
và chất lượng, hiệu quả của phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời
sống văn hóa” tạo dựng môi trường văn hoá tốt đẹp, lành mạnh, phong phú
cho mỗi người và cả cộng đồng. Xây dựng đời sống văn hoá cơ sở đã, đang
và sẽ tiếp tục là một nhiệm vụ chiến lược của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta
trong thời kỳ đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Các quan điểm, chủ trương của Đảng về xây dựng và phát triển văn hóa
nói chung, về xây dựng và phát triển các lĩnh vực trong văn hóa nói riêng
được đề ra và từng bước được hoàn thiện trong các văn kiện, nghị quyết của
Đảng thời gian vừa qua vừa có ý nghĩa tăng cường nhận thức, tư tưởng chính
trị vừa có ý nghĩa thực tiễn, đảm bảo cho công cuộc xây dựng nền văn hóa
Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc phát triển ngày càng sâu rộng với
chất lượng và hiệu quả ngày càng cao.

17


3. Cơ sở thực tiễn
- Xuất phát từ vị trí, vai trò, tầm quan trọng đặc biệt của văn hóa đối
với vùng miền, quốc gia, dân tộc trong quá trình hình thành và phát triển, đặc
biệt trong thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay.
- Từ thực trạng việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, cụ thể:
Trong những năm qua, việc triển khai thực hiện Nghị quyết Trung
ương 5 khóa VIII của Đảng về văn hóa đã đạt được nhiều thành tựu quan
trọng. Cán bộ, đảng viên và nhân dân coi trọng hơn các giá trị văn hóa, nhất là
các giá trị di sản văn hóa truyền thống. Môi trường văn hóa được cải thiện.
công tác xã hội hóa hoạt động văn hóa đã khai thác tốt hơn các nguồn lực để
phát triển văn hóa. Nhiều phong trào văn hóa đem lại hiệu quả thiết thực. Vai
trò chủ thể văn hóa của cộng đồng từng bước được phục hồi. Các thiết chế
văn hóa được xây dựng từ nhiều nguồn khác nhau, góp phần nâng cao đời
sống văn hóa của nhân dân. Các phong trào văn hóa, văn nghệ quần chúng lan
rộng, trở thành một nội dung sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Công tác chỉ đạo,
quản lý, thanh tra, kiểm tra, lập lại trật tự, kỷ cương trong hoạt động văn hóa
đã có những chuyển biến, góp phần từng bước ngăn chặn sự “xâm nhập” của
sản phẩm độc hại từ bên ngoài.
Tuy nhiên, còn thiếu sự gắn bó chặt chẽ giữa văn hóa và kinh tế, chính
trị; chưa đủ để tác động có hiệu quả đối với việc xây dựng con người, xây
dựng hệ giá trị mới của văn hóa Việt Nam và các lĩnh vực của đời sống xã
hội, nhất là lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, lối sống. Văn hóa chưa thực sự trở
thành động lực và mục tiêu của sự phát triển. Tình trạng suy thoái về đạo đức
xã hội có chiều hướng lan rộng với tính chất nghiêm trọng, ảnh hưởng tiêu
cực đến đời sống tinh thần của xã hội. Đời sống văn hóa tinh thần ở một bộ
phận tầng lớp xã hội và nhiều nơi còn nghèo nàn, đơn điệu, lạc hậu; khoảng
cách hưởng thụ văn hóa giữa các vùng miền và khoảng cách trong các tầng

18


lớp nhân dân còn lớn... Hệ giá trị truyền thống không còn được coi trọng và
phát huy như trước đây; chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng, chạy theo
đồng tiền có xu hướng gia tăng, chi phối mạnh đời sống xã hội, gây hậu quả
xấu đối với việc xây dựng con người; không ít sản phẩm độc hại của nước
ngoài xâm nhập vào nước ta đã ảnh hưởng xấu đến truyền thống văn hóa, đạo
đức, lối sống và thuần phong mỹ tục... Công tác quản lý văn hóa ở các cấp
còn nhiều yếu kém, thiếu tính chuyên nghiệp. Việc thể chế hóa nghị quyết của
Đảng về văn hóa chậm; việc xây dựng cơ chế, chính sách về văn hóa nhiều
mặt thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu, chưa theo kịp những biến động của
thực tiễn. Việc đầu tư cho văn hóa chưa tương xứng, còn dàn trải, gián đoạn,
hiệu quả thấp; mất cân đối giữa xây dựng các công trình văn hóa với đầu tư
cho sản phẩm văn hóa. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý văn hóa các cấp,
nhất là đội ngũ có trình độ cao chưa đáp ứng nhu cầu phát triển văn hóa thời
hội nhập, thiếu hụt về số lượng và bất cập về trình độ chuyên môn...
Với cơ sở thực tiễn trên, việc nâng cao chất lượng, hiệu quả của công
tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở là rất cần thiết, vừa mang tính cấp
bách trước mắt, đồng thời có tính chiến lược lâu dài trong thực hiện nhiệm vụ
phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi địa phương.
II. NỘI DUNG THỰC HIỆN ĐỀ ÁN
1. Bối cảnh thực hiện Đề án
*) Khái quát tình hình chung:
Đất nước Việt Nam có lịch sử lâu đời, có một nền văn hóa phong phú,
giàu bản sắc với những giá trị cơ bản của truyền thống văn hóa dân tộc; nhiều
giá trị văn hóa đã được các thế hệ người Việt sáng tạo, kế thừa, phát huy và
đúc kết thành truyền thống văn hóa dân tộc và trở thành động lực tinh thần vô
cùng to lớn giúp dân tộc Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách
trong các cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm để xây dựng và bảo vệ Tổ

19


quốc. Nhờ nền tảng và sức mạnh đó, cho nên dù bị phong kiến phương bắc đô
hộ nhiều thế kỷ, thực dân Pháp và đế quốc Mĩ xâm lược nhiều năm với nhiều
thủ đoạn hết sức thâm độc và tàn bạo nhưng dân tộc Việt Nam chẳng những
không bị đồng hóa mà còn kiên cường đứng lên chiến đấu để giành độc lập
cho dân tộc, chẳng những nhân dân ta vẫn giữ vững và phát huy được nền văn
hóa đậm đà bản sắc dân tộc mà còn kế thừa và tiếp thu được tinh hoa văn hóa
nhân loại…
Tuy nhiên, hiện nay, toàn cầu hóa là một xu thế khách quan và là một
xu thế chính. Toàn nhân loại có mối quan hệ với nhau không những trên
phương diện kinh tế mà còn có mối quan hệ chặt chẽ trên tất cả các lĩnh vực
chính trị, xã hội, văn hóa. Khái niệm “biên giới mềm” do toàn cầu hóa tạo ra
sự lệ thuộc của các quốc gia vào nhau ngày một nhiều. Trong sự lệ thuộc này
thì vai trò của những nước lớn, có tiềm năng kinh tế và quân sự vẫn là quan
trọng và có tính quyết định. Vì vậy tùy thuộc vào vị thế của mỗi quốc gia, tùy
thuộc vào tiềm lực con người và đất nước, mỗi cộng đồng dân tộc phải tìm
cho mình một con đường đi riêng trong sân chơi chung của toàn cầu hóa.
Điều đó đặt ra cơ hội và những thách thức trong việc xây dựng và phát triển
nền văn hóa Việt Nam.
*) Khái quát về huyện Lâm Thao:
- Về điều kiện tự nhiên: Huyện Lâm Thao là huyện đồng bằng duy nhất
của tỉnh Phú Thọ, có diện tích 9769,11ha, dân số trên 100 nghìn người; có vị
trí địa lý cách Thành phố Việt Trì khoảng 10 km về phía tây; Đây là huyện
trọng điểm sản xuất lương thực của tỉnh Phú Thọ, có ruộng đồng bằng phẳng,
đất đai màu mỡ, mạng lưới giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ nối
các tỉnh Tây Bắc với Thủ đô Hà Nội, nằm trong tam giác công nghiệp của
tỉnh Phú Thọ (Việt Trì – Bãi Bằng – Lâm Thao) nên đã đem lại cho huyện
những tiềm năng và lợi thế để phát triển du lịch. Vị trí địa lý: phía bắc giáp thị

20


xã Phú Thọ, huyện Phù Ninh và thành phố Việt Trì; phía nam và phía tây
giáp huyện Tam Nông, phía đông giáp huyện Ba Vì của thành phố Hà Nội.
Toàn huyện có 12 xã, 02 thị trấn, 199 khu dân cư, có nhiều cơ quan, doanh
nghiệp của Trung ương, của tỉnh đứng chân trên địa bàn. Đảng bộ huyện có
41 cơ sở đảng trực thuộc với trên 6000 đảng viên.
- Về truyền thống lịch sử: Đây là vùng đất cổ, có truyền thống lịch sử
và văn hoá lâu đời, là Cố đô xưa của nhà nước Văn Lang; đất phát tích nền
văn minh lúa nước, văn minh sông Hồng rực rỡ. Thời Hùng Vương, Lâm
Thao là đất bản bộ của các Vua Hùng với tên gọi Phong Châu; dưới thời các
triều đại phong kiến Việt Nam, Lâm Thao có tên gọi là huyện Sơn Vy; thời
Pháp thuộc, Lâm Thao có tên gọi là Phủ Lâm Thao; sau Cách mạng Tháng 8,
Phủ Lâm Thao đổi tên là huyện Lâm Thao. Trên địa bàn huyện có sự tập
trung khá đậm đặc của các di chỉ khảo cổ, di tích lịch sử văn hóa, những áng
thơ văn, làn điệu xoan, dân ca, dân vũ, lễ hội truyền thống… gắn với vùng đất
Tổ, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương và Lễ Hội Đền Hùng, đó là Di chỉ
khảo cổ học: Sơn Vy, Gò Mun - Tứ Xã, Phùng Nguyên - Kinh Kệ; có 4 lễ hội
chính được tổ chức hang năm gồm: Lễ hội Rước Chúa Gái – thị trấn Hùng
Sơn, lễ hội Trò Trám – xã Tứ Xã, lễ hội Vật Đuổi Giải – xã Cao Xá, lễ hội
Rước Vua về làng vui xuân – xã Tiên Kiên. Toàn huyện hiện có 137 di tích,
công trình tín ngưỡng tôn giáo, trong đó, có 50 di tích được xếp hạng gồm: 19
cấp quốc gia, 31 cấp tỉnh.
- Về điều kiện kinh tế - xã hội: Những năm qua, dưới sự lãnh đạo của
Đảng bộ, chính quyền huyện, các lĩnh vực về kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh
quốc phòng và xây dựng hệ thống chính trị đạt những kết quả quan trọng.
Chính trị ổn định; an ninh- quốc phòng được giữ vững, trật tự an toàn xã hội
được đảm bảo; kinh tế tăng trưởng khá; chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng tích cực; chương trình xây dựng nông thôn mới được triển khai sâu

21


rộng và đạt kết quả tích cực; môi trường đầu tư được cải thiện; các ngành dịch
vụ phát triển; cơ sở hạ tầng kinh tế- xã hội ở cả đô thị và nông thôn ngày càng
được cải thiện. Các lĩnh vực văn hóa- xã hội có nhiều khởi sắc, có 90,1% số
gia đình đạt tiêu chuẩn văn hoá, 80% số khu dân cư đạt văn hoá; 100% các
khu dân cư có nhà văn hoá; quốc phòng, an ninh được giữ vững; an sinh xã
hội được đảm bảo; bình quân thu nhập/đầu người/năm đạt 34 triệu đồng, đời
sống nhân dân được nâng lên rõ rệt10. Năm 2003, Đảng bộ và nhân dân huyện
Lâm Thao đã vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực
lượng vũ trang nhân dân (thời kỳ chống Pháp); năm 2014, được Chính phủ
tặng cờ thi đua.
Những thành về kinh tế, văn hóa - xã hội của huyện những năm qua đã
tạo đà cho việc phát triển sự nghiệp văn hóa nói chung, công tác xây dựng đời
sống văn hóa ở cơ sở nói riêng trên địa bàn huyện thuận lợi.
2. Thực trạng công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở trên địa bàn
huyện Lâm Thao giai đoạn 2010 – 2015
2.1- Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp
trong huyện
Thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về xây dựng và phát
triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, góp phần làm
cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, vào từng con người, mỗi
gia đình, tập thể, từng địa bàn dân cư và các lĩnh vực sinh hoạt, quan hệ con
người và các cộng đồng.
Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Lâm Thao luôn phát huy
truyền thống anh hùng, đoàn kết, phát huy nội lực, tranh thủ thời cơ, quyết
tâm xây dựng quê Lâm Thao giàu mạnh, trở thành vùng kinh tế động lực của
tỉnh Phú Thọ; luôn giữ gìn, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc
vùng Đất Tổ.
10

Huyện ủy Lâm Thao, Báo cáo chính trị năm 2014, Tr 8

22


Trên cơ sở các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương, của Tỉnh ủy;
Ban Chấp hành Đảng bộ huyện đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng và
ban hành một số văn bản chủ yếu để kịp thời hướng dẫn, triển khai thực hiện
có hiệu quả Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII và các văn bản chỉ
đạo khác của Trung ương, của Tỉnh ủy về phát triển văn hóa 11 để triển khai
thực hiện từ huyện đến cơ sở, cụ thể, đã ban hành các văn bản:
- Nghị quyết số 14-NQ/HU, ngày 16/6/2002 của Huyện uỷ Lâm Thao về
“đẩy mạnh Cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá giai
đoạn 2002-2005”;
- Nghị quyết số 15-NQ/HU, ngày 05/7/2002 của Ban Thường vụ Huyện
uỷ về “củng cố, nâng cấp hệ thống phát thanh, truyền thanh huyện và cơ sở
giai đoạn 2002-2007”;
- Nghị quyết số 07/NQ-HĐND, ngày 23/7/2003 của HĐND huyện về
“thực hiện nếp sống văn minh trong việc cuới, việc tang, mừng thọ và lễ hội”;
- Nghị quyết số 05-NQ/HĐND, ngày 24/12/2009 của HĐND huyện về
sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 07 về thực hiện nếp sống văn
minh trong việc cuới, việc tang, mừng thọ và lễ hội;
- Kế hoạch số 685/KH- UBND ngày 06/9/2000 của UBND huyện Lâm
Thao về tổ chức thực hiện phong trào TDĐKXDDDSVH;
- Kế hoạch số 1585/KH-UBND, ngày 13/10/2011 của UBND huyện về
“xây dựng các thiết chế văn hoá giai đoạn 2011-2015”;
- Kế hoạch số 1505/KH-UBND, ngày 13/12/2013 của UBND huyện về
“Thực hiện phong trào TDĐKXDDDSVH huyện Lâm Thao giai đoạn 2014 –
2015”;
11

Nghị quyết TW5 khóa VIII, Kết luận Hội nghị TW 10 (khoá IX) về tiếp tục thực hiện NQTW5 (khoá
VIII); Kết luận 51 của Bộ Chính trị (khoá X) về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị 27-CT/TW, của Bộ Chính trị
(khoá VIII); Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ
thuật thời kỳ đổi mới; Chỉ thị số 46-CT/TW (khoá X) về chống sự xâm nhập của các sản phẩm văn hoá độc
hại gây huỷ hoại đạo đức xã hội, Nghị quyết Hội nghị TW9 khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con
người Việt Nam

23


x

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×