Tải bản đầy đủ

Đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng tại Thành phố Hồ Chí Minh

Báo cáo kết quả nghiên cứu thực tế 
 
 

Đánh giá nghèo
có sự tham gia của cộng đồng tại
Thành phố Hồ Chí Minh
*** 
Báo cáo được thực hiện bởi  
Trịnh Hồ Hạ Nghi 
Huỳnh Thị Ngọc Tuyết  
với phần bổ sung của Bill Tod 

Tháng 7‐8/ 2003 


ii


Mục Lục
Danh mục các Bảng và Khung  ............................................................................................iii 

Lời nói đầu của Nhóm hành động chống đói nghèo.........................................................v 
Lời cảm ơn .............................................................................................................................vii 
Những chữ viết tắt ................................................................................................................ ix 
Tóm tắt Báo cáo  ...................................................................................................................... 1 
Phần 1: Giới thiệu  .................................................................................................................. 4 
Phần 2: Địa điểm Nghiên cứu  .............................................................................................. 8 
Phần 3: Nhận thức về nghèo, xu hướng nghèo, động thái nghèo, việc làm, những       
              rủi ro và tính dễ tổn thương .................................................................................. 12 
Phần 4: Tham gia và Tăng cường Năng lực trong việc Đưa ra các Quyết định tại              
              Địa phương  ............................................................................................................. 25 
Phần 5: Cải cách Hành chính công  .................................................................................... 32 
Phần 6: Di dân và các Vấn đề Đô thị.................................................................................. 39 
Tài liệu Tham khảo  .............................................................................................................. 48 
PHỤ LỤC 1: Phương pháp nghiên cứu  ............................................................................ 49 
PHỤ LỤC 2: Số liệu Tóm tắt Tham vấn tại Địa bàn Nghiên cứu .................................. 51 
PHỤ LỤC 3: Danh sách thành viên nhóm khảo sát thực địa  ........................................ 54 
PHỤ LỤC 4: Các loại hình thức cư trú đối với quản lý hành chính ............................. 55 
PHỤ LỤC 5: Quan hệ đối tác trong Đánh giá nghèo theo vùng ................................... 57

iii


Danh mục các Bảng và Khung
Bảng
Bảng 1: Dân số huyện Bình Chánh, Thị Trấn An Lạc và Xã Tân Tạo .............................. 9  
Bảng 2: Dân số Quận 8, Phường 4 và Phường 5 ............................................................... 11 
Bảng 3: Tính đa khía cạnh của tình trạng nghèo .............................................................. 18 
Bảng 4: Ý kiến của cán bộ và người dân địa phương về các lĩnh vực  
              dân chủ cơ sở ........................................................................................................... 27 
Bảng 5: Ý kiến của cán bộ và người dân địa phương về cơ chế tăng cường sự  
               tham gia và đảm bảo việc phổ biến, trao đổi thông tin .................................... 29 
Bảng 6: Dân chủ cơ sở trực tiếp và đại diện ...................................................................... 30

Khung
Khung 1: Tiêu chí xác định hộ nghèo của chương trình Xoá Đói Giảm Nghèo........... 15 
Khung 2: Ý nghĩa của các nguồn lực chính trị và xã hội đối với người nghèo ............ 16  
Khung 3: Người nghèo nhận thức được chất lượng cuộc sống của họ thấp kém ....... 17 
Khung 4: Quy trình xét chọn hộ hưởng chương trình Xoá đói giảm nghèo  
                  tại khu phố ........................................................................................................... 31 
Khung 5: Rơi vào cảnh nghèo vì tác động của quy hoạch đô thị................................... 45 


iv


Lời nói đầu của
Nhóm hành động chống đói nghèo
 
Tháng 5 năm 2002, Chính phủ Việt Nam đã hoàn thành Chiến lược toàn diện về tăng 
trưởng  và  xoá  đói  giảm  nghèo  (CPRGS)  và  bắt  đầu  quá  trình  triển  khai  thực  hiện 
CPRGS  ở  cấp  địa  phương.  Thông  qua  các  chiến  dịch  thông  tin  và  hàng  loạt  các  hội 
thảo vùng, cán bộ của các bộ ngành chủ chốt đã giải thích cho đại diện của các chính 
quyền  địa  phương  về  các  phương  pháp  sao  cho  các  quy  trình  lập  kế  hoạch  của  địa 
phương có thể được thực hiện theo định hướng vì người nghèo hơn, dựa trên số liệu 
thực tế hơn, chú trọng vào kết quả hơn, cân đối tốt hơn trong các quyết định phân bổ 
nguồn lực và được giám sát tốt hơn.  
 
Năm 2003 Nhóm hành động chống đói nghèo (PTF) đã hỗ trợ thực hiện cho các đánh 
giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng (PPAs) ở 12 tỉnh của Việt Nam. Những đánh 
giá nghèo này đã sử dụng khung nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu chung để 
tìm hiểu những vấn đề nghèo đói mà các số liệu định lượng đã không mô tả được hết. 
Mục đích của việc làm này là đưa ra một nghiên cứu có thể sử dụng cùng với số liệu 
của Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam để cung cấp thông tin cho Ban thư ký 
CPRGS về tiến độ thực hiện CPRGS cho tới nay. Đánh giá nghèo cũng được thiết kế 
để cung cấp thông tin cho các nghiên cứu mới về nghèo đói ở các vùng và trên toàn 
quốc  và  các  nghiên  cứu  này  cũng  đã  được  công  bố  riêng.  Các  đánh  giá  nghèo  theo 
vùng sẽ được sử dụng như những công cụ xây dựng năng lực cho các quy trình lập kế 
hoạch với định hướng vì người nghèo ở các cấp chính quyền địa phương.  
 
Tám nhà tài trợ đã đóng góp nguồn lực tài chính và nhân lực để hỗ trợ cho các đánh 
giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng, là cơ sở cho việc xây dựng báo cáo này và 
các đánh giá nghèo theo vùng bổ sung. Các nhà tài trợ bao gồm ADB, AusAID, DFID, 
GTZ, JICA, SCUK, UNDP và Ngân hàng Thế giới. Mỗi nhà tài trợ đóng vai trò chính ở 
một vùng của Việt Nam. Việc phân bố các vùng giữa các nhà tài trợ được tóm tắt ở 
Bảng A, và dựa trên định hướng hoạt động của các nhà tài trợ trong từng lĩnh vực. 
Bằng  cách  lựa  chọn  vùng  nào  mình  thấy  quen  thuộc  nhất,  thông  qua  các  dự  án  và 
hoạt động hỗ trợ kỹ thuật, các nhà tài trợ có thể tận dụng hoàn toàn được những hiểu 
biết tích luỹ được khi đã làm việc tại vùng đó.  
 
Các nhóm nghiên cứu đã tiến hành đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng ở 43 
xã  rải  rác  trên  toàn  quốc.  Trong  số  đó  có  hai  tổ chức  phi  chính  phủ  quốc tế  (Action 
Aid và SCUK), các tổ chức phi chính phủ và các cơ quan nghiên cứu của Việt Nam, 
bao gồm Trung tâm phát triển nông thôn, Viện xã hội học (IOS), Trung tâm Chăm sóc 
sức  khoẻ  ban  đầu  Long  An,  Trung  tâm  dịch  vụ  phát  triển  nông  thôn  (RDSC)  và 
Vietnam Solutions.  Ngoài ra, có hai nhà tài trợ đã tiến hành nghiên cứu bằng cách lập 
các nhóm nghiên cứu gồm các chuyên gia trong nước dưới sự quản lý trực tiếp của 
nhà  tài  trợ.  Kiến  thức  và  kinh  nghiệm  của  các  tổ  chức  phi  chính  phủ  và  cơ  quan 
nghiên  cứu  đóng  vai  trò  then  chốt  đối  với  chất  lượng  của  công  tác  này.  Một  cơ  chế 
phối hợp đã được hình thành cho công tác đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng 

v


đồng. Các thành viên của hầu hết các nhóm nghiên cứu đã tham gia xây dựng khung 
nghiên cứu và đi đến thống nhất về mục tiêu cần đạt được trong công tác nghiên cứu 
thực  địa.  Công  tác  thực  địa  đã  được  một  số  nhóm  tiến  hành  thí  điểm,  và  đề  cương 
nghiên cứu cũng được chỉnh sửa cho phù hợp với những bài học kinh nghiệm được 
rút  ra.  Khuôn  khổ  nghiên  cứu  cuối  cùng  bao  quát  những  lĩnh  vực  nghiên  cứu  như 
sau: 










Nhận thức về nghèo đói và xu hướng nghèo, nguyên nhân dẫn tới nghèo và 
khả năng dễ bị tổn thương; 
Tiến bộ trong công tác tăng cường dân chủ ở cấp cơ sở, đặc biệt là mức độ các 
hộ nghèo có thể tham gia một cách có ý nghĩa vào các quy trình xây dựng kế 
hoạch và lập ngân sách; 
Những  thách  thức  trong  việc  cung  cấp  các  dịch vụ  cơ  bản,  tập  trung  vào  sự 
tương tác của các hộ gia đình nghèo với các nhà cung cấp dịch vụ và các hộ 
nghèo có thể được tăng cường quyền lực như thế nào để có thể yêu cầu quyền 
lợi được cung cấp các dịch vụ cơ bản một cách hiệu quả hơn; 
Các cơ chế trợ cấp xã hội hiện nay (liên quan tới công tác xác định đối tượng 
ưu tiên ở trên) và cách thức cải thiện các cơ chế này;  
Tình hình cải cách hành chính công ở các cấp chính quyền địa phương; 
Những thách thức trong vấn đề di dân và mối liên hệ giữa sự di chuyển của 
hộ gia đình, nghèo đói và tiếp cận với dịch vụ; và, 
Thông  tin  về  môi  trường  đối  với  người  nghèo  và  sự  thay  đổi  của  tình  hình 
này. 

Những Đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng hiện nay đang được công bố 
thành bộ. Một báo cáo tổng hợp các kết quả của cả 43 xã và phân tích một cách tổng 
hợp hơn các chủ đề này cũng sẽ được công bố. Cũng sẽ có một báo cáo khác tóm tắt 
phương  pháp  tiếp  cận,  phương  pháp  nghiên  cứu  được  sử  dụng  và  những  câu  hỏi 
nghiên cứu chi tiết.  

vi


Lời cảm ơn
Chúng tôi xin chân thành cám ơn sự chỉ đạo và hỗ trợ quý báu và kịp thời của Ủy Ban 
Nhân  Dân  Thành  Phố  Hồ  Chí  Minh,  Ban  Chỉ  Đạo  Chương  Trình  Xóa  Đói  Giảm 
Nghèo  và  Việc  Làm  (Sở  Lao  Động  Thương  Binh  Xã  Hội),  chính  quyền  Huyện  Bình 
Chánh, Thị trấn An Lạc, Xã Tân Tạo, và chính quyền Quận 8, Phường 4, và Phường 5, 
trong suốt quá trình nghiên cứu. Đặc biệt, xin cảm ơn sự cộng tác nhiệt tình và đầy 
tính trách nhiệm của các cán bộ chuyên trách chương trình Xoá Đói Giảm Nghèo cấp 
thành phố, quận/huyện và phường/ xã/ thị trấn đã góp phần quyết định vào sự thành 
công của đợt khảo sát, đồng thời minh chứng cho tính tham gia là phương pháp chủ 
đạo của tất cả các cuộc đánh giá nghèo được thực hiện từ năm 1999 đến nay.  
 
Chúng tôi cũng xin cám ơn các tổ chức đoàn thể, các tổ trưởng tổ dân phố, ban vận 
động khu phố/ ấp được chọn khảo sát đã vận động người dân tham gia tích cực và tổ 
chức  chu  đáo  các  buổi  họp  dân,  tạo  ra  bầu  khí  cho  sự  tham  gia  tích  cực,  cởi  mở  để 
nhóm nghiên cứu có được các thông tin xác thực từ chính người dân địa phương. 
 
Xin  cám  ơn  T.S.  Martin  Rama,  Th.S.  Carrie  Turk  (Ngân  Hàng  Thế  Giới),  và  Th.S. 
Nguyễn Văn Thuần (Cơ quan Phát triển Quốc tế Úc), đã hỗ trợ công việc nghiên cứu, 
đặc biệt về phương pháp, trong suốt các giai đoạn chuẩn bị, thực địa, cũng như viết 
báo cáo. 
 
Cuối cùng, xin chân thành cám ơn những người dân đã trực tiếp tham gia nghiên cứu 
thông  qua  các  hoạt  động  thảo  luận  nhóm,  phân  hạng  kinh  tế  hộ,  phỏng  vấn  sâu 
trường hợp điển cứu và các ý kiến thực tế, chân tình, xây dựng để nghiên cứu này có 
thể hoàn thành tốt đẹp.  

vii


Đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng tại Thành phố Hồ Chí Minh

viii


Tóm tắt Báo cáo

Những chữ viết tắt
 
BHYT 
CCHC 
CG 
CP 
CPRGS 
DCCS 
GDP 
HDI 
HĐND 
LĐTBXH 
NĐ‐CP 
PPA 
SCUK 
TDP 
TPHCM 
UBND 
XĐGN 

     Bảo Hiểm Y Tế 
     Cải Cách Hành Chính 
     Consultative Group (Nhóm Tư Vấn Các Nhà Tài Trợ) 
     Chính Phủ 
     Chiến Lược Toàn Diện về Tăng Trưởng và Xoá Đói Giảm Nghèo 
     Dân Chủ Cơ Sở 
     Gross Domestic Products (Tổng sản phẩm quốc nội) 
     Human Development Index (Chỉ số phát triển con người) 
     Hội Đồng Nhân Dân 
     Lao Động Thương Binh Xã Hội 
     Nghị Định Chính Phủ 
     Participatory Poverty Assessment (Đánh giá Nghèo có sự tham gia của 
cộng đồng) 
     Save The Children United Kingdom (Tổ Chức Cứu Trợ Trẻ Em Anh) 
     Tổ Dân Phố 
     Thành Phố Hồ Chí Minh 
     Ủy Ban Nhân Dân 
     Xóa Đói Giảm Nghèo 

ix


Đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng tại Thành phố Hồ Chí Minh

x


Tóm tắt Báo cáo

Tóm tắt Báo cáo
Nhận thức về nghèo, xu hướng nghèo, động thái nghèo, việc làm, những rủi ro
và tính dễ tổn thương
Cuối  năm  nay  (2003),  Thành  phố  Hồ  Chí  Minh  phấn  đấu  xoá  nghèo  theo  tiêu  chí 
nghèo của Thành phố. Tuy nhiên, kết quả cuộc nghiên cứu Đánh giá tình trạng nghèo 
có sự tham gia này cho thấy có sự chênh lệch đáng kể giữa số hộ nghèo được chương 
trình Xoá Đói Giảm Nghèo xác định và con số hộ được người dân địa phương cho là 
nghèo.  Khi  phân  hạng  kinh  tế  hộ,  trong  mỗi  tổ  dân  phố,  người  dân  xác  định  có 
khoảng 30% đến 50% hộ gia đình là “nghèo” hay “rất nghèo” (so với hộ “khá giàu” và 
“trung bình”). Trong khi đó, chương trình Xoá Đói Giảm Nghèo thường xác định có 
từ 2 đến 7 hộ trong mỗi tổ dân phố, tức khoảng 4% đến 15% tổng số hộ là nghèo. 
 
Trong  khi  có  một  số  người  dân  được  tham  khảo  ý  kiến  cho  rằng  cuộc  sống  khá  lên 
trong vài năm qua (nhất là nhờ bán đất hay tài sản khác – dù điều này không đảm bảo 
sinh kế bền vững), số đông còn lại cho rằng cuộc sống trở nên khó khăn hơn và than 
phiền không đủ ăn, cho con cái nghỉ học sớm và sống lây lất qua ngày.  
 
Có  nhiều  nguyên  nhân  lý  giải  cho  cuộc  sống  ngày  càng  khó  khăn,  chứng  tỏ  rằng 
nghèo không chỉ là thu nhập ít ỏi, mà còn là chi phí sống cao, công việc bấp bênh, sức 
khỏe  kém,  không  được  học  hành,  nhà  cửa  không  an  toàn  và  kém  vệ  sinh,  các  mối 
quan hệ xã hội bị hạn chế, và cách biệt giàu nghèo ngày càng tăng.  
 
Công việc làm vẫn còn là thách đố lớn đặt ra cho người nghèo. Người nghèo gần như 
không thể tìm việc làm nhờ các trung tâm giới thiệu việc làm của nhà nước. Còn tìm 
việc nhờ các dịch vụ việc làm tư nhân thì có rủi ro cao, và có nhiều dịch vụ mang tính 
ʺlừa đảoʺ. Những công nhân không có tay nghề, lớn tuổi, hay sức khoẻ kém gặp nhiều 
trắc trở trên con đường tìm việc. Một khi tìm được, tình trạng thiếu luật lệ hoặc luật lệ 
không  được  thực  thi  làm  cho  quyền  lợi  của  công  nhân  thường  không  được  bảo  vệ. 
Công nhân nữ trẻ (chiếm 90% lực lượng lao động trong nhiều xí nghiệp) tỏ ra lo ngại 
về sự cô lập xã hội của họ. 
Tham gia và tăng cường năng lực trong việc đưa ra các quyết định tại địa
phương
Lúc đợt nghiên cứu đánh giá nghèo có sự tham gia này đang tiến hành, các phường/ 
xã/ thị trấn đang tổng kết 5 năm thực hiện Nghị định 29 (Dân chủ cơ sở – DCCS) chủ 
yếu tập trung vào các lĩnh vực sau: 14 việc dân biết đến, 6 việc dân bàn bạc và quyết 
định trực tiếp, 8 việc dân tham gia ý kiến, HĐND và UBND quyết định, 10 việc dân 
giám sát, kiểm tra. Các cán bộ và người dân địa phương đều đồng ý rằng đã có nhiều 
tiến bộ trong việc thực hiện các nội dung tuyên truyền, phổ biến DCCS và các chính 
sách  khác  của  nhà  nước,  thái  độ  tiếp  dân  tích  cực  hơn  trong  các  cơ  quan  nhà  nước, 
bầu  cử  đại  biểu  Hội  đồng  Nhân  dân,  đóng  góp  vào  các  khoản  quỹ  địa  phương  và 
phát triển cơ sở hạ tầng địa phương. Các cán bộ chính quyền quận/ huyện và phường/ 
xã/ thị trấn cho rằng khâu có nhiều hạn chế duy nhất là vấn đề công khai ngân sách 
địa phương. 
 

1


Đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng tại Thành phố Hồ Chí Minh

Tuy nhiên, người dân địa phương còn thấy được các điểm yếu kém khác như: những 
người dân nhập cư nghèo, thanh niên, và trẻ em ít tham gia hơn so với những nhóm 
dân thường trú; các tổ trưởng tổ dân phố (những người đóng vai trò thiết yếu trong 
việc  đưa  ra  các  ý  kiến  hướng  dẫn)  có  năng  lực  làm  việc  rất  khác  nhau;  đại  biểu  Hội 
đồng  Nhân  dân  thường  là  các  cán  bộ  địa  phương;  việc  thực  hiện  DCCS  chỉ  giới  hạn 
trong khuôn khổ UBND, không ít trường hợp bị hạn chế vì thiếu sự phối kết hợp với 
các cơ quan ngành dọc như giáo dục và quản lý đô thị. 
  
Ý kiến đề xuất chủ yếu là cần thay đổi bản chất tham gia từ khá bị động và một chiều 
(chẳng  hạn  như  được  thông  báo)  như  hiện  nay  trở  nên  chủ  động  hơn  và  có  sự  bàn 
bạc, trao đổi, tham khảo ý kiến hai chiều (ví dụ như về việc đóng các khoản phí ngoài 
học phí), và chuyển sang giám sát chủ động hơn sau này (chẳng hạn như xác định đối 
tượng hỗ trợ xã hội và giám sát việc thực hiện chương trình XĐGN). Cần phải thu hẹp 
khoảng cách nhận thức của các cán bộ địa phương và của người dân địa phương về 
các vấn đề vừa nêu trên. 
Cải cách hành chính
Các cán bộ địa phương và người nghèo ghi nhận có một số cải tiến đáng kể trong lĩnh 
vực dịch vụ quản lý hành chính, điển hình là dịch vụ “một cửa một dấu” cho chứng 
nhận các loại giấy tờ tuỳ thân. Tuy nhiên, theo ý kiến người nghèo, còn nhiều vấn đề 
tồn tại trong lĩnh vực nhà đất – địa chính và đăng ký nhân hộ khẩu, chẳng hạn như 
vẫn  còn  nhiều  các  thủ  tục  phức  tạp  và  làm  mất  nhiều  thời  gian,  tình  trạng  tham 
nhũng và năng lực, phẩm chất cán bộ địa phương làm việc trong các ngành này, đã và 
đang ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống của họ. 
 
Về phân cấp quản lý, cán bộ cấp quận/ huyện và phường/ xã cho rằng còn có sự mơ 
hồ,  chồng  chéo,  không  phân  biệt  rõ  ràng  chức  năng,  nhiệm  vụ  của  các  cấp,  các  ban 
ngành.  Cán bộ  cả  hai  cấp  đều  tán  thành  phân  cấp  quản  lý  nhiều  hơn  cho  cấp  cơ  sở 
phường/ xã theo hướng vì người nghèo, tuy nhiên, sự phân cấp này phải đi cùng với 
các giải pháp nhằm nâng cao tính hiệu quả và hiệu lực, ví dụ như hợp lý hoá sự phân 
công phân cấp, cải thiện các luồng thông tin và các mối liên kết, phối hợp công tác, 
tăng cường tính công khai, minh bạch và đơn giản hóa các thủ tục và quy định, tạo ra 
nhiều hơn sự kiểm tra, giám sát và xem xét việc phân bổ kinh phí và nhân sự cho phù 
hợp với thực tế tình hình các địa phương (có tính đến tốc độ phát triển và sự gia tăng 
dân số ở một số khu vực phường/ xã). 
 
Bản thân người nghèo có những nhận thức khác nhau, nhưng thường rất hạn chế, về 
cải  cách  hành  chính  và  các  ảnh  hưởng,  liên  quan  giữa  cải  cách  hành  chính  công 
(CCHC) với họ, đồng thời họ thấy mình khó tác động đến tiến trình thực hiện CCHC. 
Di dân và các vấn đề đô thị
Một số thông tin quan trọng nhất ghi nhận được về các quan tâm của cộng đồng về các 
vấn đề di dân và đô thị hóa tại hai quận huyện khảo sát có thể được tóm tắt như sau: 
 
‐    Có khoảng 34% ‐ 40% dân số không có hộ khẩu thường trú (đặc biệt ở một xã 
của huyện Bình Chánh, tỉ lệ này lên đến 65%) 
‐    Từ năm 1999 đến nay, số cư dân của các khu vực khảo sát tăng khoảng 28% 
đến 39% (có một xã của huyện Bình Chánh tỉ lệ tăng dân số lên đến 64%)  

2


Tóm tắt Báo cáo

Các hệ quả của tình trạng thiếu hộ khẩu thường trú một lần nữa lại được người dân 
nêu ra (tương tự như lần đánh giá nghèo năm 1999 và tham khảo ý kiến cộng đồng về 
Chiến lược tăng trưởng và giảm nghèo năm 2002), như: không bình đẳng quyền lợi 
trong  tiếp  cận  giáo  dục,  chăm  sóc  sức  khoẻ,  thụ  hưởng  chương  trình  Xoá  đói  giảm 
nghèo, các chương trình tín dụng và các hỗ trợ xã hội khác cũng như phải trả các chi 
phí cao cho điện, nước và các phí tổn cho gia hạn đăng ký tạm trú.  
 
Ngoài ra, trong khi người nhập cư là người phải  gánh chịu sự thiếu an toàn do tình 
trạng cư trú tạm thời của họ thì người dân nghèo tại chỗ là những người bị ảnh hưởng 
bởi các dự án quy hoạch đô thị lại phàn nàn nhiều về tình trạng bấp bênh, không ổn 
định, thiếu sự công khai rõ ràng, thiếu tư vấn cộng đồng và sự chậm trễ, kéo dài (trong 
một số trường hợp đến hơn 5 năm) của các dự án thuộc quy hoạch “treo”. 
 
Các kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội không căn cứ trên số cư dân hiện đang sinh 
sống tại địa phương (vì chỉ có lực lượng công an nắm số liệu về số dân nhập cư để 
quản lý trật tự trị an) mà chỉ căn cứ trên số dân có đăng ký thường trú. Các kế hoạch 
này vì thế không theo hướng giảm nghèo, chí ít là xét trên khía cạnh không tính đến 
các nhóm dân nghèo mới di chuyển từ nông thôn vào thành phố. Cũng vì thế, người 
nhập cư là người nghèo không được nhận diện. 
 
Tuy  nhiên,  nếu  so  sánh  với  các  cuộc đánh  giá  nghèo  có  sự  tham  gia  của  cộng  đồng 
trước đây, có sự thay đổi đáng ghi nhận nhất về thái độ của các lãnh đạo và viên chức  
các cấp là hiện nay nhiều người cởi mở chấp nhận có những thiếu sót trong cách tiếp 
cận hiện hành, công nhận nhiều hơn các quyền lợi bình đẳng của người nhập cư với 
tư cách là những công dân Việt Nam như là những người Việt Nam khác, nhìn nhận 
vai trò quan trọng của họ trong sự phát triển kinh tế của Thành phố và vì thế cần có 
sự vận dụng mềm dẻo, linh hoạt hơn các quy định về đăng ký cư trú. 

3


Đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng tại Thành phố Hồ Chí Minh

Phần 1: Giới thiệu
Cơ sở và mục đích nghiên cứu
Theo số liệu chính thức năm 2003, thành phố Hồ Chí Minh là địa phương đạt thành 
tựu  về  tổng  sản  phẩm  quốc  nội  đầu  người  (GDP  per  capita)  cao  thứ  nhì1  và  chỉ  số 
phát triển con người (HDI) cao thứ ba2 trong 61 tỉnh thành trên toàn quốc. Theo Ban 
Chỉ Đạo Xóa Đói Giảm Nghèo và Việc Làm Thành phố, số người sống dưới ngưỡng 
nghèo  hiện  nay  đang  giảm  dần,  còn  1.74%  đến  tháng  10/20033,  và  Thành  phố  phấn 
đấu  cuối  năm  nay  sẽ  xóa  nghèo  theo  chuẩn  nghèo  hiện  tại.  Cũng  xin  lưu  ý  rằng 
ngưỡng nghèo Thành phố được quy định ở mức tương đối cao hơn nhiều so với các 
tỉnh thành khác. 
 
Tuy nhiên, các thông số trên chưa phản ánh tình trạng có một số lượng lớn người dân 
chưa  hoặc  không  đăng  ký  cư  trú,  hầu  hết  là  những  người  nhập  cư  từ  các  tỉnh  khác 
đến Thành phố mưu sinh, hoặc sinh sống tạm thời hoặc có thể định cư lâu dài tại đây. 
Mục  tiêu  nghiên  cứu  Đánh  giá  tình  trạng  nghèo  có  sự  tham  gia  lần  này4  nhằm  tìm 
hiểu  thực  chất  những  vấn  đề  nghèo  phát  sinh  trong  quá  trình  đô  thị  hóa  mạnh  mẽ 
đang diễn ra tại Thành phố mà các con số thống kê không đo lường được.  
 
Với mục tiêu như vậy, nghiên cứu này vừa là một nghiên cứu về vấn đề nghèo đô thị 
của  thành  phố  Hồ  Chí  Minh,  vừa  là  một  phần  của  nghiên  cứu  đánh  giá  tình  trạng 
nghèo trên cả nước, với khung nghiên cứu được Bộ Kế hoạch Đầu tư, Ngân hàng Thế 
giới, và Nhóm Hành động chống đói nghèo, các viện nghiên cứu và tổ chức phi chính 
phủ  Việt  Nam  cùng  thực  hiện;  với  công  tác  thực  địa  và  báo  cáo  được  Nhóm  Hành 
động chống đói nghèo, chính quyền địa phương các cấp, và người dân tại cộng đồng 
của 12 tỉnh thành thuộc 7 vùng trên toàn quốc cùng đồng loạt tiến hành. Vì vậy, kết 
quả của nghiên cứu này, cùng với các nghiên cứu Đánh giá Tình trạng nghèo (PPA) 
khác và Điều tra Mức sống Hộ gia đình 2002, sẽ đóng góp vào báo cáo tiến độ thực 
hiện Chiến lược Toàn diện về Tăng trưởng và Giảm nghèo, sẽ được trình bày tại cuộc 
họp Nhóm Tư vấn các nhà tài trợ tháng 12 năm 2003, cũng như đóng góp vào bản Báo 
cáo Phát triển Việt Nam 2004 của các tổ chức tài trợ. Nói một cách khác, một mặt, kết 
quả của nghiên cứu này sẽ góp phần nâng cao năng lực cán bộ chính quyền ở cấp tỉnh 
thành và các cấp thấp hơn nhằm làm cho các quá trình lập kế hoạch địa phương nhận 
được  thông  tin  dữ  liệu  tốt  hơn  nhờ  các  công  trình  nghiên  cứu  phân  tích  được  xây 
dựng trên nền tảng tham gia mang tính chất đối thoại của người nghèo về chính sách. 
Mặt khác, kết quả nghiên cứu sẽ được hướng đến việc lấp đầy những khoảng trống 
phân tích trong Chiến lược Toàn diện về Tăng trưởng và Giảm nghèo và hỗ trợ tăng 
cường khung giám sát  Chiến lược, đặc biệt về những vấn đề liên quan đến quản lý 
nhà nước và cung cấp dịch vụ. 
1  5.209  đô‐la  Mỹ  (sau  Bà  Rịa  Vũng  Tàu:  14.470)  (Đổi  mới  và  Phát  triển  Con  người  ở  Việt  Nam.  Nhà  xuất  bản 
Chính trị Quốc gia. 2001.) 
2 0,796 (sau Bà Rịa – Vũng Tàu 0,835 và Hà Nội 0,798 (Đổi mới và Phát triển Con người ở Việt Nam. Nhà xuất 
bản Chính trị Quốc gia. 2001.) 
3 Báo Sài Gòn Giải Phóng ngày 16/10/2003, trang 1. 
4 Nghiên cứu Đánh giá tình trạng nghèo có sự tham gia vào năm 1999 (SCUK 1999) và Tham khảo ý kiến cộng 
đồng về  Chiến Lược Toàn Diện về Tăng Trưởng  và Xóa Đói Giảm Nghèo (CPRGS) vào cuối năm 2001 (SCUK 
2002) đã có một số phát hiện về các khía cạnh nghèo và mối tương quan giữa vấn đề nghèo và di dân. 

4


Phần 1: Giới thiệu

Mục tiêu cụ thể
Nghiên cứu Đánh giá Tình trạng nghèo này nhằm tìm hiểu quan điểm cấp cơ sở về 
nguyên nhân và xu hướng nghèo, và phản hồi của người dân nghèo về những nỗ lực 
thực hiện chính sách hướng về người nghèo như chính sách giảm nghèo, quy chế dân 
chủ cơ sở, cải cách hành chính, vấn đề di dân và các vấn đề đô thị khác. Cụ thể, đợt 
nghiên cứu này nhằm tìm hiểu các vấn đề sau: 

nhận  thức  về  nguyên  nhân  và  xu  hướng  nghèo,  động  thái  nghèo,  việc  làm, 
những rủi ro, tính tổn thương  

tiến  độ  tăng  cường  thực  hiện  dân  chủ  cấp  cơ  sở,  đặc  biệt  là  mức  độ  các  hộ 
nghèo  có  thể  tham  gia  một  cách  có  ý  nghĩa  vào  quá  trình  lập  kế  hoạch  và 
ngân sách ở địa phương  

việc cải cách hành chính diễn ra ở cấp chính quyền địa phương như thế nào  

vấn đề về di dân trong bối cảnh đô thị và những vấn đề liên quan.  
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên  cứu  này  là  một  nghiên  cứu  Đánh  giá  Tình  trạng  nghèo  có  sự  tham  gia  của 
người dân (PPA), là một phương pháp không ngừng được công nhận trong thập kỷ 
vừa  qua  như  là  “một  công  cụ  để  ghi  nhận  quan  điểm  người  nghèo  trong  phân  tích 
vấn đề nghèo và hình thành các chiến lược để giảm nghèo bằng chính sách công”5. Là 
một PPA, trước hết nghiên cứu này nhằm nâng cao khái niệm và sự hiểu biết về vấn 
đề nghèo bằng cách tham vấn ý kiến người nghèo về nguyên nhân nghèo, dựa trên đó 
các chính sách giảm nghèo có thể được thực hiện hiệu quả hơn nhờ xác định những 
hành động ưu tiên giải quyết các vấn đề mà người nghèo nhận thấy quan trọng. Thứ 
hai,  nghiên  cứu  nhằm  tăng  cường  sự  tham  gia  của  người  nghèo,  nhờ  vậy  khuyến 
khích cơ chế hiệu quả hơn cho việc học hỏi và phản hồi về các kết quả của các chính 
sách và chương trình. Thứ ba, nghiên cứu cũng nhằm làm sáng tỏ mức độ các chính 
sách chủ yếu của nhà nước (như Nghị định Dân chủ cơ sở và Cải cách Hành chính) 
được  biết  đến  và  hiểu  như  thế  nào,  tác  động  được  người  dân  cảm  nhận  của  những 
chính sách này, và mức độ các cơ quan nhà nước khác nhau được người dân tin cậy 
để phân phối lợi ích6. 
 
Dùng các phương pháp và công cụ PPA, nghiên cứu này được thiết kế để bổ sung cho 
đánh giá nghèo rút ra từ cuộc Điều tra Mức sống Hộ gia Đình của Tổng Cục Thống Kê 
bằng  việc  cung  cấp  những  thông  tin  một  nghiên  cứu  định  lượng  như  cuộc  Điều  tra 
không thể thu thập nắm bắt được, như sự đa khía cạnh của tình trạng nghèo, đơn vị 
phân tích (phân tích các yếu tố nghèo ngoài đơn vị hộ gia đình như tác động của nghèo 
lên những cá nhân khác nhau về tuổi tác và giới tính trong nội bộ hộ gia đình, hoặc các 
yếu tố cộng đồng như tiếp cận cơ sở hạ tầng), tính dễ tổn thương và các quá trình động 
thái.  
 
Để  đạt  được  điều  trên,  nghiên  cứu  Đánh  giá  Tình  trạng  nghèo  này  dùng  một  loạt  các 
phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội như thu thập thông tin thứ cấp để có được bối 
cảnh, cơ sở, và đối chiếu các ghi nhận chính; thảo luận nhóm tập trung, quan sát trực 
tiếp, phân hạng kinh tế hộ gia đình7, phỏng vấn cá nhân không cấu trúc và bán cấu trúc.  

5 Norton, Andy. Đánh giá Tình trạng nghèo có sự tham gia của người dân – Lý thuyết và Thực hành. Overseas 
Development Institute. 2001. 
6 ibid.
7 Xem Phụ lục 1. 

5


Đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng tại Thành phố Hồ Chí Minh

 
Dựa  trên  mục  tiêu  và  phương  pháp  nghiên  cứu  trên,  cuộc  nghiên  cứu  tình  trạng 
nghèo có sự tham gia của người dân lần này được thực hiện ở Thị trấn An Lạc và Xã 
Tân Tạo thuộc Huyện Bình Chánh, Phường 4 và Phường 5 Quận 8, là các quận huyện 
đang đô thị hóa có những đặc điểm và tốc độ phát triển khác nhau. Nghiên cứu thực 
địa kéo dài hai tuần, từ ngày 3 đến ngày 16 tháng 8 năm 2003. Ngoài ra còn có các giai 
đoạn chuẩn bị nghiên cứu, tập huấn, viết và thông qua báo cáo kết quả nghiên cứu.  
 
Trong  mỗi  phường,  xã,  hoặc  thị  trấn,  để  tham  khảo  ý  kiến  người  nghèo,  có  4  cuộc 
phân hạng kinh tế hộ, mỗi cuộc có 4 tham dự viên; và có 9 cuộc thảo luận nhóm, mỗi 
cuộc  có  khoảng  12  tham  dự  viên,  gồm  phụ  nữ  nghèo  địa  phương,  nam  nghèo  địa 
phương, phụ nữ nghèo nhập cư, nam nghèo nhập cư (ở độ tuổi từ 35‐55), thanh niên 
nam  nữ  nghèo  địa  phương  và  thanh  niên  nam  nữ  nghèo  nhập  cư  (ở  độ  tuổi  18‐25), 
thiếu  nhi  nghèo  địa  phương  và  thiếu  nhi  nghèo  nhập  cư  (ở  độ  tuổi  12‐16  tuổi),  và 
chính quyền, ban ngành, đoàn thể địa phương.  
 
Tương tự ở cấp quận huyện, thông tin và ý kiến được thu thập qua các buổi thảo luận 
nhóm với chính quyền quận huyện và chủ các doanh nghiệp nhỏ và vừa, mỗi nhóm 
khoảng 12 người tham dự.  
 
Tổng cộng toàn đợt nghiên cứu có 16 cuộc phân hạng kinh tế hộ, 41 cuộc thảo luận 
nhóm,  và  20  cuộc  phỏng  vấn  sâu  các  trường  hợp  điển  cứu  với  457  người  tham  dự, 
được phân chia theo lứa tuổi, giới tính, và vị trí xã hội như sau (xem phụ lục 2):  
 
• Theo tuổi: 271 người lớn (35‐55 tuổi), 92 thanh niên (18‐25 tuổi), và 94 trẻ em 
(12‐16 tuổi)  
• Theo giới: 223 nữ và 234 nam 
• Theo  vị  trí  xã  hội:  70  cán  bộ  chính  quyền,  17  đại  diện  doanh  nghiệp  nhỏ  và 
vừa,  và  370  người  dân  địa  phương  (trong  đó  193  người  thuộc  diện  KT1  và 
KT2, 177 người thuộc diện KT3 và KT4)  
• Theo dân tộc: Đại đa số tham dự viên là người Kinh. Chỉ có một số rất ít (11 
người) là người Hoa, và một (01) người là dân tộc thiểu số (Tày). 
 
Tổng số thành viên tham gia nghiên cứu gồm 47 người từ các tổ chức chính quyền, 
đoàn thể, các cơ quan nghiên cứu và giáo dục, được điều phối bởi tổ chức phi chính 
phủ là Tổ chức Cứu Trợ Trẻ Em Anh (SCUK). Trong số này có 5 người là nghiên cứu 
viên của phía SCUK, 9 người từ các viện nghiên cứu và trường đại học, cao đẳng; 15 
người  là  cán  bộ  chính  quyền,  ban  ngành,  đoàn  thể  địa  phương  3  cấp  (thành  phố, 
quận/ huyện, phường/ xã/ thị trấn) đã tích cực tham gia như là các nghiên cứu viên 
chính thức (xem Phụ lục 3). Trung bình mỗi quận/ huyện có 3 cán bộ quận/ huyện và 
một số cán bộ phường/ xã/ thị trấn tham gia hỗ trợ thảo luận nhóm bằng cách cùng 
hướng dẫn thảo luận hoặc ghi biên bản. Ngoài ra, các tổ trưởng và trưởng ban nhân 
dân  khu  phố/  ấp  đã  tích  cực  hỗ  trợ  xác  định  người  dân  nghèo  tham  gia  phân  hạng 
kinh tế hộ, thảo luận nhóm, phỏng vấn trường hợp điển cứu để nhóm nghiên cứu thu 
thập ý kiến và ghi nhận thông tin.  
 

6


Phần 1: Giới thiệu

Phạm vi và hạn chế của nghiên cứu

Là một PPA, nghiên cứu này không nhằm đưa ra một bức tranh tổng thể về sự phát triển 
kinh tế xã hội của TPHCM, cũng không nhằm đánh giá việc thực hiện chương trình xóa 
đói  giảm  nghèo,  một  chương  trình  đã  đạt  được  nhiều  thành  tựu  đầy  sức  thuyết  phục 
trong thập kỷ qua. Mục tiêu nghiên cứu này nhằm tìm hiểu các khía cạnh của thực trạng 
nghèo tại thành phố Hồ Chí Minh năm 2003 cũng như nêu bật những thách thức còn tồn 
tại trong bối cảnh Chính phủ đang nỗ lực cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân 
bằng  nhiều  biện  pháp  và  phương  thức  phát  triển  kinh  tế  xã  hội  và  giảm  nghèo  được 
khẳng định trong Chiến lược Toàn diện về Tăng trưởng và Giảm nghèo.  
 
Tham gia nghiên cứu này có 370 người dân địa phương nghèo (người lớn, thanh niên, 
và trẻ em), trong số 1.248 hộ nghèo (được chương trình Xóa đói Giảm nghèo xác định) 
tại các phường, xã, thị trấn nơi nghiên cứu được tiến hành. Vì vậy, để đảm bảo các kết 
luận được xác thực, đáng tin cậy và không thiên kiến, các phương pháp so sánh đối 
chiếu  thông  tin  dữ  liệu  được  áp  dụng  để  đưa  ra  thực  tiễn,  kinh  nghiệm,  ưu  tiên  và 
cảm nhận đại diện của người nghèo. 
Bố cục của báo cáo

Báo  cáo  này  được  chia  làm  6  phần.  Phần  1  giới  thiệu  chung  về  mục  tiêu,  địa  điểm, 
phương pháp và thành phần tham gia nghiên cứu. Các phần sau viết về bối cảnh của 
các địa bàn nghiên cứu thuộc TPHCM (Phần 2) và các thông tin liên quan đến nhận 
thức  về  nghèo  (Phần  3),  sự  tham  gia  và  trao  quyền  (Phần  4),  cải  cách  hành  chính 
(Phần 5), di dân và các vấn đề đô thị khác (Phần 6). Để tiện cho độc giả tham khảo, có 
một phần tóm tắt báo cáo (trang 1‐3), và ở đầu mỗi phần (từ Phần 3 đến 6) có phần 
tóm lược các thông tin ghi nhận chính.  

7


Đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng tại Thành phố Hồ Chí Minh

Phần 2: Địa điểm Nghiên cứu
Huyện Bình Chánh
Huyện Bình Chánh nằm phía tây nam Thành phố Hồ Chí Minh, nối liền Thành phố 
với Đồng bằng Sông Cửu Long bằng Quốc lộ 1. Huyện Bình Chánh có tổng diện tích 
30.458  héc‐ta,  trong  đó  có  khoảng  20.000  héc‐ta  đất  nông  nghiệp  và  3.000  héc‐ta  đất 
thổ cư. Huyện Bình Chánh có 1 thị trấn và 19 xã.  
 
Huyện có một (01) Trung tâm y tế, 3 phòng khám khu vực, 25 trường mẫu giáo, 53 
trường tiểu học và phổ thông cơ sở, 4 trường phổ thông và trung học cơ sở, một (01) 
trường đặc biệt bán tập trung cho trẻ khuyết tật, một (01) Trung tâm Dạy nghề (một 
cơ  sở  chính  và  4  cơ  sở  phụ)  trực  thuộc  Phòng  Lao  Động  Thương  Binh  Xã  hội),  một 
(01) Trung tâm Giáo dục Thường xuyên. 
 
Quá trình phát triển kinh tế và xã hội mạnh mẽ bắt đầu diễn ra tại Huyện Bình Chánh 
từ giữa những năm 1990. Quá trình này đã thu hút một làn sóng người nhập cư từ các 
quận huyện cũng như tỉnh thành khác đến. Hiện tại có 4 khu công nghiệp và khoảng 
900 xí nghiệp và doanh nghiệp (ngoài ra còn có hơn 11.000 hộ kinh doanh cá thể) hoạt 
động trên địa bàn Huyện, đa số tập trung vào một số xã như Tân Tạo, Lê Minh Xuân, 
Vĩnh Lộc A, và Thị trấn An Lạc. Vì vậy, dân số tăng trưởng với tốc độ hết sức nhanh, 
đến mức chính quyền địa phương cho rằng họ khó có thể đưa ra một con số thống kê  
chính xác về số lượng những người chưa/ không có hộ khẩu thường trú.  
 
Theo  thống  kê  vào  tháng  8  năm  2003,  có  43.733  hộ  gồm  461.647  người  cư  trú  tại 
Huyện Bình Chánh. Trong số này 182.449 người không có hộ khẩu thường trú (78.844 
diện  KT3  và  103.605  diện  KT4)  (xem  Phụ  lục  4  về  các  loại  hình  thức  cư  trú  đối  với 
quản  lý  hành  chính:  KT1,  KT2,  KT3,  và  KT4).  Sự  tăng  trưởng  dân  số,  đặc  biệt  là  số 
không có hộ khẩu thường trú đã tăng lên rất nhanh. So với thống kê điều tra dân số 
ngày 1 tháng 4 năm 1999, dân số đã tăng thêm khoảng 130.000 người (Bảng 1).
Thị trấn An Lạc
Thị trấn An Lạc có diện tích 600 héc‐ta, trong đó khoảng 170 héc‐ta đất thổ cư gồm 7 
khu  phố  và  185  tổ  dân  phố.  Nằm  dọc  theo  Quốc  lộ  1  và  là  cửa  ngõ  vào  đồng  bằng 
sông Cửu Long, thị trấn này đã chứng kiến quá trình đô thị hóa từ những năm 1980, 
sớm  hơn  khá  nhiều  so  với  những  xã  còn  lại  của  Huyện,  khi  các  xí  nghiệp  và  cơ  sở 
kinh doanh bắt đầu phát triển. Từ đó, quá trình đô thị hóa ở đây tiếp tục diễn ra cùng 
với  quá  trình  đô  thị  hóa  của  Huyện Bình  Chánh,  làm  cho dân  số  thị  trấn  cũng  tăng 
nhanh  tương  ứng.  Hiện  nay  thị  trấn  có  7.962  hộ  với  dân  số  47.920  người,  trong  đó 
khoảng 16.000 (tức một phần ba) người không trong diện đăng ký thường trú. Trong 
số này, đáng chú ý là gần 10.000 nhân khẩu thuộc diện KT4 chỉ được ghi nhận như là 
nhân khẩu chứ không được phân loại là hộ như các diện cư trú khác (KT1, KT2, KT3).  
Xã Tân Tạo
Xã Tân Tạo là một trong những xã có diện tích lớn nhất của Huyện Bình Chánh (1.738 
héc ta), với khoảng 70 héc ta đất thổ cư với 4 ấp và 158 tổ dân phố Tân Tạo cũng là một 
trong 4 xã có tiến trình đô thị hoá nhanh và mạnh nhất trong huyện. So với Thị trấn An 
Lạc, sự gia tăng dân số của Tân Tạo đột biến hơn nhiều. Đến nay, Tân Tạo có 61.023 cư 

8


Phần 2: Địa điểm Nghiên cứu

dân với khoảng hai phần ba (2/3) (khoảng 40.000) thuộc diện đăng ký KT3 và KT4. Cũng 
như ở Thị trấn An Lạc, trong số này, khoảng 35.000 nhân khẩu diện KT4 chỉ được ghi 
nhận như là nhân khẩu. Có sự gia tăng dân số cao đột biến như vậy là do trên địa bàn 
xã các khu công nghiệp và các xí nghiệp, doanh nghiệp lớn, nhỏ, và vừa liên tục thành 
lập  và  đi  vào  hoạt  động  trong  vòng  5  năm  qua.  Theo  số  liệu  thống  kê  mới  nhất  của 
UBND huyện, hiện tại xã có 3 khu công nghiệp và 116 xí nghiệp lớn mới thành lập. 
Bảng 1. Dân số Huyện Bình Chánh, Thị trấn An Lạc và Xã Tân Tạo.
Huyện Bình Chánh
Diện tích (héc-ta)

Thị trấn An Lạc

Xã Tân Tạo

30,458

600

1,738

461,6478

47,9209

61,02310

- Có thường trú tại TPHCM (KT1 + KT2)

279,198

31,944

21,501

- Không có thường trú (KT3 + KT4)

182,449

15,976

39,522

(40%)

(33%)

(65%)

129,558

9,911

38,940

(28%)

(21%)

(64%)

Dân tộc Kinh11

95.5%

88.9%

97.0%

Dân tộc Hoa12

4.3%

10.9%

2.8%

Dân tộc khác13

0.2%

0.2%

0.2%

Dân số

Mức độ tăng trưởng dân số (so với
Tổng điều tra dân số 1/4/1999)

* Lưu ý: các con số thống kê không hoàn toàn tương ứng do lấy từ vài nguồn khác nhau 

Quận 8
Quận 8, nằm ở phía tây nam TPHCM, cũng là một địa bàn gắn với cửa ngõ vào  Đồng 
Bằng Sông Cửu Long nhờ một số tuyến đường và quốc lộ mới xây dựng và mở rộng 
(Bắc Nhà Bè – Nam Bình Chánh). Đặc điểm địa lý của Quận 8 khác hơn nhiều quận 
huyện  khác  là  có  nhiều  hệ  thống  sông  rạch  và  kênh  đào  nhỏ,  chằng  chịt,  chiếm 
khoảng 14% của tổng diện tích toàn quận là 18,8 km2. Trải qua quá trình đô thị hoá 
nhanh  chóng,  Quận  8  đã  giảm  hẳn  số  phường  nông  nghiệp,  từ  4  (trên  tổng  số  16 
phường)  cách  đây  vài  năm,  nay  không  còn  phường  nông  nghiệp  nào;  toàn  bộ  16 
phường đã trở thành phường bán nông nghiệp.  
 
Quận 8 có một Trung tâm Y tế mới xây dựng, 17 trường mẫu giáo, 18 trường tiểu học, 
11  trường  phổ  thông  cơ  sở  và  phổ  thông  trung  học,  một  trường  đặc  biệt  cho  trẻ 
khuyết tật, một trung tâm giáo dục thường xuyên, và một trường dạy nghề.  
 
Dân số có đăng ký (thường và tạm trú) của Quận 8 là 538.547 người, trong số đó 89% 
là người Kinh, 10,39% là người Hoa, 0,44% người Chăm, và 0,17% người Khơ‐me và 
 Số liệu do công an địa phương cấp 14/8/2003. 
 Số liệu UBND cấp tháng 8/2003. 
10 Số liệu do công an địa phương cấp 29/8/2003. 
11 Số liệu theo Tổng điều tra dân số 1/4/1999. 
12 Số liệu theo Tổng điều tra dân số 1/4/1999. 
13 Số liệu theo Tổng điều tra dân số 1/4/1999.
8
9

9


Đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng tại Thành phố Hồ Chí Minh

dân tộc khác. Dân số đã tăng (theo chính quyền địa phương, chủ yếu tăng cơ học, tức 
do dòng người từ nơi khác đến) thêm 208.129 trong vòng 4 năm qua (xem Bảng 2). Số 
người không có hộ khẩu thường trú cũng khá cao: 182.449 người (34%). 
 
Một đặc thù của Quận 8 là có một số lượng đáng kể người dân sống dọc trong những 
khu  nhà  lụp  xụp  dọc  hai  bờ  các  kênh  rạch,  vốn  chiếm  một  diện  tích  đáng  kể  trong 
quận. Không có con số thống kê số người này trên toàn quận.  
 
Nghề  nghiệp  và  sinh  kế  của  người  dân  Quận  8  trong  những  năm  qua  đã  có  nhiều 
thay đổi, bị tác động bởi sự di dời ra ngoại thành của nhiều cơ sở gây ô nhiễm môi 
trường (theo Quyết định 81 ngày 8/7/2002), đồng thời do sự chuyển đổi mục đích sử 
dụng  đất  trong  quá  trình  đô  thị  hoá. Trong  quá  trình  này,  có những  người  khá  lên, 
cũng  có  những  người  nghèo  đi.  Có  người  bán  đất  và  kinh  doanh  thành  công.  Có 
người đi làm cho các xí nghiệp và doanh nghiệp ở Phường 6, nơi có khu công nghiệp 
đang  phát  triển.  Nhiều  người  mất  việc  sau  khi  xí  nghiệp  di  dời  và  không  tìm  được 
việc. Một số phải cố gắng xoay sở sống qua ngày bằng cách tham gia vào thành phần 
kinh tế phi chính thức, như bán dạo, chạy xe ôm, bán vé số, buôn bán ʺhàng bôngʺ14 
và thức ăn ở gần chợ ,v.v...). Một số không xoay sở được và rơi vào cảnh nghèo túng. 
Phường 4
Phường 4 diện tích 144 héc ta, gồm 8 khu phố và 123 Tổ Dân Phố. Phường 4 có 6.534 
hộ  với  33.589  nhân  khẩu,  trong  số  đó  có  khoảng  18%  không  có  hộ  khẩu  thường  trú 
(xem bảng 2). Hầu hết dân cư làm lao động phổ thông và công nhật cho các xí nghiệp, 
cơ sở, hay làm thuê hoặc tự kinh doanh buôn bán nhỏ.  
 
Cũng như nhiều phường khác ở Quận 8, Phường 4 có nhiều người sống trên các kênh 
rạch chằng chịt. Trường Dạy Nghề thuộc Phòng Giáo Dục Quận 8 nằm trong địa bàn 
phường này. Tại phường 4 có một số cơ sở di dời ra khỏi phường theo Quyết định số 
81 ngày 8/7/2002. 
Phường 5
Phường 5 diện tích 160 héc ta gồm 10 khu phố và 130 tổ dân phố. Phường 5 có 6.641 
hộ  với  32.695  nhân  khẩu,  trong  đó  khoảng  16%  không  có  hộ  khẩu  thường  trú  (xem 
bảng 2). Phường 5 giáp với phường 6, nơi có khu công nghiệp mới được thành lập 2 
năm nay. Vì vậy, Phường 5 có một số người nhập cư từ các tỉnh đến làm hoặc tìm việc 
trong  các nhà  máy  xí  nghiệp  ở  khu  công  nghiệp này.  Trong vòng  2, 3  năm  gần  đây 
khoảng 20 xí nghiệp lớn đã di dời ra khỏi Phường 5 theo Quyết định 81 ngày 8/7/2002 
để tránh gây ô nhiễm trong các khu dân cư. Tuy nhiên, hầu hết các xí nghiệp vừa và 
nhỏ thường sản xuất kinh doanh các mặt hàng truyền thống của địa phương hiện vẫn 
còn hoạt động tại đây. 
 
 
 
 
 

14

 Tức là rau cải tươi 

10


Phần 2: Địa điểm Nghiên cứu

Bảng 2. Dân số Quận 8, Phường 4 và Phường 5.
Quận 8

Phường 4

Phường 5

19,17 km2

144

160

Dân số15

538,547

33,589

32,695

- Có thường trú tại TPHCM (KT1 + KT2)

356,098

27,454

27,498

- Không có thường trú (KT3 + KT4)

182,449

6,135

5,191

(34%)

(18%)

(16%)

Mức độ tăng trưởng dân số (so với Tổng
điều tra dân số 1/4/1999)

208,129

3,366

5,771

(39%)

(10%)

(18%)

Dân tộc Kinh16

89.00%

97.90%

94.12%

Dân tộc Hoa17

10.39%

1.93%

5.73%

Dân tộc khác18

0.61%

0.17%

0.15%

Diện tích (héc-ta)

* Lưu ý: các con số thống kê không hoàn toàn tương ứng do lấy từ vài nguồn khác nhau 

 Số liệu chính quyền địa phương cung cấp tháng 8/2003. 
 Niên Giám Thống Kê Quận 8 năm 1995‐2000. 
17 Niên Giám Thống Kê Quận 8 năm 1995‐2000. 
18 Niên Giám Thống Kê Quận 8 năm 1995‐2000. 
15
16

11


Đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng tại Thành phố Hồ Chí Minh

Phần 3: Nhận thức về nghèo, xu hướng
nghèo, động thái nghèo, việc làm, những
rủi ro và tính dễ tổn thương
Tóm tắt ý chính
Cuối năm nay (2003), Thành phố Hồ Chí Minh phấn đấu xoá nghèo theo tiêu chí của Thành phố. 
Tuy nhiên, kết quả cuộc nghiên cứu Đánh giá tình trạng nghèo có sự tham gia này cho thấy có sự 
chênh lệch đáng kể giữa số hộ nghèo được chương trình Xoá Đói Giảm Nghèo xác định và con số 
hộ được người dân địa phương cho là nghèo. Khi phân hạng kinh tế hộ, trong mỗi tổ dân phố, 
người dân xác định có khoảng 30% đến 50% hộ gia đình là “nghèo” hay “rất nghèo” (so với hộ 
“khá giàu” và “trung bình”). Trong khi đó, chương trình Xoá Đói Giảm Nghèo thường xác định 
có từ 2 đến 7 hộ trong mỗi tổ dân phố, tức khoảng 4% đến 15% tổng số hộ là nghèo. 
 
Trong khi có một số người dân được tham khảo ý kiến cho rằng cuộc sống khá lên trong vài năm 
qua (nhất là nhờ bán đất hay tài sản khác – dù điều này không đảm bảo sinh kế bền vững), số 
đông còn lại cho rằng cuộc sống trở nên khó khăn hơn và than phiền không đủ ăn, cho con cái 
nghỉ học sớm và sống lây lất qua ngày.  
 
Có nhiều nguyên nhân lý giải cho cuộc sống ngày càng khó khăn, chứng tỏ rằng nghèo không 
chỉ là thu nhập ít ỏi, mà còn là chi phí sống cao, công việc bấp bênh, sức khỏe kém, không được 
học hành, nhà cửa không an toàn và kém vệ sinh, các mối quan hệ xã hội bị hạn chế, và cách biệt 
giàu nghèo ngày càng tăng.  
 
Việc làm vẫn còn là thách đố lớn đặt ra cho người nghèo. Người nghèo gần như không thể tìm 
việc làm nhờ các trung tâm giới thiệu việc làm của nhà nước. Còn tìm việc nhờ các dịch vụ việc 
làm tư nhân thì có rủi ro cao, và có nhiều dịch vụ mang tính ʺlừa đảoʺ. Những công nhân không 
có tay nghề, lớn tuổi, hay sức khoẻ kém gặp nhiều trắc trở trên con đường tìm việc. Một khi tìm 
được, tình trạng thiếu luật lệ hoặc luật lệ không được thực thi làm cho quyền lợi của công nhân 
thường  không  được  bảo  vệ.  Công  nhân  nữ  trẻ  (chiếm  90%  lực  lượng  lao  động  trong  nhiều  xí 
nghiệp) tỏ ra lo ngại về sự cô lập xã hội của họ. 

Chương này trước tiên đề cập đến nhận thức của các nhóm người nghèo khác nhau về tình 
trạng và xu hướng nghèo được trong vài năm qua, được thể hiện đan xen nhau thông qua các 
dáng  vẻ  và  các  nguyên  nhân  đa  dạng  của  nó.  Tiếp  theo  là  nêu  lên  các  cảm  nhận  của  họ  về 
nghèo như là một vấn đề đa khía cạnh, trong đó nổi lên những rủi ro và tính dễ bị tổn thương 
mà người nghèo thường dễ gặp phải. Sau cùng, báo cáo mô tả quá trình nỗ lực để có được sinh 
kế và việc làm của đa số người nghèo. 
Nhận thức về nghèo và xu hướng nghèo
Người nghèo được tham vấn trong nghiên cứu này có nhiều ý kiến khác nhau về tình 
trạng nghèo trong vài năm qua. 
 
Một  số  người  cho  rằng  cuộc  sống  trong  xóm  họ  được  cải  thiện,  thể  hiện  qua  việc 
nhiều người khá lên, sửa chữa và cất nhà mới và điều kiện sống của họ cũng khá hơn. 
Lý do khá hơn mà người nghèo được tham vấn thường đưa ra đầu tiên và có tần suất 
cao nhất là do có được một số tiền lớn nhờ bán đất hay được nhà nước đền bù cho 
nhà và đất bị giải toả. Ngoài ra, một số người nghĩ rằng dấu hiệu một cuộc sống khá 

12


Phần 3: Nhận thức về nghèo, xu hướng nghèo, động thái nghèo, việc làm và những rủi ro

hơn còn thể hiện qua sự xuất hiện của nhiều hàng quán trong khu phố. Sở dĩ có được 
những  thay  đổi  tốt  hơn  này  là  nhờ  cơ  sở  hạ  tầng  (nhỏ  như  hẻm,  đường  nội  bộ,  và/ 
hoặc là xa lộ) được nâng cấp; cũng như nhờ có nhiều người nhập cư đến, trở thành 
một nguồn tiêu thụ thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển: “Một số người xây dựng 
nhà  trọ  cho  công  nhân  ở  và  kiếm  được  nhiều  tiền”  (tất  cả  các  nhóm  người  lớn  và  chính 
quyền địa phương). Nhìn chung, khi người nghèo đề cập những trường hợp khá lên 
này, họ thường nói về người khác chứ không phải về chính bản thân họ.  
 
Tuy nhiên, người nghèo cũng nhận thấy rằng một mặt có những nguyên nhân tạo ra 
công ăn việc làm tốt hơn và bền vững. Song mặt khác lại có những nguyên nhân chỉ 
mang  đến  một  sự  sung  túc  nhất  thời  mà  không  tạo  ra  một  sinh  kế  bền  vững;  trong 
trường hợp như thế, họ bị sa sút, rơi vào nghèo đói và không còn khả năng đối phó 
một khi phải đối mặt với rủi ro. Nổi bật lên trong số những nguyên nhân trên là việc 
có được một số tiền nhờ chuyển nhượng đất đai, là hệ quả của quá trình đô thị hoá ở 
nhiều vùng ven của thành phố. Theo những người nghèo được tham vấn trong nghiên 
cứu này, khả năng được phất lên nhờ chuyển nhượng đất đai dường như cũng ngang 
ngửa với khả năng bị nghèo đi (vì dùng hết số tiền mà không đầu tư sinh lợi được), rồi 
trắng  tay,  và  thậm  chí  rơi  vào  tình  trạng  nợ  nần  chồng  chất,  ngày  càng  lún  sâu  và 
không  thể  thoát  ra  được. Người  nghèo  nêu  lên  nhiều  ví  dụ  sinh  động  về  các  trường 
hợp láng giềng chuyển nhượng đất, dùng số tiền có được để xây nhà, mua sắm những 
vật dụng tiêu dùng đôi khi quá xa hoa, mà không biết đầu tư sinh lợi để có sinh kế bền 
vững, phần lớn vì họ chưa từng làm ăn, mà trước giờ chỉ làm nông. Rốt cuộc họ ăn xài 
hết số tiền đó và phải bán hết đồ đạc, kể cả bán nhà và rơi vào cảnh nợ nần.  
 
Cũng có một số người cho rằng cuộc sống của họ khá lên đôi khi chút là nhờ có được 
việc làm ổn định nhờ con cái lớn đi làm và phụ giúp kinh tế gia đình, hay nhờ được 
thừa hưởng gia tài, của cải. Những phát hiện của nghiên cứu này cũng nhất quán với 
nghiên cứu tham khảo ý kiến người dân vào năm 1999 và 2001.    
 
Cũng có một số người khác khá hơn chút ít nhờ vào việc bán hàng bông và thức ăn 
cho các công nhân, nhập cư làm việc tại các khu công nghiệp  và chế xuất. Theo các 
nhóm nữ và nam nghèo thường trú và nhập cư, đặc biệt là tại xã Tân Tạo, Huyện Bình 
Chánh, việc hình thành 4 khu công nghiệp và hàng trăm các doanh nghiệp lớn đã tạo 
công ăn việc làm cho hàng ngàn dân nghèo: ʺNhờ có cái (xí nghiệp) Pou Chen thành lập, 
đi làm ở đó được có tiền” (nhóm nữ nghèo thường trú Tân Tạo).  
 
Cũng có một vài trường hợp cho rằng cuộc sống của họ khá hơn lên là do vay mượn 
quỹ tín dụng Xoá Đói Giảm Nghèo, Hội Phụ Nữ, CIDSE, CEP và làm ăn buôn bán có 
lời. Nhóm trẻ em ở Bình Chánh cũng như Quận 8 còn cho biết thêm rằng một số phụ 
nữ trở nên khá hơn là do kết hôn với người Đài Loan.  
 
Mặc dù vậy, một số lượng đáng kể người nghèo khác cho rằng cuộc sống của họ vẫn 
không có gì thay đổi. ʺTrong tổ tôi không ai khá lên, ít có người dư, còn lại từ đủ ăn đến 
thiếuʺ (nhóm nam nghèo An Lạc). Đa số người dân làm việc trong thành phần kinh tế 
phi chính thức như bán hàng rong, buôn gánh bán bưng, làm hồ, làm thuê mướn, bán 
vé số, v.v… thấy cuộc sống của họ không đỡ hơn chút nào. Họ cho rằng dù họ có cố 
gắng đến đâu đi chăng nữa thì cuộc sống cũng không thể khá lên được: “Tôi ở đây mấy 
năm chục năm, từ năm mười mấy tuổi se nhang đến nay đã 55 tuổi rồi, cũng cần kiệm mà 

13


Đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng tại Thành phố Hồ Chí Minh

không có dư”. “Tụi tui cũng tằn tiện lắm nhưng chỉ có đủ ăn, đâu có đủ để sắm này sắm nọ” 
(nhóm phụ nữ nghèo thường trú).  
 
Ở một góc tối của bức tranh nghèo, có thể thấy là vẫn còn đa số người nghèo được 
tham khảo ý kiến cho rằng cuộc sống của họ trở nên khó khăn hơn trong mấy năm 
qua. Nhiều người “không có đủ cái ăn”, phải cho con cái nghỉ học sớm. Họ chỉ biết sống 
tạm bợ, ʺlây lất cho qua ngàyʺ, ʺsống hôm nay không biết đến ngày maiʺ, hay ʺtới đâu hay 
tới đóʺ (tất cả các nhóm người lớn và thanh niên). 
Tất cả các nhóm thảo luận, kể cả nhóm trẻ em, cho rằng cuộc sống của họ vất vả hơn 
là do nhiều nguyên nhân khác nhau như:  
-

-

Không có công ăn việc làm do trình độ học vấn thấp, thiếu tay nghề, thiếu mạng 
lưới  hỗ  trợ  xã  hội,  không  biết  thông  tin  tuyển  dụng  lao  động,  mất  việc  làm  cũ 
hoặc trở nên thất nghiệp do doanh nghiệp đóng cửa/ di dời đi nơi khác và do bị 
dẹp chợ (chợ tự phát). 
Công việc, làm ăn, buôn bán không ổn định, như buôn gánh bán bưng, chạy xe 
ôm, làm hồ, làm thuê mướn. 
Không biết làm ăn, thua lỗ, và mất hết vốn (có được nhờ bán đất hay được đền bù 
giải tỏa). 
Bị tịch thu các phương tiện kiếm sống (do buôn bán trên vỉa hè, lề chợ). 
Mù  chữ,  trình  độ  học  vấn  thấp,  không  có  tay  nghề,  kỹ  năng  chuyên  môn  để  có 
việc làm ổn định. 
Bệnh tật và rơi vào cảnh nợ nần do chi phí khám chữa bệnh tốn kém. 
Gia đình đông con (đặc biệt là những gia đình có con còn nhỏ, chưa đến tuổi đi 
làm). 
Đóng các khoản phí cao để cho con đi học. 
Sa vào tệ nạn như cờ bạc, ăn chơi phung phí, nghiện ngập xì ke ma túy, vì vậy rơi 
vào cảnh nợ nần. 

Hơn nữa, việc chi tiêu cần thiết để duy trì các mối quan hệ xã hội như thường xuyên 
tham dự các đám cưới, hỏi, ma chay, giỗ, tiệc tùng của xóm giềng cũng làm cho họ 
khó có thể có được số tiền để dành từ nguồn thu nhập khiêm tốn. 
Ngoài những nhận thức nghèo tương tự giữa tất cả các nhóm dân, có một số nhóm có 
thêm vài nguyên nhân đặc biệt khác cũng làm cho cuộc sống của họ nghèo đi. Dưới 
đây là một số nguyên nhân đáng chú ý. 
Người dân sống dọc kênh rạch ở Quận 8 còn phải chịu thiệt thòi vì tình trạng nhà cửa 
thường  xuyên  xuống  cấp.  Cứ  mỗi  khi  dành  dụm  được  một  số  tiền  họ  lại  phải  chi 
dùng vào việc sửa chữa nhà cửa, vì thế họ khó có thể thoát được cảnh nghèo. “Tụi tui 
ở  nhà  sàn  có  đóng  cừ  trên  kênh  nên  thường  cứ  2‐3  năm  phải  thay  cừ  để  nhà  khỏi  bị  sụp” 
(nhóm  nam  nghèo  và  nữ  nghèo  Quận  8).  Ngoài  ra  họ  còn  phải  chịu  các  rủi  ro  như 
ngập nước, cháy nhà vì thường sống trong các khu dân cư môi trường thấp kém nằm 
trong các hẻm nhỏ, sâu, ngoằn ngoèo chật chội hoặc ven kênh rạch.  
Riêng đối với nhóm nhập cư, còn có các yếu tố khác nữa khiến cho cuộc sống của họ 
không khá lên dù họ đã cố gắng làm việc và tiêu xài tằn tiện, có thể được kể tóm tắt 
như sau: 

14


Phần 3: Nhận thức về nghèo, xu hướng nghèo, động thái nghèo, việc làm và những rủi ro

-

Trả tiền điện nước sinh hoạt hàng ngày với giá cao. 
Thường bị trộm cắp vì họ ở phòng trọ. 
Đóng các khoản phí dịch vụ giới thiệu việc làm quá cao.  
Đóng  tiền  phạt  do  không  có  giấy  chứng  nhận  tạm  trú  tạm  vắng  hợp  lệ  (người 
nhập cư buộc phải trở về quê của họ để lấy giấy gia hạn 6 tháng một lần và trình 
cho công an địa phương). 

Tính đa khía cạnh của tình trạng nghèo
Ngoài việc thấy rõ các nguyên nhân nghèo, người nghèo cũng nhận thức được rằng 
nghèo  là  một  tình  trạng  có  rất  nhiều  khía  cạnh  khác  nhau.  Trong  các  bài  tập  phân 
hạng kinh tế hộ tiến hành tại các tổ dân phố, người dân địa phương đã đưa ra hành 
loạt  các  tiêu  chí  nghèo  đa  dạng  để  dựa  theo  đó  mà  phân  hạng  một  hộ  gia  đình  là 
“khá”,  “trung  bình”, “nghèo”,  hay “rất  nghèo”.  Các  tiêu  chí  này,  sau  khi được  tổng 
hợp lại, cho thấy nhiều điểm tương đồng nổi bật và nhìn chung có thể quy vào một số 
nhóm như giàu hay nghèo về vật chất (thu nhập, tài sản, điều kiện sống, chất lượng 
cuộc sống), khả năng và vốn con người (trình độ học vấn và sức khoẻ), các nguồn lực 
xã hội và chính trị (mạng lưới hỗ trợ xã hội, tiếng nói và trách nhiệm của cơ quan nhà 
nước, tiếp cận thông tin), và sự bấp bênh cũng như những tổn thương (xem Bảng 3).  

Theo kết quả của nghiên cứu đánh giá nghèo lần này, trung bình có khoảng 40% KT1 
và  KT2,  50%  hộ  KT3  và  30%  KT4  của  tổng  số  hộ  trong  tổ  dân  phố  được  cộng  đồng 
phân hạng là thuộc dạng “nghèo” và “rất nghèo”. Những con số này cho thấy một sự 
khác biệt rõ rệt giữa nhận thức về nghèo của người dân địa phương và tiêu chí xếp loại 
nghèo của chương trình Xoá Đói Giảm Nghèo (xem Khung 1), chủ yếu là dựa trên thu 
nhập. Theo chương trình này, thường có khoảng từ 2 đến 7 tức 4% đến 15% hộ trong tổ 
dân phố (tổng trung bình mỗi tổ có khoảng 48 hộ) là thuộc diện nghèo. Ngoài ra, có 
ghi nhận rằng bài tập phân hạng kinh tế hộ này đã bỏ sót một số lượng đáng kể các hộ 
và  nhân  khẩu  KT3  và  KT4,  những  người  tương  đối  không  được  các  phân  hạng  viên 
biết đến nhiều. Các con số khác nhau về số lượng người nghèo này cho thấy người dân 
nghèo ngày càng nhận thức về vấn đề nghèo là một vấn đề có nhiều khía cạnh đa dạng 
(không chỉ là thu nhập) và các khía cạnh của tình trạng nghèo có liên hệ chặt chẽ với 
nhau, tác động qua lại và tạo nên cái gọi là “vòng luẩn quẩn của đói nghèo”.
Khung 1: Tiêu chí xác định hộ nghèo của chương trình Xóa Đói Giảm Nghèo
Tiêu chí đầu tiên và quan trọng nhất để xếp loại hộ nghèo của chương trình Xoá Đói Giảm Nghèo là dựa 
trên  thu  nhập  (chủ  yếu  là  bình  quân  thu  nhập  đầu  người/  năm).  Ở  các  huyện  ngoại  thành  như  Huyện 
Bình Chánh, tiêu chí này là 2.500.000 đồng/người/năm (được áp dụng từ năm 1997 đến nay). Ở các quận 
nội thành như Quận 8 là 3.000.000 đồng/người/năm (được áp dụng từ năm 1997 đến nay). Tiêu chí thứ 
hai là hộ khẩu thường trú. Tuy nhiên, các tiêu chí này chỉ được xem là những điều kiện cần. Các điều kiện 
đủ bao gồm các: nhân khẩu có khả năng lao động và chịu khó làm ăn, không rượu chè, cờ bạc, đánh đề, hay 
nghiện ngập ma túy. Người nhập cư được xét chọn vào chương trình XĐGN nếu họ có nhà, có hộ khẩu 
KT3  và  công  việc  làm  ổn  định  (theo  kết  quả  phỏng  vấn  cán  bộ  XĐGN  cấp  quận  huyện  và  thành 
phố).

 
So với nghiên cứu Đánh giá tình trạng nghèo 1999 (SCUK 1999) cũng như Tham khảo 
ý kiến cộng đồng về chiến lược CPRGS năm 2001 (SCUK 2002), nghiên cứu Đánh giá 
tình trạng nghèo lần này không có những điểm khác biệt nổi bật về sự đa dạng khía 
cạnh của tình trạng nghèo. Nhìn chung tất cả các nhóm người nghèo không chỉ quan 

15


x

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×