Tải bản đầy đủ

Luận văn huy động và sử dụng nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới tại huyện yên sơn tỉnh tuyên quang

PHẠM VĂN TOÀN
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG NGUỒN LựC CHO XÂY DựNG
NÔNG THÔN MỚI TẠI HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN
QUANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN


PHẠM VĂN TOÀN

HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG NGUỒN LỰC CHO XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI TẠI HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN
QUANG
Ngành: Phát triển nông thôn
Mã số: 60 62 01 16

LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN


Người hướng dẫn khoa học: TS. BÙI ĐÌNH HÒA


3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, các số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn là trung thực và chưa hề được sử dụng
để bảo vệ bất kỳ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc.

rp r _ • 2 1 ^__ w__
Tác giả luận văn

Phạm Văn Toàn
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên, khoa Kinh tế và Phát triển Nông thôn, các Thầy, Cô giáo đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt
quá trình học tập và nghiên cứu.
Nhân dịp này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới TS. Bùi Đình Hòa, Người đã dành nhiều thời gian, tạo điều
kiện thuận lợi, hướng dẫn về phương pháp khoa học và cách thức thực hiện các nội dung của đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Huyện uỷ - UBND huyện Yên Sơn, Ban chỉ đạo thực hiện Chương trình
Mục tiêu quốc gia xây dựng Nông thôn mới huyện Yên Sơn, Ban quản lý xây dựng Nông thôn mới ở các xã Mỹ Bằng, Phú
Thịnh, Hùng Lợi, cùng các cán bộ liên quan và người dân trong các xã đã tiếp nhận và nhiệt
các thông tin,

số

liệu cần

thiết

phục vụ

tình giúp, cung

cấp

cho quá trình

nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này.
Cuối cùng, tôi xin


gửi lời cảm ơn tới gia đình, người thân, bạn bè, đồng

nghiệp đã chia sẻ, động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này.

Trong quá trình làm nghiên cứu, mặc dù đã có nhiều cố gắng để hoàn thành luận văn, đã tham khảo nhiều tài liệu và
đã trao đổi, tiếp thu ý kiến của Thầy, Cô và bạn bè. Song, do điều kiện về thời gian và trình độ nghiên cứu của bản thân còn
nhiều hạn chế nên nghiên cứu khó tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự quan tâm đóng góp ý kiến
của Thầy Cô và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn.
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!


4
Thái Nguyên, ngày 6 tháng 11 năm 2015
Tác giả luận văn

Phạm Văn Toàn


5
Từ viết tắt

Ý nghĩa

CN

Công nghiệp

CNH - HĐH

Công nghiệp hoá MỤC
- hiện đại hoá

CNXD

Công nghiệp xây dựng

DT

Diện tích

ĐVT
GTNT

Đơn vị tính
Giao thông nông thôn

HTX

Hợp tác xã

NN

Nông nghiệp

NTM

Nông thôn mới

NXB

Nhà xuất bản

PTNT

Phát triển nông thôn

SXKD

Sản xuất kinh doanh

TDTT

Thể dục thể thao

TMDV
TTCN

Thương mại dịch vụ
Tiểu thủ công nghiệp

UBND

Uỷ ban nhân dân

XHCN

Xã hội chủ nghĩa


Bảng 3.15. Đánh giá việc huy động nguồn lực cho xây dựng nông 6thôn mới

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Hình 3.1.

Biểu

đồ kế hoạch tài chính thực hiện chương trình xây

dựng


7

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương khoá X đã ra Nghị quyết số 26NQ/TW ngày 05/8/2008 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn nhấn mạnh: “Nông nghiệp,
nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong những năm vừa qua, nông thôn nước ta đã có nhiều chuyển
biến tích cực: hạ tầng kinh tế - xã hội được quan tâm đầu tư nâng cấp và xây dựng mới. Đời
sống vật chất và tinh thần của nông dân ở hầu hết các vùng nông thôn ngày càng được cải
thiện. Chính quyền cơ sở từng bước được kiện toàn, cơ cấu kinh tế được chuyển dịch theo
hướng tích cực. Nhiều chính sách xã hội được Nhà nước quan tâm thực hiện và đạt được
những kết quả khả quan góp phần ổn định chính trị, giải quyết được cơ bản vấn đề an sinh
xã hội. Tuy nhiên, sự phát triển của nông thôn còn một số tồn tại, đó là: kiến trúc, văn hóa,
xã hội, môi trường... phần lớn còn tự phát, thiếu định hướng; chuyển dịch cơ cấu kinh tế và
đổi mới cách thức sản xuất trong nông thôn còn chậm; công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp,
dịch vụ trong nông thôn chiếm tỷ trọng thấp; nông nghiệp phát triển chưa thật sự bền vững;
năng suất lao động thấp; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội chưa thật sự đáp ứng được yêu cầu
sản xuất và đời sống; chất lượng giáo dục, y tế phát triển chưa tương xứng trước yêu cầu
đổi mới; tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo còn thấp, nông dân còn thiếu việc làm và thu
nhập chưa ổn định; tỷ lệ đói nghèo còn ở mức tương đối cao, nhất là ở vùng sâu vùng xa”.
Ngày 04/6/2010 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 800/QĐ-TTg, phê
duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020,
với mục tiêu: “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện
đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển
nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội
nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo
vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng
được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa” nhằm giải quyết các vấn đề trên và tạo
bước phát triển mới về nông thôn.


8

Xây dựng

nông thôn mới đang là

hoạt động rất quan trọng trong chương

trình mục tiêu quốc gia, sau khi triển khai thành công tại 11 xã điểm, hiện chương trình
đang được nhân rộng ra tại nhiều địa phương trong cả nước. Và huyện Yên Sơn hiện đã có
30/30 xã đã được chọn để triển khai thực hiện mô hình xây dựng nông thôn mới. Xác định
xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ trọng tâm, UBND huyện Yên Sơn
chỉ đạo các

cấp, các ngành huy

đã

tập

trung

động mọi nguồn lực

đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn góp phần xây dựng nông thôn mới.
Quá trình triển

khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng

nông thôn mới, nhiều xã trên địa bàn huyện đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Tuy
nhiên, bên cạnh đó vẫn còn nhiều vấn đề phát sinh trong quá trình huy động và sử dụng các
nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới. Điều này đã làm ảnh hưởng tới việc hoàn thành
mục tiêu xây dựng nông thôn mới ở huyện Yên Sơn và Chương trình mục tiêu quốc gia Xây
dựng nông thôn mới của tỉnh Tuyên Quang.
Để hiểu

rõ hơn về thực trạng huy động

và sử dụng các nguồn lực cho xây

dựng nông thôn mới ở huyện Yên Sơn đã được triển khai như thế nào? Các nguồn lực sau
khi được huy động có thật sự được sử dụng một cách có hiệu quả? Việc huy động và sử
dụng các nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới của các địa phương trong huyện chịu ảnh
hưởng của những yếu tố nào? Cần có giải pháp gì góp phần nâng cao hiệu quả huy động và
sử dụng các nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới ở huyện Yên Sơn thời gian tới? Xuất
phát từ thực tế đó tôi lựa chọn đề tài “Huy động và sử dụng nguồn lực cho xây dựng
nông thôn mới tại huyện Yên Sơn - Tỉnh Tuyên Quang” làm đề tài luận văn thạc sỹ.
2. Mục tiêu nghiên cứu

1.1.

Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng huy động và sử dụng nguồn lực cho xây dựng nông

thôn mới tại huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang thời gian qua, đề xuất một số giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới tại
huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang thời gian tới.

1.2.

Mục tiêu cụ thể

-

Đánh giá

thực trạng huy động và sử dụng nguồn lực cho xây dựng nông


9

thôn mới tại huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang thời gian qua;

-

Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường huy động và sử dụng hợp lý nguồn
lực cho xây dựng nông thôn
Quang thời gian tới.

mới tại huyện Yên Sơn,

tỉnh Tuyên


Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1.

Cơ sở lý luận

1.1.1.

Một số khái niệm, thuật ngữ

1.1.1.1.
-

Khái niệm nông thôn và nông thôn mới

Nông thôn là khái niệm dùng để chỉ một địa bàn mà ở đó sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ
trọng lớn, nông thôn có thể được xem xét trên nhiều góc độ kinh tế, chính trị, văn hóa...nông
thôn không đơn thuần là khu vực xã hội và cũng là khu vực kinh tế, kinh tế nông nghiệp trong
địa bàn nông thôn ngoài nông nghiệp cũng có công nghiệp dịch vụ thường gọi là các hoạt
động phi nông nghiệp. Việc phát triển kinh tế nông thôn, từng bước xây dựng nông thôn mới
là nhiệm vụ trọng tâm của Đảng và Nhà nước ta hiện nay.

-

Nông thôn mới: Trong Nghị quyết số 26-NQ/TW đưa ra mục tiêu: "Xây dựng nông thôn mới
có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất
hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã
hội nông thôn ổn định, giầu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh
thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng
cường"[1].
Như vậy, nông thôn mới trước tiên nó phải là nông thôn không phải là thị tứ, thị trấn,
thị xã, thành phố và khác với nông thôn truyền thống hiện nay, có thể khái quát gọn theo năm
nội dung cơ bản sau: (1) làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; (2) sản xuất phát triển
bền vững theo hướng kinh tế hàng hóa; (3) đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày
càng được nâng cao; (4) bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển; (5) xã hội thôn
nông an ninh tốt, quản lý dân chủ.

1.1.1.2.

Khái niệm nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới
Nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới được hiểu là tập hợp các yếu tố mà chương

trình xây

dựng nông thôn

mới sử dụng để thực hiện các mục tiêu của

chương trình.
Khái niệm nguồn lực.

-

Theo quan điểm hệ thống, “Nguồn lực là tất cả những yếu tố và phương tiện mà hệ thống có


quyền chi phối, điều khiển, sử dụng để thực hiện mục tiêu của mình. Đối với hệ thống kinh tế
- xã hội, có thể chia nguồn lực ra các bộ phận khác nhau như: nguồn nhân lực, nguồn tài lực,
nguồn vật lực và nguồn thông tin”.

-

Những

thứ

được

coi là nguồn lực phải là những thứ được sử dụng hoặc có

khả năng sử dụng trong thời kỳ dự kiến phát triển. Tiềm năng chưa đưa được vào sử dụng
hoặc chưa có khả năng đưa vào sử dụng thì chưa được xem xét là nguồn lực.
Có khá nhiều định nghĩa khác nhau về “nguồn nhân lực”:

-

Nguồn

nhân

lực

là nguồn

lực con người của những tổ chức (với quy mô,

loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển
của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới. Cách hiểu
này về nguồn nhân lực xuất phát từ quan niệm coi nguồn lực với các yếu tố vật chất, tinh thần
tạo nên năng lực, sức mạnh phục vụ cho sự phát triển nói chung của tổ chức;

-

Trong báo cáo của Liên hợp quốc đánh giá về những tác động của toàn cầu hóa đối với
nguồn nhân lực đã đưa ra định nghĩa nguồn nhân lực là trình độ hành nghề, kiến thức và năng
lực thực có thực tế cùng với những năng lực tồn tại dưới dạng tiềm năng của con người. Quan
niệm về nguồn nhân lực theo hướng tiếp cận này có phần thiên về chất lượng nguồn nhân lực.
Trong quan niệm này, điểm được đánh giá cao là coi các tiềm năng của con người cũng là
năng lực khả năng để từ đó có những cơ chế thích hợp trong quản lý, sử dụng. Quan niệm về
nguồn nhân lực như vậy cũng
hợp

đã

cho ta thấy phần nào sự tán đồngcủa

quốc đối

Liên

với

phương thức quản lý mới.

-

Nguồn nhân lực là tổng thể các yếu tố bên trong và bên ngoài của mỗi cá nhân bảo đảm
nguồn sáng tạo cùng các nội dung khác cho sự thành công, đạt được
mục tiêu của tổ chức.
Tuy có những định nghĩa khác nhau tùy theo giác độ tiếp cận nghiên cứu nhưng điểm
chung mà ta có thể dễ dàng nhận thấy qua các định nghĩa trên vê nguồn nhân lực là:

-

Số lượng nhân lực: Nói đến nguồn nhân lực của bất kỳ một tổ chức, một địa phương hay một
quốc gia nào câu hỏi đầu tiên đặt ra là có bao nhiêu người và sẽ có thêm bao nhiêu người nữa
trong tương lai. Đây là những câu hỏi cho việc xác định số lượng nguồn nhân lực. Sự phát
triển về số lượng nguồn nhân lực dựa trên hai nhóm yếu tố bên trong (ví dụ: nhu cầu thực tế


công việc đòi hỏi phải tăng số lượng lao động) và những yếu tố bên ngoài của tổ chức như sự
gia tăng về dân số hay lực lượng lao động do di dân;

-

Chất lượng nhân lực: Chất lượng nhân lực là yếu tố tổng hợp của nhiều yếu tố bộ phận như
trí tuệ, trình độ, sự hiểu biết, đạo đức, kỹ năng, sức khỏe, thẩm mỹ... của người lao động.
Trong các yếu tố trên thì trí lực và thể lực là hai yếu tố quan trọng trong việc xem xét đánh
giá chất lượng nguồn nhân lực;

-

Cơ cấu nhân lực: Cơ cấu nhân lực là yếu tố không thể thiếu khi xem xét đánh giá về nguồn
nhân lực. Cơ cấu nhân lực thể hiện trên các phương diện khác
nhau như cơ cấu trình độ đào tạo, giới tính, độ tuổi. Cơ cấu nguồn nhân lực của một quốc gia
nói chung được quyết định bởi cơ cấu đào tạo và cơ cấu kinh tế theo đó sẽ có một tỷ lệ nhất
định nhân lực. Chẳng hạn như cơ cấu nhân lực lao động trong khu vực kinh tế tư nhân của các
nước trên thế giới phổ biến là 5 - 3 - 1 cụ thể là 5 công nhân kỹ thuật, 3 trung cấp nghề và 1
kỹ sư; đối với nước ta cơ cấu này có phần ngược tức là số người có trình độ đại học, trên đại
học nhiều hơn số công nhân kỹ thuật (3). Hay cơ cấu nhân lực về giới tính trong khu vực
công của nước ta cũng có những biểu hiện của sự mất cân đối.
Tóm lại,

nguồn nhân lực

là khái niệm

tổng hợp bao gồm các yếu tố về số

lượng, chất lượng và cơ cấu phát triển người lao động nói chung cả ở hiện tại cũng như trong
tương lai, là

tiềm năng của mỗi tổ chức, mỗi địa phương, mỗi quốc gia,

khu vực và thế giới.

1.1.2.
1.1.2.1.

Nông thôn mới và yêu cầu nguồn lực cho nông thôn mới
Giới thiệu nội dung và mục tiêu chương trình xây dựng nông thôn mới
Xây dựng

nông thôn mới thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia, là một

chương trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng, bao gồm
11 nội dung [11].

(1) Quy hoạch xây dựng nông thôn mới
*

Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 01 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới. Đến năm 2011,
cơ bản phủ kín quy hoạch xây dựng nông thôn trên địa bàn cả nước làm cơ sở đầu tư xây
dựng nông thôn mới, làm cơ sở để thực hiện mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai
đoạn 2010 - 2020.

* Nội dung:


-

Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá,
công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ;

-

Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội - môi trường; phát triển các khu dân cư mới và
chỉnh trang các khu dân cư hiện có trên địa bàn xã.

(2) Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội
*

Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 2; 3; 4; 5; 6; 7; 8; 9 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn
mới

* Nội dung:
-

Hoàn thiện đường giao thông đến trụ sở UBND xã và hệ thống giao thông trên địa bàn xã.
Đến 2015 có 35% số xã đạt chuẩn (các trục đường xã được nhựa hoá hoặc bê tông hoá) và
đến 2020 có 70% số xã đạt chuẩn (các trục đường thôn, xóm cơ bản cứng hoá);

-

Hoàn thiện hệ thống các công trình đảm bảo cung cấp điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất trên
địa bàn xã. Đến 2015 có 85% số xã đạt tiêu chí NTM và năm 2020 là 95% số xã đạt chuẩn;

-

Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ nhu cầu về hoạt động văn hoá thể thao trên địa
bàn xã. Đến 2015 có 30% số xã có nhà văn hoá xã, thôn đạt chuẩn, đến 2020 có 75% số xã
đạt chuẩn;

-

Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hoá về y tế trên địa bàn xã. Đến 2015
có 50% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 75% số xã đạt chuẩn;

-

Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hoá về giáo dục trên địa bàn xã. Đến
2015 có 45% số xã đạt tiêu chí và năm 2020 có 75% số xã đạt chuẩn;

-

Hoàn chỉnh trụ sở xã và các công trình phụ trợ. Đến 2015 có 65% số xã đạt tiêu chí và năm
2020 có 85% số xã đạt chuẩn;

-

Cải tạo, xây mới hệ thống thủy lợi trên địa bàn xã. Đến 2015 có 45% số xã đạt chuẩn (có 50%
kênh cấp 3 trở lên được kiên cố hoá). Đến 2020 có 77% số xã đạt chuẩn (cơ bản cứng hoá hệ
thống kênh mương nội đồng theo quy hoạch).

(3) Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập
* Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 10, 12 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới. Đến năm
2015 có 20% số xã đạt, đến 2020 có 50% số xã đạt

* Nội dung:
-

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng phát triển sản xuất hàng


hoá, có hiệu quả kinh tế cao;

-

Tăng cường công tác khuyến nông; Đẩy nhanh nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ
thuật vào sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp;

-

Cơ giới hoá nông nghiệp, giảm tổn thất sau thu hoạch trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp;
Bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống theo phương châm "mỗi làng một sản phẩm",
phát triển ngành nghề theo thế mạnh của địa phương;

-

Đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn, thúc đẩy đưa công nghiệp vào nông thôn,
giải quyết việc làm và chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động nông thôn.

(4) Giảm nghèo và an sinh xã hội
*

Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 11 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới

* Nội dung:
-

Thực hiện có hiệu quả Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững cho 62 huyện có tỷ lệ hộ
nghèo cao (Nghị quyết 30a của Chính phủ) theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới;

-

Tiếp tục triển khai Chương trình MTQG về giảm nghèo;

-

Thực hiện các chương trình an sinh xã hội.

(5) Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn
*

Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 13 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới. Đến 2015 có
65% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 75% số xã đạt chuẩn.

* Nội dung:
-

Phát triển kinh tế hộ, trang trại, hợp tác xã;

-

Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn;

-

Xây

dựng cơ

chế, chính sách thúc

đẩy liên kết kinh tế giữa các loại hình

kinh tế ở nông thôn;

(6) Phát triển giáo dục - đào tạo ở nông thôn
*

Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 5 và 14 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới. Đến 2015
có 45% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 80% số xã đạt chuẩn.

* Nội dung:
Tiếp tục thực

hiện chương trình mục tiêu quốc gia

đáp ứng yêu cầu của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới

(7) Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe cư dân nông thôn

về giáo dục và đào tạo,


* Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 5 và 15 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới. Đến 2015
có 50% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 75% số xã đạt chuẩn.

* Nội dung:
Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia trong lĩnh vực Y tế, đáp ứng yêu
cầu Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới.

(8) Xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông nông thôn
*

Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 6 và 16 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới. Đến 2015
có 30% số xã có nhà văn hóa xã, thôn và 45% số xã có bưu điện và điểm internet đạt chuẩn.
Đến 2020 có 75% số xã có nhà văn hóa xã, thôn và 70% có điểm bưu điện và điểm internet
đạt chuẩn.

* Nội dung:
-

Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia NTM về văn hoá, đáp ứng yêu cầu Bộ
tiêu chí quốc gia nông thôn mới;

-

Thực hiện thông tin và truyền thông nông thôn, đáp ứng yêu cầu Bộ tiêu chí quốc gia nông
thôn mới.

(9) Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
*

Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 17 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới; đảm bảo cung
cấp đủ nước sinh hoạt sạch và hợp vệ sinh cho dân cư, trường học, trạm y tế, công sở và các
khu dịch vụ công cộng; thực hiện các yêu cầu về bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái trên
địa bàn xã. Đến 2015 có 35% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 80% số xã đạt chuẩn.

* Nội dung:
-

Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông
thôn;

-

Xây dựng các công trình bảo vệ môi trường nông thôn trên địa bàn xã, thôn theo quy hoạch,
gồm: xây dựng, cải tạo nâng cấp hệ thống tiêu thoát nước trong thôn, xóm; Xây dựng các
điểm thu gom, xử lý rác thải ở các xã; Chỉnh trang, cải tạo nghĩa trang; Cải tạo, xây dựng các
ao, hồ sinh thái trong khu dân cư, phát triển cây xanh ở các công trình công cộng...

(10)

Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, Chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội trên địa

bàn

*

Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 18 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới. Đến 2015 có
85% số xã đạt chuẩn và năm 2020 là 95% số xã đạt chuẩn.


* Nội dung:
-

Tổ chức đào tạo cán bộ đạt chuẩn theo quy định của Bộ Nội vụ, đáp ứng yêu cầu xây dựng
nông thôn mới;

-

Ban hành chính sách khuyến khích, thu hút cán bộ trẻ đã được đào tạo, đủ tiêu chuẩn về công
tác ở các xã, đặc biệt là các vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn để nhanh chóng chuẩn
hoá đội ngũ cán bộ ở các vùng này;

-

Bổ sung chức năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị
phù hợp với yêu cầu xây dựng nông thôn mới

(11)

Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn

* Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 19 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới. Đến 2015 có
85% số xã đạt chuẩn và năm 2020 là 95% số xã đạt chuẩn.

* Nội dung:
-

Ban hành nội quy, quy ước làng xóm về trật tự, an ninh; phòng chống các tệ nạn xã hội và các
hủ tục lạc hậu;

-

Điều chỉnh và bổ sung chức năng, nhiệm vụ và chính sách tạo điều kiện cho lượng lực lượng
an ninh xã, thôn, xóm hoàn thành nhiệm vụ đảm bảo an ninh, trật tự xã hội trên địa bàn theo
yêu cầu xây dựng nông thôn mới.

1.1.2.2.

Đặc điểm và yêu cầu nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới

a. Phân loại nguồn lực
Các nguồn lực được xem xét ở nhiều góc độ. Có nghĩa là dưới nhiều góc độ, người ta
chia các nguồn lực thành các loại khác nhau để có thái độ đúng đắn và có cách ứng xử với
chúng thích hợp. Với cách nhận thức như thế và trên quan điểm thiết thực, việc phân chia các
nguồn lực được tiến hành. Cụ thể:

b. Căn cứ vào nguồn gốc
-

Vị trí

địa lý: tạo

ra thuận

lợi hay khó khăn cho việc trao đổi, tiếp cận hay

cùng phát triển giữa các vùng trong một nước hay giữa các quốc gia với nhau.

-

Nguồn lực tự nhiên: là cơ sở tự nhiên của quá trình sản xuất.

-

Nguồn lực kinh tế - xã hội: có vai trò quan trọng trong việc lựa chọn chiến lược phát triển phù
hợp với điều kiện cụ thể của từng vùng, từng quốc gia.

c. Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ
-

Nguồn lực trong nước (có ý nghĩa quyết định): nguồn lực trong nước còn gọi là nội lực, bao


gồm các nguồn lực tự nhiên, nhân văn, hệ thống tài sản quốc gia, đường lối chính sách đang
được khai thác

-

Nguồn lực nước ngoài (có vai trò quan trọng): nguồn lực nước ngoài còn được gọi là nguồn
ngoại lực, bao gồm khoa học, kỹ thuật và công nghệ, nguồn vốn, kinh nghiệm về tổ chức và
quản lý sản xuất... từ nước ngoài.
Ngoài ra, nguồn lực còn được chia thành nguồn nhân lực và nguồn vật lực; trong đó,
nguồn nhân lực được hiểu là nguồn lực từ con người như sức mạnh, trí óc. nguồn vật lực
được hiểu là các nguồn lực từ tiền bạc, vật chất. khi con người làm nên tất cả và quyết định
tất cả nên nguồn lực con người được gọi là nguồn lực của mọi nguồn lực.
Nguồn vật lực là những phần đất dành cho xây dựng nông thôn mới như xây dựng
đường giao thông nông thôn. Đó có thể là những hỗ trợ về vật chất trang thiết bị cho văn
phòng UBND các xã, các thiết bị hay phương tiện phục vụ sự phát triển nông thôn ở các xã.

d. Nguồn nhân lực
Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực.

-

Theo Liên

Hợp Quốc thì “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ

năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của
mỗi cá nhân và của đất nước”.

-

Ngân hàng thế giới cho rằng: nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí
lực, kỹ năng nghề nghiệp... của mỗi cá nhân. Như vậy, ở đây nguồn lực con người được coi
như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên
thiên nhiên.

-

Theo tổ chức lao động quốc tế thì:
+ Nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng
tham gia lao động
+ Nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là
nguồn

cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con

người cho sự phát triển. Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình
thường. Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn
cho sự phát triển

kinh tế xã hội, bao gồm các nhóm dân cư

lực

trong độ

tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân


cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được
huy động vào quá trình lao động.

-

Kinh tế phát triển cho rằng: nguồn nhân lực là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định có
khả năng tham gia lao động. nguồn nhân lực được biểu hiện trên hai mặt: về số lượng đó là
tổng số những người trong độ tuổi lao động làm việc theo quy định của Nhà nước và thời gian
lao động có thể huy động được từ họ; về chất lượng, đó là sức khoẻ và trình độ chuyên môn,
kiến thức và trình độ lành nghề của người lao động. Nguồn lao động là tổng số những người
trong độ tuổi lao động quy định đang tham gia lao động hoặc đang tích cực tìm kiếm việc
làm. Nguồn lao động cũng được hiểu trên hai mặt: số lượng và chất lượng. Như vậy theo khái
niệm này, có một số được tính là nguồn nhân lực nhưng lại không phải là nguồn lao động, đó
là: Những người không có việc làm nhưng không tích cực tìm kiếm việc làm, tức là những
người không có nhu cầu tìm việc làm, những người trong độ tuổi lao động quy định nhưng
đang đi học.
Từ những quan niệm trên, tiếp cận dưới góc độ của Kinh tế Chính trị có thể hiểu:
nguồn nhân lực là tổng hoà thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội
của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một
dân tộc trong lịch sử được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho
nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước.

e. Nguồn lực tài chính
Nguồn tài lực là toàn bộ quá trình huy động và sử dụng vốn được thể hiện dưới hình
thức giá trị. Mọi hoạt động đều cần phải có một nguồn lực tài chính nhất định để thực hiện
các mục tiêu của hoạt động đó.

f. Nguồn lực vật chất
Nguồn lực vật chất gồm có tài nguyên thiên nhiên (tài nguyên đất đai, tài nguyên
rừng, tài nguyên biển, tài nguyên thủy điện, tài nguyên nước, tài nguyên khí hậu, vị trí địa lý
kinh tế...) và cơ sở vật chất kỹ thuật đã tạo dựng (nhà cửa, công trình công cộng, đường sá, hệ
thống cung cấp và thoát nước, hệ thống viễn thông và truyền thông, hệ thống xử lý chất
thải...).
Đối với một quốc gia, nguồn lực là tổng thể vị trí, các nguồn tài nguyên thiên nhiên,
hệ thống tài sản quốc gia, nguồn nhân lực, đường lối chính sách, vốn, thị trường... ở cả trong


nước và ngoài nước có thể được khai thác nhằm phục vụ cho việc phát triển kinh tế của một
lãnh thổ nhất định.
1.1.3. Đặc điểm và yêu cầu nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới

1.1.3.1.

Các loại nguồn lực cần thiết cho xây dựng nông thôn mới
Nguồn lực có vai trò vô cùng quan trọng trong thực hiện chương trình xây dựng nông

thôn mới. Hiểu và đánh giá đúng, phát huy tối đa các nguồn lực sẽ góp phần thúc đẩy quá
trình thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới ở các địa phương/vùng miền.
Các nguồn lực cần thiết cho xây dựng nông thôn mới bao gồm:
- Nguồn nhân lực cần thiết cho xây dựng nông thôn mới là lực lượng cán bộ có kiến
thức, kỹ năng... là sức người lao động để cùng hoàn thành các công trình công ích.

-

Nguồn vật lực cần thiết cho xây dựng nông thôn mới hiện nay chủ yếu là đất đai để phục vụ
cho các hoạt động xây dựng đường giao thông nông thôn, giao thông nội đồng... mở rộng hệ
thống kênh mương nội đồng.

-

Nguồn tài lực cần thiết cho xây dựng nông thôn mới chính là kinh phí tài chính đầu tư cho
xây dựng nông thôn mới. Hiện tại, kinh phí để thực hiện xây dựng nông thôn mới được chia
làm 3 phần: một phần ngân sách Nhà nước hỗ trợ, một phần là doanh nghiệp bên ngoài đầu
tư, phần thứ ba là huy động nguồn vốn trong nhân dân, hay còn được gọi là “vốn xã hội hoá”.

1.1.3.2.

Đặc điểm các nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới

-

Nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới một phần được Nhà nước phân bổ;

-

Phần lớn nguồn lực còn lại phải do huy động từ các nguồn khác:
+ Nguồn nhân lực được huy động từ sức lao động của người dân.
+ Nguồn lực đất đai trong quá trình huy động có thể gặp khó khăn do quỹ đất ở nông
thôn còn ít, giá trị cao, ít có thể huy động được.
+ Nguồn

tài lực cũng là một trong những nguồn lực khó huy động do thu

nhập của người dân nông thôn còn thấp.

1.1.4.
1.1.4.1.

Huy động nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới
Khái niệm huy động nguồn lực
Huy động

nguồn lực là quá trình xác

định các mục tiêu và lựa

chọn các

phương thức để đạt được mục tiêu về huy động nguồn lực.
Huy động nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới là quá trình huy động các yếu tố


cần thiết dựa trên mục tiêu để phục vụ cho chương trình xây dựng nông thôn mới

1.1.4.2.

Nguyên tắc huy động nguồn lực cho nông thôn mới [8]

a. Huy động nguồn lực của địa phương
-

Huy động tối đa các nguồn lực
Huy động

tối đa các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) của địa phương

(tỉnh, huyện, xã) để tổ chức thực hiện xây dựng nông thôn mới. Riêng về huy động nguồn tài
lực cho xây dựng nông thôn mới, ở các xã có thể tận dụng nguồn vốn thu được từ đấu giá
quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất trên địa bàn xã (sau
khi đã trừ đi chi phí), đề nghị UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương báo cáo Hội đồng
nhân dân cùng cấp xem xét, quyết định để lại 100% cho ngân sách xã, nhằm tạo nguồn vốn
cho xây dựng nông thôn mới.

-

Huy động sức dân (nhân lực, vật lực) đóng góp tự nguyện, tích cực để xây dựng làng quê của
mình với phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm.

b. Huy động nguồn lực từ doanh nghiệp
Chủ yếu là huy động vốn đầu tư của các doanh nghiệp đối với các công trình có khả
năng thu hồi vốn trực tiếp, doanh nghiệp được vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của
nước hoặc tỉnh, thành

phố trực thuộc

Nhà

Trung ương được ngân sách

Nhà nước hỗ trợ sau đầu tư (nếu vay vốn tại ngân hàng thương mại để thực hiện) và được
hưởng ưu đãi theo quy định của pháp luật.

c. Huy động nguồn lực từ các ban ngành
Các Bộ, ngành và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải ưu tiên bố
trí vốn và lồng ghép các nguồn vốn từ chương trình mục tiêu của Trung ương cho các dự án,
chương trình trên địa bàn các xã thực hiện xây dựng nông thôn mới.

1.1.4.3.
-

Phương pháp huy động nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới [8]

Huy động nguồn nhân lực: trong xây dựng nông thôn mới, nguồn nhân lực chủ yếu được huy
đông bằng việc đóng góp sức lao động của người dân thông qua các tổ chức đoàn thể ở địa
phương như Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên...

-

Huy động nguồn vật lực trong xây dựng nông thôn mới chủ yếu là những đóng góp về đất
đai, nguồn lực này được huy động trực tiếp từ nông dân thông qua các hình thức tuyên truyền


phổ biến nâng cao nhận thức của người dân về vai trò của xây dựng nông thôn mới, về những
giá trị đóng góp của người dân trong xây dựng các công trình giao thông nông thôn, giao
thông nội đồng và các công trình mở rộng kênh mương nội đồng.

-

Huy động nguồn lực tài chính: một phần tài chính cho xây dựng nông thôn mới được Nhà
nước phân bổ, phần còn lại được huy động từ sức dân, từ sự đầu tư vốn của các doanh nghiệp
và vốn từ các chương trình, dự án lồng ghép đang đầu tư cho nông nghiệp, nông dân và nông
thôn.

1.14.4.

Các nguồn huy động được [8].
Các nguồn lực huy động được cho xây dựng nông thôn mới gồm có: nguồn nhân lực

được huy động từ sức dân thông qua việc đóng góp ngày công lao động để thực hiện các công
trình công ích trong xây dựng nông thôn mới như xây dựng nhà văn hoá, trường học, trạm y
tế, làm đường, nạo vét kênh mương... Nguồn vật lực được huy động chủ yếu là đất đai thông
qua việc hiến đất của người dân để làm các công trình chủ yếu như đường giao thông nông
thôn hay mở rộng đường giao thông nội đồng, mở rộng
mương phục

vụ

sản xuất... Nguồn

kênh
lực tài chính huy

động

được chủ yếu là phần vốn đối ứng của người dân trong thực hiện đầu tư xây dựng các hạng
mục công trình và các chương trình sản xuất nông nghiệp, ngoài ra một phần được huy động
từ doanh nghiệp thông qua các chương trình, dự án đầu tư, và phần còn lại được huy động từ
các chương trình lồng ghép đầu tư cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn đang được triển
khai thực hiện trên địa bàn.

1.1.5.

Sử dụng nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới

1.1.54. Khái niệm sử dụng nguồn lực
Sử dụng nguồn lực là quá trình sử dụng một cách có hiệu quả các nguồn lực để đạt
được mục tiêu đã đề ra.
Trên cơ sở lý luận chung về sử dụng nguồn lực, việc sử dụng nguồn lực cho xây dựng
nông thôn mới được hiểu là quá trình sử dụng một cách có hiệu quả các nguồn lực đã huy
động được vào các hoạt động của chương trình xây dựng nông thôn mới.

1.1.5.2.

Nguyên tắc sử dụng nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới[8]
Việc sử

dụng nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới

được thực hiện dựa


trên các nguyên tắc sau:

-

Sử dụng nguồn lực hợp lý.

-

Sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả và tiết kiệm.

a. Nguyên tắc sử dụng nguồn nhân lực: sử dụng đầy đủ và hợp lý
Nguồn lực

lao động là lực lượng sản xuất quan trọng nhất của xã hội. Việc

sử dụng hợp lý và hiệu quả nguồn nhân lực cho xây dựng nông thôn mới có ý nghĩa rất to lớn
trong công cuộc xây dựng nông thôn mới cũng như đối với sự phát triển của toàn bộ nền kinh
tế - xã hội trong nông thôn.
Nguồn nhân lực trong nông thôn là tổng thể sức lao động tham gia vào hoạt động sản
xuất nông nghiệp, bao gồm số lượng và chất lượng của người lao động. Về số lượng bao gồm
những người trong độ tuổi lao động và những người trên và dưới độ tuổi lao động tham gia
hoạt động sản xuất nông nghiệp. Về chất lượng bao gồm thể lực và trí lực của người lao động,
gồm: trình độ sức khoẻ, trình độ nhận thức, trình độ văn hoá, trình độ chính trị, nghiệp vụ và
tay nghề của người lao động.
Để sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực trong nông nghiệp nói chung và trong xây
dựng nông thôn mới nói riêng cần khai thác và sử dụng có hiệu quả tiềm năng các nguồn lực
trong nông nghiệp, phát triển mạnh mẽ nền nông nghiệp hàng hoá nhiều thành
đẩy

mạnh việc áp

dụng tiến bộ khoa

học - công nghệ

phần,
vào

nông nghiệp thông qua các chương trình, dự án sản xuất trong quá trình thực hiện xây dựng
nông thôn mới; gắn chặt chẽ sử dụng lao động với việc giải quyết việc làm của người lao
động tại chỗ. Thông qua các chính sách của Nhà nước và cơ chế quản lý để tạo thêm việc làm
và khuyến khích người lao động trong nông thôn tự tạo việc làm cho mình, nâng cao năng
suất lao động và nâng cao mức sống của người lao động.
Phân bổ nguồn nhân lực một cách hợp lý giữa các hoạt động trong xây dựng nông
thôn mới là biện pháp quan trọng để sử dụng đầy đủ và hợp lý nguồn nhân lực ở nông thôn.
Thực hiện việc phân bổ lao động đòi hỏi phải kết hợp chặt chẽ lao động với các nguồn tài
nguyên và tư liệu sản xuất sẵn có trong từng lĩnh vực khác nhau trong nông thôn để khai thác
có hiệu quả tiềm năng đó, tạo ra các ngành nghề mới, vùng sản xuất chuyên môn hàng hoá,
làm cho nền kinh tế nông thôn phát triển một cách đồng đều.


Việc điều

chỉnh sức lao động từ các địa bàn đông dân cư đến các địa bàn

thưa dân cư trong mỗi địa phương có ý nghĩa thiết thực trong việc sử dụng nguồn nhân lực
trong nội bộ địa phương mình. Điều đó tạo ra điều kiện để sử dụng đầy đủ và hợp lý nguồn
nhân lực trong nông thôn.

b. Nguyên tắc sử dụng nguồn lực đất đai: sử dụng tiết kiệm, đầy đủ và hợp lý
Trong xây dựng nông thôn mới, đất đai là cơ sở nền móng để trên đó xây
dựng nhà cửa (thuộc các công trình công ích), xây dựng mạng lưới giao thông; trong sảnxuất
nông nghiệp thì đất

đai



tư liệu

sản xuất chủ yếu không thể

thay thế được.
Để thực hiện việc sử dụng đất đai một cách đầy đủ và hợp lý cần thực hiện đánh giá
đất đai theo số lượng, chất lượng và các điều kiện gắn với đất làm cơ sở khoa học cho việc
phân loại, bố trí, quy hoạch sử dụng đất theo hướng khai thác lợi thế so sánh của địa phương.
Phải sử dụng một cách tiết kiệm quỹ đất nông nghiệp, đặc biệt là việc chuyển đất
nông nghiệp sang mục đích sử dụng khác. Quỹ đất nông nghiệp rất có hạn về mặt diện tích,
trong khi đó nhu cầu về nông sản ngày càng tăng lên. Đồng thời nhu cầu chuyển một phần đất
nông nghiệp thành đất phi nông nghiệp cũng rất bức xúc trong quá trình công nghiệp hoá và
hiện đại hoá. Vì vậy, việc sử dụng tiết kiệm đất nông nghiệp vừa là yêu cầu vừa là biện pháp
để sử dụng đầy đủ và hợp lý đất đai. Hạn chế việc chuyển đất nông nghiệp sang mục đích sử
dụng khác.
Đẩy mạnh công tác chuyển đổi đất đai nhằm khắc phục tình trạng phân tán manh mún
trong sử dụng đất. Thúc đẩy quá trình tập trung ruộng đất trong sản xuất nông nghiệp, khuyến
khích thực hiện phương thức “ai giỏi nghề gì làm nghề đó”. Khuyến khích những người có
khả năng và nguyện vọng (có vốn, kiến thức và kinh nghiệm sản xuất, có ý chí làm giàu) kinh
doanh nông nghiệp, phát triển kinh tế trang trại.

c. Nguyên tắc sử dụng nguồn lực tài chính: sử dụng tiết kiệm và hiệu quả
Trong xây dựng nông thôn mới, Nhà nước đã đầu tư cho các địa phương có
chương trình xây dựng nông thôn mới một lượng vốn rất lớn; ngoài ra hàng năm, lượng vốn
đầu tư xây dựng cơ bản cho nông nghiệp, nông thôn cũng đã chiếm một tỷ lệ
trong toàn bộ

đáng

nền kinh tế. Vì thế, việc sử dụng nguồn lực tài chính

kể


trong xây dựng nông thôn mới một cách tiết kiệm, hiệu quả là điều kiện chủ yếu để nâng cao
hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính.
Để thực hiện được điều trên, trước hết phải xác định đúng đắn phương hướng đầu tư
tài chính cho từng nội dung, chương trình, hạng mục trong xây dựng nông thôn mới. Điều này
phải xuất phát từ phương hướng bố trí, cơ cấu của từng hoạt động cần đầu tư tài chính trong
xây dựng nông thôn mới ở mỗi địa phương sao cho phù hợp, trên cơ sở đó lựa chọn phương
án đầu tư tài chính tối ưu. Nguồn lực tài chính đầu tư cho xây dựng nông thôn mới cần tập
trung giải quyết những nhiệm vụ to lớn trong nông nghiệp, nông thôn ở mỗi địa phương, và
trong từng giai đoạn cần tập trung vào cây gì, con gì và ở vùng nào là cần được tính toán và
lựa chọn một cách đúng đắn.
Trong sử dụng nguồn lực tài chính cho xây dựng nông thôn mới cần phải giải quyết
tối mối quan hệ giữa khôi phục, cải tạo và xây dựng mới một cách hài hoà và có hiệu quả.
Đầu tư tài chính cho các công trình, hạng mục trong xây dựng nông thôn mới cần được thi
công dứt điểm sớm đưa vào sử dụng nhằm phát huy tác dụng tốt của đầu tư tài chính.
Xây dựng cơ cấu vốn đầu tư tài chính cho xây dựng nông thôn mới một cách hợp lý
bao gồm cơ cấu vốn cố định có tính chất sản xuất và phi sản xuất vật chất, cơ cấu hợp lý các
yếu tố trong vốn cố định để sử dụng đầy đủ và có hiệu quả các tài sản cố định đã được trang
bị, tránh tình trạng mất cân đối, gây nên lãng phí trong sử dụng nguồn lực tài chính.
Xây dựng định mức đúng đắn và quản lý nguồn lực tài chính cho xây dựng nông thôn
mới theo định mức, quản lý tốt vật liệu,

dụng cụ, chi phí sản xuất dở

dang, chi phí chờ phân bổ, thành phẩm, tiền mặt...
Tăng cường công tác kiểm soát tài sản, nêu cao kỷ luật tài chính, tránh tình trạng
chiếm dụng vốn lẫn nhau.

1.1.6.

Các yếu tố ảnh hưởng tới huy động và sử dụng nguồn lực cho xây dựng nông thôn

mới
1.1.6.1. Năng lực của Ban chỉ đạo/Ban quản lý xây dựng nông thôn mới
Năng lực của Ban chỉ đạo/Ban quản lý xây dựng nông thôn mới là một trong những
yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến việc huy động nguồn lực. Năng lực của
Ban chỉ đạo ảnh hưởng đến việc lập kế hoạch huy động, xây dựng phương pháp huy động và


chỉ rõ các nguồn lực cần phải huy động cho xây dựng nông thôn mới’ trên cơ sở đó xác định
mức độ có khả năng huy động và định mức từng hạng mục đầu tư sử dụng nguồn lực huy
động. Năng lực của Ban chỉ đạo ảnh hưởng đến việc tổ chức thực hiện
khai việc

huy động nguồn lực, qua đó ảnh hưởng trực tiếp đến

triển
hiệu

quả của việc huy động các nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới.

1.16.2.

Sự tham gia của cộng đồng trong huy động các nguồn lực
Ý thức cộng đồng tại các địa phương được thể hiện bằng việc tự nguyện

tham gia vào các hoạt động tập thể của cộng đồng. Khái niệm ý thức cộng đồng có tính lý
thuyết hơn, dựa vào quyền lợi của những thành viên và các nhà nghiên cứu (Gardner và Stern,
1996; Zanetell, 2000) trong tương quan giữa ý thức cộng đồng với mức độ tham gia của
người dân địa phương trong quản lý phát triển. Cộng đồng là khái niệm có 2 khía cạnh tự
nhiên và tinh thần mà các thành viên cộng đồng đã từng trải. Khái niệm các hoạt động phát
triển ở nông thôn dựa vào lãnh thổ, hoặc dưới tên gọi khác là các hoạt động phát triển ở nông
thôn dựa vào cộng đồng, dẫn tới việc phân cấp các hoạt động phát triển ở cấp địa phương.
Cộng đồng cũng thể hiện những kinh nghiệm được chia sẻ kết nối cuộc sống của
người dân trong cùng một không gian. Điều này dẫn tới tình cảm và sự gắn kết về tinh thần.
Ý thức của từng cá thể cộng đồng ảnh hưởng tới việc tự nguyện tham gia vào các hoạt động
để trợ giúp và hoàn thiện cộng đồng (McMillan,1996; St. Anne, 1999). Ý thức cộng đồng
được hình thành qua lịch sử cộng đồng. Nó bao gồm sự tự nguyện ở lại cộng đồng, thăm hỏi
lẫn nhau, có cùng cảm xúc với các thành viên cộng đồng, tranh thủ hoặc trao đổi tình cảm với
nhau,... (Zanetell và Knuth, 2004; Buckners, 1988).
1.1.63. Yếu tố kinh tế địa phương
Điều kiện

kinh tế địa phương cũng ảnh hưởng tới mức độ huy động các

nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới. Các địa phương khác nhau có mức độ kinh tế khác
nhau và có sự huy động nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới khác nhau. Đối với các địa
phương có điều kiện kinh tế mạnh, cũng là những địa phương còn ít
khó khăn trong xây dựng nông thôn mới và việc huy động nguồn lực cho xây dựng nông thôn
mới

cũng trở nên dễ dàng hơn. Ngược lại, đối với các địa phương còn

nhiều khó khăn, đồng nghĩa với việc có nhiều hạng mục công trình cần phải đầu tư xây dựng


x

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×