Tải bản đầy đủ

Nghiên cứu các hình thức liên kết trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ chè tại huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP
------------------

NGUYỄN THỊ NGỌC ÁNH

NGHIÊN CỨU CÁC HÌNH THỨC LIÊN KẾT TRONG SẢN XUẤT,
CHẾ BIẾN VÀ TIÊU THỤ CHÈ TẠI HUYỆN ANH SƠN - NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Hà Nội - 2009
- 1-


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP
------------------


NGUYỄN THỊ NGỌC ÁNH

NGHIÊN CỨU CÁC HÌNH THỨC LIÊN KẾT TRONG
SẢN XUẤT, CHẾ BIẾN VÀ TIÊU THỤ CHÈ TẠI HUYỆN
ANH SƠN, TỈNH NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 60.31.10

Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN THỊ DƯƠNG NGA

HÀ NỘI - 2009

- 2-


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để
bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

- 3-


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài: “Nghiên cứu các hình thức liên kết trong sản
xuất, chế biến và tiêu thụ chè tại huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An", tôi xin
bày tỏ lòng biết ơn đối với tất cả các thầy cô giáo: Khoa kinh tế và phát
triển nông thôn, Viện đào tạo sau đại học, bộ môn kinh tế lượng đã truyền
đạt cho tôi những kiến thức bổ ích trong quá trình học tập và thực hiện
luận văn này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn lãnh đạo cùng với các cán bộ phòng
NN&PTNT, phòng thống kê huyện Anh Sơn; Ban lãnh đạo cùng với cán
bộ xã Hùng Sơn, Đỉnh Sơn, Long Sơn và một số xã lân cận. Tôi cũng xín

trân trọng cảm ơn ban giám đốc xí nghiệp chè Hùng Sơn, Bãi Phủ, Kim
Long cùng với các nông dân đã tạo điều kiện giúp đỡ cho tôi trong suất
quá trình diều tra thu thập số liệu tại địa phương.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn TS. Nguyễn
Thị Dương Nga, người đã nhịêt tình chỉ dẫn, định hướng, truyền thụ kiến
thức trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Qua đây tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đối với tất cả các đồng
nghiệp, gia đình và bạn bè đã giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi trong suốt
quá trình học tập và nghiên cứu.
Hà Nội, ngày

tháng

năm 2009

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

- 4-


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN..............................................................................................3
LỜI CẢM ƠN...................................................................................................4
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT...................................................................6
Mô hình 4.1: Mô tả hình thức liên kết với xí nghiệp chè Hùng Sơn và Bãi
Phủ...61..............................................................................................................9
I. MỞ ĐẦU......................................................................................................10
II.TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU..................................................14
III. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU................43
Bảng 3.1: Tình hình sử dụng đất đai của huyện Anh Sơn qua 3 năm (20062008)................................................................................................................46
Bảng 3.2: Tình hình dân số và lao động của huyện Anh Sơn qua 3 năm (20062008)................................................................................................................49
Bảng 3.3: Kết quả sản xuất kinh doanh của huyện Anh Sơn qua 3 năm (2006
-2008)..............................................................................................................52
Bảng 3.4: Kết cấu mẫu điều tra.......................................................................54
IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN........................................56
Ảnh 4.1. Vườn chè giống LDP1......................................................................57
Bảng 4.1: Diện tích chè búp tươi huyện Anh Sơn qua 3 năm (2006-2008)....58
Bảng 4.2: Năng suất chè búp tươi huyện Anh Sơn qua 3 năm (2006-2008)...59
Bảng 4.3: Sản lượng chè búp tươi qua 3 năm (2006-2008)............................60
Bảng 4.4: Căn cứ phân loại chè búp tươi tại huyện Anh Sơn.........................61

- 5-


Mô hình 4.1: Mô tả hình thức liên kết với xí nghiệp chè Hùng Sơn và Bãi Phủ
.........................................................................................................................65
Mô hình 4.2: Mô tả hình thức liên kết với xí nghiệp chè Kim Long..............67
Bảng 4.9: Lợi ích của các hộ khi mua đầu vào...............................................75
Bảng 4.10: Lợi ích trong vay vốn tín dụng.....................................................78
Bảng 4.11: Tình hình tham gia tập huấn kỹ thuật...........................................79
Bảng 4.12: Lợi ích khi tiêu thụ đầu ra.............................................................80
Biểu đồ 4.1. Mức độ chủ động đầu vào của các xí nghiệp và cơ sở...............82
Bảng 4.13: Chất lượng chè búp tươi thu mua của các đơn vị.........................82
Bảng 4.14: Kết quả và hiệu quả sản xuất của các hộ trồng chè......................86
V. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ...........................................................105
5.1. Kết luận..................................................................................................105
PHỤ LỤC......................................................................................................110
PHỤ LỤC 1: Trồng và chăm sóc chè............................................................110

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BQ

: Bình quân

CC

: Cơ cấu

ĐVT

: Đơn vị tính

LK

: Liên kết

Tr.đ

: Triệu đồng

XN

: Xí nghiệp

NN&PTNT

: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

THCS

: Trung học cơ sở

- 6-


THPT

: Trung học phổ thông



: Lao động

DT

: Diện tích

SL

: Số lượng

NN

: Nông nghiệp

GT

: Giá trị

- 7-


DANH MỤC HỆ THỐNG BẢNG
HÀ NỘI - 2009.......................................................................................................................1
HÀ NỘI - 2009.......................................................................................................................2

LỜI CAM ĐOAN..............................................................................................3
LỜI CẢM ƠN...................................................................................................4
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT...................................................................6
Mô hình 4.1: Mô tả hình thức liên kết với xí nghiệp chè Hùng Sơn và Bãi
Phủ...61..............................................................................................................9
I. MỞ ĐẦU......................................................................................................10
II.TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU..................................................14
III. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU................43
Bảng 3.1: Tình hình sử dụng đất đai của huyện Anh Sơn qua 3 năm (20062008)................................................................................................................46
Bảng 3.2: Tình hình dân số và lao động của huyện Anh Sơn qua 3 năm (20062008)................................................................................................................49
Bảng 3.3: Kết quả sản xuất kinh doanh của huyện Anh Sơn qua 3 năm (2006
-2008)..............................................................................................................52
Bảng 3.4: Kết cấu mẫu điều tra.......................................................................54
IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN........................................56
Ảnh 4.1. Vườn chè giống LDP1......................................................................57
Bảng 4.1: Diện tích chè búp tươi huyện Anh Sơn qua 3 năm (2006-2008)....58
Bảng 4.2: Năng suất chè búp tươi huyện Anh Sơn qua 3 năm (2006-2008)...59
Bảng 4.3: Sản lượng chè búp tươi qua 3 năm (2006-2008)............................60
Bảng 4.4: Căn cứ phân loại chè búp tươi tại huyện Anh Sơn.........................61

- 8-


Mô hình 4.1: Mô tả hình thức liên kết với xí nghiệp chè Hùng Sơn và Bãi Phủ
.........................................................................................................................65
Mô hình 4.2: Mô tả hình thức liên kết với xí nghiệp chè Kim Long..............67
Bảng 4.9: Lợi ích của các hộ khi mua đầu vào...............................................75
Bảng 4.10: Lợi ích trong vay vốn tín dụng.....................................................78
Bảng 4.11: Tình hình tham gia tập huấn kỹ thuật...........................................79
Bảng 4.12: Lợi ích khi tiêu thụ đầu ra.............................................................80
Biểu đồ 4.1. Mức độ chủ động đầu vào của các xí nghiệp và cơ sở...............82
Bảng 4.13: Chất lượng chè búp tươi thu mua của các đơn vị.........................82
Bảng 4.14: Kết quả và hiệu quả sản xuất của các hộ trồng chè......................86
V. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ...........................................................105
5.1. Kết luận..................................................................................................105
PHỤ LỤC......................................................................................................110
PHỤ LỤC 1: Trồng và chăm sóc chè............................................................110
PHỤ LỤC 3: QUYẾT ĐỊNH CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ.....................................115
DANH MỤC HỆ THỐNG SƠ ĐỒ, HÌNH ẢNH

Hình 2.1. Xuất khẩu chè trên thế giới.............................................................24
Ảnh 4.1. Vườn chè giống LDP1......................................................................45
Mô hình 4.1: Mô tả hình thức liên kết với xí nghiệp chè Hùng Sơn và Bãi Phủ...61
Mô hình 4.2: Mô hình liên kết với xí nghiệp chè Kim Long...........................63
Mô hình 4.3: Các tác nhân tham gia LK trong hình thức phi chính thống......65
Biểu đồ 4.1. Mức độ chủ động đầu vào của các xí nghiệp và cơ sở................69
Biểu đồ 4.2. Mức đảm bảo công suất của các xí nghiệp.................................75

- 9-


I. MỞ ĐẦU
1.1.

Tính cấp thiết
Chè là một cây công nghiệp lâu năm, có đời sống kinh tế lâu dài, mau

cho sản phẩm, cho hiệu quả kinh tế cao. Chè trồng một lần, có thể thu hoạch
30-40 năm hoặc lâu hơn nữa. Trong điều kiện thuận lợi thì cuối năm thứ nhất
đã thu bói trên dưới một tấn búp/ha. Các năm thứ hai thứ ba cũng cho một sản
lượng đáng kể khoảng 2-3 tấn búp/ha. Từ năm thứ tư chè đã đưa vào kinh
doanh sản xuất. Bên cạnh đó, chè là sản phẩm có thị trường quốc tế ổn định,
rộng lớn và ngày càng được mở rộng [Phan tuân, 2005].

- 10
-


Với ưu thế, nguồn tài nguyên đất đai, lao động... sản xuất chè đã trở
thành tập quán canh tác của bà con nông dân Việt Nam và ngày càng khẳng
định vị trí trong nền kinh tế quốc dân nói chung cũng như sản xuất nông
nghiệp nói riêng.
Nghệ An là một tỉnh miền núi có điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội
thuận lợi cho phát triển cây chè. Hiện nay cây chè được xác định là cây có vị
trí quan trọng của tỉnh. Góp phần tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo, tăng thu
nhập cho các hộ nông dân trồng chè.
Anh Sơn là một trong 2 huyện trọng điểm chè của tỉnh. Hơn nữa với lợi
thế vùng đồi và chất đất phù hợp với cây chè, những năm gần đây bằng nhiều
cơ chế, chính sách, Anh Sơn đã đẩy mạnh phát triển vùng chè nguyên liệu
phục vụ chế biến, xuất khẩu. Đến nay các đồi chè đang dần được khép kín và
đi vào đầu tư thâm canh tăng năng suất. Đến thời điểm này, năm 2008 diện
tích chè của huyện đã đạt hơn 2500 ha. Theo quy hoạch đến năm 2010, huyện
Anh Sơn sẽ phát triển được trên 3000 ha chè công nghiệp [Sỹ Thuần, 2009]
Sau 5 năm triển khai Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg ngày 24 tháng 6
năm 2002 của Thủ tướng Chính Phủ về chính sách tiêu thụ nông sản thông
qua hợp đồng đã mở ra hướng đi tích vực giúp cho sản xuất nông nghiệp gắn
với chế biến, tiêu thụ, thu hút nhiều doanh nghiệp và nông dân tham gia.
Huyện Anh Sơn cũng đã thu được những thành tựu nhất định trong quá trình
liên kết để sản xuất, chế biến và tiêu thụ chè. Thông qua hợp đồng tiêu thụ
sản phẩm chè, bước đầu đã gắn trách nhiệm các xí nghiệp với người sản xuất;
nông nghiệp có điều kiện tiếp nhận hỗ trợ về đầu tư, các biện pháp kỹ thuật,
giá cả hợp lý, phấn khởi, yên tâm sản xuất, thu nhập từng bước được nâng
cao; xí nghiệp đã chủ động được nguyên liệu mở rộng quy mô sản xuất, tăng
cường năng lực cạnh tranh.
Bên cạnh những kết quả đạt được trong sản xuất chè nhưng huyện vẫn
còn tồn tại nhiều vấn đề về vốn, kỹ thuật cho hộ nông dân…Nhưng vấn đề

- 11
-


lớn nhất mà các hộ trồng chè của huyện đang phải đối mặt, đó chính là đầu ra
cho sản phẩm. Đây cũng là điều mong muốn nhất của người dân trồng chè để
giải quyết tốt đầu ra cho sản phẩm chè búp tươi.
Hiện nay trên địa bàn huyện cũng có rất nhiều mô hình liên kết giữa
người sản xuất chè với các xí nghiệp chè, các cơ sở chế biến…để góp phần
giải quyết đầu ra của sản phẩm chè. Nhưng còn rất nhiều hạn chế và chưa
thực sự hiệu quả. Doanh nghiệp, hộ nông dân chưa thực sự gắn bó và thực
hiện đúng cam kết đã ký; tỷ lệ nông sản hàng hóa được tiêu thụ thông qua hợp
đồng còn rất thấp; doanh nghiệp chưa quan tâm đầu tư vùng nguyên liệu,
chưa điều chỉnh kịp thời hợp đồng bảo đảm hài hòa lợi ích của nông dân khi
có biến động về giá cả; trong một số trường hợp, nông dân không bán hoặc
giao nông sản cho doanh nghiệp theo hợp đồng đã ký; xử lý vi phạm hợp
đồng không kịp thời và chưa triệt để; tình trạng tranh mua, tranh bán vẫn xảy
ra khi đã có hợp đồng.
Để góp phần giải quyết những vấn đề trên, chúng tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài: “Nghiên cứu các hình thức liên kết trong sản xuất, chế biến và
tiêu thụ chè tại huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An”

- 12
-


1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1. Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu các hình thức liên kết trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ
chè tại huyện Anh Sơn, từ đó đưa ra các khuyến nghị nhằm tăng cường các
hình thức liên kết và đảm bảo hơn lợi ích cho nông dân và các xí nghiệp chè
tại huyện.
1.2.2. Mục tiêu cụ thế
1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận cơ bản về liên kết kinh tế, hợp đồng liên kết.
2. Xác định các hình thức và đặc điểm liên kết trong sản xuất và chế
biến chè tại huyện Anh Sơn
3. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới liên kết trong sản xuất chế biến
và tiêu thụ chè tại huyện Anh Sơn-Nghệ An
4. Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển các hình
thức liên kết, đảm bảo lợi ích cho các bên tham gia.
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
Hộ nông dân trồng chè, xí nghiệp và cơ sở chế biến chè
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian nghiên cứu: Đề tài được nghiên cứu tại huyện
Anh Sơn, tỉnh Nghệ An
- Phạm vi về thời gian nghiên cứu: Đánh giá thực trạng qua 3 năm 20062008 và định hướng đến năm 2010.

- 13
-


II.TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở lí luận
2.1.1. Khái quát về liên kết kinh tế
2.1.1.1. Khái niệm về liên kết
Theo từ điển Thuật ngữ kinh tế học của Viện nghiên cứu và phổ biến tri
thức bách khoa thì “liên kết kinh tế là hình thức hợp tác phối hợp hoạt động
do các đơn vị kinh tế tự nguyện tiến hành nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh
phát triển theo hướng có lợi nhất trong khuôn khổ pháp luật của nhà nước ”.
Mục tiêu là tạo mối liên kết kinh tế ổn định thông qua các hoạt động kinh tế
hoặc các quy chế hoạt động để tiến hành phân công sản xuất, khai thác tốt các
tiềm năng của các đơn vị tham gia liên kết để tạo ra thị trường tiêu thụ chung
và bảo vệ lợi ích cho nhau.
David W. Pearce trong từ điển kinh tế học hiện đại cho rằng liên kết
kinh tế thị trường chỉ tình huống khi mà các khu vực khác nhau của một nền
kinh tế thường là khu vực công nghiệp và nông nghiệp hoạt động phối hợp với
nhau có một cách có hiệu quả và phụ thuộc lẫn nhau, là một yếu tố của quá
trình phát triển. Điều kiện này thường đi kèm với sự tăng trưởng bền vững.
Theo quyết định số 38/1989/QĐ – HĐBT ngày 4 tháng 4 năm 1989
của Hội đồng bộ trưởng về liên kết kinh tế trong sản xuất lưu thông và dịch
vụ và các văn bản của nhà nước thì liên kết kinh tế được hiểu là những hình
thức phối hợp hoạt động do các đơn vị kinh tế tiến hành để cuungf nhau bàn
bạc và đề ra các chủ trương, biện pháp có liên quan đến công việc sản xuất
kinh doanh của mình nhằm thúc đẩy sản xuất theo hướng có lợi nhất.
Tác giả Phạm Thị Minh Nguyệt (2006) cho rằng: “Liên kết kinh tế
chính là những phương thức hoạt động của các hình thức hợp tác kinh tế, liên
kết kinh tế phát triển ngày càng phong phù, đa dạng theo sự phát triển của
hợp tác kinh tế; tất cả các mối quan hệ kinh tế được hình thành giữa hai hay

- 14
-


nhiều đối tác với nhau dựa trên những hợp đồng đã ký kết với những thoả
thuận nhất định được gọi là liên kết kinh tế”.
Một số tác giả còn phát triển quan điểm liên kết kinh tế thành các
phương thức khác nhau bao gồm liên kết theo chiều ngang và liên kết theo
chiều dọc.
Liên kết theo chiều dọc là liên kết được thực hiện theo trật tự các khâu
của quá trình sản xuất kinh doanh (theo dòng vận động của sản phẩm). Kiểu
liên kết theo chiều dọc toàn diện nhất bao gồm các giai đoạn từ sản xuất, chế
biến nguyên liệu đến phân phối thành phẩm. Trong mối liên kết này, thông
thường mỗi tác nhân tham gia vừa có vai trò là khách hàng vủa tác nhân
trước đó đồng thời là người cung cấp sản phẩm cho tác nhân tiếp theo của
quá trình sản xuất kinh doanh. Kết quả của liên kết dọc là hình thành nên
chuỗi giá trị của một ngành hàng và có thể làm giảm đáng kể chi phí vận
chuyển, chi phí cho khâu trung gian.[Lê Văn Lương, 2008].
Liên kết theo chiều ngang là hình thức liên kết mà trong đó mỗi tổ
chức hay cá nhân tham gia là một đơn vị hoạt động độc lập nhưng có mối
quan hệ với nhau thông qua một bộ máy kiểm soát chung. Trong liên kết này,
mỗi thành viên tham gia có sản phẩm hoặc dịch vụ cạnh tranh nhau nhưng họ
liên kết lại để nâng cao khả năng cạnh tranh cho từng thành viên nhờ phát
huy tính lợi ích kinh tế nhờ quy mô của tổ chức kinh tế. Kết quả của liên kết
theo chiều ngang hình thành nên những tổ chức liên kết như hợp tác xã, liên
minh, hiệp hội...và cũng có thể dẫn đến độc quyền trong một thị trường nhất
định. Với hình thức liên kết này, ngành nông nghiệp có thể hạn chế được sự
ép cấp, ép giá nông sản của các cơ sở chế biến nhờ sự làm chủ thị trường
nông sản. [Phạm Thị Minh Nguyệt, 2006].
Như vậy liên kết kinh tế là sự biểu hiện của chế độ hợp tác, nó phản
ánh mỗi quan hệ về hợp tác và phân công lao động trong các quá trình sản
xuất xã hội của các ngành, các địa phương, các đơn vị kinh tế, các thành phần

- 15
-


kinh tế... Liên kết kinh tế là sự hợp tác, phối hợp giữa các chủ thể kinh tế trên
cơ sở tự nguyện nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh theo hướng có lợi nhất.
Liên kết kinh tế có thể diễn ra trong mọi ngành sản xuất kinh doanh thu hút
sự tham gia của tất cả các chủ thể kinh tế có nhu cầu của mọi thành phần kinh
tế và không bị giới hạn bởi phạm vi địa lý.
2.1.1.2.Đặc trưng của liên kết kinh tế
Liên kết kinh tế là một phạm trù khách quan phản ánh những quan hệ
xuất phát từ lợi ích kinh tế khác nhau của những chủ thể kinh tế cũng như
quá trình vận động và phát triển theo tự nhiên của lực lượng sản xuất, xuất
phát từ trình độ, phạm vu của phân công lao động xã hội và chuyên môn hoá
sản xuất kinh doanh [Trần Văn Hiếu, 2005].
Liên kết kinh tế là những quan hệ kinh tế đạt tới trình độ gắn bó chặt chẽ,
ổn định, thường xuyên, lâu dài thông qua những thoả thuận, hợp đồng từ trước
giữa các bên tham gia liên kết. Không phải tất cả quan hệ kinh tế nào cũng là liên
kết kinh tế. Những quan hệ kinh tế nhất thời, những trao đổi ngẫu nhiêu không
thường xuyên giữa các chủ thể kinh tế không phải là liên kết kinh tế.
Liên kết kinh tế là một quá trình làm xích lại gần nhau và ngày càng cố kết
với nhau, trên tinh thần tự nguyện giữa các bên tham gia liên kết [Dương Bá
Phượng, 1995]. Quá trình này vận động, phát triển qua những nấc thang từ quan
hệ hợp tác, liên doanh đến liên hợp, liên minh, hợp nhất lại. Như vậy phân công
lao động và chuyên môn hoá sản xuất kinh doanh là điều kiện hình thành các liên
kết kinh tế còn hợp tác hoá, liên hợp hóa là những hình thức biểu hiện của những
nấc thang, những bước phát triển của liên kết kinh tế.[Lê Văn Lương, 2008]
Liên kết kinh tế là những hình thức hoặc biểu hiện của sự hành động
giữa chủ thể liên kết thông qua những thoả thuận, những giao kèo, hợp đồng,
hiệp định, điều lệ...nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định trong tất cả các
lĩnh vực khác nhau của hoạt động kinh tế (đầu tư, sản xuất, kinh doanh...).

- 16
-


Tuỳ theo góc độ xem xét, quá trình liên kết có thể diễn ra liên kết theo ngành,
liên kết giữa các thành phần kinh tế, liên kết theo vùng lãnh thổ...
2.1.1.3. Những nguyên tắc cơ bản của liên kết kinh tế
Một là, phải đảm bảo sản xuất kinh doanh của các chủ thể tham gia
liên kết phát triển và có hiệu quả ngày càng tăng
Dù liên kết kinh tế dưới hình thức và mức độ nào đi nữa thì yêu cầu
của hoạt động liên kết kinh tế ấy phải đảm bảo để sản xuất và kinh doanh của
các chủ thể tham gia không ngừng được phát triển, doanh thu ngày càng tăng,
năng suất và chất lượng sản phẩm ngày càng cao. Liên kết kinh tế phải nâng
cao được trình độ công nghệ, mở rộng mặt hàng, sản xuất ngày càng phù hợp
với nhu cầu thị trường, giá thành hạ, đem lại nhiều lợi nhuận cho các chủ thể
trên cơ sở giá bán và chất lượng sản phẩm được người tiêu dùng chấp nhận
Hai là, phải đảm bảo nguyên tắc tự nguyện và tự chịu trách nhiệm giữa các
bên tham gia liên kết
Các hoạt động hợp tác, liên kết kinh tế giữa các chủ thể tham gia được
thực hiện một cách thuận lợi, trôi chảy, thành công và đem lại hiệu quả cao
khi các chủ thể tự nguyện tìm đến với nhau, tự thoả thuận quan hệ hợp tác,
liên kết làm ăn với nhau lâu dài trên tinh thần bình đẳng, cùng chịu trách
nhiệm đến cùng về các thành công cũng như thất bại và rủi ro. Tất cả các
hình thức hợp tác, liên kết kinh tế, tổ chức kinh tế được thiết lập trên cơ sở
những ý đồ không xuất phát từ nguyên tắc tự nguyện, từ những liên hệ tất
yếu về phương diện kinh tế, nghĩa là tiến hành trên cơ sở gò bó, gượng ép bắt
buộc đều hoạt động không thành công, kém hiệu quả.
Ba là, phải đảm bảo sự thống nhất hài hoà lợi ích kinh tế giữa các bên
tham gia liên kết.
Lợi ích kinh tế chính là động lực thúc đẩy các bên tham gia liên kết
kinh tế với nhau, là chất kết dính với nhau trong quá trình liên kết. Các bên
tìm đến với nhau thoả thuận tiến hành hợp tác, liên kết với nhau vì họ tìm

- 17
-


thấy những lợi ích lâu dài. Cho nên việc đảm bảo thống nhất hài hoà lợi ích
giữa các bên sẽ tạo nên chất kết dính bền vững. Khi lợi ích kinh tế của một
hoặc một số chủ thể nào đó bị xâm phạm hoặc thiếu sự công bằng, thống nhất
sẽ tạo ra sự rạn nứt của mối liên hệ bền vững, dẫn đến sự phá vỡ tổ chức liên
kết, mối liên hệ đã được thiết lập. Sự phân chia lợi nhuận, phổ biến thiệt hại,
rủi ro, các tính toán về chi phí giá cả... cần được tiến hành thoả thuận, bàn
bạc một cách công khai, dân chủ, bình đẳng và đảm bảo công bằng trên cơ sở
những đóng góp của các bên liên kết. [Nguyễn Thị Bích Hồng, 2008]
Bốn là, phải thực hiện được trên cơ sở những ràng buộc pháp lý giữa
các bên tham gia ràng buộc giữa các bên tham gia liên kết, và thông qua hợp
đồng kinh tế.
Hợp đồng kinh tế là khế ước, là những thỏa thuận, những điều khoản
ràng buộc trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi giữa các bên tham gia liên kết,
được pháp luật thừa nhận và bảo hộ. Trong nền kinh tế thị trường, mọi hoạt
động kinh tế đều phải tiến hành trên cơ sở pháp luật của Nhà nước cho phép,
đồng thời được pháp luật bảo hộ những tranh chấp giữa các bên quan hệ làm
ăn với nhau. Cho nên, để có những căn cứ pháp lý cho các cơ quan pháp luật
phán quyết những tranh chấp giữa các bên có quan hệ kinh tế với nhau đều
phải có khế ước hay hợp đồng kinh tế được ký kết theo đúng luật pháp của
quốc gia. Nước ta đang trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế, mọi mối liên
kết kinh tế muốn phát triển lâu dài, cần phải thực hiện theo đúng pháp luật,
phải thông qua hợp đồng kinh tế. Có như vậy nhà nước mới đủ căn cứ pháp
lý để giải quyết tranh chấp, bất đồng xảy ra giữa các bên. Đối với hoạt động
liên kết kinh tế là những mối quan hệ kinh tế ổn định, thường xuyên, lâu dài
lại càng cần được tiến hành qua hợp đồng kinh tế. Nó còn là những căn cứ để
các bên tiến hành đàm phán giải quyết những bất đồng, tranh chấp nhỏ xảy ra
giữa các bên, làm cho các quan hệ kinh tế liên kết ngày càng bền chặt hơn.

- 18
-


Việc thực hiện tốt các hợp đồng kinh tế sẽ tạo thuận lợi cho các bên tham gia
liên kết thực hiện tốt các kế hoạch sản xuất kinh doanh của mình.
Sự phát triển của liên kết kinh tế làm cho lực lượng sản xuất ngày càng
phát triển , mức độ tập trung hóa ngày càng cao, làm cho các khu vực kinh tế
ngày càng xích lại gần nhau, gắn bó với nhau hơn. Liên kết kinh tế là sợi dây,
là chất nhựa gắn bó các doanh nghiệp, các chủ thể liên kết lại với nhau trên
cơ sở đảm bảo lợi ích sống còn trên thị trường. Hoạt động liên kết kinh tế là
nhằm phát triển, tìm kiếm, khai thác ngày càng nhiều nguồn nguyên liệu cho
sản xuất, đa dạng hóa mặt hàng , tăng nhanh khối lượng và chất lượng sản
phẩm, rút ngắn và đẩy nhanh quá trình lưu thông, tiêu thụ sản phẩm, mở rộng
và phát triển thị trường, tức là nâng cao năng suất lao động, tồn tại, phát triển
và mang lại hiệu quả kinh tế ngày càng cao. [Phan Xuân Dũng, 2007]
Tùy từng loại hình tổ chức và yêu cầu của sản xuất kinh doanh,mức độ liên
kết giữa các thành viên có thể theo từng loại công việc, từng bước của công nghệ
sản xuất, theo từng loại sản xuất hoặc theo từng lĩnh vực hoạt động chuyên môn
hóa cũng như cung ứng, chuẩn bị sản xuất,bảo quản, tiêu thụ…
2.1.1.4. Vai trò của liên kết kinh tế
Liên kết kinh tế là một hình thức đem lại lợi ích chắc chắn cho các bên
liên quan. Khác với mọi liên kết lỏng lẻo giữa nông dân và các doanh nghiệp
chế biến, tiêu thụ sản phẩm, liên kết kinh tế thông qua hợp đồng loại bỏ các
tầng lớp mua bán trung gian nên trực tiếp bảo vệ được người sản xuất, nhất là
người nghèo khi bán sản phẩm. Liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp chế
biến và hộ nông dân cho phép xóa bỏ độc quyền đối với doanh nghiệp trong
việc ép cấp, ép giá khi mua sản phẩm của người nông dân. Mặt khác, thực
hiện liên kết thông qua hợp đồng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp chế biến
có nguồn cung cấp ổn định để phấn đấu giảm giá thành, tăng chất lượng sản
phẩm, nâng cao được năng lực cạnh tranh đối với sản phẩm của mình trên thị
trường trong nước và quốc tế. [Minh Hoài, 2006]

- 19
-


Thực hiện liên kết thông qua hợp đồng giúp cho các cơ sở chế biến,
xuất khẩu có điều kiện mở rộng quy mô hoạt động do có sự đảm bảo ổn định
về số lượng, chất lượng và tiến độ của nông sản cung cấp cho sản xuất.
Như vậy, việc thực hiện liên kết theo hợp đồng sẽ đưa lại lợi ích cho cả
hai bên, tạo nên cơ hội để đầu tư theo chiều sâu, áp dụng đồng bộ công nghệ,
kỹ thuật mới để phát triển sản xuất một cách bền vững. Việc tăng khả năng
tiếp cận các công nghệ, kỹ thuật mới còn giúp người nông dân giải phóng
được sức lao động, cho phép giảm giá thành và tăng khả năng cạnh tranh của
hàng nông sản. Đây là hướng tích cực và có nhiều triển vọng giúp cho hàng
triệu hộ nông dân sản xuất nhỏ chưa có điều kiện tích lũy đất đai có điều kiện
áp dụng công nghệ mới trong sản xuất, đồng thời cũng là chìa khóa mở lối
thoát cho thị trường lâm sản Việt Nam.
Nhờ chuyển tổ chức sản xuất từ liên kết ngang (người sản xuất/người
thu gom/người kinh doanh lớn xuất khẩu…) sang hình thức liên kết dọc theo
nghành hàng (sản xuất – chế biến – tiêu thụ), liên kết kinh tế thông qua hợp
đồng giữa người sản xuất nguyên liệu và doanh nghiệp chế biến đem lại tác
dụng to lớn sau:
- Chuyển một phần lợi nhuận của người mua bán trung gian hoặc công
ty kinh doanh sang cho người sản xuất, trực tiếp đầu tư phát triển vùng
nguyên liệu.
- Chia sẻ một phần rủi ro trong sản xuất nông nghiệp sang cho các cơ
sở chế biến, tiêu thụ tham gia gánh chịu, người sản xuất nông nghiệp chỉ còn
chịu rủi ro ở khâu sản xuất nguyên liệu.
- Nối kết thông tin hai chiều giữa thị trường tiêu dùng với người sản
xuất, nhờ đó sản phẩm đáp ứng được yêu cầu về tiêu chuẩn chất lượng, vệ
sinh an toàn thực phẩm do thị trường đòi hỏi, trên cơ sở đó tăng được khả
năng cạnh tranh và nâng cao được giá trị của sản phẩm.

- 20
-


- Thông qua hợp đồng sẽ tập trung được hợp đồng sẽ tập trung được
nhiều hộ sản xuất tiểu nông nhỏ lẻ thành các vùng sản xuất hàng hóa tập
trung với chất lượng đồng đều và ổn định.
- Gắn kết được công nghiệp chế biến và hoạt động kinh doanh phục vụ
với địa bàn nông thôn, góp phần quan trọng chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông
nghiệp theo hướng đa dạng hóa, công nghiệp hóa-công nghiệp phát triển.
- Thông qua liên kết, các đơn vị kinh tế, các tổ chức có điều kiện hỗ
trợ, giúp cho các nhóm hộ, hợp tác xã phát triển, tạo ra những khả năng để
phát triển năng lực nội tại của kinh tế hộ, đồng thời tạo lập môi trường kinh
tế -xã hội cho kinh tế nông nghiệp, nông thôn phát triển .
Có thể tóm tắt những lợi ích của quá trình thực hiện liên kết đối với
các bên tham gia thông qua nội dung chủ yếu sau đây:
- Đối với sản xuất nguyên liệu, đặc biệt là hộ nông dân:
+ Đảm bảo ổn định được thị trường tiêu thụ và giảm rủi ro về giá cả
đối với nông sản xuất ra.
+ Được hỗ trợ về giống, vốn, kỹ thuật và các thông tin trên thị trường
nên khắc phục được nhiều hạn chế của hộ nông dân, đồng thời tạo điều kiện
cho hộ nông dân tiếp cận với công nghệ và kỹ thuật sản xuất tiên tiến.
+ Ổn định và phát triển được sản xuất, tăng thu nhập, xóa đói giảm
nghèo cho một bộ phận nông dân ở các vùng khó khăn.
- Đối với doanh nghiệp chế biến nông lâm sản:
+ Đảm bảo có nguồn cung cấp nguyên liệu ổn định và chất lượng cao,
đồng đều, đáp ứng theo yêu cầu kỹ thuật của xuất nên có thể mở rộng được
quy mô hoạt động, tăng được chất lượng sản phẩm đầu ra.
+ Do có nguồn cung cấp nguyên liệu ổn định, nên các đơn vị giảm chi
phí thu mua vật liệu, tạo ra nhiều khả năng hạ giá thành và nâng cao hiệu quả
sản xuất kinh doanh.

- 21
-


+ Giảm thiểu được các rủi ro nên các doanh nghiệp có thể lập được kế
hoạch sản xuất kinh doanh lâu dài, ổn định và phát triển sản xuất bền vững.
2.1.2. Hợp đồng trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp
2.1.2.1. Liên kết thông qua hợp đồng chính thống
Liên kết thông qua hợp đồng chính thống là quan hệ mua bán chính
thức được thiết lập giữa các tác nhân trong việc mua nguyên liệu hoặc bán
sản phẩm.
Eaton và Shepherd (2001) định nghĩa liên kết thông qua hợp đồng hợp
đồng chính thống là “thoả thuận giữa những người nông dân với các doanh
nghiẹp chế biến hoặc doanh nghiệp kinh doanh trong việc sản xuất và cung
cấp các sản phẩm nông nghiệp dựa trên thoả thuận giao hàng trong tương lai,
giá cả đã được định trước”.
Theo Sykuta và Parcell (2003), Hợp đồng trong sản xuất, chế biến và tiêu
thụ sản phẩm nông nghiệp đưa ra những luật lệ cho việc giao dịch nông sản qua
việc phân bổ thật rõ 3 yếu tố chính: lợi ích, rủi ro và quyền quyết định.
Như vậy, bản chất của hình thức sản xuất theo hợp đồng hoàn toàn
khác với hình thức giao ngay mang tính truyền thống (đó là mua bán trực tiếp
hoặc thông qua các chợ) hoặc giao dịch giao sau. Điểm khác biệt về bản chất
của ba hình thức giao dịch này chính là cơ chế hình thành giá. Đối với giao
dịch giao ngay, giá thoả thuận trên hợp đồng phản ánh cung cầu thị trường
hiện tại ; đối với giao dịch giao sau, giá cả phản ánh cung cầu thị trường
tương lai ; đối với sản xuất theo hợp đồng, giá cả phản ánh lợi ích, rủi ro và
quyền quyết định của người mua và người bán. Điều này có nghĩa là, giá đã
được thoả thuận phía đảm bảo người bán thu được lợi ích nhất định và người
mua có thể mua hàng với mức giá có thể chấp nhận được; cho dù vào thời
điểm giao hàng, giá thị trường có thể cao hơn hoặc thấp hơn giá thoả thuận.
Có thể phân loại liên kết thông qua hợp đồng theo cấu trúc tổ chức của
hợp đồng. Cấu trúc tổ chức của sản xuất theo hợp đồng phụ thuộc vào quy

- 22
-


trình sinh học của sản phẩm nông nghiệp, nguồn lực của doanh nghiệp chế
biến, tiêu thụ và tính chất của mối quan hệ giữa nông dân và doanh nghiệp chế
biến, tiêu thụ. Eaton và Shepherd (2001) đã chia các hình thức sản xuất theo
hợp đồng trong nông nghiệp thành 4 hình thức, đó là: Hình thức tập trung,
hình thức trang trại tập trung, hình thức đa thành phần, hình thức trung gian.
* Hình thức tập trung
Hình thức tập trung là hình thức các doanh nghiệp chế biến tiêu thụ
trực tiếp ký hợp đồng với nông dân. Doanh nghiệp chịu trách nhiệm cung cấp
hầu hết các yếu tố đầu vào, hướng dẫn quy trình kỹ thuật và giám sát toàn bộ
quá trình sản xuất từ khâu xuống giống đến khâu thu hoạch. Nông dân chịu
trách nhiệm cung cấp nguồn lực đầu vào là đất đai, chuồng trại và công lao
động để thực hiện khâu trực tiếp sản xuất mang tính sinh học. Bản chất của
mô hình này chính là sản xuất theo hợp đồng gia công. Lợi ích và rủi ro được
chia sẻ giữa các bên tham gia hợp đồng tuỳ theo sự đóng góp của mỗi bên,
nhưng quyền quyết định thuộc về doanh nghiệp.
Hình thức liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân là
mô hình liên kết kinh tế giữa một bên là doanh nghiệp công nghiệp chế biến
nông sản với nông dân là những người sản xuất và cung ứng nông sản
nguyên liệu để sản xuất ra sản phẩm phục vụ nhu cầu xã hội.
Liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân mang bản
chất kinh tế-chính trị-xã hội rất sâu sắc.
Về mặt kinh tế, đó là mối quan hệ liên kết giữa công nghiệp với nông
nghiệp; là hai khâu nối tiếp nhau trong quá trình sản xuất và chế biến nông
sản phẩm.
Về mặt chính trị, liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến với nông
dân lại là cơ sở vật chất của mối quan hệ liên minh công nhân với nông dân.
Về mặt xã hội, đó là một trong những cơ sở nền tảng của mối quan hệ
giữa nông thôn với thành thị. Liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến với

- 23
-


nông dân là một trong nhiều mối quan hệ trao đổi kinh tế hàng hóa giữa nông
thôn với thành thị, tạo cơ sở để quan hệ thành thị, nông thôn phát triển ra nhiều
lĩnh vực khác như trao đổi tín dụng, tiền tệ, giao thông, thông tin liên lạc…
* Hình thức trang trại hạt nhân
Hình thức trang trại hạt nhân tương tự như hình thức tập trung, nhưng
bên mua sản phẩm là doanh nghiệp nắm quyền sở hữu đất đai, chuồng trại,
vườn cây. Bên bán sản phẩm chỉ được thực hiện hoạt động sản xuất tạo ra sản
phẩm và bán lại sản phẩm cho doanh nghiệp. Hình thức này hình thành kể từ
khi thực hiện nghị định của chính phủ số 01/CP ngày 04/01/1995 về việc
“giao khoán đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp,

nuôi trồng thuỷ sản trong các doanh nghiệp nhà nước và nay theo nghị định
số 135/2005/NĐ-CP ngày 08/11/2005 về giao khoán đất nông nghiệp, đất
rừng sản xuất và đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản trong các nông trường
quốc doanh, lâm trường quốc doanh”. Trong hình thức này, giữa người sản
xuất và người mua ký một hợp đồng gọi là “hợp đồng khoán” [Vũ Trọng
Khải, Nguyễn Thắng, 2006]. Đây chính là kiểu sản xuất theo hợp đồng với
hình thức trang trại hạt nhân. Hình thức này hình thành dựa trên cơ sở doanh
nghiệp quy mô lớn nhưng chỉ làm dịch vụ đầu vào - đầu ra cho các trang trại
gia đình tham gia ký hợp đồng với doanh nghiệp, họ thực hiện các quá trình
sản xuất gắn với cây trồng, vật nuôi. Để hợp đồng đã ký được thực hiện
nghiêm chỉnh thì doanh nghiệp phải làm đủ và đúng chức năng của mình đối
với những hộ gia đình nhận khoán.
* Hình thức đa chủ thể
Hình thức đa chủ thể tham gia hợp đồng sản xuất nông nghiệp ở Việt
Nam thường gọi là mô hình “liên kết 4 nhà”. Tham gia hình thức này bao
gồm nhiều chủ thể khác nhau như : Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp,
hợp tác xã, hộ nông dân. Đặc điểm của hình thức này là các chủ thể khác
nhau sẽ có trách nhiệm và vai trò khác nhau. Trong đó, doanh nghiệp đóng

- 24
-


vai trò hạt nhân gắn kết nhà khoa học với nông dân, gắn kết nhà tài chính với
nông dân và tiêu thụ sản phẩm cho nông dân. Doanh nghiệp là người quyết
định việc tiêu thụ sản phẩm của nông dân, nên họ biết được thị trường cần gì
để đặt hàng cho nông dân sản xuất. Ngoài ra, doanh nghiệp cũng chính là
người đặt hàng cho các nhà khoa học, ngân hàng, cung cấp các dịch vụ cho
mình và cho nông dân. Vai trò của nhà nước là xử lý các mối quan hệ giữa
các bên ký kết hợp đồng, quy hoạch vùng sản xuất, đầu tư, xây dựng kết cấu
hạ tầng, giải quyết các vấn đề khó khăn nảy sinh do thị trường, thiên tai gây
ra và vận động giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức, kỹ năng cho các
bên tham gia sản xuất theo hợp đồng.
- Mục đích chung của mô hình liên kết bốn nhà:


Một là, phát huy sức mạnh tổng hợp của “các nhà”, tận dụng có hiệu
quả nhất tiềm năng, lợi thế so sánh về sản xuất nông nghiệp của nước
ta nhằm tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm có giá trị cao, tăng sức cạnh
tranh trên thị trường, xuất khẩu thu nguồn ngoại tệ lớn cho đất nước,
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn.



Hai là, thông qua đó: Tăng cường cải tiến quản lý nhà nước cải cách
hành chính - đưa nền hành chính thực sự vì dân phục vụ dân chủ chứ
không phải chủ yếu “Hành dân là chính” như lâu nay. Mặt khác, từ đó
phát triển khoa học công nghệ, gắn khoa học với sản xuất nông nghiệp,
đưa các nhà khoa học về trực tiếp phục vụ nông dân, nông thôn.



Ba là, tăng cường sự liên kết hỗ trợ lẫn nhau giữa các nhà kinh doanh
(DN) hướng vào mục tiêu, đối tượng chung là phục vụ sản xuất nông
nghiệp - là nhà nông, và thông qua đó mà tạo điều kiện để mọi nhà
kinh doanh đều phát triển kinh doanh có hiệu quả.



Bốn là, về phương thức hành động không phải chỉ liên kết song
phương (từng “nhà” riêng biệt với nhà nông) mà còn liên kết tổng hợp,

- 25
-


x

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×