Tải bản đầy đủ

Quyền của người dân tộc thiểu số theo quy định của luật pháp quốc tế và việt nam

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

Lấ XUN TRèNH

QUYềN CủA NGƯờI DÂN TộC THIểU Số THEO
QUY ĐịNH CủA LUậT PHáP QUốC Tế Và VIệT NAM

LUN VN THC S LUT HC

H NI 2015


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

Lấ XUN TRèNH

QUYềN CủA NGƯờI DÂN TộC THIểU Số THEO
QUY ĐịNH CủA LUậT PHáP QUốC Tế Và VIệT NAM


Chuyờn ngnh: Lut quc t
Mó s: 60 38 01 08

LUN VN THC S LUT HC

Ngi hng dn khoa hc: PGS. TS NGUYN B DIN

H NI 2015


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã
hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ
tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƢỜI CAM ĐOAN

Lê Xuân Trình


MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục từ viết tắt
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ DÂN TỘC
THIỂU SỐ ........................................................................................... 8
1.1.

Quyền con người................................................................................. 8

1.1.1. Khái niệm quyền con ngƣời ................................................................. 8
1.1.2. Đặc điểm quyền con ngƣời ................................................................ 11

1.2.

Dân tộc thiểu số ................................................................................ 13

1.2.1. Lý luận về nhóm ngƣời thiểu số......................................................... 13
1.2.2. Lý luận về khái niệm "dân tộc thiểu số" ............................................ 17
1.2.3. Đặc điểm dân tộc thiểu số .................................................................. 24
1.2.4. Nhận thức chung về dân tộc thiểu số ở Việt Nam ............................. 26
Chương 2: QUYỀN CỦA NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ THEO
QUY ĐỊNH CỦA LUẬT PHÁP QUỐC TẾ .................................. 40
2.1.

Khái quát các văn kiện quốc tế về quyền của người dân tộc
thiểu số ............................................................................................... 40

2.2.

Vấn đề có tính nguyên tắc trong việc ghi nhận và đảm bảo
quyền của DTTS ............................................................................... 48

2.2.1. Bình đẳng, không phân biệt đối xử .................................................... 48
2.2.2. Vai trò tích cực của các quốc gia ....................................................... 51
2.3.

Phạm vi quyền của người dân tộc thiểu số trong luật quốc tế ..... 54


2.4.

Các nhóm quyền cơ bản của người dân tộc thiểu số được luật
quốc tế ghi nhận................................................................................ 57

2.4.1. Quyền có quốc tịch, đƣợc xác định dân tộc ....................................... 59
2.4.2. Quyền tham gia quản lý Nhà nƣớc..................................................... 61
2.4.3. Quyền đối với văn hóa, phong tục tập quán, ngôn ngữ ..................... 63
2.4.4. Quyền đƣợc giáo dục ......................................................................... 64
2.4.5. Quyền đƣợc chăm sóc sức khỏe ......................................................... 66
2.4.6. Quyền đƣợc hƣởng an sinh xã hội ..................................................... 67
2.4.7. Quyền tự do tƣ tƣởng, tín ngƣỡng hoặc tôn giáo ............................... 68
2.4.8. Quyền lập hội, tự do hội họp .............................................................. 70
2.4.9. Quyền tự do đi lại, cƣ trú ................................................................... 71
Chương 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUYỀN
CỦA DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ CÁC GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT ..... 73
3.1.

Quy định của pháp luật về quyền của người dân tộc thiểu số ..... 73

3.2.

Vấn đề thực hiện quyền của người dân tộc thiểu số ở Việt
Nam hiện nay .................................................................................... 80

3.2.1. Những kết quả đạt đƣợc ..................................................................... 80
3.2.2. Những hạn chế, khó khăn ................................................................... 89
3.3.

Một số giải pháp kiến nghị .............................................................. 98

3.3.1. Nhóm các giải pháp về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp
luật về bảo đảm quyền của DTTS ...................................................... 98
3.3.2. Nhóm các giải pháp về cơ chế thực thi pháp luật đảm bảo quyền
của DTTS ......................................................................................... 106
3.3.3. Nhóm các giải pháp về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quyền
của DTTS ......................................................................................... 108
KẾT LUẬN .................................................................................................. 111
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 114


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CERD:

Công ƣớc quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt
chủng tộc 1965

DTTS:

Dân tộc thiểu số

ICCPR:

Công ƣớc quốc tế về các quyền dân sự, chính trị 1966

ICESCR:

Công ƣớc quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn
hóa 1966

LHQ:

Liên hợp quốc

UDHR:

Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền 1948


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Quyền con ngƣời là khát vọng và thành quả của quá trình phát triển
nhận thức lâu dài trong lịch sử nhân loại, là động lực phát triển của xã hội loài
ngƣời, nó gắn liền với quá trình phát triển đầy biến động của lịch sử. Quyền
con ngƣời thể hiện đƣợc giá trị mà mọi dân tộc văn minh đều hƣớng tới. Cùng
với sự phát triển và hoàn thiện pháp luật quốc tế về quyền con ngƣời, nhận
thức về quyền con ngƣời trên toàn thế giới đã không ngừng đƣợc tăng lên
trong nhiều thập kỷ qua. Công cụ hiệu quả nhất cho việc bảo vệ quyền con
ngƣời chính là hệ thống pháp luật. Chỉ thông qua việc thể chế hóa thành luật,
quyền con ngƣời mới đƣợc bảo đảm và bảo vệ tốt nhất.
Có nhiều cách phân loại quyền con ngƣời dựa trên các tiêu chí và cách
tiếp cận khác nhau. Nếu phân loại theo chủ thể của quyền thì quyền con ngƣời
bao gồm 02 nhóm: Quyền của cá nhân và quyền con ngƣời theo nhóm.
Dân tộc thiểu số (DTTS) là một trong những nhóm ngƣời dễ bị tổn
thƣơng. Quyền của ngƣời thiểu số đƣợc ghi nhận trong nhiều điều ƣớc quốc tế
mang tính phổ cập toàn cầu và điều ƣớc quốc tế khu vực. Trong Bộ luật nhân
quyền Liên Hợp quốc (LHQ); Công ƣớc quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân
biệt chủng tộc 1965 (CERD); Công ƣớc về các dân tộc và bộ lạc bản địa ở các
quốc gia độc lập 1989 (ILO); Tuyên bố về quyền của những ngƣời thuộc các
nhóm thiểu số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ 1992. Trong Công
ƣớc quốc tế về các quyền dân sự, chính trị 1966 (ICCPR)- Điều 27:
Ở những quốc gia có nhiều nhóm thiểu số về sắc tộc, tôn giáo
và ngôn ngữ, những cá nhân thuộc các nhóm thiểu số đó, cùng với
những thành viên khác của cộng đồng mình, không bị khƣớc từ
quyền có đời sống văn hoá riêng, quyền đƣợc theo và thực hành tôn
giáo riêng, hoặc quyền đƣợc sử dụng ngôn ngữ riêng của họ.
1


Trong năm 1992, Đại hội đồng LHQ đã thông qua Tuyên bố về quyền
của những ngƣời thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo và
ngôn ngữ (the Declaration on the Rights of Persons Belonging to National or
Ethnic, Religious and Linguistic Minorities). Diễn đàn về các vấn đề thiểu số
(the Forum on Minority Issues) đƣợc thành lập trong năm 2007 thay thế cho
Nhóm công tác LHQ về ngƣời thiểu số (the United Nations Working Group
on Minorities) đƣợc thành lập năm 1995.
Ở Việt Nam, theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở 2009, có 54 dân
tộc sinh sống trên lãnh thổ của cả nƣớc, trong đó dân tộc Kinh có 73,594 triệu
ngƣời (chiếm 85,7%) và 53 DTTS có 12,253 triệu ngƣời (chiếm 14,3%). Các
DTTS có số lƣợng trên một triệu ngƣời, gồm: dân tộc Tày: 1.626.392 ngƣời,
chiếm 1,9%; dân tộc Thái: 1.550.423 ngƣời (1,8%); dân tộc Mƣờng:
1.268.963 ngƣời (1,5%); dân tộc Khmer: 1.260.640 ngƣời (1,5%) và dân tộc
Mông: 1.068.189 ngƣời (1,2%). Còn lại là các dân tộc dƣới 1 triệu ngƣời.
Trong đó có nhiều dân tộc chỉ vài trăm ngƣời nhƣ: Si La 709, Pu Péo 687, Rơ
Măm 436, Brâu 397, Ơ Đu 376 ngƣời [24].
Các dân tộc Việt Nam có truyền thống đoàn kết lâu đời trong sự nghiệp
đấu tranh xây dựng cộng đồng dân tộc thống nhất. Trong mối quan hệ giữa
các dân tộc ở nƣớc ta thì đoàn kết thống nhất là đặc điểm nổi bật nhất, xuyên
suốt trong mọi thời kỳ lịch sử dựng nƣớc và giữ nƣớc. Các dân tộc sinh sống
trên đất nƣớc ta trong những giai đoạn khác nhau, nhƣng đều có chung một
vận mệnh lịch sử. Đoàn kết gắn bó là đảm bảo sự sống còn của từng dân tộc
cũng nhƣ của cả cộng đồng các dân tộc trong quá trình phát triển. Sự liên kết
thành phần dân cƣ sớm có ý thức tự giác, cùng chung sống trong một đất
nƣớc ngay từ buổi bình minh của lịch sử đã tạo nên một cộng đồng quốc gia
dân tộc bền vững. Truyền thống đoàn kết giữa các dân tộc ngày càng đƣợc
củng cố và phát triển, sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc đã trở thành

2


nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng. Mỗi dân tộc có bản sắc văn
hóa riêng góp phần làm nên sự phong phú, đa dạng trong tính thống nhất của
nền văn hóa Việt Nam. Bản sắc văn hóa của các dân tộc đƣợc hình thành và
phát triển gắn liền với lịch sử dân tộc. Sự thống nhất trong đa dạng là đặc
điểm của nền văn hóa cộng đồng các dân tộc nƣớc ta.
Cộng đồng các dân tộc Việt Nam với nhiều thành phần khác nhau, mỗi
thành phần dân tộc không phải là một cộng đồng riêng rẽ, biệt lập về chính
trị- xã hội, mà là bộ phận cấu thành dân tộc Việt Nam thống nhất. Các thành
phần dân tộc cƣ trú đan xen lẫn nhau và phân tán trên mọi vùng miền của đất
nƣớc không có lãnh địa riêng biệt của từng dân tộc. Đảng, Nhà nƣớc Việt
Nam đã có nhiều văn bản quan trọng thể hiện chủ trƣơng, chính sách nhất
quán về chính sách đối với đồng bào DTTS.
Hiến pháp hiện hành 2013 ghi nhận:
1- Nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia
thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nƣớc Việt Nam.
2- Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng
phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. 3- Ngôn
ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói,
chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán,
truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình. 4- Nhà nƣớc thực hiện
chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu
số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nƣớc [23, Điều 5].
Dƣới sự lãnh đạo trực tiếp của Chính phủ, sự cố gắng của các bộ, ban,
ngành, địa phƣơng và của cả hệ thống chính trị, đời sống về vật chất và tinh
thần của đồng bào DTTS đã đƣợc cải thiện đáng kể. Các quyền cơ bản của
đồng bào DTTS về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, giáo dục, chăm sóc y
tế… đƣợc đảm bảo. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, đời sống

3


của đồng bào DTTS ở nƣớc ta nhìn chung còn rất nhiều khó khăn, mặt bằng
dân trí thấp, còn có khoảng cách đáng kể với dân tộc đa số, giữa miền xuôi và
miền ngƣợc. Việc thể chế quyền của DTTS bằng pháp luật cũng nhƣ cơ chế
thực hiện quyền của DTTS còn những bất cập.
Với lý do trên, tác giả chọn đề tài nghiên cứu “Quyền của người dân
tộc thiểu số theo quy định của luật pháp quốc tế và Việt Nam” làm luận
văn thạc sĩ của mình, trên cơ sở đó có những giải pháp đề xuất sát hợp góp
phần bảo đảm quyền của ngƣời DTTS, bảo đảm lợi ích quốc gia dân tộc.
2. Mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu quyền của ngƣời DTTS đƣợc quy định trong điều ƣớc quốc
tế và pháp luật quốc gia, việc thực hiện quyền của ngƣời DTTS ở Việt Nam.
Qua đó có nhận thức đúng đắn về quyền của ngƣời DTTS, góp phần thúc đẩy
việc bảo đảm các quyền của DTTS ở Việt Nam.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Đề tài tập trung nghiên cứu làm rõ khái niệm, đặc điểm DTTS trên cơ
sở quy định của luật pháp quốc tế và pháp luật quốc gia, của các học giả trong
nƣớc, quốc tế. Từ đó, làm rõ DTTS là một trong các nhóm ngƣời thiểu số,
nhóm ngƣời dễ bị tổn thƣơng cần đƣợc bảo vệ mà quyền của họ đã đƣợc pháp
luật quốc tế và pháp luật quốc gia ghi nhận.
- Đề tài nghiên cứu làm rõ các nhóm quyền của ngƣời DTTS đƣợc ghi
nhận trong các điều ƣớc quốc tế, đặc biệt là các điều ƣớc quốc tế mà Việt
Nam là thành viên.
- Đề tài nghiên cứu chủ trƣơng, chính sách, pháp luật của Việt Nam về
DTTS, những thành tựu mà Việt Nam đã đạt đƣợc cũng nhƣ những hạn chế,
khó khăn trong việc ghi nhận và đảm bảo thực hiện quyền của ngƣời DTTS.
- Đƣa ra một số giải pháp góp phần thúc đẩy và bảo vệ quyền của
ngƣời DTTS.
4


2.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đề tài nghiên cứu các Điều ƣớc quốc tế quy định về các nhóm quyền
của ngƣời DTTS.
- Nghiên cứu các chủ trƣơng, chính sách đối với DTTS đƣợc quy định
trong pháp luật của Việt Nam.
Trên cơ sở những số liệu thu đƣợc về DTTS ở Việt Nam, tiến hành
phân tích, đánh giá làm cơ sở cho những kết luận của đề tài.
3. Tình hình nghiên cứu
DTTS và quyền của DTTS là một đề tài tuy không mới, tuy nhiên việc
nghiên cứu đề tài này hầu nhƣ còn hạn chế, nhất là nghiên cứu dƣới góc độ tiếp
cận từ luật pháp quốc tế. Các nghiên cứu hiện nay chủ yếu dƣới dạng các bài
viết, các bài tham luận tại các Hội thảo trong và ngoài nƣớc. Mới đây, tại "Hội
thảo quốc tế Cơ chế đảm bảo quyền của các DTTS ở Việt Nam và kinh nghiệm
ở một số nước Châu Âu, khu vực Đông Nam Á" do Ủy ban Dân tộc và Phái
đoàn Liên minh Châu Âu tại Việt Nam tổ chức tháng 7/2012, đáng chú ý có
các bài tham luận: “Một số nội dung cơ bản về công tác nhân quyền và giải
pháp đảm bảo quyền các DTTS trong thời gian tới”- Tác giả Vy Xuân Hoa
(Ủy ban Dân tộc), TS. Đỗ Văn Hòa (Bộ NPTNT); “Phát huy vai trò của cộng
đồng trong phát triển kinh tế xã hội vùng DTTS”- TS. Bế Trƣờng Thànhnguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc; “Chương trình mục tiêu quốc gia đưa
thông tin về cơ sở, giải pháp cải thiện quyền tiếp cận thông tin của các DTTS
Việt Nam”- Tác giả Lê Văn Nghiêm- Cục trƣởng, Cục Thông tin đối ngoại Bộ
Thông tin và Truyền thông; "Đảm bảo quyền phát triển kinh tế- xã hội của các
DTTS Việt Nam trong tình hình hiện nay"- Hoàng Xuân Lƣơng, Phó Chủ
nhiệm Ủy ban Dân tộc; "Một số vấn đề về quyền tham chính của người DTTS ở
Việt Nam"- Trung tƣớng Nông Văn Lƣu, Bộ Công an; "Quyền của các nhóm
DTTS trong bối cảnh quốc tế hiện nay"- Nguyễn Chí Dũng, Học viện Chính trị

5


quốc gia Hồ Chí Minh; "Quyền DTTS- Các tiêu chuẩn của cơ quan và quốc
tế"- Ewa Chylinski, Chuyên gia các vấn đề thiểu số của EU; "Kinh nghiệm
Châu Âu về các quyền DTTS thực tế"- Ewa Chylinski, Chuyên gia các vấn đề
thiểu số của EU; "Khu vực Asean và DTTS"- Ewa Chylinski, Chuyên gia các
vấn đề thiểu số của EU… Dƣới gốc độ luận văn cao học, có đề tài “Hoàn thiện
pháp luật về quyền của người DTTS ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Nông
Thị Kiều Diễm- Ths K17- Khoa Luật, ĐHQGHN.
Với cách tiếp cận của đề tài “Quyền của người dân tộc thiểu số theo
quy định của luật pháp quốc tế và Việt Nam” tác giả mong muốn làm rõ
các quy định của luật pháp quốc tế, cũng nhƣ pháp luật quốc gia hiện nay về
các vấn đề liên quan đến quyền của ngƣời DTTS. Từ đó có những giải pháp,
kiến nghị việc hoàn thiện pháp luật trong nƣớc, hợp tác quốc tế cũng nhƣ cơ
chế đảm bảo quyền của ngƣời DTTS ở nƣớc ta hiện nay.
4. Nội dung và phương pháp nghiên cứu
4.1. Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu các điều ƣớc quốc tế có quy định liên quan đến quyền
của DTTS.
- Nghiên cứu pháp luật quốc gia và chính sách của nhà nƣớc về DTTS.
- Nghiên cứu về tình hình, đặc điểm DTTS ở Việt Nam liên quan đến
việc thực hiện quyền của họ.
- Nghiên cứu về việc thực hiện quyền của DTTS của Chính phủ và Nhà
nƣớc Việt Nam.
- Thu thập các số liệu liên quan.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài dựa trên cơ sở phƣơng pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đƣờng
lối, chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam về nhân quyền và DTTS.

6


Các phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể: Phân tích- tổng hợp, so sánh, đánh
giá, xã hội học, phƣơng pháp chuyên gia, tiếp xúc tranh thủ ngƣời có uy tín
trong đồng bào DTTS.
5. Kết quả nghiên cứu và những đóng góp của luận văn
Dƣới gốc độ là một luận văn nghiên cứu thạc sĩ, đề tài có nhận thức và
đánh giá tổng quan quy định của luật pháp quốc tế và Việt Nam về quyền của
ngƣời DTTS, trên cơ sở đó có những nhận định đánh giá, giải pháp sát hợp về
việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, hợp tác quốc tế và cơ chế đảm bảo quyền
của DTTS ở nƣớc ta. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, đề tài góp phần bổ sung
hệ thống lý luận về một trong những nhóm ngƣời dễ bị tổn thƣơng cần đƣợc
bảo vệ trong pháp luật quốc tế và trong hệ thống pháp luật quốc gia.
Đề tài có thể làm tài liệu trong công tác nghiên cứu, giảng dạy và học
tập ở các cơ sở đào tạo pháp luật về nhân quyền; tài liệu nghiên cứu, phục vụ
công tác, đặc biệt là đối với các cán bộ làm công tác dân tộc trong các cơ
quan nhà nƣớc và ở các ban, ngành trong các tổ chức chính trị xã hội.
6. Kết cấu của luận văn
Luận văn này gồm phần mở đầu, ba chƣơng và phần kết luận.
- Chương 1: Khái quát về quyền con ngƣời và dân tộc thiểu số.
- Chương 2: Quyền của ngƣời dân tộc thiểu số theo quy định của luật
pháp quốc tế.
- Chương 3: Thực trạng pháp luật Việt Nam về quyền của dân tộc thiểu
số và các giải pháp đề xuất.

7


Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ QUYỀN CON NGƯỜI
VÀ DÂN TỘC THIỂU SỐ
1.1. Quyền con người
1.1.1. Khái niệm quyền con người
Quyền con ngƣời hay còn gọi là nhân quyền (human rights) là vấn đề
có tầm quan trọng rất lớn trong sự phát triển văn minh nhân loại. Quyền con
ngƣời là thành tựu chung của cả loài ngƣời, là kết tinh của nền văn minh nhân
loại. Những thành tựu pháp lý quốc tế về quyền con ngƣời hiện nay là sản
phẩm của cuộc đấu tranh gian khổ, lâu dài của toàn thể nhân loại tiến bộ,
chống áp bức, bất công, xây dựng cuộc sống tự do, bình đẳng và hạnh phúc.
Quyền con ngƣời là một vấn đề khá phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh
vực nhƣ đạo đức, chính trị, pháp lý... Chính vì vậy, hiện nay có rất nhiều định
nghĩa về quyền con ngƣời, mỗi định nghĩa tiếp cận quyền con ngƣời theo
những góc độ khác nhau. Thuật ngữ quyền con ngƣời lần đầu tiên có trong
nhiều đề xuất của các nƣớc Liên Xô, Trung Quốc, Hoa Kỳ và Anh trong năm
1944 rồi sau đó đƣợc chính thức đƣa vào Hiến chƣơng LHQ năm 1945. Dù ở
góc độ nào, những đặc tính quan trọng nhất của quyền con ngƣời đƣợc tất cả
các văn kiện của LHQ công nhận. Quyền con ngƣời là một phạm trù đa diện,
do đó có nhiều định nghĩa khác nhau. Mỗi định nghĩa tiếp cận vấn đề từ một
góc độ nhất định, chỉ ra những thuộc tính nhất định, nhƣng không định nghĩa
nào bao hàm đƣợc tất cả các thuộc tính của quyền con ngƣời.
Ở cấp độ quốc tế, định nghĩa của Văn phòng Cao ủy LHQ về quyền
con ngƣời thƣờng đƣợc trích dẫn bởi các nhà nghiên cứu. Theo định nghĩa
này, quyền con ngƣời là những bảo đảm pháp lý toàn cầu (universal legal
guarantees) có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những

8


hành động (actions) hoặc sự bỏ mặc (omissions) mà làm tổn hại đến nhân
phẩm, những sự đƣợc phép (entitlements) và tự do cơ bản (fundamental
freedoms) của con ngƣời [15].
Ở Việt Nam, một số định nghĩa về quyền con ngƣời do một số chuyên
gia, cơ quan nghiên cứu từng nêu ra cũng không hoàn toàn giống nhau, nhƣng
xét chung, quyền con ngƣời thƣờng đƣợc hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự
nhiên, vốn có và khách quan của con ngƣời đƣợc ghi nhận và bảo vệ trong
pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế.
Nhƣ vậy, xét ở góc độ nào và ở mức độ nào thì quyền con ngƣời cũng
đƣợc xác định nhƣ là những chuẩn mực đƣợc cộng đồng quốc tế thừa nhận và
tuân thủ. Những chuẩn mực này kết tinh những giá trị nhân văn của toàn nhân
loại, áp dụng cho tất cả mọi ngƣời. Nhờ có những chuẩn mực này, mọi thành
viên trong gia đình nhân loại mới đƣợc bảo vệ nhân phẩm và mới có điều kiện
phát triển đầy đủ các năng lực của cá nhân với tƣ cách là một con ngƣời. Cho
dù cách nhìn nhận có những khác biệt nhất định, một điều rõ ràng là quyền
con ngƣời là những giá trị cao cả cần đƣợc tôn trọng và bảo vệ trong mọi xã
hội và trong mọi giai đoạn lịch sử. Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau nhƣng
ở góc độ nào, quyền con ngƣời cũng đƣợc xác định nhƣ một chuẩn mực, dựa
trên hai bình diện chủ yếu là giá trị đạo đức và giá trị pháp luật. Dƣới bình
diện đạo đức, quyền con ngƣời là giá trị xã hội cơ bản, vốn có (những đặc
quyền) của con ngƣời nhƣ nhân phẩm, bình đẳng xã hội, tự do... Dƣới bình
diện pháp lý, để trở thành quyền, những đặc quyền phải đƣợc thể chế hóa,
pháp điển hóa bằng các chế định pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia. Nhƣ
vậy, dù ở góc độ nào hay cấp độ nào thì quyền con ngƣời cũng đƣợc xác định
nhƣ là chuẩn mực đƣợc kết tinh từ những giá trị nhân văn của toàn nhân loại,
áp dụng cho tất cả mọi ngƣời.
Xuất phát từ quan điểm khoa học, coi con ngƣời là một thực thể sinh

9


vật- xã hội, chủ nghĩa Mác - Lênin đã xem quyền con ngƣời là sự thống nhất
biện chứng giữa "quyền tự nhiên" (nhƣ một đặc quyền vốn có và chỉ có con
ngƣời mới có) và "quyền xã hội"- tức là sự chế định bằng các quy chế pháp lý
nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, thể hiện sâu sắc các giá trị của các
quan hệ xã hội và mang bản chất xã hội. Chủ nghĩa Mác- Lênin đã chỉ ra rằng
khái niệm nhân quyền hay "quyền con ngƣời" là một phạm trù lịch sử. Quyền
con ngƣời không phải chỉ là các quyền mang tính tự nhiên mà luôn gắn với
cuộc đấu tranh chống áp bức bóc lột, gắn với trình độ phát triển và tiến bộ xã
hội trong từng thời kỳ. Quyền con ngƣời bao giờ cũng phụ thuộc vào phƣơng
thức sản xuất, với quan hệ sản xuất thống trị quy định nên chế độ chính trị xã
hội ấy. Quyền con ngƣời luôn mang tính giai cấp. Mác đã chỉ ra rằng, tự do
của mỗi giai cấp là sự mất tự do của giai cấp đối lập. Trong xã hội có đối
kháng giai cấp không thể có sự bình đẳng, bình đẳng chỉ tồn tại trong nội bộ
của giai cấp cùng quyền lợi. Nhƣ vậy, bản chất xã hội, bản chất giai cấp quy
định nên bản chất của quyền con ngƣời. Quyền con ngƣời mang tính nhân loại
sâu sắc. Bởi vì nó là kết quả của cuộc đấu tranh của toàn thể nhân dân lao
động nhằm đập tan ách thống trị trên toàn thế giới giành lại quyền tự do chân
chính cho mình, là giá trị nhân văn cao quý nhất mà xã hội loài ngƣời hƣớng
tới, là sự giải phóng hoàn toàn cá nhân con ngƣời để phát triển toàn diện nhân
cách của mình.
Ngày nay, vấn đề quyền con ngƣời gắn rất chặt với các quyền dân tộc
cơ bản và thuộc phạm vi chủ quyền quốc gia vì nó là một bộ phận của quá
trình phát triển nội tại của từng nƣớc. Trải qua lịch sử hàng nghìn năm dựng
nƣớc và giữ nƣớc, nhân dân Việt Nam đã phải đổ biết bao xƣơng máu để
giành lấy những quyền cơ bản của con ngƣời- đƣợc sống trong điều kiện độc
lập, tự do, có cơm ăn, áo mặc, nhà ở, đƣợc học hành, nhân phẩm đƣợc tôn
trọng. Nhà nƣớc Việt Nam khẳng định con ngƣời là trung tâm của các chính

10


sách kinh tế xã hội, thúc đẩy và bảo vệ quyền con ngƣời là nhân tố quan trọng
cho sự phát triển bền vững, bảo đảm thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa và
hiện đại hóa đất nƣớc.
Trong một thế giới ngày càng đa dạng, khi tiếp cận và xử lý vấn đề
quyền con ngƣời cần kết hợp hài hòa các chuẩn mực, nguyên tắc chung của
luật pháp quốc tế với những điều kiện đặc thù về lịch sử, chính trị, kinh tế- xã
hội, các giá trị văn hóa, tôn giáo, tín ngƣỡng, phong tục tập quán của mỗi
quốc gia và khu vực để bảo đảm cho ngƣời dân đƣợc hƣởng thụ quyền con
ngƣời một cách tốt nhất. Việc bảo đảm và thúc đẩy quyển con ngƣời trƣớc hết
là trách nhiệm và quyền hạn của mỗi quốc gia. Không một nƣớc nào có quyền
áp đặt mô hình chính trị, kinh tế, văn hóa của mình cho một quốc gia khác.
1.1.2. Đặc điểm quyền con người
Nhân quyền là thành quả đấu tranh chung của nhân loại nhƣng nhân
quyền cũng mang tính đặc thù với bản sắc riêng, phù hợp với trình độ phát
triển kinh tế- xã hội, mang sắc thái văn hóa, lịch sử và truyền thống của mỗi
quốc gia. Tuyên bố Viên và Chƣơng trình hành động (1993) đã viết:
Tất cả các quyền con ngƣời đều mang tính phổ cập, không
thể chia cắt, phụ thuộc lẫn nhau và liên quan đến nhau. Trong khi
phải luôn ghi nhớ ý nghĩa của tính đặc thù dân tộc, khu vực và bối
cảnh khác nhau về lịch sử, văn hóa và tôn giáo, các quốc gia không
phân biệt hệ thống chính trị, kinh tế, văn hóa, có nghĩa vụ đề cao và
bảo vệ tất cả các quyền con ngƣời và các tự do cơ bản.
Theo nhận thức chung, quyền con ngƣời có các đặc trƣng cơ bản là:
Tính phổ biến, tính không thể chuyển nhƣợng, tính không thể phân chia, tính
liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau [15], cụ thể nhƣ sau:
- Tính phổ biến (universal): Thể hiện ở chỗ quyền con ngƣời là những
gì bẩm sinh, vốn có của con ngƣời và đƣợc áp dụng bình đẳng cho tất cả mọi

11


thành viên trong gia đình nhân loại, không có sự phân biệt đối xử vì bất cứ lý
do gì, chẳng hạn nhƣ về chủng tộc, dân tộc, giới tính, tôn giáo, độ tuổi, thành
phần xuất thân... Con ngƣời, dù ở trong những chế độ xã hội riêng biệt, thuộc
những truyền thống văn hóa khác nhau vẫn đƣợc công nhận là con ngƣời và
đƣợc hƣởng những quyền và sự tự do cơ bản.
- Tính không thể chuyển nhƣợng (inalienable): Trong quan niệm chung
của cộng đồng quốc tế, quyền con ngƣời không thể tùy tiện bị tƣớc bỏ hay hạn
chế một cách tùy tiện bởi bất cứ chủ thể nào, kể cả các cơ quan và quan chức
nhà nƣớc. Tuy nhiên, trong một số trƣờng hợp nhất định đƣợc pháp luật quy
định trƣớc, chỉ có những chủ thể đặc biệt mới có thể hạn chế quyền con ngƣời.
- Tính không thể phân chia (indivisible): Thể hiện ở chỗ các quyền con
ngƣời đều có tầm quan trọng nhƣ nhau, về nguyên tắc không có quyền nào
đƣợc coi là có giá trị cao hơn quyền nào. Việc tƣớc bỏ hay hạn chế bất kỳ
quyền con ngƣời nào đều tác động tiêu cực đến nhân phẩm, giá trị và sự phát
triển của con ngƣời. Quyền con ngƣời đƣợc cấu thành bởi nhiều quyền, nhiều
yếu tố xoay quanh những giá trị cao quý của con ngƣời. Tất cả các yếu tố, tất
cả các quyền đều có giá trị nhƣ nhau, không phân biệt. Mọi khía cạnh về
quyền con ngƣời đều đƣợc bảo vệ nhƣ nhau trong bất kỳ hoàn cảnh nào.
- Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau (interrelated, interdependent): Thể
hiện ở chỗ việc bảo đảm các quyền con ngƣời, toàn bộ hoặc một phần, nằm
trong mối liên hệ phụ thuộc và tác động lẫn nhau. Sự vi phạm một quyền sẽ
trực tiếp hoặc gián tiếp gây ảnh hƣởng tiêu cực đến việc bảo đảm các quyền
khác, và ngƣợc lại, tiến bộ trong việc bảo đảm một quyền sẽ trực tiếp hoặc
gián tiếp tác động tích cực đến việc bảo đảm các quyền khác. Tất cả các
quyền con ngƣời đều có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, việc thực hiện tốt
quyền này sẽ là tiền đề để thực hiện quyền kia. Ngƣợc lại, khi có một quyền
bị xâm phạm thì sẽ ảnh hƣởng đến các quyền khác.

12


1.2. Dân tộc thiểu số
1.2.1. Lý luận về nhóm người thiểu số
"Dân tộc thiểu số" là khái niệm thuộc phạm trù "ngƣời thiểu số"- một
trong những nhóm ngƣời dễ bị tổn thƣơng, đƣợc sử dụng rộng rãi trong các
văn kiện pháp lý quốc tế cũng nhƣ trong công tác nghiên cứu.
Để hiểu rõ khái niệm "dân tộc thiểu số" trƣớc hết chúng ta cần nghiên
cứu, phân tích làm rõ khái niệm "ngƣời thiểu số". Mặc dù quyền của ngƣời
thiểu số đã đƣợc luật quốc tế khẳng định, ghi nhận tại Điều 27- ICCPR và
trong Tuyên bố về quyền của những ngƣời thuộc các nhóm thiểu số về dân
tộc, chủng tộc, tôn giáo hoặc ngôn ngữ năm 1992, CERD 1965.... Nhƣng cho
đến nay vẫn chƣa có một định nghĩa chính thức nào về “ngƣời thiểu số” đƣợc
xác nhận trong bất cứ văn kiện quốc tế nào của LHQ. Điều này nói lên tính
chất phức tạp của vấn đề DTTS nói riêng và nhóm những ngƣời thiểu số nói
chung trên thế giới.
Nhƣ vậy, căn cứ vào các văn kiện pháp lý này, "ngƣời thiểu số" đƣợc
hiểu là những nhóm ngƣời thiểu số về sắc tộc, tôn giáo và ngôn ngữ. Ở những
nhóm ngƣời này do có những đặc điểm về sắc tộc, tôn giáo và ngôn ngữ nên
họ đƣợc công nhận là ngƣời thiểu số.
Có nhiều định nghĩa về ngƣời thiểu số ở nhiều gốc độ khác nhau đã
đƣợc nêu ra. Năm 1930, Tòa án Công lý quốc tế thƣờng trực (Permanent
Court of International Justice - PCIJ, cơ quan tài phán của Hội Quốc Liên),
đƣa ra ý kiến tƣ vấn về vụ tranh cãi giữa hai nƣớc Hy Lạp và Bungari liên
quan đến vị thế của các cộng đồng nhập cƣ thiểu số ở hai nƣớc này. PCIJ xác
định một cộng đồng thiểu số là:
Một nhóm ngƣời sống trên một quốc gia hoặc địa phƣơng
nhất định, có những đặc điểm đồng nhất về chủng tộc, tín ngƣỡng,
ngôn ngữ và truyền thống, có sự giúp đỡ lẫn nhau và có quan điểm

13


thống nhất trong việc bảo lƣu những yếu tố truyền thống, duy trì tôn
giáo, tín ngƣỡng và hƣớng dẫn, giáo dục trẻ em trong cộng đồng
theo tinh thần và truyền thống của chủng tộc họ [31].
Định nghĩa của PCIJ khẳng định để xác định là "ngƣời thiểu số" trƣớc
hết phải gắn với một quốc gia hoặc địa phƣơng nhất định và có những đặc
điểm đồng nhất về chủng tộc, tín ngƣỡng, ngôn ngữ và truyền thống. Có thể
thấy rằng PCIJ đã có những đóng góp đáng kể để định nghĩa trên đƣợc sử
dụng nhƣ là một định nghĩa chính thức về ngƣời thiểu số. Tuy nhiên, định
nghĩa của PCIJ cũng còn những hạn chế và gặp phải trở ngại. Những thuộc
tính nêu ra trong định nghĩa này quá rộng, còn chung chung chƣa rõ ràng, đặc
biệt là động chạm đến mối lo ngại thƣờng trực của các quốc gia về những rắc
rối về an ninh, trật tự xã hội có thể nảy sinh trong các vấn đề liên quan đến
ngƣời thiểu số.
Năm 1977, ông Francesco Capotorti, báo cáo viên đặc biệt của Tiểu
ban về chống phân biệt đối xử và bảo vệ ngƣời thiểu số của LHQ. Trong báo
cáo nghiên cứu công bố vào năm 1977, chuyên gia này định nghĩa “ngƣời
thiểu số” là:
... một nhóm ngƣời, xét về mặt số lƣợng, ít hơn so với phần dân
cƣ còn lại của quốc gia, có vị thế yếu trong xã hội, những thành viên
của nhóm- mà đang là công dân của một nƣớc- có những đặc trƣng về
chủng tộc, tín ngƣỡng hoặc ngôn ngữ khác so với phần dân cƣ còn lại
và chứng tỏ rất rõ ràng là có một ý thức thống nhất trong việc bảo tồn
nền văn hóa, truyền thống, tôn giáo và ngôn ngữ của họ [31].
Định nghĩ của Francesco cơ bản giống định nghĩa của PCIJ, tuy nhiên
còn bổ sung thêm 02 thuộc tính để xác định là "ngƣời thiểu số", đó là về mặt
số lƣợng, một nhóm đƣợc coi là thiểu sổ phải ít hơn so với phần dân cƣ còn
lại của quốc gia và về mặt vai trò, một nhóm đƣợc coi là thiểu số phải có vị

14


thế yếu trong xã hội. Nhƣ vậy, phạm vi xác định là "ngƣời thiểu số" theo định
nghĩa của Francesco đã thu hẹp lại so với PCIJ. Ở một góc độ nhất định, định
nghĩa của Francesco khiến cho mối lo ngại của các quốc gia giảm đi, do phạm
vi chủ thể đƣợc coi là ngƣời thiểu số thu hẹp lại. Định nghĩa này trên thực tế
đã đƣợc các tổ chức quốc tế viện dẫn trong một số trƣờng hợp, tuy nhiên, nó
vẫn chƣa nhận đƣợc sự chấp nhận của các quốc gia nhƣ là một định nghĩa
chung về ngƣời thiểu số trong luật quốc tế.
Từ những văn kiện pháp lý quốc tế, từ ý kiến của các chuyên gia, các thiết
chế quốc tế, để xác định là "ngƣời thiểu số" ta dựa vào những đặc trƣng sau:
- "Ngƣời thiểu số" đƣợc hiểu là những nhóm ngƣời thiểu số về sắc tộc,
tôn giáo và ngôn ngữ. Những nhóm ngƣời này do có những đặc điểm về sắc
tộc, tôn giáo và ngôn ngữ nên và yếu tố khác nên họ đƣợc công nhận là ngƣời
thiểu số;
- Về mặt số lƣợng: Có số lƣợng ít so với nhóm đa số cùng sinh sống xét
trên cùng một lãnh thổ (Quốc gia);
- Về vị thế xã hội: Là nhóm yếu thế trong xã hội (chính trị, kinh tế,
xã hội ở lãnh thổ nơi họ sinh sống) mà quyền của họ dễ bị xâm phạm hoặc
bị bỏ quyên;
- Về bản sắc: Có những đặc điểm riêng về mặt chủng tộc, dân tộc, ngôn
ngữ, phong tục tập quán... mà vì thế có thể phân biệt họ với nhóm đa số;
- Về địa vị pháp lý: có thể là công dân hoặc kiều dân của quốc gia nơi
mà họ đang sinh sống;
- Về đặc điểm chủ quan: Thành viên của cộng đồng ấy phải có ý thức
tự giác bảo tồn những đặc trƣng văn hóa của mình, có ý thức mình là thành
viên của cộng đồng ấy.
Thời kỳ đầu mới thành lập, LHQ không dành sự quan tâm thích đáng
đến vấn đề ngƣời thiểu số. Đa số các quốc gia thành viên khi đó đều cho rằng

15


vấn đề quyền của ngƣời thiểu số đã bao gồm trong vấn đề quyền con ngƣời
nói chung nên không cần thiết phải xây dựng những văn kiện hay cơ chế riêng
cho nhóm này. Chính vì vậy, năm 1946 khi Hung-ga-ri đã đƣa ra đề xuất ban
hành một điều ƣớc quốc tế về ngƣời thiểu số nhƣng chỉ nhận đƣợc rất ít sự
ủng hộ. Trong quá trình soạn thảo Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con
ngƣời (1948) cũng có ý kiến nêu rằng cần đƣa vào ít nhất một điều khoản đề
cập riêng đến quyền của ngƣời thiểu số, song ý kiến này cũng không nhận
đƣợc sự ủng hộ rộng rãi, chủ yếu do tính chất phức tạp của vấn đề.
Tuy nhiên, tƣơng tự nhƣ các nhóm xã hội dễ bị tổn thƣơng khác, cần
hiểu rằng ngƣời thiểu số cũng là chủ thể bình đẳng của các quyền con ngƣời.
Quyền của nhóm này đã đƣợc đề cập một cách trực tiếp hoặc gián tiếp trong
một số điều của UDHR, trong đó bao gồm: Điều 18 (về tự do tôn giáo), Điều
19 (về tự do ngôn luận và ý kiến), Điều 20 (về tự do hội họp, lập hội), Điều
26 (về tự do lựa chọn hình thức giáo dục), Điều 27 (về tự do tham gia vào đời
sống văn hóa của cộng đồng), và đặc biệt là Điều 2 (về nguyên tắc bình đẳng,
không phân biệt đối xử trong việc hƣởng thụ các quyền con ngƣời)...
Mặc dù gặp khó khăn trong việc pháp điển hóa các quyền của ngƣời
thiểu số vào luật quốc tế, song những nỗ lực quốc tế vận động cho vấn đề này
cũng dẫn tới một kết quả quan trọng là việc thành lập Tiểu ban về ngăn ngừa
và bảo vệ ngƣời thiểu số vào năm 1947. Tuy Tiểu ban này có nhiều nhiệm vụ
khác nhau nhƣng chức năng chủ yếu của nó là bảo vệ và thúc đẩy các quyền
của ngƣời thiểu số. Trong Nghị quyết 217C (III) ngày 10/12/1948, Đại hội
đồng LHQ đã khuyến nghị Hội đồng kinh tế và xã hội LHQ (ECOSOC) tiến
hành những nghiên cứu về vấn đề quyền của nhóm này. Đây là cơ sở để Tiểu
ban về ngăn ngừa và bảo vệ ngƣời thiểu số tiến hành một loạt công trình
nghiên cứu và đƣa ra những khuyến nghị quan trọng về quyền của ngƣời thiểu
số. Kết quả nổi bật là việc đƣa vào ICCPR một điều khoản riêng về quyền của

16


ngƣời thiểu số cũng nhƣ thông qua Tuyên bố về quyền của những ngƣời
thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo hoặc ngôn ngữ năm
1992- những văn kiện mà hiện đang đóng vai trò nền tảng cho việc bảo vệ
quyền của ngƣời thiểu số trên thế giới.
1.2.2. Lý luận về khái niệm "dân tộc thiểu số"
Cũng nhƣ khái niệm "ngƣời thiểu số", khái niệm "dân tộc thiểu số"
cũng đƣợc sử dụng chính thức trong các văn kiện pháp lý quốc tế và pháp luật
các quốc gia. Trong Hiến pháp hiện hành của Việt Nam 2013 là:
1. Nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia
thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nƣớc Việt Nam.
2. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng
phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. 3. Ngôn
ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói,
chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán,
truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình. 4. Nhà nƣớc thực hiện
chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu
số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nƣớc [23, Điều 5].
Tuy nhiên, đến nay chƣa có một khái niệm pháp lý mang tính toàn cầu
nào chỉ rõ nội hàm của khái niệm "dân tộc thiểu số" đạt đƣợc sự đồng thuận
cao của các quốc gia.
Tùy theo từng bộ môn, lĩnh vực nghiên cứu hay quan điểm của mỗi
quốc gia, DTTS (minorité ethnique, ethnic) là thuật ngữ có nhiều định nghĩa
khác nhau trên thế giới.
- Các nhà nghiên cứu nhân chủng học, cho rằng DTTS gồm 2 thành
phần: DTTS có nguồn gốc lịch sử (minorités historiques) là tập thể tộc ngƣời
đã có mặt trên vùng lãnh thổ từ lâu đời mà ngƣời ta thƣờng gọi là dân tộc bản
địa (peuples autochtones); DTTS di cƣ (minorités immigrées) là những ngƣời
nƣớc ngoài sang định cƣ tại một quốc gia đã có chủ quyền.
17


- Trên phƣơng diện chính trị, trên các diễn đàn LHQ, các quốc gia luôn
đƣa ra các khái niệm khác nhau về DTTS phụ thuộc vào chế độ chính trị và
lợi ích các quốc gia. Có thể nói rằng vấn đề DTTS (sắc tộc) là vấn đề nhận
đƣợc nhiều sự quan tâm nhất của tất cả các quốc gia thành viên LHQ, ở cấp
độ toàn cầu cũng nhƣ ở các khu vực khác nhau trên thế giới và cũng là vấn đề
gây nhiều tranh cãi nhất, luôn có những ý kiến trái chiều.
- Đáng chú ý, năm 1992 Đại hội đồng LHQ đã thông qua thuật ngữ
“dân tộc thiểu số” trên cơ sở dựa vào quan điểm của Gs. Francesco Capotorti
(đặc phái viên của LHQ) đã đƣa ra vào năm 1977:
Dân tộc thiểu số là thuật ngữ ám chỉ cho một nhóm ngƣời:
a. Cƣ trú trên lãnh thổ của một quốc gia có chủ quyền mà họ
là công dân của quốc gia này
b. Duy trì mối quan hệ lâu dài với quốc gia mà họ đang sinh sống
c. Thể hiện bản sắc riêng về chủng tộc, văn hóa, tôn giáo và
ngôn ngữ của họ
d. Đủ tƣ cách đại diện cho nhóm dân tộc của họ, mặc dù số
lƣợng ít hơn trong quốc gia này hay tại một khu vực của quốc gia này
e. Có mối quan tâm đến vấn đề bảo tồn bản sắc chung của họ,
bao gồm cả yếu tố văn hóa, phong tục tập quán, tôn giáo và ngôn
ngữ của họ. [39]
- Năm 1995, Liên Hiệp Âu Châu đƣa ra khái niệm về DTTS trong
Công ƣớc của Liên Hiệp Âu Châu về DTTS, rất gần gũi với khái niệm của
LHQ biểu quyết vào năm 1992: “DTTS ám chỉ cho một nhóm người từ một
quốc gia khác đến cư trú trên lãnh thổ của quốc gia thuộc Liện Hiệp Âu Châu
và có quốc tịch của khối Âu Châu" [40]
- Tại khu vực Đông Nam Á, ASEAN chƣa đƣa ra một thuật ngữ chính
thức nào về "dân tộc thiểu số". Quan niệm thế nào là "dân tộc thiểu số" hoàn
toàn phụ thuộc vào quan niệm của từng quốc gia.
18


- Đề cập đến "dân tộc thiểu số", chúng ta cũng cần phân biệt với khái
niệm "dân tộc bản địa". Dân tộc bản địa cũng thuộc một trong những nhóm
ngƣời dễ bị tổn thƣơng mà quyền của họ vì nhiều lí do thƣờng bị bỏ quên
hoặc xâm phạm.
Quyền của ngƣời dân tộc bản địa sớm đƣợc cộng đồng quốc tế ghi
nhận. Đáng chú ý nhất vào ngày 13-9-2007, Đại hội đồng LHQ đã biểu quyết
thông qua bản "Tuyên ngôn về quyền của dân tộc bản địa" với 143 quốc gia
ủng hộ, 4 phiếu chống (Úc, Canada, New Zealand và Hoa Kỳ) và 11 phiếu
trắng (Azerbaijan, Bangladesh, Bhutan, Burundi, Cô-lôm-bi-a, Georgia,
Kenya, Nigeria, Nga Liên đoàn, Samoa và Ukraine). Việt Nam là quốc gia
thành viên của LHQ đã ký vào bản Tuyên Ngôn này.
Năm 1993, Đại hội đồng LHQ tuyên bố là “Năm quốc tế về các dân tộc
bản địa” (the International Year of the World's Indigenous People) và thập kỷ
1995-2004 là “Thập kỷ quốc tế về các dân tộc bản địa” (the International
Decade for the World's Indigenous People) nhằm tăng cƣờng sự hợp tác quốc
tế để giải quyết những vấn đề của cộng đồng ngƣời bản địa mà cơ bản nhất là
quyền sở hữu đất đai, quyền phát triển kinh tế, y tế, giáo dục, môi
trƣờng... của dân tộc này. Chính đó là nguyên nhân giải thích cho sự ra đời
của 2 chƣơng trình LHQ mang tên là: “Nhóm công tác về các dân tộc bản
địa” (the Working Group on Indigenous Populations) và “Diễn đàn thƣờng
trực về các vấn đề bản địa” (the Permanent Forum on Indigenous Issues), đã
tích cực nghiên cứu thúc đẩy việc thực hiện các quyền của những ngƣời bản
địa qua việc biên soạn bản thảo “Tuyên Ngôn về quyền của các dân tộc bản
địa” (the Declaration on the Rights of the Indigenous Peoples), một dự án vô
cùng khó khăn mà LHQ tìm mọi cách để chinh phục các quốc gia thành viên
phải ký vào.
Đề cập đến khái niệm "dân tộc bản địa", đáng chú ý là khái niệm của

19


x

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×