Tải bản đầy đủ

skkn một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 5 phân biệt từ đồng nghĩa từ nhiều nghĩa từ đồng âm

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỈM SƠN
TRƯỜNG TIỂU HỌC QUANG TRUNG

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

GIÚP HỌC SINH LỚP 5 PHÂN BIỆT
TỪ ĐỒNG NGHĨA, TỪ ĐỒNG ÂM VÀ TỪ NHIỀU NGHĨA

Họ và tên:
Chức vụ:
Đơn vị công tác:
SKKN thuộc môn:

Lưu Thị Hồng Hải
Giáo viên
Trường Tiểu học Quang Trung
Tiếng Việt

BỈM SƠN NĂM 2013



A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong chương trình Tiểu học, môn Tiếng Việt giữ một vị trí đặc biệt quan
trọng, bởi vì nó vừa là môn khoa học, vừa là môn công cụ. Đây cũng là môn
học chiếm thời lượng nhiều nhất.
Một trong những nguyên tắc cơ bản của dạy Tiếng Việt là dạy học thông
qua giao tiếp. Người ta giao tiếp với nhau bằng nhiều phương tiện, nhưng
phương tiện thông thường và quan trọng nhất là ngôn ngữ. Giao tiếp bằng ngôn
ngữ là công cụ chủ yếu để học sinh tiếp cận, rèn luyện và phát triển khả năng sử
dụng từ Tiếng Việt. Do đó, việc đưa học sinh vào các hoạt động học tập trong
giờ Tiếng Việt được giáo viên rất quan tâm, chú ý. Trong quá trình dạy học tôi
nhận thấy có không ít giáo viên gặp khó khăn khi truyền tải nội dung kiến thức
môn Tiếng Việt cho các em. Tiếng Việt là môn học phức tạp nhất vì Tiếng Việt
có cấu trúc phức tạp và đa dạng về nghĩa, đặc biệt là phân môn Luyện từ và
câu. Khi dạy tiết Luyện từ và câu đa số giáo viên chỉ bám sát giáo án để thực
hiện nội dung. Theo tôi làm như thế là chưa đủ và máy móc, chưa giúp cho học
sinh nắm vững được nội dung cần yêu cầu. Ngôn ngữ Tiếng Việt của chúng ta
thực sự có nhiều khía cạnh khó, một trong những nội dung khó đó là phần nghĩa
của từ.
Trong chương trình môn Tiếng Việt lớp 5, nội dung nghĩa của từ được tập
trung biên soạn có hệ thống trong phần Luyện từ và câu. Nhiều năm liền trong
quá trình dạy học, tôi thường nhận thấy các em học sinh sau khi học hai bài “Từ
trái nghĩa”, “Từ đồng nghĩa” thì các em dễ dàng tìm được các từ trái nghĩa,
việc tìm các từ đồng nghĩa cũng không mấy khó khăn. Song sau khi học hai bài
“Từ đồng âm”, “Từ nhiều nghĩa” thì các em bắt đầu có sự nhầm lẫn và khả
năng phân biệt từ đồng nghĩa, từ đồng âm và từ nhiều nghĩa cũng không được
như mong đợi của giáo viên, kể cả học sinh khá, giỏi đôi khi cũng còn thiếu
chính xác.
Nguyên nhân nào dẫn tới những nhầm lẫn đó? Làm thế nào để giúp học
sinh phân biệt chính xác về từ đồng nghĩa, từ đồng âm và từ nhiều nghĩa? Trăn
trở về vấn đề này, qua nhiều năm dạy lớp 5, tôi đã chọn sáng kiến kinh nghiệm :
“Giúp HS lớp 5 phân biệt từ đồng nghĩa, từ đồng âm và từ nhiều nghĩa”.
Đưa ra vấn đề này mong được sự trao đổi góp ý của các đồng nghiệp nhằm
tháo gỡ những khó khăn cho bản thân khi hướng dẫn học sinh lớp 5 phân biệt từ
đồng âm, đồng nghĩa và từ nhiều nghĩa trong phân môn Luyện từ và câu và góp
phần nhỏ vào việc nâng cao chất lượng dạy - học phân môn Luyện từ và câu
nói riêng và đổi mới phương pháp dạy học hiện nay nói chung.

1



B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN

Từ đồng nghĩa , từ đồng âm và từ nhiều nghĩa là một hiện tượng độc đáo
của tiếng Việt , góp phần làm cho tiếng Việt thêm phong phú và mang đậm một
nét đặc sắc riêng mà không thể lẫn với một thứ ngôn ngữ nào khác.
Từ đồng nghĩa, từ đồng âm và từ nhiều nghĩa SGK Tiếng Việt 5 tập 1 đã
nêu khái niệm rất rõ ràng nhưng khi thực hành phân biệt, xác định từ đồng
nghĩa, từ đồng âm và từ nhiều nghĩa trong văn bản cụ thể thì có nhiều trường
hợp GV cũng như HS vẫn nhầm lẫn. Để khắc phục vấn đề trên theo tôi chúng ta
cần nắm vững đặc điểm, cơ chế tạo từ nói chung và cơ chế tạo từ đồng nghĩa, từ
đồng âm và từ nhiều nghĩa nói riêng trong Tiếng Việt.
Chúng ta biết rằng trong Tiếng Việt cũng như các ngôn ngữ khác, từ có
chức năng định danh sự vật. Từ Tiếng Việt có đặc điểm là: Tính không lí do và
không biến đổi hình thái.
Cấu tạo của từ gồm 2 mặt đó là nội dung (nghĩa của từ) và hình thức (âm
thanh, chữ viết). Các từ khác nhau chính là khác nhau về nội dung và hình thức
cấu tạo của từ. Tuy nhiên trong thực tế số lượng từ là có hạn trong khi sự vật,
hiện tượng lại hết sức đa dạng, phong phú và luôn phát sinh, phát triển cùng với
cuộc sống. Hiện tượng từ đồng nghĩa, từ đồng âm và từ nhiều nghĩa chính là
cách để giải quyết mâu thuẫn này. Cụ thể là:
- Một sự vật, hiện tượng được gọi bằng nhiều tên khác nhau (từ đồng
nghĩa).
- Nhiều sự vật, hiện tượng được gọi chung một tên mà không có, không
cần bất cứ lý do nào (từ đồng âm).
- Gọi tên các sự vật, hiện tượng mới phát sinh dựa trên các đặc điểm,
tính chất của sự vật, hiện tượng đã có trước đó (từ nhiều nghĩa).
Như vậy, hiện tượng từ đồng nghĩa, từ đồng âm và từ nhiều nghĩa đều có
nguyên nhân và cơ sở khoa học là do Tiếng Việt có đặc điểm là tính không lí do
và không biến đổi hình thái.
Dựa vào các cơ sở khoa học nêu trên ta dễ dàng nhận thấy các từ đồng
nghĩa là những từ tương đồng với nhau về nghĩa, khác nhau về âm thanh và có
phân biệt với nhau về một vài sắc thái ngữ nghĩa hoặc sắc thái phong cách, ...
nào đó, hoặc đồng thời cả hai. Từ đồng âm chỉ giống nhau về hình thức (âm
thanh, chữ viết) nhưng khác nhau hoàn toàn về nội dung (nghĩa của từ). Chúng
ta không thể xác định được từ nào xuất hiện trước, từ nào xuất hiện sau. Còn đối
với từ nhiều nghĩa ngoài việc giống nhau về hình thức (âm thanh, chữ viết) còn
có mối liên hệ về nghĩa và ta hoàn toàn có thể xác dịnh được từ gốc (có trước)
và các từ phát sinh (có sau). Do đó, muốn phân biệt từ đồng âm và từ nhiều
nghĩa. Xét các từ dưới góc độ thời gian ra đời, xuất hiện. Nắm vững cơ chế tạo
2


từ mới dựa trên các đặc điểm, tính chất của sự vật, hiện tượng đã có trước đó (từ
nhiều nghĩa). Từ nhiều nghĩa không chỉ là những từ cùng từ loại
Tóm lại việc rèn luyện để mỗi học sinh phân biệt, nhận biết được từ đồng
nghĩa, từ đồng âm và từ nhiều nghĩa trong phân môn Luyện từ và câu là rất quan
trọng. Nhưng điểm quan tâm nhất hiện nay về phương pháp giảng dạy, ngoài
những phương pháp mà ngành giáo dục quy định thì ít có giáo viên nào tự tìm
tòi những phương pháp mới để dạy phân môn Luyện từ và câu một cách sâu sắc
nhất phù hợp với học sinh.
II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1. Thực trạng của việc dạy và học từ đồng nghĩa, từ đồng âm, từ nhiều
nghĩa.
- Việc dạy và học từ đồng nghĩa, từ đồng âm, từ nhiều nghĩa của giáo
viên: Trong quá trình dạy học các bài này, mỗi giáo viên đều làm đúng vai trò
hướng dẫn, tổ chức cho học sinh. Tuy nhiên do thời lượng 1 tiết học có hạn nên
giáo viên chưa lồng ghép liên hệ phân biệt từ đồng nghĩa và từ đồng âm; từ đồng
âm và từ nhiều nghĩa trong các bài học. Do đó, sau các bài học học sinh chỉ nắm
được kiến thức về nội dung học một cách tách bạch. Đôi khi giảng dạy nội dung
này, giáo viên còn khó khăn khi lấy thêm một số ví dụ cụ thể từ bên ngoài SGK
để minh họa phân biệt từ đồng nghĩa, từ đồng âm và từ nhiều nghĩa.
- Về việc dạy và học từ đồng nghĩa, từ đồng âm, từ nhiều nghĩa của học
sinh: Trong thực tế học sinh làm các bài tập về từ đồng nghĩa, từ đồng âm
nhanh và ít sai hơn khi học các bài tập về từ nhiều nghĩa, cũng có thể từ nhiều
nghĩa trừu tượng hơn. Đặc biệt khi học sinh phân biệt và tìm các từ có quan hệ
đồng âm, các nghĩa của từ nhiều nghĩa trong một số văn cảnh thì đa số học sinh
lúng túng và làm bài chưa đạt yêu cầu. Ban đầu, khi học từng bài về từ đồng
nghĩa, từ đồng âm, từ nhiều nghĩa thì phần đa các em làm được bài, song khi
làm các bài tập lồng ghép để phân biệt từ đồng nghĩa, từ đồng âm, từ nhiều
nghĩa thì chất lượng làm bài yếu hơn.
2. Khảo sát thực trạng
Để kiểm tra về kĩ năng phân biệt từ đồng nghĩa, từ đồng âm, từ nhiều
nghĩa trong bài kiểm tra thường xuyên sau phần học về từ đồng nghĩa, từ đồng
âm và từ nhiều nghĩa tôi đã ra đề kiểm tra (học sinh lớp 5B năm học 20112012) như sau:
Bài 1: Tìm các từ đồng nghĩa trong đoạn văn sau.
Chúng tôi kể chuyện về mẹ của mình. Bạn Hùng quê Nam Bộ gọi mẹ
bằng má. Bạn Hòa gọi mẹ bằng u. Bạn Na, bạn Thắng gọi mẹ là bu. Bạn Thành
quê Phú Thọ gọi mẹ là bầm. Còn bạn Phước người Huế lại gọi mẹ là mạ.
Bài 2: Cặp từ nào dưới đây là từ đồng âm:
a. Vỗ bờ, vỗ tay.
b. Vách đá, đá bóng.
3


c. Mắt cá, mắt lưới.
d. Lưng núi, đau lưng.
Bài 3: Trong các từ in đậm dưới đây những từ nào có quan hệ đồng âm,
những từ nào có quan hệ nhiều nghĩa với nhau?
- Lúa ngoài đồng đã chín vàng.
- Tổ em có chín học sinh.
- Nghĩ cho chín rồi hãy nói.
Kết quả khảo sát như sau (tháng 10/2011)
Tổng số học sinh

Loại giỏi
Loại khá
Loại TB
Loại yếu
SL
TL
SL
TL
SL TL SL
TL
34 học sinh
3
8.8%
6
17.6% 17 50% 8 23.6%
Với kết quả như trên thực sự là một vấn đề đáng lo ngại, vì thế tôi đã trăn
trở tìm ra các biện pháp tháo gỡ thực trạng trên.
III. CÁC GIẢI PHÁP VÀ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Các giải pháp
1.1. Tìm hiểu nội dung các bài từ đồng nghĩa, từ đồng âm và từ nhiều nghĩa.
1.2. Hướng dẫn HS học các khái niệm về từ đồng nghĩa, từ đồng âm và từ
nhiều nghĩa.
1.3.Hướng dẫn HS nhận diện chính xác từ đồng âm, từ đồng nghĩa và từ
nhiều nghĩa
1.4. Hướng dẫn HS phân biệt từ đồng nghĩa, từ đồng âm và từ nhiều nghĩa
2. Các biện pháp tổ chức thực hiện
2.1.Tìm hiểu nội dung các bài từ đồng nghĩa, từ đồng âm và từ nhiều
nghĩa.
- Từ đồng nghĩa: Từ đồng nghĩa được dạy trong 4 tiết ở tuần 1, tuần 2 và
tuần 3. Ở tuần 1 các em được học về khái niệm từ đồng nghĩa. Các bài tập về từ
đồng nghĩa chủ yếu giúp học sinh tìm được các từ đồng nghĩa trong các từ cho
sẵn và trong đoạn văn, tìm các từ đồng nghĩa để điền vào chỗ trống của đoạn
văn.
- Từ đồng âm: Từ đồng âm được dạy trong 1 tiết ở tuần 5, các em được
học khái niệm về từ đồng âm. các bài tập về từ đồng âm chủ yếu giúp học sinh
phân biệt nghĩa các từ đồng âm, đặt câu phân biệt các từ đồng âm, bài luyện tập
về từ đồng âm đã được giảm tải, vì thế thời lượng còn ít.
- Từ nhiều nghĩa: Từ nhiều nghĩa được dạy trong 3 tiết ở tuần 7 và tuần 8.
Học sinh được học khái niệm về từ nhiều nghĩa. Các bài tập chủ yếu là phân biệt
các từ mang nghĩa gốc và nghĩa chuyển, đặt câu phân biệt nghĩa. Nêu các nét
nghĩa khác nhau của một từ.
Dạng bài tập về phân biệt từ đồng nghĩa, từ đồng âm, từ nhiều nghĩa
không có, trong khi đó khả năng tư duy trừu tượng của các em còn hạn chế.

4


2.2. Hướng dẫn HS khi học các khái niệm về từ đồng nghĩa, từ đồng
âm và từ nhiều nghĩa.
Trong phân môn Luyện từ và câu lớp 5, các bài học về khái niệm từ đồng
âm, từ đồng nghĩa và từ nhiều nghĩa đều gồm ba phần: Nhận xét, Ghi nhớ,
Luyện tập.
Nhận xét là phần cung cấp ngữ liệu và nêu câu hỏi (bài tập) gợi ý cho học
sinh phân tích nhằm rút ra kiến thức lí thuyết. Theo quan điểm tích hợp, ngữ liệu
thường được rút ra từ những bài tập đọc mà học sinh đã học. Các ngữ liệu đều
mang tính điển hình cao và có số lượng chữ hạn chế để đảm bảo tính hiệu quả
của việc phân tích và không làm mất thời gian học tập.
Ghi nhớ là phần chốt lại những điểm chính yếu về kiến thức được rút ra từ
việc phân tích ngữ liệu. Học sinh cần nắm vững những kiến thức này.
Luyện tập là phần bài tập nhằm củng cố và vận dụng kiến thức đã học.
2.2.1. Từ đồng nghĩa:
- Để dạy khái niệm từ đồng nghĩa, giáo viên cần cho học sinh tìm hiểu và
thực hiện kĩ các bài tập ở phần nhận xét trong SGK Tiếng Việt 5- tập 1- trang 7:
1. So sánh nghĩa của các từ in đậm trong mỗi ví dụ sau:
a)Sau 80 năm giời nô lệ làm cho nước nhà bị yếu hèn, ngày nay chúng ta
cần phải xây dựng lại cơ đồ mà tổ tiên đã để lại cho chúng ta, làm sao cho
chúng tatheo kịp các nước khác trên hoàn cầu trong công cuộc kiến thiết đó,
nước nhà trông mong chờ đợi ở các em rất nhiều.
HỒ CHÍ MINH

b)Màu lúa chín dưới đồng vàng xuộm lại. Nắng nhạt ngả màu vàng hoe.
Trong vườn lắc lư những chùm quả xoan vàng lịm không trông thấy cuống, như
những chuỗi tràng hạt bồ đề treo lơ lửng.
TÔ HOÀI

2.Thay những từ in đậm trong mỗi ví dụ trên cho nhau rồi rút ra nhận xét:
Những từ nào thay thế được cho nhau? Những từ nào không thay thế được cho
nhau? Vì sao?
So sánh và nhận xét nghĩa của các từ:
+ xây dựng và kiến thiết
(Nghĩa của hai từ này giống nhau hoàn toàn, có thể thay thế được cho
nhau vì cùng chỉ một hoạt động đó là: Làm nên một công trình kiến trúc, hình
thành một tổ chức hay một chế độ chính trị, xã hội, kinh tế).
+ Vàng xuộm, vàng hoe và vàng lịm
(Nghĩa của ba từ này giống nhau là cùng chỉ một màu vàng nhưng chúng
không thay thế được cho nhau vì nghĩa của chúng không giống nhau hoàn toàn.
Vàng xuộm chỉ màu vàng đậm của lúa đã chín. Vàng hoe chỉ màu vàng nhạt,
tươi, ánh lên. Còn vàng lịm chỉ màu vàng của quả chín, gợi cảm giác rất ngọt).
- Giáo viên kết luận các từ có nghĩa giống nhau đó là các từ đồng nghĩa.
Sau đó cho HS rút ra khái niệm về từ đồng nghĩa.
- Khái niệm:
+ Từ đồng nghĩa là những từ có nghĩa giống nhau hoặc gần giống nhau .
5


Ví dụ: siêng năng , chăm chỉ, cần cù, ...
+ Có những từ đồng nghĩa hoàn toàn , có thế thay thế cho nhau trong lời
nói. Ví dụ : hổ, cọp, hùm, ...
+ Có những từ đồng nghĩa không hoàn toàn. Khi dùng những từ này, ta
phải cân nhắc để lựa chọn cho đúng .
Ví dụ : ăn, xơi, chén,... (biểu thị thái độ, tình cảm khác nhau đối với người
đối thoại hoặc điều được nói đến); mang, khiêng, vác, ...(biểu thị những cách
thức hành động khác nhau)
(SGK Tiếng Việt 5 - tập 1- trang 8)
- Sau khi giáo viên hướng dẫn học sinh làm xong phần luyện tập. Ở phần
củng cố bài cho học sinh nhắc lại khái niệm và giáo viên cần nhấn mạnh thêm
về khái niệm từ đồng nghĩa: Từ đồng nghĩa là các từ khác nhau về mặt ngữ âm
nhưng giống nhau về mặt ý nghĩa, chúng cùng biểu thị các sắc thái khác nhau
của cùng một khái niệm.
2.2.2.Từ đồng âm:
- HS tìm hiểu nghĩa của các từ:
Câu trong Ông ngồi câu cá: Bắt cá, tôm, … bằng móc sắt nhỏ (thường có
mồi) buộc ở đầu một sợi dây
Câu trong Đoạn văn này có năm câu: Đơn vị của lời nói diễn đạt một ý
trọn vẹn, trên văn bản được mở đầu bằng một chữ cái viết hoa và kết thúc bằng
một dấu ngắt câu.
- HS rút ra khái niệm: Từ đồng âm là những từ giống nhau về âm nhưng
khác nhau về nghĩa (SGK Tiếng Việt 5 - tập 1 - trang 51)
- GV đưa thêm một số ví dụ cho HS tìm hiểu:
+ Bò trong kiến bò: Chỉ hoạt động di chuyển ở tư thế áp bụng xuống nền
bằng cử động của toàn thân hoặc những cái chân ngắn.
+ Bò trong trâu bò: Chỉ loài động vật nhai lại, sừng ngắn, lông thường có
màu vàng, được nuôi để lấy sức kéo, thịt, sữa, …
+ Đầm trong đầm sen: Chỉ khoảng trũng to và sâu giữa đồng để giữ
nước.
+ Đầm trong cái đầm đất: Chỉ vật nặng, có cán dùng để nện đất cho chặt.
- Đối với giáo viên tiểu học, cần chú ý thêm từ đồng âm được nói tới trong
sách giáo khoa Tiếng Việt 5 gồm:
+ Từ đồng âm ngẫu nhiên (nghĩa là có 2 hay hơn 2 từ có hình thức ngữ âm
ngẫu nhiên giống nhau, trùng nhau nhưng giữa chúng không có mối quan hệ
nào, chúng vốn là những từ hoàn toàn khác nhau) như trường hợp câu trong câu
cá và câu trong Đoạn văn có 5 câu là từ đồng âm ngẫu nhiên.
2.2.3. Từ nhiều nghĩa:
Từ nhiều nghĩa là từ có một nghĩa gốc và một hay một số nghĩa chuyển.
Các nghĩa của từ nhiều nghĩa bao giờ cũng có mối liên hệ với nhau. (SGK Tiếng
Việt 5 - Tập 1 - Trang 67)
6


Ví dụ:
+ Đôi mắt của bé mở to (bộ phận quan sát của con người mọc ở trên mặt)
+ Từ mắt trong câu Quả na mở mắt là nghĩa chuyển.
Đối với giáo viên có thể hiểu: Một từ có thể gọi tên nhiều sự vật hiện
tượng, biểu thị nhiều khái niệm (khái niệm về sự vật, hiện tượng) trong thực tế
khách quan thì từ ấy được gọi là từ nhiều nghĩa. Các nghĩa trong từ nhiều nghĩa
có mối liên hệ mật thiết với nhau.
Muốn hiểu rõ hơn khái niệm về từ nhiều nghĩa ta có thể so sánh từ nhiều
nghĩa với từ một nghĩa. Từ nào là tên gọi của một sự vật, hiện tượng biểu đạt
một khái niệm thì từ ấy chỉ có một nghĩa. Từ nào là tên gọi của nhiều sự vật,
hiện tượng, biểu thị nhiều khái niệm thì từ ấy là từ nhiều nghĩa.
Nhờ vào quan hệ liên tưởng tương đồng (ẩn dụ) và tương cận (hoán dụ)
người ta liên tưởng từ sự vật này đến sự vật kia trên những đặc điểm, hình dáng,
tính chất giống nhau hay gần nhau giữa các sự vật ấy. Từ chỗ gọi tên sự vật, tính
chất, hành động này (nghĩa gốc) chuyển sang gọi tên sự vật, tính chất, hành
động khác (nghĩa chuyển), quan hệ đa nghĩa của từ nảy sinh từ đó.
Ví dụ: Chín:
+ Gốc: Chỉ quả đã qua một quá trình phát triển, đạt đến độ phát triển cao
nhất, hoàn thiện nhất, độ mềm nhất định, màu sắc đặc trưng.
+ Chuyển 1: Chỉ quá trình vận động, quá trinh rèn luyện từ đó, khi đạt đến
sự phát triển cao nhất. (Suy nghĩ chín, tình thế cách mạng đã chín, tài năng đã
chín).
+ Chuyển 2: Sự thay đổi màu sắc nước da. (ngượng chín cả mặt).
+ Chuyển 3: Trải qua một quá trình đã đạt đến độ mềm. (cam chín).
Như vậy muốn phân tích được nghĩa của từ nhiều nghĩa, trước hết phải
miêu tả thật đầy đủ các nét nghĩa của nghĩa gốc để làm cơ sở cho sự phân tích
nghĩa. Nghĩa của từ phát triển thường dựa trên hai cơ sở :
- Theo cơ chế ẩn dụ nghĩa của từ thường có ba dạng sau :
Dạng 1: Nghĩa của từ phát triển dựa vào sự giống nhau về hình thức giữa
các sự vật, hiện tượng hay nói cách khác là dựa vào các kiểu tương quan về
hình dáng.
Ví dụ:
+ Mũi ( mũi người) và Mũi( mũi thuyền).
+Miệng ( miệng xinh) và miệng( miệng bát).
Dạng 2: Nghĩa của từ phát triểm trên cơ sở ẩn dụ về cách thức hay chức
năng, của các sự vật, đối tượng .
Ví dụ : cắt (cắt cỏ) với cắt (cắt quan hệ )
Dạng 3: Nghĩa của từ phát triển trên cơ sở ẩn dụ kết quả do tác động của
các sự vật đối với con người.
Ví dụ: đau (đau vết mổ ) và đau (đau lòng )
- Theo cơ chế hoán dụ có các dạng :
Dạng 1: Nghĩa của từ phát triển trên cơ sở quan hệ giữa bộ phận và toàn
7


thể.
Ví dụ: Chân, Tay, mặt là những tên gọi chỉ bộ phận được chuyển sang chỉ
cái toàn thể ( anh ấy có chân trong đội bóng. Tay bảo vệ của nhà máy số ba có
mặt trong hội nghị)
Dạng 2: Nghĩa của từ phát triển trên quan hệ giữa vật chứa với cái được
chứa.
Ví dụ : Nhà Là công trình xây dựng (Anh trai tôi đang làm nhà)
Nhà là gia đình (Cả nhà có mặt)
Dạng 3: Nghĩa của từ phát triển dựa trên nguyên liệu hay công cụ với sản
phẩm được làm ra từ nguyên liệu hay công cụ đó hoặc hành động dùng nguyên
liệu hay công cụ đó.
Ví dụ: Muối:
+ Nguyên liệu (Một kg muối).
+ Hành động làm cho thức ăn lên men (Chị ấy muối dưa ngon lắm).
* Tóm lại khi dạy khái niệm về từ đồng nghĩa, từ đồng âm và từ nhiều
nghĩa, cần thực hiện theo quy trình các bước:
- Cho học sinh nhận biết ngữ liệu để phát hiện những dấu hiệu bản chất
của từ đồng nghĩa, từ đồng âm và từ nhiều nghĩa.
- Học sinh rút ra các đặc điểm của từ đồng nghĩa, từ đồng âm, từ nhiều
nghĩa và nêu khái niệm.
- Luyện tập để nắm khái niệm trong ngữ liệu mới.
Đối với các tiết dạy luyện tập về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa, giáo viên
chủ yếu thông qua việc tổ chức các hình thức dạy học để giúp học sinh củng cố,
nắm vứng kiến thức, nhận diện, đặt câu, xác định đúng nghĩa…
Sau khi mở rộng cho HS một số khái niệm cơ bản cần thiết về từ đồng nghĩa,
từ nhiều nghĩa, từ đồng âm tôi đã hướng dẫn HS so sánh sự giống nhau và khác
nhau giữa chúng:
Khác nhau:
Từ đồng nghĩa
Từ đồng âm
Từ nhiều nghĩa
- Đặc điểm: Khác nhau - Đặc điểm: Giống nhau - Đặc điểm: Có một
về âm thanh nhưng về âm thanh, khác nhau nghĩa gốc và có một
giống nhau hoặc gần về ý nghĩa.
hoặc nhiều nhiều nghĩa
giống nhau về ý nghĩa
- Ví dụ:
chuyển. Các nghĩa có
- Ví dụ:
+ câu cá, câu văn.
mối liên hệ với nhau.
+ xây dựng, kiến thiết, + Cái bàn, bàn bạc công - Ví dụ: Từ mắt có

việc
những nét nghĩa như sau:
+ vàng xuộm, vàng lịm,
+ Đôi mắt của bé mở to.
vàng hoe, …
+ Quả na mở mắt.
Giống nhau:
- Từ nhiều nghĩa và từ đồng âm đều có hình thức âm thanh giống nhau
- Từ nhiều nghĩa và từ đồng âm thường dễ nhầm lẫn:
Ví dụ: - ba: (1) bố : Ba tôi rất thích đọc báo.
(2) số ba: Số ba là con số không may mắn.
8


Học sinh có thể nhầm lẫn từ ba là từ nhiều nghĩa vì có hình thức âm thanh
giống nhau. Khi gặp trường hợp này tôi đã phân biệt để học sinh thấy được giữa
các nét nghĩa của từ nhiều nghĩa có mối quan hệ chặt chẽ với nhau còn ở đây các
nghĩa của hai từ này khác nhau, không có quan hệ với nhau vì thế không phải
là từ nhiều nghĩa. Trường hợp ví dụ trên là từ đồng âm.
2.3. Hướng dẫn HS nhận diện chính xác từ đồng âm, từ đồng nghĩa và
từ nhiều nghĩa
2.3.1. Dùng thước gạch chân những từ ngữ quan trọng trong định
nghĩa từ đồng âm, đồng nghĩa và giải thích rõ bằng ví dụ.
- Từ đồng nghĩa là những từ có nghĩa giống nhau hoặc gần giống nhau.
Ví dụ: Siêng năng, chăm chỉ, cần cù .
Tổ quốc, non sông, đất nước.
Điểm khác với từ đồng âm là: từ đồng nghĩa mặc dù âm thanh phát ra
không giống nhau nhưng về mặt ý nghĩa thì giống nhau hoặc gần giống nhau.
- Từ đồng âm là những từ giống nhau về âm thanh nhưng khác hẳn nhau
về nghĩa.
Ví dụ:
- Hòn đá - Đá bóng: Hai tiếng đá trong hai từ này đều được ghi bằng :
đ+ a + thanh sắc và khi phát âm thì chúng có cùng âm thanh. Nhưng xét về mặt
từ loại và ý nghĩa thì hoàn toàn khác nhau.Tiếng đá trong từ Hòn đá là danh từ là vật hình thành trong tự nhiên và rất cứng còn tiếng đá trong Đá bóng là động
từ - nghĩa là dùng chân tác động vào quả bóng làm cho quả bóng văng ra xa.
- Cánh đồng -Tượng đồng - Một nghìn đồng: Ba tiếng đồng trong ba từ
này phát âm ra đều giống nhau nhưng về ý nghĩa thì khác nhau hoàn toàn; tiếng
đồng trong từ Cánh đồng chỉ khoảng đất rộng, bằng phẳng nơi để trồng trọt;
tiếng đồng trong từ Tượng đồng chỉ bức tượng được làm bằng chất liệu là đồng
có màu đỏ; tiếng đồng trong từ Một nghìn đồng là chỉ đơn vị tiền của Việt Nam.
- Ba má - Ba tuổi: Hai tiếng ba đều được cấu tạo âm vần giống nhau: b + a
+ thanh ngang, chúng còn giống nhau cả về âm thanh khi phát âm. Về ý nghĩa:
Tiếng ba trong từ Ba má chỉ người đàn ông sinh ra mình; tiếng ba trong từ Ba
tuổi là từ chỉ thời gian, tuổi.
Nói tóm lại các từ đồng âm khi phát ra âm thanh thì hoàn toàn giống nhau
nhưng về mặt ngữ nghĩa thì khác hẳn nhau.
- Từ nhiều nghĩa là từ có một nghĩa gốc và nhiều nghĩa chuyển:
Ví dụ:
a. chạy
- Cầu thủ chạy đón quả bóng. (chạy: Hoạt động di chuyển thân thể bằng
những bước nhanh, mạnh và liên tiếp - nghĩa gốc)
- Tàu chạy trên đường ray. (chạy: Sự di chuyển nhanh của phương tiện giao
thông - nghĩa chuyển)
- Đồng hồ này chạy chậm. (chạy: Hoạt động của máy móc - nghĩa chuyển)
9


- Mưa ào xuống, không kịp chạy lúa phơi ngoài sân. (chạy: Khẩn trương
tránh những điều không may sắp xảy đến - nghĩa chuyển)
2.3.2. Dùng tranh ảnh vật thật…để minh hoạ cho từ nhằm giúp các
em hiểu đúng nghĩa và phân biệt được từ.
Ví dụ:
- Để phân biệt nghĩa từ đồng trong ví dụ: Cánh đồng - tượng đồng - một
nghìn đồng. GV có thể đưa bức ảnh chụp cánh đồng, một pho tượng làm bằng
đồng và tờ tiền một nghìn đồng cho HS xem để HS nắm nghĩa của các từ đồng
âm này.

Cánh đồng
Tượng đồng
Một nghìn đồng
- Để phân biệt nghĩa từ đá trong ví dụ: đá bóng – hòn đá

Hòn đá
Đá bóng
2.3.3. Hướng dẫn HS đặt từ vào văn cảnh để hiểu đúng nghĩa của từ.
Nghĩa của các từ đồng nghĩa:
+ bao la, bát ngát, thênh thang:
Bao la: mênh mông, xa thẳm, không giới hạn (Lòng mẹ bao la như biển
cả. Vũ trụ bao la)
10


Bát ngát: rộng lớn, không có giới hạn (Biển trời bát ngát. Cánh đồng bát
ngát.)
Thênh thang: Rộng rãi (Nhà rộng thênh thang.)
+ xanh biếc, xanh um, xanh rờn, xanh xao, xanh bủng:
Xanh biếc: Màu lam đậm và tươi (Bầu trời xanh biếc.)
Xanh um: Xanh tốt, rậm rạp (Hàng liễu xanh um.)
Xanh rờn: Xanh mượt như màu lá cây non (Ruộng mạ xanh rờn.)
Xanh xao: Nước da nhợt nhạt, ốm yếu (Người xanh xao vàng võ; gương
mặt xanh xao, mệt mỏi.
Xanh bủng: Nước da của người ốm lâu (Sắc mặt vàng xanh bủng.)
Nghĩa của các từ đồng âm:
- Để hiểu nghĩa của từ đậu trong vai trò của từ đồng âm ta đặt vào câu
sau “ Ruồi đậu mâm xôi đậu”. Trong văn cảnh này từ đậu thứ nhất là động từ có
nghĩa con ruồi nó dừng lại ở trên mâm xôi. Còn từ đậu thứ hai xôi đậu được nấu
từ nếp và loại đậu nào đó, từ đậu ở đây thuộc từ loại là danh từ.
- Từ chín trong “ Một nghề cho chín còn hơn chín nghề”. Từ chín thứ nhất
có nghĩa là tinh thông, từ chín thứ hai có nghĩa là số 9
- Từ bò trong “ Bé thì bò, còn con bò lại đi”. Từ bò thứ nhất có nghĩa là
hoạt động của em bé di chuyển vị trí ở tư thế nằm sấp, cử động cả tay chân. Bò
trong con bò là loài động vật nhai lại, sừng rỗng ngắn, chân có hai móng, nuôi
để lấy sức kéo, ăn thịt hay lấy sữa.
- Từ bác trong “ Đừng vội bác ý kiến của bác”. Từ bác thứ nhất có nghĩa
là không chấp nhận, còn từ bác thứ hai là từ để gọi nhau giữa người nhiều tuổi.
Nghĩa của các từ nhiều nghĩa:
- Từ đường:
+ Lối đi nối liền hai hay nhiều điểm (đường quốc lộ).
+ Phương tiện truyền đi, chuyển đi cái gì đó (đường ống dẫn nước; đường
điện thoại; đường thuỷ).
+ Lối đi của vật chuyển động (đường tên bay).
- Từ chân:
+ Bộ phận dưới cùng của cơ thể người, động vật, dùng để đi đứng (dừng
bước chân; đi xa mỏi chân).
+ Bộ phận dưới cùng của một số đồ dùng (chân ghế; chân giường).
+ Cương vị, phận sự của một người (có chân trong hội đồng nhân dân
tỉnh; chân thư ký).
2.3.4. Dùng sổ tay tự tích lũy ghi chép các khái niệm và một số từ
đồng nghĩa, từ đồng âm và từ nhiều nghĩa trong cuộc sống hàng ngày để có
thêm vốn từ.
- Đối với từ đồng nghĩa:
+Từ đồng nghĩa hoàn toàn: Là những từ có thể thay thế cho nhau trong
lời nói, câu văn.Ví dụ:
11


Từ
cha, ba, bố, tía, ….
mẹ, má, u, bầm, ….
hổ, cọp, hùm
xây dựng, kiến thiết, …

-

-

-

Nghĩa
Chỉ người đàn ông sinh ra mình.
Chỉ người phụ nữ sinh ra mình.
Tên một con vật.(Dán tranh con cọp
kèm theo).
Làm nên một công trình kiến trúc; hình
thành một tổ chức hay một chế độ chính
trị xã hội, kinh tế. (SGV tr 44-TV5-T1)

nước nhà, non sông, tổ quốc, …
mênh mông, bát ngát, bao la, …
Chỉ khoảng không gian rộng lớn.
+Từ đồng nghĩa không hoàn toàn: Là những từ có nghĩa gần giống nhau.
Ví dụ:
Từ ( câu )
Nghĩa
(chết, hi sinh, mất, băng hà, toi mạng) Một người không còn sống.
Anh chiến sĩ hi sinh vì nước.
Thể hiện sự tôn trọng với một người
chiến sĩ Cách mang.
Ông em vừa mới mất.
Thể hiện sự kính trọng với một người
lớn tuổi, người thân trong gia đình.
Một tên cướp đã toi mạng.
Thể hiện thái độ khinh miệt với ngừoi
xấu, kẻ thù.
Nhà vua mới băng hà.
Thể hiện sự kính trọng với nhà vua,
được sử dụng trong thời kì phong kiến.
(vàng ối, chín vàng, vàng xọng, vàng
giòn, vàng mượt, …)
- Từng chiếc lá mít vàng ối.
Vàng rất đậm, đều khắp trên mặt lá.
- Buồng chuối đốm quả chín vàng.
Màu vàng đẹp tự nhiên của quả chín.
- Bụi mía vàng xọng,đốt ngầu phấn Màu vàng gợi cảm giác mọng nước.
trắng.
- Dưới sân, rơm và thóc vàng giòn.
Màu vàng của vật được phơi già nắng,
tạo cảm giác giòn đến có thể gãy.
- Con gà, con chó vàng mượt.
Màu vàng gợi tả những con vật béo tốt,
có bộ lông óng ả, mượt mà.
- Đối với từ đồng âm: Từ đồng âm là những từ giống nhau về âm nhưng
khác nhau về nghĩa.Ví dụ:
Từ ( câu )
Nghĩa
1. Từ : Câu
a.Anh Hùng ngồi câu cá.
- Bắt cá bằng móc sắt nhỏ (thường có
mồi), buộc ở đầu một sợi dây.
b.Đoạn văn này có 5 câu.
- Đơn vị của lời nói, diễn đạt một trọn
12


c.Sáng nay, mẹ em nấu rau câu để ăn.

vẹn
- Là loại tảo hồng, thường mọc ở các
cánh đồng nước mặn ven biển, dùng
làm nộm.

3.Từ: Sao
a. Sao bạn lại làm như vậy?
- Hỏi lí do của một hành động.
b. Bầu trời đầy sao lấp lánh như những - Mọi thiên thể nhìn thấy dưới dạng
hạt kim cương.
chấm sáng ban đêm trong không gian
vũ trụ.
c. Mẹ em đi sao giấy khai sinh.
- Chép lại bản chính
d. Bố em sao thuốc Bắc để uống.
- Rang thuốc cho khô.
4.Từ: Giá
a. Giá xăng tăng nhanh quá.
- Số tiền phải bỏ ra để mua một vật.
b. Bé Lan treo rổ lên giá.
- Đồ dùng để treo hay để gác vật gì đó.
c.Mẹ mua giá về nấu canh chua.
- Loại rau làm bằng đậu ngâm cho mọc
mầm ra.
5.Từ: Bàn
a.Lọ hoa đặt trên bàn thật đẹp.
- Vật dụng thường được làm bằng gỗ,
nhựa…, mặt phẳng, có chân, để bày vật
dụntg, viết lách
b.Chúng em bàn nhau quyên góp ủng - Trao đổi kiến với nhau về một vấn đề
hộ đồng bào bị bão lụt.
gì đó.
c.Cái bàn chải này đẹp quá.
- Dụng cụ làm bằng lông cứng hay rễ
tre, ken vào một miếng gỗ, nhựa…có
thứ dùng để giặt giũ, có thứ dùng để
đánh răng.
6.Từ: Nước
a. Nước con sông này rất trong.
- Chất lỏng không màu không mùi,
không vị trong suốt không có hình
dạng nhất định.
b. Nước ta có bờ biển dài hơn 3000 - Khoảng đất có biên giới nhất định,
km.
trong đó có một hay nhiều dân tộc cùng
sống dưới một chế độ chung.
7.Từ: Cờ
a. Cờ đỏ sao vàng tung bay trên đấu - Miếng vải hay giấy có màu sắc hay có
trường quốc tế.
huy hiệu, dùng làm biểu hiện cho một
nước, đoàn thể hay tổ chức…
b. Chúng em đang chơi cờ tướng.
- Cờ dùng 32 quân gồm có: Tướng, sỹ,
tượng, xe, pháo, mã, tốt, phân ra hai
bên, bên nào tướng bị chiếu mà không
còn nước chạy là thua.
13


- Đối với từ nhiều nghĩa: Từ nhiều nghĩa là từ có một nghĩa gốc và một hay
một số nghĩa chuyển. Các nghĩa của từ nhiều nghĩa bao giờ cũng có mối liên hệ
với nhau.
Từ ( câu )
Nghĩa
1. Từ : chạy
- Cầu thủ chạy đón quả bóng.
- Hoạt động di chuyển thân thể bằng
những bước nhanh, mạnh và liên tiếp.
- Tàu chạy trên đường ray.
- Phương tiện giao thông di chuyển
nhanh đến nơi khác trên một bề mặt.
- Đồng hồ này chạy chậm.
- Máy móc hoặc đồ dùng có máy móc
hoạt động, làm việc.
- Mưa ào xuống, không kịp chạy lúa - Nhanh chóng tránh trước đi điều gì
phơi ngoài sân.
không hay, thường bằng cách chạy
hoặc chuyển đi nơi khác.
2.Từ: lá
- Lá bàng đang đỏ ngọn cây (Tố Hữu)
- Bộ phận của cây, mọc ra ở cành hoặc
- Lá khoai anh ngỡ lá sen (ca dao)
thân và thường có hình dẹt, màu lục,
giữ vai trò chủ yếu trong việc tạo ra
chất hữu cơ nuôi cây.
- Lá cờ căng lên vì ngược gió (Nguyễn - Từ dùng để chỉ từng đơn vị vật có
Huy Tưởng)
hình tấm mảnh nhẹ hoặc giống như
- Cầm lá thư này lòng hướng vô hình cái lá.
Nam (bài hát)
3.Từ: quả
- Quả dừa - đàn lợn con nằm trên cao - Bộ phận của cây do bầu nhuỵ hoa
(Trần Đăng Khoa)
phát triển thành, bên trong thường
- Quả cau nho nhỏ, cái vỏ vân vân
chứa hạt.
(ca dao)
- Trăng tròn như quả bóng
- Từ dùng để chỉ từng đơn vị những
(Trần Đăng Khoa) vật có hình giống như quả cây.
- Quả đất là ngôi nhà chung của chúng
ta
4.Từ: cứng
- Cứng như thép.
- Có khả năng chịu đựng tác dụng của
- Thanh tre cứng quá, không uốn cong lực cơ học mà không bị biến dạng
được.
- Lúa đã cứng cây.
- Mạnh mẽ và có khả năng chịu tác
- Lí lẽ rất cứng.
động bất lợi từ bên ngoài mà không bị
lay chuyển hoặc thay đổi bản chất
14


- Học lực loại cứng.
- Một giáo viên cứng của trường.
- Quai hàm cứng lại, chân tay tê cứng.
- Xi măng chết cứng.
- Cách giải quyết hơi cứng, thái độ cứng
quá.

5.Từ: xuân
- Mùa xuân là tết trồng cây

- (Khẩu ngữ) có trình độ, năng lực khá
so với yêu cầu
- Ở trạng thái mất khả năng biến dạng,
cử động, vận động
- Thiếu sự linh hoạt trong cách đối xử,
ứng phó do quá nguyên tắc, không
thay đổi cho phù hợp với yêu cầu
khách quan
- Mùa chuyển tiếp từ đông sang hạ,
thời tiết ấm dần lên, thường được coi
là mở đầu của năm.
- Là tươi đẹp, tràn đầy sức sống

Làm cho đất nước càng ngày càng xuân
(Hồ Chí Minh)
- Sáu mươi tuổi hãy còn xuân chán
- Thuộc về tuổi trẻ.
So với ông Bành vẫn thiếu niên
(Hồ Chí Minh)
- Khi người ta đã ngoài 70 xuân thì tuổi - Tuổi .
tác càng cao, sức khỏe càng thấp.
- Xuân này đến nữa đã ba xuân
- Năm, dùng để tính thời gian đã trôi
qua
2.4. Hướng dẫn HS phân biệt từ đồng nghĩa, từ đồng âm và từ nhiều
nghĩa
2.4.1.Từ đồng nghĩa:
Bản chất của từ đồng nghĩa: Thực tế học sinh thường nhầm lẫn giữa từ
đồng nghĩa, từ nhiều nghĩa, từ đồng âm và không nắm được nghĩa của chúng bởi
vì định nghĩa về từ đồng nghĩa, từ nhiều nghĩa, từ đồng âm chưa đầy đủ dẫn đến
sự khó khăn cho HS trong việc nhận diện. Phân biệt từ đồng nghĩa, từ nhiều
nghĩa, từ đồng âm chỉ dựa vào định nghĩa là chưa đủ. Đứng trước thực tế đó nên
tôi đã mở rộng thêm cho HS một số kiến thức sau:
- Từ đồng nghĩa: Bản chất của từ đồng nghĩa (tính ở mức độ của từ đồng
nghĩa)
- Khả năng hoạt động tác động đến sự di chuyển của các sự vật có các từ:
ném, lao, phóng, quăng, vứt, xán xô, đẩy liệng, tống đạp, đá, nhấn, dìm, kéo,
dật, rút, gieo, rắc, vãi, trút, xoay, quay, gồng, gánh...
- Căn cứ vào chiều di chuyển để chia ra các nhóm đồng nghĩa .
+ Di chuyển ra xa chủ thể: ném, phóng, lao...
+ Di chuyển gần lại : lôi, kéo, co, giật, rút...
+ Di chuyển quay xung quanh chủ thể: xoay, quay...
+Di chuyển cùng chủ thể : Gồng, gánh, bưng, đội, cõng...

15


- Các từ trong từng nhóm có mức độ đồng nghĩa cao hơn so với các từ
trong các nhóm khác .
Bản chất của từ đồng nghĩa là những từ đồng nhất với nhau về nghĩa
nhưng có tính mức độ. Tính mức độ này là do các từ ngoài sự đồng nhất thì có
sự khác biệt nhất định về sắc thái nghĩa .
Ví dụ: Về trạng thái chấm dứt sự sống: chết, hi sinh, tử, mất
Về hiện tượng hấp thụ thức ăn: Tống, hốc, tọng, ăn...
- Khi phân tích từ đồng nghĩa có hai thao tác, đó là chỉ ra sự giống nhau
và khác nhau. Nhưng quan trọng là phải chỉ ra được sự khác nhau về sắc thái .
Ví dụ 1: Quả, trái
Giống nhau: Sản phẩm của cây trong một thời kì sinh trưởng nhất định
(quả mít/trái mít)
Khác nhau: Quả gợi tính hình khối, tròn, treo lủng lẳng, trái toát ra sắc
thái tình cảm, trân trọng, nâng niu, yêu thương,...(quả tim/trái tim;quả trứng/trái
trứng)
Ví dụ 2: Giữ gìn, bảo vệ
Giống nhau : Giữ nguyên vẹn, trọn vẹn một cái gì đó (Giữ quần áo; bảo
vệ quần áo)
Khác nhau: + Bảo vệ phù hợp với đối tượng lớn. trừu tượng; Giữ gìn phù
hợp với đối tượng nhỏ, quý (Giữ gìn đoàn kết của Đảng như giữ gìn con ngươi
của mắt mình, Bảo vệ đất nước)
+ Bảo vệ có nét nghĩa ngăn ngừa, phòng chống, ngăn chặn sự tác động
của bên ngoài; giữ gìn có tính chất thụ động giữ cái đã có, không có sắc thái
chống lại thế lực bên ngoài. (Bảo vệ luận văn khác Giữ gìn luận văn)
Ví dụ 3: Không phận, vùng trời
Giống nhau: Chỉ biên giới phía trên của một quốc gia. (Địch xâm phạm
vùng trời Việt Nam; địch xâm phạm không phận Việt Nam).
Khác nhau : Vùng trời có khả năng chỉ một khoảng không cụ thể, còn
không phận thì không có khả năng này. (Vùng trời quê tôi thật là yên ả).
Ví dụ 4: Chọn, lựa, tuyển, kén
Giống nhau: Tìm ra cái gì đó cùng loại với nó.
Khác nhau: Chọn thiên về cái tốt, số lượng đối tượng nhiều, từ cái mình
có mà ra; lựa thiên về loại bỏ cái xấu, số lượng đối tượng ít, xuất phát từ đối
tượng mà tìm; Tuyển là số lượng đã biết trước; Kén dùng cho người có tính chất
khắt khe cá nhân.
Ví dụ 5: Nhanh, mau, chóng (Hiệp thợ này nhanh vì họ làm mau nên
chóng xong). Nhanh chỉ tính chất chung, mau chỉ thao tác, chóng chỉ thời gian.
Các từ đồng nghĩa khác nhau về sắc thái biểu cảm
Ví dụ 1: Cho, biếu, tặng: Cho có sắc thái trung hòa, Biếu có sắc thái kính
trọng, tặng có sắc thái thân mật.
16


Do có sự khác nhau về sắc thái nghĩa và sắc thái biểu cảm nên cách dùng
các từ đồng nghĩa khác nhau. Hay nói cách khác, các từ đồng nghĩa không phải
bao giờ cũng thay thế cho nhau được, chúng đồng nghĩa với nhau vì chúng vừa
giống nhau vừa khác nhau .
Ví dụ : Hoài sơn/ củ mài; trần bì/ vỏ quýt: Các từ Hán Việt dùng trong
khoa học, các từ thuần Việt dùng trong đời sống .
Hiện tượng đồng nghĩa không tách rời hiện tượng đa nghĩa, đó là nguyên
nhân của tính mức độ. Các từ đồng nghĩa với nhau không phải đồng nghĩa về
toàn bộ dung lượng nghĩa của nó mà chỉ đồng nghĩa ở một nghĩa nào đó mà
thôi.
Ví dụ : Trông có ba nghĩa : - Hướng mắt quan sát.
- Giữ, chăm sóc.
- Nương vào, nhờ vào .
Dựa có ba nghĩa : - Theo, căn cứ theo.
- Tựa vào, nhờ vào.
- Nương vào, nhờ vào .
Trông và dựa đồng nghĩa với nhau ở nghĩa thứ ba
Một từ nếu là từ đa nghĩa, với các nghĩa gốc khác của nó, nó có thể đồng
nghĩa với nhiều từ khác nhau
Ví dụ: Ăn - Thắng (Đội tớ ăn rồi, đội cậu thua).
- Hợp (ăn cánh, ăn ảnh, ăn hình).
- Hưởng, nhận (tàu ăn than).
- Hao, tốn (xe ăn xăng).
Phân loại từ đồng nghĩa:
Từ đồng nghĩa xẩy ra ở nhiều cấp độ :
- Hình vị với hình vị: Xanh - thanh - lam - bích - lục …..
Đánh - chiến - kích - đấu….
- Từ với từ : Thiên - trời; sơn - núi …
- Từ Hán Việt với từ thuần Việt: Huynh đệ - Anh em; phụ nữ - đàn bà…
- Từ thuần Việt với từ Thuần Việt: ăn - xơi - chén - hốc…
- Cụm từ với cụm từ : …
Nguồn gốc của từ đồng nghĩa:
Đồng nghĩa do cấu tạo từ, đồng nghĩa sẵn có giữa các yếu tố thuần Việt.
Ví dụ: Từ các từ Nhanh, mau, chóng có thể cấu tạo ra hàng loạt từ:
Nhanh: nhanh chóng, nhanh nhanh, nhanh nhẹn, nhanh nhạy.
Mau: mau chóng, mau lẹ ….
Chóng: chóng vánh, nhanh chóng...
Đồng nghĩa do vay mượn : Đó là hiện tượng đã có từ A vay mượn B và
cả hai cùng chỉ X.
- Đồng nghĩa ở cấp độ yếu tố cấu tạo(hình vị): xa- xe; bích, thanh- xanh…
- Đồng nghĩa giữa từ với từ: bằng hữu - bạn bè…
17


- Đồng nghĩa giữa các từ vay mượn với nhau:
điện thoại /Telephon
Bụt ( bụt đà)/ phật
cân/ ki-lô- gám
(Môn khơme)/ (Hán)
- Từ đồng nghĩa do từ toàn dân và từ địa phương:
Ví dụ: Bắp/ ngô; bát/đọi/chén; heo/lợn; đu đủ/moọng coong, ...
- Từ đồng nghĩa do sự phát triển của từ đa nghĩa:
Ví dụ : Trông: (1) nhìn
(2)chăm sóc
(3)căn cứ theo
Do sự phát triển nghĩa như trên mà hai từ trông và dựa có quan hệ đồng
nghĩa với nhau: nghĩa (3) của trông đồng nghĩa với dựa
2.4.1. Từ đồng âm:
Văn cảnh (ngữ cảnh) là tập hợp những từ đi kèm một từ nào đó tạo cho từ
tính xác định về nghĩa.
Hoạt động của từ đồng âm:
- Tạo ra những văn cảnh trong đó có nhiều từ đồng âm xuất hiện:
Con ngựa đá con ngựa đá con ngựa đá không đá con ngựa.
- Tạo ra những ngữ cảnh đan xen nhau trong đó có một yếu tố nào đó
được hiểu gấp đôi.
Bà già đi chợ cầu đông,
Bói xem một quẻ lấy chồng lợi chăng.
Thầy bói gieo quẻ nói rằng
Lợi thì có lợi nhưng răng không còn .
- Tạo ra những ngữ cảnh trong đó chỉ có một yếu tố đồng âm xuất hiện
nhưng nó lại được đi kèm với yếu tố khác, có tác dụng nhắc gợi nhau.
Con công đi qua chùa kênh, nó nghe tiếng cồng nó kềnh cổ ra .
Con cóc leo cây võng cách , nó rơi phải cọc nó cạch đến già .
- Tạo ra ngữ cảnh trong đó chỉ có một yếu tố đồng âm xuất hiện được
trong quan hệ với các yếu tố đồng nghĩa.
1- Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.
2- Cuốc xuống ao uống nước, gà vào vườn ăn kê.
3- Chuồng gà kê sát chuồng vịt.
4- Trời mưa đất thịt trơn như mỡ
Dò đến hàng nem chả muốn ăn.
* Nguyên nhân có hiện tượng đồng âm:
- Sẵn có
- Vay mượn
- Từ đa nghĩa phát triển đến mức tối đa .
2.4.3. Từ nhiều nghĩa
- Cơ cấu của từ nhiều nghĩa
18


Các từ lúc mới xuất hiện đều chỉ có một nghĩa, trải quan thời gian có
thêm nhiều nghĩa mới (nghĩa phái sinh, nghĩa bóng) được tạo ra từ nghĩa cơ sở
(nghĩa gốc, nghĩa đen) đó, trên cơ sở những biểu tượng nhất định.
Biểu tượng làm hình ảnh về hình dáng, kích thước, đặc điểm, tính chất
của sự vật được phản ánh trong ngôn ngữ trong nghĩa gốc của từ dưới dạng các
nét nghĩa trở thành cơ sở để tự phát triển thêm nghĩa mới. Nhờ vào quan hệ liên
tưởng tương đồng (ẩn dụ) và tương cận (hoán dụ) người ta liên tưởng từ sự vật
này đến sự vật kia trên những đặc điểm, hình dáng, tính chất giống nhau hay gần
nhau giữa các sự vật ấy. Từ chỗ gọi tên sự vật, tính chất, hành động này (nghĩa
1) chuyển sang gọi tên sự vật, tính chất, hành động khác nghĩa (nghĩa 2), quan
hệ đa nghĩa của từ nảy sinh từ đó .
Ví dụ : Chín: (1) chỉ quả đã qua một quá trình phát triển, đạt đến độ phát
triển cao nhất, hoàn thiện nhất, độ mềm nhất định, màu sắc đặc trưng.
(2)Chỉ quá trình vận động, quá trình rèn luyện từ đó, khi đạt
đến sự phát triển cao nhất.(Suy nghĩ chín, tình thế cách mạng đã chín, ...)
(3)Sự thay đổi màu sắc nước da. (ngượng chín cả mặt).
(4)Trải qua một quá trình đã đạt đến độ mềm. (cam chín).
Như vậy muốn phân tích được nghĩa của từ đa nghĩa, trước hết phải, miêu
tả thật đầy đủ các nét nghĩa của nghĩa gốc để làm cơ sở cho sự phân tích nghĩa.
Để giúp học sinh phân biệt được là từ nhiều nghĩa hay là từ đồng âm cần
giúp học sinh xác định quan hệ về các nét nghĩa chính xác (đối với từ nhiều
nghĩa), nếu loại trừ được có quan hệ về nghĩa đó là từ đồng âm còn ngược lại
nếu đồng âm nhưng có quan hệ về các nét nghĩa nữa thì đó là từ nhiều nghĩa.
3. Kết quả thu được:
So với chất lượng học sinh học cùng nội dung ở năm học trước thì năm
học này đã có sự chuyển biến. Cụ thể, năm học này tôi cũng ra những bài tập
tương tự năm học 2011 - 2012 cho các em học sinh lớp 5C, lớp tôi được phân
công chủ nhiệm và giảng dạy, sau khi áp dụng sáng kiến vào giảng dạy. Kết quả
bài làm của học sinh như sau: (tháng 10 năm 2012):
Tổng số học sinh
33 học sinh

Loại giỏi
SL
TL

Loại khá
SL
TL

15

10

45.5%

30.3%

Loại TB
SL
TL
6

18.1%

Loại yếu
SL
TL
2

6.1%

Qua quá trình hướng dẫn học sinh những phương pháp phân biệt từ đồng âm,
đồng nghĩa,từ nhiều nghĩa như trên, tôi thấy các em hoạt động tích cực, có tiến
bộ rệt, có hứng thú học tập và yêu thích giờ học Luyện từ và câu hơn.

19


C. KẾT LUẬN
Dạy các nội dung về nghĩa của từ thực sự không đơn giản, nhất là phân
biệt từ đồng nghĩa, từ đồng âm và từ nhiều nghĩa. Trong quá trình giảng dạy, tổ
chức cho học sinh nắm được kiến thức, bản thân tôi cũng đã cố gắng nghiên
cứu, tìm tòi, học hỏi và lựa chọn sao cho học sinh nắm kiến thức mới và vận
dụng trong học tập cũng như trong cuộc sống một cách hiệu quả.
Để giúp HS phân biệt và làm đúng được yêu cầu của bài tập về từ đồng
nghĩa, từ đồng âm, từ nhiều nghĩa, trong quá trình dạy học người giáo viên cần:
- Giúp học sinh xác định rõ các đặc điểm, cấu tạo của chúng về hình thức
và bản chất
- Khi dạy các bài về từ đồng nghĩa, từ đồng âm, từ nhiều nghĩa giáo viên
cần bổ sung định nghĩa về từ nhiều nghĩa nữa là : “Là từ dùng một hình thức âm
thanh biểu thị nhiều ý nghĩa ,....chúng lập thành một trật tự, một cơ cấu nghĩa
nhất định".
- Phần từ đồng âm và từ nhiều nghĩa có nhiều từ học sinh dễ nhầm lẫn và
khó xác định là đồng âm hay nhiều nghĩa giáo viên cần giúp các em nhấn mạnh
ở khái niệm về từ đồng âm: Chúng giống nhau là có hình thức âm thanh giống
nhau nhưng đối với từ đồng âm thì nghĩa của từ hoàn toàn khác nhau; còn từ
nhiều nghĩa thì ý nghĩa của các từ đó có quan hệ với nhau. Giáo viên chú ý
hướng dẫn học sinh phân biệt nghĩa sau đó mới đưa ra kết luận.
- Tạo mọi điều kiện giúp HS được bộc lộ cách hiểu của mình về từ nhiều
nghĩa và từ đồng âm.
- Qua các bài tập học sinh thực hành về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa giáo
viên cần cho các em tự kiểm tra, kiểm tra lẫn nhau về kết quả mình đã làm được.
Trên đây bằng thực tiễn và tâm huyết của mình tôi đã đưa ra một vài kinh
nghiệm nhỏ của bản thân khi dạy về từ đồng nghĩa, từ đồng âm và từ nhiều
nghĩa trong phân môn Luyện từ và câu lớp 5. Qua tìm hiểu nghiên cứu tài liệu
và học hỏi trao đổi với bạn bè đồng nghiệp, tôi đã mạnh dạn viết ra dưới dạng
một sáng kiến kinh nghiệm. Với giới hạn và phạm vi của đề tài áp dụng tại
trường Tiểu học Quang Trung nên trong quá trình thực tiễn sẽ không tránh khỏi
những thiếu sót rất mong sự đóng góp của các cấp quản lí, các bạn đồng nghiệp
để tôi có thể hoàn thiện hơn các phương pháp dạy học của mình nhằm nâng cao
chất lượng giáo dục hiện nay.
20


Tôi xin chân thành cảm ơn!
Bỉm sơn, ngày 10 tháng 4 năm 2013
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của người
khác.

XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ

NGƯỜI LÀM SÁNG KIẾN

Lưu Thị Hồng Hải

21



x

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×