Tải bản đầy đủ

SKKN một số biện pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi môn lịch sử 9

I. PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài:
Thế kỉ XXI, đất nước ta có bước phát triển mạnh mẽ về mọi mặt đòi hỏi
mỗi người cần phải năng động, sáng tạo, có tay nghề cao, sẵn sàng thích ứng với
những biến đổi diễn ra hàng ngày. Đảng ta đã ban hành Nghị quyết số 29NQ/TW ngày 4/11/2013 của Hội nghị Ban chấp hành TW Đảng lần thứ (VIII) khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa và hội nhập quốc tế. Điều đó đặt ra một yêu cầu cấp thiết đối với sự nghiệp
giáo dục là phải đào tạo nhân lực bồi dưỡng nhân tài phục vụ đất nước.
Việc bồi dưỡng học sinh giỏi, ươm trồng những hạt giống nhân tài cho quê
hương, đất nước là một nhiệm vụ rất quan trọng và cần thiết vì những người tài
bao giờ cũng là nhân tố quan trọng để thúc đẩy xã hội phát triển. Đặc biệt đối
cấp học THCS, bồi dưỡng học sinh giỏi được xem là mũi nhọn của mỗi trường
nói riêng của ngành giáo dục nói chung. Kết quả học sinh giỏi là thước đo năng
lực của mỗi nhà giáo và cũng là thương hiệu cho mỗi nhà trường.
Trong những năm gần đây, công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử 9
đạt được thành tích đáng kể. Tuy nhiên chất lượng của học sinh giỏi chưa ổn
định chưa đáp ứng kì vọng của nhà trường, của ngành giáo dục đề ra. Điều đó,
xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau như xã hội có những nhận thức chưa
đầy đủ về vị trí chức năng của bộ môn Lịch sử, nhiều phụ huynh cho đây là môn
học phụ không mang lại tương lai cho con em mình không muốn cho con em
tham gia. Vì thế, tình trạng học sinh chưa nắm được những sự kiện lịch sử cơ

bản hay nhớ sai hoặc nhầm lẫn kiến thức lịch sử là hiện tượng khá phổ biến.
Bản thân là một giáo viên trực tiếp bồi dưỡng trong những năm đầu tham
gia chất lượng còn thấp tâm lý của phụ huynh không muốn cho con em mình
tham gia đội tuyển tuy nhiên trong quá trình giảng dạy giáo viên đã chủ động
trong việc nắm bắt kiến thức và đối tượng học sinh làm tốt công tác tư tưởng và
đưa ra biện pháp phù hợp do vậy đã làm thay đổi nhận thức của phụ huynh và
học sinh chất lượng đội tuyển không ngừng được nâng cao. Từ thực tế đó bản
1


thân mạnh dạn đưa ra sáng kiến “Một số biện pháp nâng cao chất lượng bồi
dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử 9”
Đã có một số nghiên cứu liên quan đến đề tài như thầy giáo Đinh Văn
Đồng trường THCS Hương Hóa - Tuyên Hóa - Quảng Bình với đề tài: “Giải
pháp bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 9 môn Lịch sử dự thi cấp tỉnh đạt hiệu quả",
hay đề tài “Một số phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử” của thầy
Nguyễn Văn Sáng trường THCS Bình Hàng Tây. Tuy nhiên các thầy cô giáo chỉ
tập trung ở những giải pháp mang tính lý thuyết và bao trùm toàn bộ chương
trình bồi dưỡng môn Lịch sử ở cấp THCS. Còn những biện pháp của tôi đã qua
thực tiễn áp dụng và có hiệu quả thiết thực từ năm học 2012 - 2013 đến nay.
1.2. Điểm mới của đề tài
Với đề tài này đã có nhiều giáo viên nghiên cứu và thực nghiệm nhưng
trong quá trình giảng dạy bản thân tôi phát hiện ra nhiều điểm mới có thể vận
dụng tối ưu trong công tác bồi dưỡng đó là:
- Cách kiểm soát kiến thức của học sinh thông qua từng chuyên đề và qua
các bài kiểm tra.
- Cách hướng dẫn học sinh nhận dạng đề ra, cách làm bài của học sinh.
1.3. Phạm vi áp dụng của đề tài
Đề tài áp dụng trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử 9 ở đơn
vị mình và đã áp dụng thành công trong công tác bồi dưỡng đội tuyển học sinh
giỏi lớp 9 tham gia cấp tỉnh.

2


II. PHẦN NỘI DUNG
2.1.Thực trạng của vấn đề mà sáng kiến cần giải quyết
2.1.1. Về phía giáo viên:
Phần lớn giáo viên đều nhận thức được tầm quan trọng của công tác bồi
dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử. Những người được phân công giảng dạy tâm

huyết với công tác bồi dưỡng, có năng lực chuyên môn vững vàng, biết áp dụng
các phương pháp đặc trưng bộ môn và ứng dụng công nghệ thông tin vào quá
trình dạy học góp phần nâng cao chất lượng đội tuyển.
Song phương pháp ôn tập bồi dưỡng còn đơn điệu chủ yếu dạy kiến thức ở
sách giáo khoa kết hợp với sách giáo viên các tài liệu tự sưu tầm được và kinh
nghiệm của bản thân. Tuy nhiên khả năng kết hợp đa dạng các phương pháp
trong ôn tập bồi dưỡng chưa linh hoạt, tính sáng tạo chưa cao.
Bên cạnh công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, giáo viên còn phải bảo đảm
chất lượng đại trà, thậm chí còn làm công tác kiêm nhiệm khác, khối lượng công
việc nhiều do đó việc đầu tư cho công tác bồi dưỡng học sinh giỏi cũng có phần
bị hạn chế.
2.1.2. Về phía học sinh:
Trước đây học sinh quan niệm môn Lịch sử chỉ là môn học thuộc lòng,
không cần phải tư duy, không có bài tập, không cần đọc thêm tài liệu tham khảo.
Vì vậy học sinh chỉ học một cách hời hợt theo nội dung vở ghi, ít và thiếu phần
mở rộng, liên hệ. Kết quả là khi kiểm tra, học sinh không nắm được các kiến
thức, sự kiện, thời gian, câu hỏi mở rộng, nâng cao không giải quyết được.
Học sinh chưa được đầu tư từ lớp đầu cấp, chỉ bắt đầu tuyển chọn từ năm
lớp 8. Lên lớp 9 là năm cuối cấp nên các em phải học rất nhiều môn. Trong khi
đó, thời gian học môn bồi dưỡng của học sinh chưa nhiều do các em còn phải
học các môn chính khóa và dành thời gian nhiều cho các môn học khác.
Học sinh chưa thực sự yêu thích môn học, phần lớn các em đều cho rằng
học Lịch sử rất khó, khô khan, trừu tượng, quá nhiều sự kiện cần ghi nhớ… Hơn
nữa chương trình Lịch sử 9 quá rộng, quá dài, độ nhớ của các em không được
lâu. Do đó, học sinh cảm thấy nhàm chán khi học lịch sử, nhận biết sự kiện
3


không sâu sắc nhầm lẫn giữa sự kiện này với sự kiện kia. Chính vì vậy chất
lượng đội tuyển chưa ổn định.
2.1.3 Nguyên nhân của thực trạng
Qua trao đổi với các đồng nghiệp và thực tế giảng dạy, chúng tôi nhận thấy
một số nguyên nhân sau:
Một là chương trình chính khóa quá nhiều môn, thêm vào đó các em lại
tham bồi dưỡng học sinh giỏi nên rất hạn chế về thời gian tự học, tự nghiên cứu.
Hai là tài liệu Bồi dưỡng học sinh giỏi có khá nhiều, tuy nhiên các tài liệu
đó đơn thuần chỉ chứa đựng nội dung kiến thức thuần tuý, chưa có tài liệu đề
cập đến kinh nghiệm, cách thức, phương pháp, các kĩ năng làm bài lịch sử một
cách cụ thể để giúp giáo viên dễ dàng tiếp cận. Do đó công tác bồi dưỡng học
sinh giỏi thường gặp khó khăn, kết quả chưa ổn định.
Ba là thực tế hiện nay, môn Lịch sử ít được học sinh, phụ huynh chú trọng
đầu tư và cho rằng đây là môn học phụ khó xác định nghề nghiệp trong tương
lai. Do đó việc hình thành đội tuyển học sinh có năng khiếu học tập bộ môn rất
khó khăn. Đa số học sinh lựa chọn, tham gia bồi dưỡng các môn học khác đội
tuyển Sử phải chọn sau điều đó ảnh hưởng không nhỏ công tác bồi dưỡng và
chất lượng của đội tuyển.
Mặt khác, học sinh chưa bắt kịp với sự đổi mới phương pháp dạy học theo
hướng phát triển năng lực, chưa chủ động và linh hoạt trong bồi dưỡng.
* Kết quả cụ thể số học sinh bồi dưỡng HSG Sử 9 qua các năm trước khi áp
dụng đề tài như sau:
Năm học
2011-2012

Năm học
2011-2012

Tỷ lệ học

Tỷ lệ học sinh

Tỷ lệ học sinh không

sinh hứng thú
20%

không hứng thú
80%

biết vận dụng kiến thức
70%

Số học sinh đạt giải

Số học sinh đạt giải

Điểm TB

cấp huyện
5

cấp tỉnh
3

môn Sử
5,1

2.2. Các biện pháp thực hiện
4


2.2.1. Biện pháp 1: Dạy học sinh nắm kiến thức cơ bản
Phân phối chương trình và yêu cầu kiến thức trong chương trình Lịch sử 9
ở trường THCS chỉ dừng lại ở mức độ nhất định, bài giảng trong SGK đều nhằm
mục đích cung cấp kiến thức cơ bản về tiến trình lịch sử thế giới và Việt Nam
theo diện rộng, chưa đi vào chiều sâu. Đối với học sinh giỏi yêu cầu phải hiểu
biết sâu sắc và toàn diện. Các em phải nắm chắc bản chất các sự kiện, hiện
tượng lịch sử, các vấn đề lịch sử,… để có đủ tự tin, có sự sáng tạo khi giải quyết
bất kì đề thi nào.
Trong chương trình bồi dưỡng, bản thân tôi kết hợp dạy kĩ hệ thống kiến
thức cơ bản theo sách giáo khoa kết hợp chuẩn kiến thức kĩ năng bằng việc lựa
chọn những sự kiện, những vấn đề lịch sử trọng tâm dạy cho các em rồi tiến
hành mở rộng kiến thức bằng các chuyên đề nâng cao.
Các chuyên đề trong chương trình bồi dưỡng học sinh giỏi Lịch sử 9 đi sâu
làm rõ được hoàn cảnh lịch sử, nội dung bản chất của các vấn đề lịch sử, các giai
đoạn lịch sử ,mối quan hệ giữa quá khứ - hiện tại - tương lai. Đảm bảo cho học
sinh đạt được mức độ về kiến thức : nhận biết, thông hiểu, vận dụng, phân tích,
đánh giá.
Những kiến thức từ các chuyên đề là công cụ giúp học sinh giải quyết tốt
các loại đề thi. Giáo viên tiến hành dạy từng chuyên đề phù hợp với chương
trình khả năng tiếp nhận của từng đối tượng học sinh bồi dưỡng. Sau khi dạy
xong một chuyên đề, một bài lịch sử, giáo viên yêu cầu học sinh phải dành một
khoảng thời gian để suy nghĩ, nhìn nhận vấn đề đó, đặc biệt là ý nghĩa của sự
kiện đó với giai đoạn trước và sau nó.
Ví dụ : Sau khi học sinh học xong chuyên đề Cuộc vận động dân chủ trong
những năm 1936-1939, tôi sẽ hỏi các em so với thời kì 1930-1931 chủ trương
của Đảng trong thời kì 1936-1939 có nhiều điểm khác? Tại sao có sự khác nhau
như vậy?
Với câu hỏi trên học sinh phải trả lời được những kiến thức sau:
5


Nội dung

1930-1931

Kẻ thù

Đế quốc, phong kiến

Nhiệm vụ

sai.
Chống đế quốc, giành Chống phát xít, chống chiến
độc lập dân tộc, chống tranh đế quốc, chống bọn phản
phong kiến giành ruộng động thuộc địa và tay sai đòi tự
đất cho dân cày

do, cơm áo hòa bình.
Mặt trận nhân dân phản đế

Mặt trận
Hình thức, phương
pháp đấu tranh

1936-1939
Bọn phản động Pháp và tay

Bí mật, bất hợp pháp

Đông Dương
Hợp pháp, nửa hợp pháp, công

Bạo động vũ trang

khai, nửa công khai.

Sở dĩ có sự khác nhau như vậy là vì hoàn cảnh lịch sử có sự thay đổi so với
thời kỳ trước đặc biệt mặt trận nhân Pháp đã ban hành nhiều chính sách về tự do
dân chủ, ân xá tù chính trị cho các thuộc địa và lợi dụng tình hình này, Đảng ta
đã chủ trương đòi tự do dân chủ dân sinh.
Làm như vậy sẽ giúp học sinh nhớ được kiến thức và nếu gặp các dạng bài
hệ thống, so sánh, phân biệt, rút ra bài học kinh nghiệm... học sinh làm bài đạt
hiệu quả cao hơn.
Theo bản thân, các em được tham gia dự thi học sinh giỏi môn Lịch sử 9
phải nắm vững kiến thức cơ bản của bộ môn Lịch sử 9 - kiến thức cơ bản ở đây
không chỉ là những sự kiện đơn lẻ mà phải bao gồm hệ thống những hiểu biết
cần thiết về những sự kiện, niên đại, nhân vật, địa danh, các nguyên lý, quy luật,
những kết luận khái quát, phương pháp, kĩ năng. Vì vậy, khi nắm vững kiến thức
học sinh mới có khả năng vận dụng để giải quyết được với các loại câu hỏi, bài
tập.
Bên cạnh đó việc quan trọng để cung cấp kiến thức cho học sinh là chọn và
giới thiệu những tài liệu đảm bảo chất lượng cho các em. Thị trường sách hiện
nay khá phong phú nhưng quỹ thời gian của học sinh thì có hạn, nên bản thân
chọn mua hoặc phôtô tài liệu cho học sinh như: Sách giáo viên Lịch sử 9,
Chuyên đề bồi dưỡng Sử 9, Hướng dẫn trả lời câu hỏi và bài tập Lịch sử 9, Bài
tập bổ trợ và nâng cao Lịch sử 9; 100 câu hỏi và bài tập trắc nghiệm Lịch sử 12,
6


Luyện thi cấp tốc các dạng bài tập từ các đề thi quốc gia môn Lịch sử; Bộ đề thi
Lịch sử. Giáo viên còn giới thiệu các địa chỉ tin cậy trên mạng internet để học
sinh tham khảo…phục vụ công tác bồi dưỡng đạt kết quả.
2.2.2. Biện pháp2 : Rèn luyện kĩ năng ôn tập cho đội tuyển.
2.2.2.1. Kĩ năng ghi nhớ các sự kiện lịch sử cơ bản
Học Lịch sử không phải bắt buộc học sinh phải học thuộc lòng một cách
máy móc, một lúc phải nhớ quá nhiều sự kiện, song phải biết ghi nhớ, hiểu một
số sự kiện quan trọng, gắn với niên đại, địa danh, nhân vật lịch sử. Nếu không
ghi nhớ và không hiểu sự kiện lịch thì không thể làm tốt bài lịch sử, bởi vì bài
lịch sử không thể viết như một bài chính trị mà cần có sự kiện để chứng minh.
Ví dụ, khi học về cách mạng tháng Tám, học sinh phải ghi nhớ và hiểu Hội
nghị toàn quốc từ ngày 14 đến ngày 15/8/1945 hay Đại hội quốc dân Tân Trào
từ ngày 16 đến ngày 17/8/1945.
Muốn làm tốt bài thi môn lịch sử các em cần phải ghi nhớ tốt sự kiện lịch
sử. Tuy nhiên nhiều em chưa có cách ghi nhớ phù hợp. Qua nhiều năm bồi
dưỡng bản thân đưa ra cho học sinh vài gợi ý về cách ghi nhớ.
Thứ nhất, ghi nhớ thời gian xảy ra sự kiện lịch sử. Mỗi bài, mỗi chương
đều có những sự kiện gắn với thời gian nhất định. Các em có kĩ năng ghi nhớ
logic, biết tìm ra điểm tựa để nhớ, có thể lập dàn ý, lập bảng hệ thống hóa.
Chẳng hạn, khi học về khởi nghĩa Bắc Sơn (27/9/1940); Khởi nghĩa Nam
Kì (23/11/1940); Binh biến Đô Lương (14/1/1941); các em có thể ghi nhớ bằng
cách: lấy mốc khởi nghĩa Bắc Sơn làm chuẩn rồi suy ra cứ cách nhau hai tháng
diễn ra một sự kiện hay các sự kiện đều diễn ra trong tháng lẻ.
Các em có thể ghi nhớ máy móc mối quan hệ giữa các sự kiện, giữa thời
gian và địa điểm xảy ra sự kiện. Ví dụ khi học bài Cuộc kháng chiến chống Pháp
kết thúc trong đó có chiến dịch Điện Biên Phủ các em phải nắm vững ba đợt tấn
công của quân ta vào cứ điểm Điện Biên Phủ bằng cách lấy ngày 13/3/1954 là
ngày mở đầu, rồi dùng sự kiện Ngày quốc tế Phụ nữ (8/3) làm điểm tựa và suy
ra, cách 5 ngày quân ta mở cuộc tiến công đầu tiên vào cứ điểm Điện Biên Phủ
7


và tính ra rằng đợt 1 diễn ra trong 5 ngày... Cứ như vậy các em tìm cách nhớ đợt
2 và đợt 3.
Thứ hai, ghi nhớ các nhân vật lịch sử. Thông thường trong lịch sử mỗi sự
kiện đều gắn liền với những nhân vật nhất định, để dễ nhớ các nhân vật lịch sử,
theo bản thân có hai cách: một là lấy người để nói việc, hai là lấy việc để nói
người. Ví dụ khi nói về Hồ Chí Minh chúng ta có thể liên hệ đến Tuyên ngôn
độc lập hoặc lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, khi nói về chiến thắng Điện
Biên Phủ chúng ta nghĩ ngay đến Đại tướng Võ Nguyên Giáp.Việc kiểm tra sự
ghi nhớ các sự kiện lịch sử phải được tiến hành thường xuyên, ta có thể kiểm tra
vào thời gian đầu của buổi bồi dưỡng. Hình thức kiểm tra nên đa dạng, các
thành viên trong đội tuyển tự kiểm tra lẫn nhau.
2.2.2.2. Kĩ năng khái quát, tổng hợp sự kiện lịch sử
Vấn đề ghi nhớ sự kiện là cần thiết, là yêu cầu cần đạt khi bồi dưỡng đội
tuyển học sinh giỏi Lịch sử. Tuy nhiên đó chỉ mới là yếu tố “cần” nhưng chưa
“đủ” của một học sinh giỏi môn Lịch sử. Bởi vậy, sau khi nắm được nội dung
của các sự kiện đơn lẻ học sinh phải biết so sánh, tổng hợp, khái quát, liên kết
các sự kiện đó theo dòng lịch sử, hoặc đánh giá khái quát các sự kiện thành vấn
đề lịch sử theo một yêu cầu nhất định nào đó.
Trong thực tế đây là một “điểm yếu” của các học sinh trong đội tuyển học
sinh giỏi Lịch sử hiện nay. Chúng ta thường thấy rằng, các em nắm các sự kiện
lịch sử đơn lẻ rất tốt, nhiều em nhớ đến từng chi tiết nhỏ, nhưng “điểm yếu” của
các em chính là sự kết nối, khái quát, so sánh, phân tích các sự kiện đó thành
một chủ đề, một vấn đề, thì các em lại rất bị động, lúng túng.
Khi hướng dẫn cho học sinh trình bày các sự kiện lịch sử theo chủ đề, giáo
viên cần chú ý rèn luyện cho học sinh không nên chỉ đơn thuần trình bày các sự
kiện một cách đơn lẻ, mà trong quá trình trình bày, học sinh cần có sự “đánh
giá”, “bình luận” các sự kiện.
Ví dụ: Khi học xong chuyên đề: Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 và sự
thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Giáo viên hỏi học sinh: Thời cơ
trong cách mạng tháng Tám đã chín muồi để Đảng ta quyết định tổng khởi nghĩa
8


giành chính quyền về tay nhân dân ? Vậy thời cơ trong cách mạng tháng Tám là
gì?
Để trả lời được câu hỏi trên học sinh phải hiểu được cách mạng tháng Tám
thành công ngoài vệc chuẩn bị lâu dài còn phải biết chớp lấy lấy thời cơ. Thời
cơ là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài( chủ
quan và khách quan). Trong đó điều kiện chủ quan giữ vai trò quan trọng nhất.
Về nguyên nhân chủ quan: Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời vào ngày
(3/2/1930) có quá trình chuẩn bị chu đáo trong 15 năm với các lần diễn tập
(1930-1931), (1936-1939); (1939-1945). Đặc biệt trong phong trào cách mạng
1939-1945, Đảng ta đã chuẩn bị chu đáo về mọi mặt: Lực lượng chính trị, lực
lượng vũ trang, căn cứ địa cách mạng và bước đầu tập duyệt cho quần chúng
đấu tranh vũ trang giành chính quyền. Khi nghe tin phát xít Nhật bị đồng minh
đánh bại quân Nhật ở Đông Dương hoang mang dao động mất hết tinh thần
chiến đấu. Quân đồng minh chưa kịp nhảy vào Đông Dương. Qua cao trào
kháng Nhật cứu nước, quần chúng đã sẵn sàng chờ lệnh khởi nghĩa.
Về nguyên nhân khách quan: Thời cơ ngàn năm có một, tháng 5/1945, phát
xít Đức bị tiêu diệt, ngày 14/8/1945, phát xít Nhật bị quân đồng minh đánh bại.
Ngày 15/8/1945, quân Nhật đầu hàng quân đồng minh không điều kiện.
Như vậy, cách mạng tháng Tám nổ ra trong điều kiện chủ quan và khách
quan đã chín muồi. Đó là thời cơ ngàn năm có một vì nó rất quý và rất hiếm nếu
ta bỏ lỡ thời cơ sẽ không bao giờ trở lại. Nhận thức rõ thời cơ có một không hai
này Chủ Tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ “Đây là thời cơ có ngàn năm có một cho nhân
dân ta nổi dậy. Lần này dù có đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng kiên quyết
giành cho được độc lập dân tộc”. Điều đó thể hiện tinh thần đoàn kết trên dưới
một lòng của nhân dân ta để giành độc lập dân tộc thoát ra khỏi ách xâm lược
của thực dân Pháp và phát xít Nhật.
2.2.2.3. Kĩ năng liên hệ, so sánh, đối chiếu tài liệu lịch sử
Với kĩ năng này yêu cầu các em phải biết liên hệ, so sánh, đối chiếu tài liệu
đang học với hiện tại. Công việc này được tiến hành trên cơ sở nắm vững sự
9


kiện đang học và hiểu rõ tình hình, nhiệm vụ hiện nay. Có nhiều biện pháp để
tiến hành:
Một là: Rút ra bài học kinh nghiệm của quá khứ cho hiện tại. Ví dụ: Từ sự
thắng lợi của công cuộc cải cách Trung Quốc và sự thất bại của công cuộc cải tổ
của Liên Xô, Đảng ta rút ra được bài học kinh nghiệm gì?
+ Cải cách, đổi mới phải kiên định mục tiêu chủ nghĩa xã hội, làm cho mục
tiêu đó thực hiện có hiệu quả hơn bằng những bước đi, biện pháp đúng đắn...
+ Đảm bảo quyền lãnh đạo tuyết đối của Đảng Cộng sản Việt Nam, nắm
vững nguyên lí chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí minh lấy dân làm
gốc...
+ Đổi mới toàn diện, đồng bộ, trọng tâm là đổi mới về kinh tế, đổi mới về
chính trị phải thận trọng...
Hai là: So sánh sự kiện lịch sử, rút ra điểm giống nhau, khác nhau, điểm
mạnh, điểm yếu là một kĩ năng không thể thiếu trong việc bồi dưỡng học sinh
giỏi môn Lịch sử nói chung và bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử 9 nói
riêng . Nội dung so sánh có thể là các phong trào cách mạng, các chiến dịch
quân sự, các cuộc cách mạng...
Để học sinh nắm được kĩ năng này, trong quá trình bồi dưỡng, giáo viên
nên "định dạng" các hình thức so sánh thường gặp như: So sánh các cuộc cách
mạng, nội dung so sánh thường là: Lực lượng cách mạng, đối tượng của cách
mạng, tính chất cách mạng, mục tiêu của cách mạng, phương pháp tiến hành
cách mạng, kết quả, ý nghĩa của cách mạng....
So sánh về điều kiện lịch sử của các quốc gia trong một thời điểm lịch sử
cụ thể nào đó về các nội dung: kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa, giáo dục...
Ví dụ: So sánh điểm khác nhau cơ bản giữa Hiệp định Sơ-bộ(6/3) với Hiệp
định Giơ-ne-vơ (21/7/1954) để thấy bước tiến của ta trong cuộc đấu tranh ngoại
giao.
Điểm khác nhau cơ bản:
- Hiệp định Sơ-bộ(6/3), chính phủ Pháp công nhận nước ta là một quốc gia
tự do nằm trong Liên Bang Đông Dương thuộc Pháp. Còn Hiệp định Giơ-ne-vơ
10


(21/7/1954), Pháp và các nước tham dự hội nghị cam kết tôn trọng độc lập chủ
quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ ba nước Đông Dương.
- Trong lúc kí Hiệp định sơ bộ do ta còn yếu hơn địch nên ta phải chấp
nhận điều khoản đó. Đây là sách lược mềm dẻo để phân hóa kẻ thù. Còn trong
khi kí hiệp định Giơ-ne-vơ ta đã giành thắng lợi quyết định ở Điện Biên Phủ,
quyết định đến sự thất bại của thực dân Pháp ở Đông Dương.
Như vậy, so với Hiệp định Sơ-bộ, Hiệp định Giơ-ne-vơ là một bước tiến
vượt bậc trong cuộc đấu tranh ngoại giao của ta.
2.2.2.4. Kĩ năng phân tích, chứng minh.
Phân tích, chứng minh là một kĩ năng được xem là "khó" nhất trong các kĩ
năng khi tiến hành thực hiện một bài làm lịch sử. Với cấp độ yêu cầu đối với học
sinh THCS, kĩ năng này thường chưa đặt ra yêu cầu cao, song lại phải vận dụng
thường xuyên trong quá trình học và làm bài.
Tuy nhiên để rèn luyện kĩ năng phân tích chứng minh một nội dung, sự
kiện lịch sử đòi hỏi sự "tư duy" cao độ, bởi vậy qua quá trình bồi dưỡng đội
tuyển học sinh giỏi chúng ta nên chú ý rèn luyện cho các em kĩ năng này một
cách nhuần nhuyễn.
Trong bộ môn Lịch sử 9, kĩ năng phân tích thường là phân tích các nguyên
nhân thành công hay thất bại, ý nghĩa lịch sử, bài học kinh nghiệm của một sự
kiện lịch sử nào đó.
Rèn luyện kĩ năng phân tích, chứng minh, tức là rèn luyện cho các em biết
"mổ xẻ". Để làm được điều chúng ta biết đặt ra các câu hỏi "tại sao", "vì sao".
Một bài tập phân tích "sâu" tức là trả lời đầy đủ, chuẩn xác yêu cầu cần
phân tích, mặc dù ở cấp THCS, trong kết cấu đề thi, kĩ năng này được đặt ra
nhiều bởi biết "phân tích" là thể hiện cao khả năng tư duy lịch sử.
Chứng minh phong trào cách mạng 1930-1931 diễn ra trên quy mô rộng
khắp, hình thức đấu tranh phong phú, tính chiến đấu triệt để: Đối với yêu cầu
này các em phải lấy sự kiện để chứng minh- sự kiện đó nằm trong diễn biến của
phong trào cách mạng cách mạng 1930-1931 đỉnh cao phong trào Xô viết Nghệ
11


Tĩnh đồng thời các em phải biết khái quát tổng hợp để có kiến thức toàn diện khi
đó mới làm đầy đủ:
Ngay từ khi đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã phát động quần chúng đấu
tranh chống thực dân, phong kiến để đòi độc lập cho dân tộc và ruộng đất cho
dân cày.
- Tính quy mô rộng khắp:
+ Phong trào phát triển trên quy mô rộng khắp cả nước, kéo dài gần hai
năm(cuối năm 1930 đầu năm 1931).
+ Phong trào đã thu hút được đông đảo các tầng lớp nhân dân chủ yếu là
quần chúng công nông, với hàng trăm cuộc đấu tranh lớn nhỏ, tiêu biểu là cuộc
đấu tranh của 5000 công nhân và nông dân Vinh- Bến Thủy vào ngày 1/5/1930,
cuộc biểu tình của hơn hai vạn nông dân Thanh Chương vào ngày 1/9/1930 và
cuộc biểu tình của 6 vạn nông dân Hưng Nguyên ngày 12/9/1930.
- Tính triệt để:
+ Phong trào đã nhằm vào hai kẻ thù cơ bản của nhân dân ta bọn đế quốc
phong kiến và tay sai.
+ Tại một số nơi thuộc hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh trước sức mạnh đấu
tranh của quần chúng, hệ thống chính quyền địch bị tan rã từng mảng, bọn quan
lại cường hào bỏ trốn, chính quyền công nông binh thành lập dưới hình tức XôViết.
- Sử dụng hình thức đấu tranh quyết liệt: Phong trào sử dụng hình thức đấu
tranh từ thấp đến cao, từ mít tinh, biểu tình đến đốt huyện đường, phá nhà lao,
kết hợp biểu tình với thị uy với hoạt đông vũ trang để tiến công địch.
+ Trong tháng 9,10/1930, phong trào sử dụng hình thức đấu tranh vũ trang
khởi nghĩa cướp chính quyền thành lập chính quyền cách mạng.
Như vậy, phong trào cách mạng 19301931, đỉnh cao Xô-Viết Nghệ Tĩnh là
phong trào cách mạng rộng lớn đầu tiên của quần chúng công nông ở nước ta do
Đảng lãnh đạo. Tính quy mô rộng lớn, tính chất cách mạng triệt để và hình thức
đấu tranh quyết liệt của phong trào đã chứng minh bước phát triển nhảy vọt về
12


chất của các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở nước ta một khi có Đảng lãnh
đạo.
2.2.3. Biện pháp 3: Rèn luyện kĩ năng làm bài cho học sinh
2.2.3.1. Kĩ năng đọc và tìm hiểu đề
- Việc đọc và tìm hiểu đề bài rất quan trọng. Nếu chủ quan dễ dẫn đến sai
lạc yêu cầu của đề. Trước mỗi đề ra, tôi yêu cầu học sinh phải thực hiện:
- Đọc kĩ đề viết ra giấy nháp những cụm từ quan trọng, nội dung cơ bản
của đề thi và những vấn đề cốt lõi về yêu cầu của đề.
- Trên cơ sở đó bắt đầu suy nghĩ với đề ra như vậy sử dụng kiến thức nào
để làm bài.
- Gạch những ý cơ bản cho câu trả lời vào giấy nháp, tức là phải xây dựng
một sườn đáp án trước khi làm bài.
Ví dụ: khi tiếp xúc với đề “Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung Ương Đảng và
Tổng bộ Việt Minh đã thực hiện chủ trương gì để Việt Nam với tư cách là một
nước độc lập đón tiếp quân đồng minh vào giải giáp quân Nhật”. Nếu không đọc
kĩ đề, các em sẽ hiểu nhầm yêu cầu của đề hỏi về tình hình Việt Nam sau cách
mạng tháng Tám năm 1945. Trong khi đó yêu cầu của đề trình bày hội nghị toàn
quốc (14-> 18/8/1945), quyết định Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trước khi
quân Đồng minh vào giải giáp quân Nhật và sau đó tiếp tục trình bày Đại hội
quốc dân Tân Trào( 16 đến 17/8-1945) và Tổng khởi nghĩa cách mạng tháng
Tám.
Sau khi đọc kĩ đề các em phải hiểu đề. Đầu tiên các em bỏ thời gian nhất
định để suy nghĩ, phân tích, tìm hiểu những yêu cầu, nội dung cơ bản của đề, tức
là nêu những đòi hỏi của đề bài cần tập trung giải quyết. Hiểu được yêu cầu của
đề giúp các em định hướng cho cách làm bài của mình.
2.2.3.2. Kĩ năng xây dựng đề cương bài viết
Xây dựng đề cương bài viết nhằm đáp ứng những yêu cầu cơ bản của bài,
giữ được sự cân đối giữa các phần, chủ động thời gian làm bài.

13


- Sau khi lập dàn ý mới bắt đầu trả lời câu hỏi. Phải có phần mở đề trước
khi làm bài các em có thể sử dụng hoàn cảnh lịch sử để mở bài nhưng không nên
quá dài dòng, chỉ cần vài câu, đủ ý để dẫn dắt vào nội dung trả lời.
- Phần thân bài : Dựa trên cơ sở những ý cơ bản đã vạch ra, tập trung liên
hệ những kiến thức đã học, đã nắm được, nhớ được và sử dụng các phương pháp
liên kết câu, liên kết đoạn trong văn bản để làm bài không làm theo kiểu gạch
đầu dòng trên giấy nháp. Đây là trọng tâm nhất của câu trả lời, điểm cao hay
thấp là ở nội dung phần này.
- Phần kết luận: Phải có phần kết luận trong làm bài, tóm tắt ý nghĩa, tác
dụng của phần thân bài để làm kết luận - cũng như phần mở đầu, chỉ cần vài câu,
không nên dài dòng học sinh có thể sử dụng phần kết quả, ý nghĩa, hay bài học
kinh nghiệm cho phần kết luận.
- Trong khi các em làm bài nên chọn câu dễ làm trước - nhưng trong thi
học sinh giỏi môn Lịch sử khuyến khích làm các câu hỏi theo tiến trình lịch sử
câu nào sự kiện trước thì làm trước.
- Trong quá trình làm bài hạn chế xóa lem nhem không được dùng bút tẩy,
nếu lỡ có sai thì nên gạch một nét chỗ sai. Cố gắng để chữ viết dễ đọc, trình bày
bài khoa học không nên viết chèn, hay gạch xóa quá nhiều trong bài làm.
Ví dụ: Ở đề bài, hãy phân tích nội dung “ Lời kêu gọi toàn quốc kháng
chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/12/1946)”. Các em cần nêu phần mở đầu
ngắn gọn “Sau hiệp định Sơ-bộ (6/3/1946) và Tạm ước (14/9/1946) được kí giữa
ta và Pháp. Về phía ta, thực hiện nghiêm chỉnh những điều khoản được kí kết,
còn thực dân Pháp bội ước. Trước tình thế đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt
Đảng và chính phủ ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến vào đêm 19/12/1946.
- Phần thân bài: Đây là phần chủ yếu và quan trọng nhất của bài, các em
phải trình bày các sự kiện, ý tưởng... nhằm giải quyết các vấn đề được đặt ra.
Trong phần thân bài, các em cần nêu cho được các luận điểm và mỗi luận điểm
có các luận cứ để trình bày. Ví dụ với đề trên, chúng ta có thể lập đề cương phần
thân bài như sau:
14


+ Nêu khái quát hoàn cảnh ra đời của lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến
của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
+ Nêu và phân tích nội dung cơ bản của Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến.
+ Nêu ngắn gọn ý nghĩa của lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến.
- Phần kết luận: Nêu khái quát các ý đã trình bày ở phần mở đầu và phần
thân bài.
Trong việc lập đề cương một bài viết cần tránh hai việc: Một là lập đề
cương quá sơ lược, không định hướng bài viết làm cho nên khi làm viết bài làm
một cách tùy tiện; hai là, lập đề cương quá chi tiết, mất nhiều thời gian, ảnh
hưởng đến việc hoàn thành bài viết.
2.2.3.3: Kĩ năng phân bố thời gian làm bài
Trong thực tế nhiều năm qua, không ít học sinh làm bài môn khoa học xã
hội nói chung và làm bài thi môn Lịch sử nói riêng thường bị lạm dụng về thời
gian. Việc bố trí thời gian để làm các câu hỏi trong đề bài là rất cần thiết. Muốn
vậy khi tiếp xúc với đề, các em cần phải bố trí thời gian để trả lời từng câu hỏi
như thế nào? Trước hết chúng ta phải xác định câu nào có số điểm cao nhất, yêu
cầu lượng kiến thức nhiều nhất, chúng ta giành thời gian cho câu đó nhiều nhất.
Phải tránh tính trạng câu nào học thuộc thì chăm chú làm câu đó mà không biết
cách phân định về thời gian.
Ví dụ: đề ra có ba câu:
Câu 1 (2,0 điểm) : Anh (chị) hãy phân tích bài học kinh nghiệm của cách
mạng tháng Tám(1945)?
Câu 2 (3,5 điểm): Dựa vào ba sự kiện quan trọng sau đây: Chiến dịch Việt
Bắc (1947), Chiến dịch Biên giới (1950) và chiến thắng Điện Biên Phủ (1954),
anh chị hãy làm sáng tỏ bước phát triển của cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp của nhân dân ta.
Câu 3 (2,0 điểm): Anh chị hãy trình bày những thành tựu (từ sau chiến
tranh thế giới thứ hai đến năm 1991) của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật của
nhân loại ?
15


Câu 4 (2,5 điểm): Phân tích sự lãnh đạo tài tình sáng tạo của Đảng Cộng
sản Đông Dương trong cách mạng tháng Tám ? Vai trò của Chủ tịch Hồ Chí
Minh đối với thắng lợi của cách mạng Tám năm 1945 ?
Với bốn câu của đề thi như vậy, chắc chắn rằng các em phải giành thời gian
nhiều nhất cho câu 2.Trong thời gian 150 phút nên bố trí như sau: Câu 1: 30;
Câu 2: 45 phút; Câu 3: 30 phút; Câu 4: 35 phút
Các em phải giành một khoảng thời gian khoảng 10 phút để đọc dò lại toàn
bộ bài làm trước khi nộp bài - đây là khâu khá quan trọng nhưng rất nhiều em
học sinh hay bỏ qua.
2.2.4. Biện pháp 4: Kĩ năng nhận dạng đề thi
2.2.4.1. Loại đề nhận thức lịch sử
Là đề thi theo một chủ đề hay vấn đề lịch sử nhất định được đặt dưới dạng
câu hỏi yêu cầu cần giải đáp. Loại đề này thường có nội dung khó, yêu cầu học
sinh phải suy nghĩ nhiều, hiểu biết kiến thức lịch sử chính xác, hệ thống. Học
sinh phải có năng lực độc lập suy nghĩ để giải quyết vấn đề nêu ra, học sinh phải
có trình độ tư duy cao, có khả năng lập luận, lý giải vấn đề. Các dạng thường
gặp như: Lịch sử thế giới có nhiều nội dung phong phú đa dạng và những đảo
lộn bất ngờ. Bằng những kiến thức đã học em hãy giải thích vấn đề trên?
Để làm được đề trên học sinh phải trả lời được những ý cơ bản:
Trong khoảng hơn nửa thế kỉ, giai đoạn từ 1945 đến năm 2000 đã diễn ra
nhiều sự kiện to lớn, quyết liệt và cả những đảo lộn bất ngờ điều đó được thể
hiện.
- Chủ nghĩa xã hội từ phạm vi một nước trở thành một hệ thống.Trong
nhiều thập niên, hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới là một lực lượng hùng mạnh,
có ảnh hưởng to lớn đối với tiến trình phát triển của thế giới . Nhưng do phạm
phải nhiều sai lầm, hệ thống xã hội chủ nghĩa đã ta rã vào những năm 19891991.
- Sau chiến tranh, cao trào giải phóng dân tộc đã diễn ra mạnh mẽ ở châu
Á, châu Phi và Mĩ-la-tinh. Kết quả là hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc
đã sụp đổ. Hơn 100 quốc gia độc lập trẻ tuổi ra đời, ngày càng giữ vai trò quan
16


trọng trên trường quốc tế. Nhiều nước đã thu được nhiều thành tựu to lớn về
kinh tế, xã hội.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, các nước tư bản chủ nghĩa có những nét
nổi bật:
+ Kinh tế các nước tư bản phát triển nhanh chóng, tuy nhiên có lúc không
tránh khỏi suy thoái khủng hoảng.
+ Mĩ vươn lên trở thành nước tư bản giàu mạnh nhất, đứng đầu hệ thống tư
bản chủ nghĩa và theo đuổi mưu đồ thống trị thế giới.
+ Xu hướng liên kết khu vực về kinh tế- chính trị càng ngày phổ biến, điển
hình Liên minh châu Âu.
- Về quan hệ quốc tế, sự xác lập của trật tự của thế giới hai cực với đặc
trưng lớn là sự đối đầu gay gắt giữa hai phe tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ
nghĩa. Đặc trưng này là nhân tố chủ yếu chi phối nền kinh tế chính trị thế giới và
quan hệ quốc tế trong phần lớn nửa sau thế kỷ XX.
- Với những tiến bộ phi thường và những thành tựu kì diệu, cuộc cách
mạng khoa học kĩ thuật đã và sẽ đưa lại những hệ quả nhiều mặt không lường
hết được đối với loài người cũng như mỗi quốc gia, dân tộc.
2.2.4.2. Đề thi xác định, phân tích tính chất của sự kiện lịch sử
Phân tích, chứng minh là một dạng đề được xem là "khó" nhất trong các
dạng đề thi khi tiến hành thực hiện một bài làm lịch sử. Với cấp độ yêu cầu đối
với học sinh THCS, dạng đề này thường chưa đặt ra yêu cầu cao, song lại phải
vận dụng thường xuyên trong quá trình học và làm bài.
Ví dụ đề thi: “ Hãy phân tích tính đúng đắn khoa học và sáng tạo trong
cương lĩnh chính trị đầu tiên do Nguyễn Ái quốc soạn thảo?
Để làm được đề này học sinh phải phải nắm vững các vấn đề cơ bản sau
đây:
a. Nêu hoàn cảnh ra đời của cảnh ra đời của Cương lĩnh chính trị đầu tiên:
Tại hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930), các đại biểu đã
thảo luận và thông qua chính Cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt của Đảng do
Nguyễn Ái Quốc soạn thảo. Đó là Cương lĩnh cách mạng đầu tiên của Đảng.
17


b. Phân tích nội dung của Cương lĩnh
- Cương lĩnh xác định đường lối chiến lược cách mạng Đảng là tiến hành
cuộc cách mạng “ tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội Cộng
sản”.
- Nhiệm vụ của cách mạng là đánh đổ đế quốc Pháp, bọn phong kiến và tư
sản phản cách mạng làm cho nước Việt Nam được độc lập tự do, lập chính phủ
công nông binh, tịch thu hết sản nghiệp lớn của đế quốc và bọn phản cách mạng
chia cho dân cày nghèo, tiến hành cách mạng ruộng đất...
- Lực lượng của cách mạng là công nông, tiểu tư sản, trí thức. Còn phú
nông, trung tiểu địa chủ và tư sản sản thì phải lợi dụng hoặc trung lập học, đồng
thời phải liên lạc với các dân tộc bị áp bức và vô sản thế giới.
- Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp vô sản sẽ giữ vai
trò lãnh đạo cách mạng.
c. Ý nghĩa của Cương lĩnh
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản do Nguyễn Ái Quốc soạn
thảo tuy còn vắn tắt, song đây là cương lĩnh giải phóng dân tộc sáng tạo, sớm
kết hợp đúng đắn về vấn đề dân tộc và giai cấp. Độc lập và tự do là tư tưởng chủ
yếu của Cương lĩnh này.
2.2.4.3. Đề thi xác định nguyên nhân thành công của một sự kiện lịch sử
Đây là loại đề thi thường gặp nhưng cái khó của học sinh là lý giải được
nguyên nhân nào có tính chất quyết định nhất. Với loại đề này học sinh phải
trình bày được nguyên nhân khách quan và chủ quan nhưng phải lí giải được
nguyên nhân chủ quan có vai trò quyết định đến nguyên nhân thành công của
một sự kiện lịch sử.
Ví dụ: Đề thi xác định nguyên nhân thành công của cách mạng tháng Tám
1945, nguyên nhân nào có tính chất quyết định nhất? Vì sao?
Để làm được đề này, học sinh phải nắm vững các vấn đề cơ bản sau:
Thắng lợi Cách mạng tháng Tám 1945 là kết quả tổng hợp của những nhân
tố khách quan và chủ quan:
* Về khách quan:
18


Cách mạng tháng Tám thắng lợi nhanh chóng và ít đổ máu một phần nhờ
có hoàn cảnh quốc tế thuận lợi. Chiến tranh thế giới thứ hai của bọn đế quốc làm
cho chúng ngày càng thêm suy yếu. Tiếp đó là cuộc chiến đấu của nhân dân
Liên Xô và lực lượng dân chủ đã từng bước làm thất bại lực lượng phát xít ĐứcI-ta-li-a-Nhật Bản: Tất cả đã tác động đến cách mạng thế giới, thúc đẩy các dân
tộc thuộc địa đấu tranh tự giải phóng.
Đến khi lực lượng đồng minh và Liên Xô đánh bại Phát xít Nhật ở Châu Á
Thái Bình Dương vào ngày 14/8/1945 đã tạo nên thời cơ khách quan cho cách
mạng tháng Tám thắng lợi. Đó là thời cơ “ ngàn năm có một” được Đảng ta triệt
để lợi dụng, kịp thời chớp lấy, phát động toàn dân nổi dậy khởi nghĩa và giành
thắng lợi một cách nhanh chóng và ít đổ máu.
Tuy nhiên, điều kiện khách quan đó chỉ có thể được phát huy thông qua
điều kiện chủ quan của ta.
* Về chủ quan:
Trong những nguyên nhân đó nguyên nhân có Đảng lãnh đạo là nhân tố cơ
bản nhất để cách mạng tháng Tám thắng lợi.
Dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống yêu nước sâu sắc, đã kiên cường
đấu tranh bất khuất từ ngàn xưa cho độc lập tự do.Vì vậy, khi Đảng Cộng sản
Đông Dương và mặt trận Việt Minh phất cao ngọn cờ cứu nước thì mọi người
hăng hái hưởng ứng, nhất tề đứng lên cứu nước cứu nhà.
Có khối liên minh công nông vững chắc, tập hợp được mọi lực lượng yêu
nước trong một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi, biết kết hợp tài tình đấu
tranh chính trị và vũ trang, đấu tranh du kích và khởi nghĩa từng phần.
Thắng lợi của cách mạng tháng Tám nhờ có sự lãnh đạo sáng suốt của
Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh .
Trong những nguyên nhân đó nguyên nhân có Đảng lãnh đạo là nhân tố cơ
bản nhất để cách mạng tháng Tám thắng lợi.
Khi xác định nguyên nhân quyết định nhất, trước hết phải thấy rằng nguyên
nhân chủ quan đóng vai trò quyết định, nguyên nhân khách quan chỉ có tác dụng
đưa cách mạng tháng Tám nhanh chóng giành được thắng lợi và ít đổ máu.
19


Trong các nguyên nhân chủ quan đó vai trò lãnh đạo của Đảng và Hồ Chí Minh
là nguyên nhân quyết định nhất
Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra đường lối cách mạng đúng đắn,
sáng tạo phù hợp với điều kiện lịch sử Việt Nam trong cuộc đấu tranh giải
phóng dân tộc và giải phóng giai cấp, kết hợp giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội. Với đường lối cách mạng đó, Đảng đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh trong
15 năm, qua các lần diễn tập (1930-1931), (1936-1939), (1939-1945). Đặc biệt
khi Nhật đảo chính Pháp (9/3/1945), Đảng ta và chủ tịch Hồ Chí Minh phát
động cao trào kháng Nhật cứu nước, làm tiền đề cho Tổng khởi nghĩa. Và khi
thời cơ xuất hiện, Đảng ta và chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhanh chóng chớp thời
cơ phát động tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong toàn quốc, đưa cách
mạng tháng Tám đến thắng lợi cuối cùng.
2.2.5. Biện pháp 5: Chú trọng việc kiểm soát kiến thức của học sinh thông
qua từng chuyên đề và qua các bài kiểm tra.
Đây là hoạt động có ý nghĩa quyết định đến sự thành công của công tác bồi
dưỡng mà bản thân đã áp dụng trong thời gian được phân công trực tiếp giảng
dạy. Trước khi học chuyên đề mới những kiến thức học sinh đã bồi dưỡng ở
chuyên đề trước được giáo viên kiểm tra nhuần nhuyễn tạo cơ sở để các em dễ
dàng tiếp cận các chuyên đề sau. Bởi lịch sử có sự logic của nó chuyên đề trước
là nguyên nhân của chuyên đề sau.
Có hai cách kiểm soát kiến thức cho học sinh đó là: Kiểm tra bằng lời gọi
học sinh lên bảng trình bày giáo viên và các thành viên trong lớp nghe, nhận xét,
bổ sung kiến thức với biện pháp này học sinh có cơ hội trình bày quan điểm của
mình trước tập thể, rèn luyện cho các em tâm lí bình tĩnh tự tin khi làm
bài.Trong quá trình kiểm soát giáo viên có thể cho học sinh tự kiểm tra lẫn nhau.
Kiểm tra bằng cách gọi học sinh ghi lại phần kiến thức đã học. Biện pháp này có
hiệu quả vừa tác động đến óc, tai mắt do vậy huy động tối đa đa khả năng của
các em. Trong quá trình học sinh thể hiện giáo viên có thể điều chỉnh cách trình
bày bài của các em. Qua phần kiến thức bạn trình bày các em có thể tự sữa sai
20


và bổ sung những kiến thức còn thiếu. Đồng thời đây cũng là thời gian để các
em tự tái hiện lại kiến thức khắc sâu nhớ bền vững kiến thức cho bản thân mình.
Công tác kiểm tra thường xuyên sau mỗi chương hoặc sau mỗi chuyên đề
được giáo viên chú trọng. Việc làm này giúp học sinh tự trình bày những kiến
thức đã thu nhận được vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết các câu hỏi mở,
qua đó giáo viên sẽ có điều kiện giúp các em điều chỉnh cách trình bày bài, cách
dùng từ, diễn đạt ý. Học sinh giỏi môn Lịch sử nói chung và Lịch sử 9 nói riêng
không chỉ nắm vững kiến thức lịch sử, kĩ năng phân tích đánh giá sự kiện Lịch
sử, mà còn có sự sáng tạo. Vì vậy, trong quá trình bồi dưỡng cho học sinh chúng
tôi thường xuyên quan tâm đến việc chấm và sửa bài cho học sinh một cách chu
đáo kĩ càng để các em tự bổ sung kiến thức đây là một trong những giải pháp
quan trọng giúp cho công tác bồi dưỡng đạt kết quả cao.
2.2.6. Biện pháp 6: Xây dựng tư tưởng, tâm lý vững chắc cho học sinh.
Trong nhiều năm thực hiện công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, bản thân tôi
nhận thấy rằng cần phải tạo cho học sinh có một tâm lý thật sự thoải mái trong
quá trình ôn tập cũng như khi chuẩn bị bước vào kì thi. Tránh gây cho học sinh
áp lực nặng nề, chẳng hạn như: Giáo viên luôn tạo ấn tượng cho học sinh về kỳ
thi học sinh giỏi là cực kì khó, đòi hỏi sự cao siêu...điều này làm cho học sinh có
cảm giác lo sợ, mất tự tin hoặc giáo viên luôn áp đặt cho học sinh rằng đã thi là
phải đậu, phải có số điểm cao...Làm như vậy sẽ gây áp lực tâm lý cho học sinh
và dẫn đến kết quả không tốt, thậm chí có nhiều học sinh vì sợ không đạt được
mục tiêu bắt buộc đó nên đã xin từ bỏ đội tuyển học sinh giỏi.
Muốn làm tốt vấn đề nêu trên, theo tôi trước hết người giáo viên phải có
những tư vấn cần thiết làm cho học sinh có cảm giác rằng kì thi học sinh giỏi dù
ở cấp nào cũng vậy nó vẫn giống như các kì thi diễn ra thường xuyên ở nhà
trường. Ngoài ra tôi thường nêu rõ quan điểm rằng "Khi các em được chọn đi ôn
thi thì phải cố gắng hết mình. Nếu đạt kết quả cao thì càng tốt, còn nếu không thì
chúng ta vẫn vui, vẫn hãnh diện vì đó là sự cố gắng lớn lao của bản thân mình".

21


Chính những động thái này của giáo viên sẽ làm cho học sinh có cảm giác an
tâm, thoải mái nhưng luôn cố gắng để học tập một cách tốt nhất.
Tóm lại, bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử nói chung và môn Lịch sử 9
nói riêng là một trong những hoạt động vất vả, khó khăn và thử thách đối
với những người làm nghề dạy học, là công tác cực kì quan trọng giúp
cho ngành giáo dục phát hiện nhân tài, lựa chọn những mầm giống tương lai cho
đất nước trong sự nghiệp trồng người. Đồng thời giúp cho học sinh thực hiện
được ước mơ là con ngoan, trò giỏi và có định hướng đúng về nghề nghiệp của
mình trong tương lai.
Để làm được điều đó hơn ai hết người thầy cần không ngừng học hỏi và tự
học hỏi để nâng cao trình độ đúc rút kinh nghiệm, thường xuyên xây dựng, bổ
sung chương trình và sáng tạo trong phương pháp giảng dạy.
Người thầy có vai trò quyết định nhất đối với kết quả học sinh giỏi, các em
học sinh có vai trò quyết định trực tiếp đối với kết quả của mình, kết quả công
tác bồi dưỡng học sinh giỏi có đạt hay không, điều đó còn phụ thuộc rất lớn ở
các em học sinh.
2.3. Kết quả đạt được
* Những kết quả qua những năm bản thân trực tiếp bồi dưỡng HSG:
Năm học
2012-2013
2013-2014
2014-2015

Năm học

Số học sinh

Số học sinh không

Số học sinh không biết

hứng thú
35%
50%
70%

hứng thú
60%
45%
25%

vận dụng kiến thức
55%
40%
20%

Số HS đạt giải

Số HS đạt

Điểm TB đội

Xếp vị thứ cấp

cấp huyện
giải cấp tỉnh
tuyển
tỉnh
2012-2013
9
5
5,2
3
2013-2014
8
8
6,75
1
2014-2015
8
5
6,98
3
* Có được kết quả như trên, bản thân tôi rút ra được một số kinh nghiệm
như sau:

22


Làm công tác bồi dưỡng học sinh giỏi phải có tâm huyết, yêu người, yêu
học sinh, có tinh thần trách nhiệm, chịu khó tìm tòi sáng tạo trong công tác
chuyên môn, biết khơi dậy sự đam mê, hứng thú làm cho các em biết yêu thích
bộ môn.
Có kế hoạch đúng đắn phù hợp với đối tượng học sinh để đề ra biện pháp
phù hợp, phối hợp chặt chẽ với giáo viên tuyến 2 và phụ huynh học sinh để kiểm
soát kiến thức và đảm bảo an toàn giao thông cho học sinh, tạo sự đoàn kết yêu
thương nhau giữa các em học sinh trong lớp.
Giáo viên luôn tìm tòi sưu tầm các bộ đề thi năm trước và đề thi các tỉnh
khác cho học sinh làm quen tránh gây tâm trạng bỡ ngỡ cho các em khi làm bài.
Trong bồi dưỡng, cách thức ôn tập được tiến hành một cách phong phú đa
dạng trong bài học. Kiến thức phù hợp với trình độ học sinh, chú ý nâng cao để
phù hợp với học sinh giỏi.
Ôn tập bồi dưỡng không đánh đố học sinh mà chủ yếu khơi dậy sự suy
nghĩ đam mê hứng thú cho học sinh. Bồi dưỡng nội dung từ đơn giản đến phức
tạp. Từ cụ thể đến trừu tượng, khái quát hóa. Phải nắm chắc từng thành viên
trong đội tuyển để từ đó thực hiện công tác bồi dưỡng sát với từng học sinh hơn.
Sử dụng đa dạng phương pháp trong một buổi ôn tập tạo nên sự thoải mái
trong học tập của học sinh.

III. PHẦN KẾT LUẬN
23


Để làm tốt công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử có thể có nhiều
cách làm khác nhau, nhưng với bản thân tôi nghĩ rằng giáo viên phải biết khơi
dậy sự đam mê, hứng thú làm cho các em yêu thích bộ môn. Trong quá trình
thực hiện giáo viên vận dụng linh hoạt, có sự điều chỉnh, bổ sung, ứng dụng
những biện pháp trên thì kết quả đem lại rất khả quan, chất lượng đội tuyển từng
bước được nâng cao.
Chất lượng giáo dục có vai trò quan trọng vì nó phản ánh trình độ dân trí,
hiểu biết của người dân một nước, là nền tảng cho chiến lược phát triển con
người. Bác Hồ đã căn dặn chúng ta: “Dù cho có khó khăn đến đâu cũng phải thi
đua dạy tốt và học tốt”. Vì vậy việc nâng cao chất lượng học tập môn Lich sử và
đội tuyển học sinh giỏi là rất cần thiết, nó góp phần quan trọng trong việc trang
bị kiến thức chắc chắn cho các em, làm cho các em sự tự tin vững chắc bước
tiếp con đường học vấn và tích lũy kĩ năng sống, có bản lĩnh, có trình độ, có đạo
đức, có kiến thức để chủ động sáng tạo trong công việc.
Kết quả đạt được của việc bồi dưỡng học sinh giỏi là mục tiêu phấn đấu
cao nhất của giáo viên, học sinh lẫn phụ huynh. Bởi chính kết quả ấy thể hiện rõ
khả năng học tập, lĩnh hội và vận dụng kiến thức của học sinh, thể hiện công sức
đầu tư của thầy cô giáo, là định hướng phát triển thế mạnh của lãnh đạo trường
học và cũng qua đó thể hiện khả năng vượt trội của một số học sinh trong từng
bộ môn, từ đó tài năng của học sinh có điều kiện để phát triển trong tương lai
qua từng lĩnh vực mà các em yêu thích.
Trên đây là những biện pháp bản thân tôi đã đúc rút được qua quá trình
trực tiếp làm công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, cũng như qua tham khảo ý kiến
của một số đồng nghiệp cùng bộ môn. Trong quá trình tích lũy kinh nghiệm và
viết sáng kiến kinh nghiệm không tránh khỏi những khiếm khuyết, hạn chế. Tôi
rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô, các anh chị đồng
nghiệp để việc dạy học môn Sử và đặc biệt là công tác bồi dưỡng học sinh giỏi
đạt kết quả tốt hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
24


XẾP LOẠI CỦA BAN HĐKH TRƯỜNG

Hiệu Trưởng

Nguyễn Ngọc Phưởng

25


x

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×