Tải bản đầy đủ

SKKN một số kinh nghiệm trong công tác chủ nhiệm lớp

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM: “Một số kinh nghiệm trong công tác chủ nhiệm lớp”.
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài:
Giáo dục Tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát
triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kỹ năng cơ bản để
tiếp tục học trung học cơ sở.
Nền tảng nhân cách, kỹ năng sống, kỹ năng học tập cơ bản ( nghe, nói, đọc, viết và
tính toán) của học sinh được hình thành ở Tiểu học và được sử dụng trong suốt cuộc đời
của mỗi con người. Học sinh tiểu học được dạy từ những thói quen nhỏ nhất như cách
cầm bút, tư thế ngồi viết, cách thưa gửi, đi đứng, ăn mặc cho đến các kỹ năng tự phục
vụ, kỹ năng giao tiếp, các kỹ năng học tập và khả năng tự học, sáng tạo. Vì thế, bên cạnh
việc trang bị cho học sinh những vốn kiến thức kỹ năng cơ bản trong học tập, còn cần
phải chú ý đến việc rèn năng lực, phẩm chất cho học sinh, dạy học sinh cách “làm
người”, để học sinh có thêm vốn kinh nghiệm thích ứng với môi trường mới, yêu cầu
mới. Như vậy, giáo dục tiểu học là nền tảng của giáo dục phổ thông; đặt cơ sở vững
chắc cho sự hình thành nhân cách và sự phát triển toàn diện của con người. thành quả
của giáo dục tiểu học có giá trị lâu dài, có tính quyết định, vì thế, làm tốt giáo dục tiểu
học là đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước.
Là người giáo viên chủ nhiệm lớp ở Tiểu học có một vị trí đặc biệt quan trọng. Lao
động của một giáo viên chủ nhiệm lớp ở Tiểu học là lao động sáng tạo không ngừng, sự
sáng tạo đó đòi hỏi phải toàn diện: sáng tạo trong soạn giảng, trong tổ chức các hoạt

động học tập, vui chơi, trong sinh hoạt tập thể và đặc biệt là trong các biện pháp hoạt
động giáo dục, rèn luyện năng lực, phẩm chất cho học sinh.
Ngoài việc tổ chức, hướng dẫn các hoạt động học tập của học sinh , giáo viên chủ
nhiệm lớp còn phải thường xuyên theo dõi các hoạt động trong giờ chơi, trong các buổi
sinh hoạt, giao lưu tập thể,…và cả hoạt động ở nhà của học sinh. Vì vậy công việc của
một giáo viên chủ nhiệm lớp ở Tiểu học là rất nặng nề, rất vất vả và vô cùng phức tạp.
Ở đầu mỗi năm học, ở cùng một trường học, cùng một khối lớp, chất lượng học tập
của học sinh cũng tương đương nhau. Nhưng tại sao đến cuối năm, chất lượng học tập
và hạnh kiểm của học sinh lớp này lại vượt trội hẳn so với các lớp khác; sĩ số của lớp
này duy trì 100% nhưng ở những lớp khác lại có tới 1đến 2 học sinh bỏ học, thậm chí có
1


em đang ở nhà nhưng vẫn không thể vận động đi học trở lại được. Tất cả những điểm
khác biệt đó đều do giáo viên chủ nhiệm lớp tạo ra. Giáo viên chủ nhiệm nào có tinh
thần trách nhiệm cao, tận tâm với học sinh của mình thì chắc chắn sẽ tìm ra được các
biện pháp để thu hút học sinh đến lớp, làm cho học sinh trở nên chăm ngoan, thích đi
học và luôn cảm thấy thích đến trường mỗi ngày.
Mặt khác, tuy giáo viên chủ nhiệm lớp ở Tiểu học dạy được tất cả các lớp (từ lớp 1
đến lớp 5) nhưng trong thực tế, không phải giáo viên nào cũng theo học sinh của mình từ
lớp này lên lớp khác. Vì vậy, mỗi năm lên lớp, các em lại được học với một thầy (cô)
khác nhau. Nếu giáo viên lớp dưới làm tốt công tác chủ nhiệm, xây dựng tốt nề nếp lớp
học, rèn luyện cho học sinh phương pháp tự học và nhiều kĩ năng sống cơ bản khác;
nhưng lên lớp trên, giáo viên chủ nhiệm lớp không duy trì, không phát huy thì rồi nề nếp
lớp học và chất lượng học tập của học sinh sẽ ra sao? Do vậy, công tác chủ nhiệm lớp
phải được thực hiện đồng bộ từ lớp Một đến lớp Năm. Nề nếp lớp học, phương pháp học
tập, đạo đức, nhân cách và các kĩ năng sống của học sinh phải được giáo viên chủ nhiệm
chú ý xây dựng, rèn dủa ngay từ lớp 1 và phải được duy trì, phát huy xuyên suốt ở các
lớp trên.
Bản thân tôi đã liên tục nhiều năm làm công tác chủ nhiệm lớp 5. Có năm công tác
chủ nhiệm của tôi rất nhẹ nhàng vì giáo viên lớp 4 đã làm tốt công tác chủ nhiệm lớp.
Tôi chỉ việc phát huy và sáng tạo thêm theo mục tiêu phấn đấu của mình. Nhưng cũng
có năm, tôi rất vất vả với công tác chủ nhiệm đầu năm. Với mong muốn đạt kết quả cao
trong công tác giáo dục học sinh hoàn thành tốt kiến thức kĩ năng từ đó các em dần tự
hoàn thiện năng lực, phẩm chất để trở thành con người có ích cho xã hội. Nên tôi mạnh
dạn đi sâu nghiên cứu đề tài: “Một số kinh nghiệm trong công tác chủ nhiệm lớp”.
Nhưng làm thế nào để công tác chủ nhiệm lớp đạt hiệu quả tại cơ sở giáo dục quả là
một điều cần trăn trở. Với phạm vi đề tài này, tôi sẽ đưa ra một số ý kiến, kinh nghiệm
của cá nhân mình, cũng như những việc làm cụ thể trong công tác giáo dục học sinh
qua các năm học để cùng các bạn đồng nghiệp thảo luận tìm ra những giải pháp tốt hơn

nữa nhằm đưa chất lượng giáo dục toàn diện đảm bảo tính bền vững.
*Điểm mới của đề tài:
Đề tài này tôi muốn nghiên cứu sâu hơn việc xã hội hóa giáo dục: Đưa ra các giải
pháp nhằm thống nhất giữa bồi dưỡng về nhận thức với thực tế công tác tổ chức thực
hiện và các nhiệm vụ đặt ra từ thực tiễn. Thu hút, huy động nhiều lực lượng trong và
2


ngoài nhà trường cùng tham gia. Các hoạt động giáo dục học sinh được nâng lên chiếm
một vị trí quan trọng trong công tác giáo dục. Vai trò của cha mẹ học sinh, các tổ chức
xã hội, chính quyền đoàn thể, được thể hiện đậm nét, có tác động mạnh mẽ đến hiệu quả
của các hoạt động rèn luyện năng lực, phẩm chất cho học sinh.
Trong đề tài này tôi đặc biệt quan tâm đến quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến
thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học.Từng bước làm thay đổi
quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục rèn luyện của học sinh, học sinh dần tự
trang bị cho mình các năng lực Tự phục vụ, tự quản; Giao tiếp hợp tác; Tự học và giải
quyết vấn đề; hình thành phát triển phẩm chất: Chăm học chăm làm, tích cực tham gia
hoạt động giáo dục; Tự tin, tự trọng, tự chịu trách nhiệm; Trung thực kỉ luật, đoàn kết;
Yêu gia đình, bạn và những người khác. Tận dụng các thành tựu mới nhất của khoa học
giáo dục và kinh nghiệm tiên tiến trong hoạt động này. Hình thành lực lượng nồng cốt
có năng lực trong học sinh và làm nhiệm vụ tư vấn rèn luyện phẩm chất cho các học sinh
khác.
1. 2. Phạm vi áp dụng của đề tài:
Đề tài mà tôi nghiên cứu này áp dụng cho giáo viên chủ nhiệm lớp bậc Tiểu học
II.PHẦN NỘI DUNG
2.1. Thực trạng của nội dung cần nghiên cứu.
a. Thuận lợi:
- Trong quá trình giáo dục luôn được các cấp, các ngành, chi bộ và các lực lượng xã hội
quan tâm tạo điều kiện giúp đỡ.
- Được sự chỉ đạo sâu sát, kịp thời của lãnh đạo cấp trên, của ban giám hiệu nhà trường.
- Được sự hỗ trợ của hội cha mẹ học sinh, của các đoàn thể trong và ngoài nhà trường.
- Nhà trường luôn quan tâm tạo điều kiện cho các lớp có đầy đủ phòng học, bàn ghế
khang trang, phòng học thoáng mát, nhà vệ sinh sạch sẽ .
b. Khó khăn:
*Những khó khăn do khách quan:
Trường thuộc địa bàn vùng ven, kinh tế hộ gia đình đa số là thuần nông. Với
khoảng 15% tổng số dân là hộ nghèo, cận nghèo. Vì vậy về thu nhập của người dân chưa
cao dẫn đến đời sống kinh tế còn thấp. Việc mua sắm đồ dùng cho con em còn hạn chế
chưa đáp ứng được nhu cầu học tập của học sinh và nhu cầu giảng dạy của giáo viên. Cụ
thể là khi đi học các em còn thiếu sách vở, đồ dùng học tập. Từ đó cho thấy công tác chủ
3


nhiệm cũng rất vất vả, mặc dù đã cố gắng động viên rất nhiều nhưng vẫn có những em
không mua được sách giáo khoa để học và phải mượn của nhà trường.
Mặt bằng dân trí có phần thấp, kém hơn so với một số xã trong địa bàn huyện.
Nhận thức của phụ huynh còn hạn chế. Sự quan tâm giáo dục của gia đình đối với các
em chưa đúng mức, nhiều phụ huynh còn quan niệm việc giảng dạy và giáo dục học sinh
là do nhà trường đảm nhiệm.
Việc này đồng nghĩa với việc khoán trắng trọng trách cho người giáo viên. Mặt
khác cũng có gia đình quan tâm tới việc học của con em mình nhưng lại không nắm
được nội dung giảng dạy cũng như phương pháp dạy dẫn tới hiệu quả không cao. Thậm
chí có trường hợp dạy sai dẫn tới các em nhận thức lệch hướng của vấn đề. Chính những
khó khăn này ảnh hưởng trực tiếp đến việc học của các em.
Bên cạnh đó ngoài giờ học các em còn phải tiếp giúp gia đình như: cắt lúa, phơi
lúa chăn trâu cùng cha mẹ để tăng thêm thu nhập cho gia đình. Vì thế khi tới mùa vụ tỉ lệ
nghỉ học của các em tương đối cao. Điều này làm cho việc học của các em bị hụt kiến
thức dẫn đến mất căn bản.
* Khó khăn từ phía giáo viên:
- Công tác quan hệ với phụ huynh học sinh chưa được thường xuyên.
- Giáo viên chưa nắm vững tâm lý học sinh, thường có thiện cảm với học sinh khá, giỏi
và nặng nề ngôn ngữ với những học sinh yếu kém .
- Giáo viên chưa tìm hiểu hết tâm tư nguyện vọng và hoàn cảnh của các em, làm cho học
sinh yếu cảm thấy sợ sệt tự ti, mặc cảm và dẫn đến hỏng kiến thức và nghỉ học thường
xuyên.
- Giáo viên chưa phát huy tốt tính tích cực tự học của học sinh .
- Giáo viên cơ bản mới chú ý đến việc giáo dục chất lượng học sinh, tuy nhiên có một số
ít giáo viên thiếu sự răn đe học sinh hoang nghịch, cách ứng xử và giao tiếp trong cuộc
sống.
- Một số giáo viên chưa tích cực tổ chức phương pháp dạy học tích cực, phương pháp
mới VNEN, chưa tạo điều kiện để học sinh học nhóm, trao đổi kinh nghiệm học tập lẫn
nhau.
* Khó khăn từ phía học sinh và phụ huynh:

4


- Còn có nhiều học sinh gia đình có hoàn cảnh khó khăn thuộc diện hộ nghèo, cận
nghèo. Phụ huynh lo làm ăn nên ít quan tâm đến việc học của con em, giao phó giáo dục
là trách nhiệm của thầy cô.
- Nhà ở xa trường học nên việc thực hiện nội quy trường, lớp của các em còn hạn chế.
- Một số học sinh thiếu thốn tình cảm (như chỉ ở với mẹ hoặc bố, ở với ông bà, cha mẹ
làm ăn xa) nên các em không được quan tâm, giáo dục toàn diện như các bạn cùng trang
lứa, có em còn có những biểu hiện mặc cảm tự ti, không dám hòa mình trong mọi hoạt
động chung của lớp.
- Đa số các em còn hiếu động, suy nghĩ chưa sâu sắc nên đôi khi còn hay tranh cãi, đánh
nhau gây ra những trường hợp không đáng có trong môi trường giáo dục.
- Học sinh chưa có động cơ tự học tập, thiếu hứng thú, chưa thấy lợi ích của việc học,
chưa có thói quen và kỹ năng lao động trí óc.
* Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên là:
Là một vùng khá xa trung tâm, trình độ dân trí thấp nên học sinh còn rụt rè, e ngại
và các kĩ năng cơ bản của học sinh còn hạn chế, phụ huynh còn xem nhẹ việc học của
con em mình.
Một số giáo viên lớn tuổi làm công tác chủ nhiệm lớp khá khó khăn; còn đối với
một số giáo viên trẻ thì chưa nhiệt tình học hỏi để nâng cao năng lực giáo dục, đặc biệt
là chủ nhiệm lớp ,vì đây là một công việc có đặc thù riêng, đòi hỏi phải có kinh nghiệm,
tâm huyết với học sinh, yêu nghề mến trẻ nên nhiều giáo viên còn ngại khó.
Xuất phát từ thực trạng nêu trên, là người giáo viên trực tiếp chủ nhiệm lớp tôi
mạnh dạn đề xuất "một số giải pháp nâng cao tác chủ nhiệm lớp" thể hiện qua các biện
pháp cụ thể sau:
2.2. Các giải pháp
Công việc của giáo viên chủ nhiệm lớp là vô vàn, không thể thống kê hết được.
Trong sáng kiến kinh nghiệm này, tôi chỉ đi sâu vào 9 biện pháp chính sau đây:
Biện pháp 1: Xây dựng kế hoạch chủ nhiệm lớp.
Trong những ngày đầu năm học, nề nếp lớp chưa được ổn định. Hơn nữa các em
chưa tự ý thức được các việc trong lớp cũng như nội quy ra vào lớp, nội quy của nhà
trường đề ra. Nên để ổn định và đi vào nề nếp phải mất một thời gian dài mới ổn định
được. Trách nhiệm một giáo viên chủ nhiệm lớp đứng trước thực trạng như vậy tôi đã
vận dụng ngay kinh nghiệm chủ nhiêm lớp mà tôi đã đúc kết qua nhiều năm giảng dạy
5


nhằm làm tốt công tác chủ nhiệm lớp và nâng cao giáo dục toàn diện cho học sinh như
sau:
1.1. Tìm hiểu đối tượng:
Là một giáo viên được nhà trường phân công làm công tác chủ nhiệm lớp thì trước
hết phải tìm hiểu tỉ mĩ từng đối tượng học sinh, biết được hoàn cảnh, năng lực của từng
học sinh để có biện pháp giáo dục phù hợp đối với từng đối tượng. Ngay đầu năm học
tôi đã bắt tay vào tìm hiểu thông tin về tình hình của lớp 5B do tôi chủ nhiệm như sau:
- Tổng số học sinh trong lớp: 28 em / 14 nữ
- Số học sinh có hoàn cảnh khó khăn (thuộc hộ nghèo): 8/28 em - Tỉ lệ : 28,6 %
- Số học sinh có hoàn cảnh gần khó khăn (thuộc hộ cận nghèo ):4/28 em - Tỉ lệ : 14,3
%
- Số học sinh mồ côi cha hoặc mẹ: 5/28 em – Tỉ lệ: 17,9%
- Số học sinh nhà ở xa trường: 9/28 em – Tỉ lệ : 31,9%
Đây là cơ sở để giáo viên phân loại học sinh theo từng nhóm và có hướng giáo dục
phù hợp. Những học sinh nào có hoàn cảnh khó khăn thì quan tâm nhiều hơn bằng cách:
Tôi dành thời gian ngoài giờ gặp trực tiếp cha mẹ (anh, chị) của học sinh để động viên,
tạo điều kiện cho con em đi học đều. Việc này giáo viên phải tiến hành thường xuyên,
liên tục hàng tuần. Sự chân thành và gắn bó giữa giáo viên và học sinh như vậy phụ
huynh sẽ có trách nhiệm động viên, nhắc nhở con em đến lớp đầy đủ, thường xuyên và
đúng giờ.
Ngoài ra, tôi còn quan tâm tới những học sinh có hoàn cảnh khó khăn, học sinh mồ
côi bằng cách: có thể là cho các em dụng cụ học tập nếu các em thiếu, có thể là quần áo,
dép, mủ,…những đồ dùng này không giá là bao nhưng vẫn là nguồn động viên, an ủi
cho các em đến trường. Cũng có thể là những hành động rất nhỏ như khâu lại nút áo,
chải lại mái tóc khi các em chưa kịp thực hiện lúc đến lớp. Như ở lớp tôi có em Huyền
mồ côi mẹ, sự chăm sóc về bản thân của em có phần hạn chế, đôi lúc em mặc áo quần
bẩn do nhiều ngày không thay. Tôi gần gũi động viên và hướng dẫn em cách giữ gìn vệ
sinh thân thể, có những lúc tôi đưa áo quần về giặt cho em. Những việc tuy nhỏ nhưng
đối với các em thì đó là một sự khích lệ vô cùng lớn để các em vững bước trên con
đường học tập.
1.2. Bầu Hội đồng tự quản lớp:

6


- Ngay vào đầu năm học giáo viên chủ nhiệm cho học sinh lớp bầu ra hội đồng tự
quản lớp gồm: 1 chủ tịch, 2 phó chủ tịch và 6 ban, 6 nhóm trưởng cùng nhau thành lập
các ban: Ban học tập, ban văn nghệ thể dục thể thao, ban lao động, ban đối ngoại, ban nề
nếp, ban quyền lợi học sinh. Từ việc học sinh bầu ra hội đồng tự quản và các ban, giáo
viên phân công cụ thể công việc cho các ban của hội đồng tự quản trực tiếp theo dõi,
quản lí, sử dụng các công cụ hỗ trợ đã được xây dựng và đang tồn tại trong lớp. Hướng
dẫn học sinh thảo luận nội dung hoạt động. Các ban trong hội đồng tự quản hoạt động
theo chức năng và nhiệm vụ của mình.
+ Chủ tịch theo dõi bao quát và tổ chức hướng dẫn các hoạt động chung của lớp.
+ Hai phó chủ tịch: Một phó chủ tịch phụ trách, chỉ đạo về các ban học tập, ban văn
nghệ thể dục thể thao, ban đối ngoại. Một phó chủ tịch phụ trách, chỉ đạo các ban: ban
lao động , ban nề nếp, ban quyền lợi học sinh, có nhiệm vụ kiểm tra, đôn đốc quá trình
hoạt động của các ban. .
+ 6 ban trực tiếp chỉ đạo và hoàn thành kế hoạch của ban mình.
+ 6 nhóm trưởng trực tiếp quản lí, hướng dẫn các thành viên trong nhóm của mình về
tất cả các hoạt động.
Trong những ngày đầu năm học, nề nếp lớp chưa được ổn định. Hơn nữa các em
chưa tự ý thức được các việc trong lớp cũng như nội quy ra vào lớp, nội quy của nhà
trường đề ra. Nên để ổn định và đi vào nề nếp phải mất một thời gian dài mới ổn định
được. Trách nhiệm một giáo viên chủ nhiệm lớp đứng trước thực trạng như vậy tôi đã
vận dụng ngay kinh nghiệm chủ nhiệm lớp mà tôi đã đúc kết qua nhiều năm giảng dạy
nhằm làm tốt công tác chủ nhiệm lớp và nâng cao giáo dục toàn diện cho học sinh.
1.3. Bồi dưỡng năng lực tự quản cho hội đồng tự quản lớp:
Để làm tốt công tác tự quản, trước hết giáo viên chủ nhiệm phải tập huấn cho hội
đồng tự quản, các trưởng ban, nhóm trưởng và giao nhiệm vụ cho từng thành viên, sau
khi các em đã nhận biết vai trò trách nhiệm của mình các em sẽ có ý thức tự quản tốt.
Nhưng trong thời gian đầu năm học giáo viên chủ nhiệm phải theo dõi sát sao, ghi nhật
kí cụ thể các hoạt động của hội đồng tự quản lớp để phát hiện mặt còn hạn chế và uốn
nắn kịp thời. Bám sát kế hoạch của Nhà trường, của Đội để vạch ra kế hoạch từng tuần,
từng tháng theo từng chủ điểm, từng đợt thi đua để hội đồng tự quản có kế hoạch theo
dõi, hướng dẫn các bạn thực hiện.
1.4. Xây dựng kế hoạch chủ nhiệm ngay từ đầu năm học:
7


Việc lập kế hoạch xây dựng đội ngũ đi đôi với nhau, giúp giáo viên chủ nhiệm lớp có
tầm nhìn xa, bao quát hơn trong công tác chủ nhiệm lớp vì thế dựa trên sự tìm hiểu và
nắm bắt đội ngũ học sinh, dựa vào kế hoạch nhà trường tôi lập kế hoạch tỉ mỉ sát thực.
Phần chung tình hình lớp, có kế hoạch và biện pháp thực hiện có cả năm rõ ràng cụ thể
cho từng tháng, từng chủ điểm trong tháng. Có đánh giá, nhận xét từng tháng và sơ kết
từng học kỳ.
Phần cuối theo dõi học sinh, phần này cần phải được theo dõi học sinh thường
xuyên và chặt chẽ có ghi chép, đánh giá mọi sự tiến bộ cũng như những tồn tại chưa
khắc phục được của từng em. Để có hướng giải quyết khắc phục kịp thời. việc theo dõi
đánh giá này thể hiện qua từng ngày, từng tuần.
Biện pháp 2: Xây dựng kỷ cương, kỉ luật trong lớp:
Dựa vào tình hình của lớp, kế hoạch và biện pháp thực hiện cho cả năm học đầu
năm, tôi xây dựng kỷ cương nề nếp cho học sinh.
Giao trách nhiệm cụ thể, rõ ràng tới từng học sinh, từng nhóm trưởng, chủ tịch, phó
chủ tịch. Tăng cường công tác tự quản của học sinh, giúp các em có ý thức tự rèn luyện,
tự học.
Có quy định về lề lối học tập, rèn luyện quy định giờ giấc, có sự theo dõi chặt chẽ
của từng nhóm, tránh sự buông lỏng về kỷ cương nề nếp.
Biện pháp 3: Bồi dưỡng rèn luyện học sinh nâng cao chất lượng dạy và học:
Để nâng cao chất lượng học tâp cũng như giáo dục đạo đức cho các em, tôi đã kết
hợp cùng với gia đình một cách chặt chẽ. Tôi thường xuyên liên lạc với phụ huynh để
trao đổi tình hình học tập cũng như các sinh hoạt hằng ngày ở nhà khác của từng học
sinh. Từ đó giúp tôi có một cách nhìn tổng quát hơn, thực chất hơn về mặt năng lực,
phẩm chất của các em.
Bên cạnh đó, tôi luôn nhắc nhở phụ huynh tạo mọi điều kiện cho con em đến
trường đều đặn, đúng giờ. Trên bục giảng là người giáo viên, tôi luôn phải mẫu mực, đối
xử công bằng, không phân biệt, không thiên vị bất cứ học sinh nào, đồng thời không phê
bình nặng, sỉ nhục học sinh làm tổn hại đến tâm lí của học sinh ở bất cứ hoàn cảnh nào.
Trong giờ học, tôi luôn tạo không khí sinh động, sôi nổi, hài hòa, vui tươi không
căng thẳng mà tạo niềm vui, sự phấn chấn để các em tự tin học tập, các em vừa học vừa
chơi nhưng vẫn đảm bảo chương trình chung. Ví dụ trong giờ Tập đọc, Lịch sử, ngoài
nội dung bài học, tôi còn kể nhiều câu chuyện lịch sử cho các em nghe, lồng ghép nội
8


dung biển đảo của Tổ quốc để giáo dục các em lòng yêu Tổ quốc, ý thức bảo vệ chủ
quyền thiêng liêng của đất nước mình. Hay trong giờ học toán tôi vận dụng các câu
chuyện cổ tích, câu chuyện vui để đưa ra các bài toán liên quan đến chương trình toán
mà các em đang học. Khi đọc các bài toán có trong câu chuyện các em cảm thấy thú vị
hơn với vấn đề yêu cầu các em giải quyết, nó còn giúp học sinh nâng cao kĩ năng đọc.
Từ sự hưng phấn đó khoảng cách giữa các em với cô giáo chủ nhiệm được gần hơn, các
em thực sự mạnh dạn, tự tin trong học tập.
Biện pháp 4: Xây dựng nề nếp học tập:
- Chất lượng học tập được nâng cao hay không thì yêu cầu đầu tiên phải có nề nếp, có
qui định. Ngay lần họp phụ huynh đầu năm học tôi đã yêu cầu phụ huynh phải chuẩn bị
đầy đủ dụng cụ học tập cho con em.
- Tổ chức cho học sinh đọc bài đầu buổi học: Phó chủ tịch phụ trách học tập cùng với
5 nhóm trưởng cứ đầu buổi học các em truy bài, ôn bài cũ với các bạn trong lớp, trong
nhóm. Hướng dẫn giải các bài tập khó và sẽ ghi tên các bạn không hoàn thành bài tập,
không thuộc bài vào sổ theo dõi trình cho thầy cô giáo vào 15 phút đầu buổi. Giáo viên
sẽ có hình thức giúp đỡ các học sinh đó kịp thời.
- Phân chia đôi bạn “Cùng tiến”: Khi phân chỗ ngồi, tôi bố trí chia nhóm có đủ đối
tượng học sinh , cho học sinh khá, giỏi ngồi cạnh học sinh trung bình, yếu. Em khá, giỏi
sẽ theo dõi, hướng dẫn bạn, kèm cặp bạn trong học tập. Nếu học sinh trung bình, yếu có
tiến bộ thì tôi lại biểu dương kịp thời cho đôi bạn đó để khích lệ tinh thần. Chính vì vậy
đôi bạn nào cũng muốn được biểu dương khen ngợi nên bạn khá, giỏi rất nhiệt tình giúp
bạn yếu học tập. Ngược lại, các bạn có sức học trung bình, yếu cũng cố gắng học tập để
không làm ảnh hưởng đến bạn mình.
- Xây dựng nề nếp học tập: Ngay từ đầu năm học, tôi cho các em lập thời gian biểu
học tập cụ thể. Đồng thời phân nhóm học sinh theo thôn để tiện trao đổi việc học. Mỗi
nhóm đều cử nhóm trưởng để thay thầy cô giáo chỉ đạo việc học. Việc làm này cũng có
nhiều ưu điểm các em có thể giúp nhau được ở mọi lúc, mọi nơi; Mặt khác các em học
yếu cũng tránh được mặc cảm với thầy cô. Giáo viên kiểm tra thường xuyên để đôn đốc
nhắc nhở các nhóm học tập hiệu quả.
Biện pháp 5: Xây dựng nề nếp lớp học:
- Xây dựng nội quy, quy định rõ ràng và tuân thủ nó ngay từ đầu, phổ biến rộng rãi
trong toàn lớp ngay tiết sinh hoạt lớp của tuần học đầu tiên. Nhiều giáo viên thường mắc
9


lỗi bắt đầu một năm học mới với kế hoạch cho các quy tắc rất lỏng lẻo. Học sinh nhanh
chóng nắm bắt được các tình huống trong mỗi giờ học và nhận ra những gì chúng sẽ
được cho phép, những lỗi nào được bỏ qua. Một khi giáo viên “lờ” đi những sự quậy phá
hoặc những nguyên tắc áp dụng trong lớp học không đủ mạnh để chấn chỉnh, dập tắt các
trò quá nghịch ngợm thì rất khó để bắt đầu hay tiếp tục điều khiển lớp học tốt hơn.
- Công bằng là chìa khoá học sinh hoàn toàn có thể phân biệt điều gì là công bằng và
điều gì thì không. Vì thế, giáo viên cần phải đối xử bình đẳng đối với tất cả học sinh nếu
mong được học sinh tôn trọng.
- Tránh các vụ gây lộn trong lớp học. Bất cứ khi nào có đánh nhau, cãi vã giận dữ
trong lớp học thì sẽ có một người thắng và một người thua. Dĩ nhiên với vai trò là một
giáo viên, cần phải giữ trật tự và quy tắc trong lớp học. Tuy nhiên, nên giải quyết những
vấn đề vi phạm kỉ luật mang tính cá nhân riêng tư (bên ngoài lớp học) tốt hơn là làm học
sinh "mất mặt" trước bạn bè.
- Giữ niềm tin tưởng lớn trong lớp. Hãy tin tưởng rằng học sinh là những trẻ ngoan
ngoãn, chứ không phải là quậy phá. Tăng cường điều đó thông qua cách giáo viên nói
với học trò. Khi bắt đầu một ngày học mới, hãy nói những mong muốn của mình với
học trò than yêu như những đứa con trong gia đình.
Biệp pháp 6: Xây dựng “lớp học thân thiện, học sinh tích cực”
Năm học 2008-2009, Bộ giáo dục và Đào tạo phát động phong trào “Xây dựng
trường học thân thiện, học sinh tích cực” nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện,
đặc biệt là giáo dục đạo đức, nhân cách và kĩ năng sống cho học sinh. Qua 6 năm thực
hiện, phong trào đã có sức lan tỏa mạnh mẽ cả chiều sâu lẫn chiều rộng, mang lại hiệu
quả thiết thực cho ngành giáo dục và cho xã hội. Muốn phong trào “Xây dựng trường
học thân thiện, học sinh tích cực” ở mỗi trường đạt hiệu quả thì mỗi giáo viên chủ nhiệm
phải tích cực “xây dựng lớp học thân thiện, học sinh tích cực”. Có nhiều “lớp học thân
thiện, học sinh tích cực” thì mới có “trường học thân thiện, học sinh tích cực”.
“Xây dựng lớp học thân thiện” là tạo ra môi trường học tập thân thiện, an toàn, gần
gũi với học sinh, làm cho học sinh cảm thấy “mỗi ngày đến trường là một niềm vui”.
Xây dựng được “lớp học thân thiện” thì sẽ có “học sinh tích cực”. Xây dựng được lớp
học thân thiện, học sinh tích cực thì sẽ hạn chế được tỉ lệ học sinh lưu ban, bỏ học, sẽ
nâng cao được chất lượng giáo dục cho học sinh.

10


Công việc “xây dựng lớp học thân thiện, học sinh tích cực” được tôi tiến hành từng
bước như sau:
6.1.Trang trí lớp học xanh - sạch - đẹp
Lớp học thân thiện phải có cây xanh, phải luôn sạch sẽ, ngăn nắp và được trang trí
đẹp, đảm bảo tính thẩm mĩ và tính giáo dục cao. Do vậy, tôi hướng dẫn và cùng với học
sinh thực hiện các công việc sau đây:
- Trồng cây xanh trong lớp bằng cách: cho dây trầu bà, cây trường sinh vào con tôm
hoặc con cá bằng sành, đổ nước vào rồi treo trên vách tường. Dây trầu bà và cây trường
sinh chỉ sống bằng nước và rất ưa rợp, lại không có lá úa, rụng nên rất sạch. Chỉ cần đổ
nước thường xuyên là cây sống, dây trầu bà lá xanh rủ xuống từng dây dài rất đẹp.
- Trang trí lớp đẹp, hài hòa đảm bảo tính thẩm mĩ và tính giáo dục cao. Phần trang trí
lớp, tôi giao trực tiếp cho từng tổ: mỗi tổ phải sưu tầm tranh ảnh liên quan đến các môn
học và chọn 5 bài vẽ đẹp nhất để trưng bày. Tranh, ảnh các em sưu tầm được dán vào
giấy khổ lớn theo từng môn học (Lịch sử, Địa lí, Khoa học, Mĩ thuật) và được bao bên
ngoài bằng giấy bóng trong suốt. Sau đó đóng lên vách tường xung quanh lớp.
- Khi nhận xét năng lực và phẩm chất, giáo viên chủ nhiệm phải căn cứ vào từng
hoạt động hằng ngày thông qua các biểu hiện hoặc hành vi trong hoạt động giáo dục,
giao tiếp hợp tác, tự học và giải quyết vấn đề... để đánh giá. Nhưng các biểu hiện hành vi
này được ghi ở sổ giáo viên nên tôi phải viết lên giấy Ao, trang trí, đóng khung thật đẹp
treo lên tường để hằng ngày các em nhớ và thi đua thực hiện. Ngoài ra, tôi cùng với học
sinh đề ra 10 yêu cầu cơ bản đối với học sinh của một lớp học thân thiện, học sinh tích
cực. Hằng ngày tôi nhắc nhở các em thực hiện những năng lực, phẩm chất và 10 yêu cầu
của lớp học thân thiện, học sinh tích cực. Khi có học sinh chưa hoàn thành nhiệm vụ, tôi
động viên các em khắc phục. Nhờ vậy, các em mới tự giác thực hiện, không có học sinh
vi phạm nội quy của lớp, của nhà trường.
6.2. Xây dựng mối quan hệ thầy - trò:
Quan hệ cơ bản nhất của tôi và học trò là quan hệ hợp tác làm việc: tôi giao việc học trò làm; tôi hướng dẫn - học trò thực hiện.
- Khi giao việc, tôi chỉ nói một lần, nhưng chỉ nói khi lớp trật tự. Với cách làm này,
tự nhiên thầy sẽ trở nên nói ít, học trò sẽ làm nhiều. Làm việc như thế nào thì đạo đức, y
thức sẽ kèm theo như thế ấy. Làm đến nơi đến chốn thì y thức kỉ luật cũng đến nơi đến
chốn.
11


- Hành vi của giáo viên sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tâm lí cũng như sự hình thành
tính cách của trẻ. Vì vậy, khi lên lớp, tôi luôn chú y đến cả cách đi đứng, nói năng, cách
ăn mặc, cách cầm sách, chữ viết, thái độ,...để học trò noi theo. Không vì bất cứ lí do gì
mà tôi cho phép mình cẩu thả hoặc xuề xòa, qua loa trước mặt học sinh.
- Khi học sinh nào làm bài chưa đúng, tôi yêu cầu học sinh đó phải làm lại. Tôi giúp
đỡ, hướng dẫn học sinh làm lại ngay tại lớp, không làm ở nhà. Với cách nói đúng, làm
đúng trong học tập, các em trở thành những con người tự tin, trung thực, không gian dối.
- Khi có học sinh mắc sai lầm, thiếu sót, tôi luôn cố gắng kiềm chế và tôn trọng học
sinh, tìm hiểu cặn kẽ thấu đáo nguyên nhân để có biện pháp giúp đỡ các em sửa chữa.
Tôi không bao giờ có những lời nói, cử chỉ xúc phạm các em. Ở tuổi này, lòng tự trọng
của các em rất cao, chỉ một lời nói xúc phạm sẽ làm tan nát tâm hồn trẻ thơ. Thậm chí có
em sẽ oán hận, căm ghét thầy cô, bỏ học và không bao giờ trở lại lớp học nữa cho dù có
nhiều người đến nhà vận động.
- Hàng ngày, tôi luôn khích lệ và biểu dương các em kịp thời, ca ngợi những ưu
điểm của các em nhiều hơn là phê bình khuyết điểm. Tôi cố tìm ra những ưu điểm nhỏ
nhất để khen ngợi động viên các em. Nhưng trong khi khen, tôi cũng không quên chỉ ra
những thiếu sót để các em khắc phục và ngày càng hoàn thiện hơn.
- Khi nói chuyện, khi giảng, cũng như khi nghiêm khắc phê bình lỗi lầm của học
sinh, tôi luôn thể hiện cho các em thấy tình cảm yêu thương của một người thầy đối với
học trò. Theo qui luật phản hồi của tâm lí, tình cảm của thầy trước sau cũng sẽ được đáp
lại bằng tình cảm của học trò. Lòng nhân ái, bao dung, đức vị tha của người thầy luôn có
sức mạnh to lớn để giáo dục và cảm hóa học sinh. “Lớp học thân thiện” chỉ có được khi
người thầy có tấm lòng nhân hậu, bao dung, hết lòng vì học sinh thân yêu của mình. Có
một người thầy như vậy thì chắc chắn học sinh sẽ chăm ngoan, tích cực và ham học,
thích đi học.
6.3. Xây dựng mối quan hệ bạn bè:
Trong cuộc sống của mỗi con người, ngoài những người thân trong gia đình ra, ai
cũng cần có bạn bè để chia sẻ. Học sinh Tiểu học cũng vậy. Nếu các em có nhiều bạn bè
thân thiết trong lớp thì các em sẽ hợp tác vui vẻ với nhau và sẽ giúp đỡ nhau cùng tiến
bộ. Em học giỏi sẽ giúp những em học yếu; ngược lại, em học yếu cũng dễ dàng nhờ bạn
giúp đỡ mình học tập mà không phải e ngại, xấu hổ (Học thầy không tày học bạn).

12


Là một giáo viên chủ nhiệm, tôi luôn quan tâm đến vấn đề này. Xây dựng được mối
quan hệ bạn bè đoàn kết, gắn bó thì tôi sẽ xây dựng được nề nếp lớp học, tiến tới xây
dựng môi trường học tập thân thiện. Từ môi trường học tập thân thiện đó, chất lượng
học tập của lớp chắc chắn sẽ được nâng cao.
Để xây dựng mối quan hệ bạn bè thân thiết, đoàn kết, gắn bó, sẵn sàng giúp đỡ nhau
trong học tập, tôi luôn tạo ra các hoạt động, các vấn đề đòi hỏi sự hợp tác của nhiều học
sinh. Cách làm cụ thể như sau:
- Trong mỗi tiết học, tôi thường xuyên chia nhóm ngẫu nhiên. Tiết học này, các em
chung nhóm với bạn này, nhưng tiết sau, các em lại chung nhóm với bạn khác. Lúc đầu
có em chưa chịu, tuy ngồi chung nhóm nhưng có em lại quay mặt ra chỗ khác, hoặc ngồi
im không tham gia, ai muốn làm gì thì làm; không ai chịu làm nhóm trưởng dẫn đến
không hoàn thành nhiệm vụ. Trước tình trạng đó, tôi tuyên bố sẽ biểu dương khen ngợi
kết quả của từng nhóm và lấy kết quả đó chung cho tất cả các thành viên của nhóm. Do
đó, những em khá, giỏi buộc phải tích cực. Còn những em không tích cực hợp tác, tôi sẽ
cho ngồi riêng một mình và phải làm toàn bộ công việc của một nhóm. Bị ngồi một
mình nên không thể hoàn thành công việc. Các em đó sẽ không dám hờ hững nữa. Cứ
như vậy, dần dần việc hợp tác của học sinh trong lớp đã được cải thiện.
- Tôi khuyến khích học sinh tự viết ra những điều em chưa đồng ý về việc làm, cách
cư xử của chủ tịch, phó chủ tịch hoặc của một bạn nào đó trong lớp chứ không nói xấu,
không xa lánh bạn. Căn cứ vào những điều các em viết ra, nếu là những điều tốt thì tôi
đọc cho cả lớp nghe rồi tuyên dương ngay trước lớp. Còn những điều các em phê bình
thì tôi phải điều tra nẵm rõ đúng hay sai. Sau đó mới góp ý riêng với những học sinh bị
bạn phê bình, yêu cầu các em phải xin lỗi bạn và phải sửa chữa.
- Khi có chuyện xích mích giữa em này với em kia, tôi kịp thời can thiệp không để
mâu thuẫn kéo dài gây ảnh hưởng xấu đến tình bạn. Tôi gặp gỡ trao đổi riêng với từng
học sinh hoặc nhóm học sinh để biết rõ đầu đuôi. Sau đó phân tích rõ ai đúng, ai sai. Ai
sai thì phải nhận lỗi và xin lỗi bạn. Sau đó giảng hòa và bắt tay nhau vui vẻ trở lại.
Biện pháp7: Tổ chức các hoạt động tập thể và các trò chơi vui tươi lành mạnh
Thích hoạt động tập thể và tham gia các trò chơi bổ ích là nhu cầu, là sở thích của
hầu hết các học sinh tiểu học. Vì vậy, khi tổ chức cho các em hoạt động tập thể và tham
gia các trò chơi là giáo viên đã giúp các em “học mà chơi, chơi mà học”, kiến thức và kĩ
năng ở mỗi em sẽ được hình thành và rèn luyện năng lực, phẩm chất một cách nhẹ
13


nhàng, tự nhiên, không gây căng thẳng, gò bó đối với các em. Ngoài ra, tổ chức sinh
hoạt tập thể và vui chơi còn giúp các em phát triển và hoàn thiện nhân cách, bồi dưỡng
năng khiếu và tài năng sáng tạo.
Các hoạt động tập thể và một số trò chơi đơn giản, gọn nhẹ, tôi có thể tổ chức ngay
trong mỗi buổi học chính khóa và cả các buổi sinh hoạt ngoài giờ lên lớp.
Thông qua các hoạt động vui chơi, các em được “làm”, “được trải nghiệm” như trong
cuộc sống thực, điều đó sẽ giúp các em lĩnh hội kiến thức và rèn luyện kĩ năng sống một
cách nhẹ nhàng, nhưng lại hiệu quả.
Tổ chức các hoạt động tập thể và vui chơi thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp: Ở
Tiểu học, giáo dục ngoài giờ lên lớp được qui định trong chương trình chính khóa,
không bắt buộc giáo viên chủ nhiệm phải lên tiết ngoài giờ lên lớp. Nhưng nếu các hoạt
động này chỉ diễn ra ở các tiết học chính khóa trên lớp thì sẽ mất rất nhiều thời gian, nếu
như giáo viên vận dụng và tổ chức không khéo léo thì sẽ làm ảnh hưởng đến tiến trình
giờ học. Do vậy, đối với những hoạt động chiếm nhiều thời gian, cần nhiều sức lực, tôi
tổ chức cho học sinh tham gia trái buổi.
- Tổ chức cho học sinh ôn luyện kiến thức bằng các trò chơi như: Rung chuông
vàng, Hái hoa dân chủ, Thi tìm hiểu về An toàn giao thông,..Nội dung thi được tôi soạn
bằng chương trình powerPoint nên gây được sự thích thú, hào hứng cho học sinh mỗi
lần tham gia.
- Tổ chức các buổi họp lớp, làm đồ dùng học tập và làm báo tường, vẽ tranh chào
mừng các ngày lễ lớn.
- Tổ chức cho học sinh xem phim tài liệu kỉ niệm các sự kiện lịch sử trọng đại của
đất nước như: Kỉ niệm ngày thành lập Đảng, Cách mạng tháng Tám, Kỉ niệm ngày quốc
khánh, ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, ngày giải phóng miền Nam,về Đại
tướng Võ Nguyên Giáp...Những đoạn phim tài liệu này, tôi lấy trên mạng internet rồi kết
nối với máy chiếu, chiếu lên cho học sinh xem.
- Hướng dẫn các em làm bình hoa, cắt gấp hoa để trang trí góc học tập và làm một
số đồ chơi đơn giản để trưng bày hoặc để tặng người thân bạn bè. Dựa trên hướng dẫn ở
báo Chăm học, tôi tập trung cả lớp lại và hướng dẫn các em làm việc theo nhóm. Các
em cùng làm, cùng góp, giúp đỡ nhau làm việc.
Nhờ thường xuyên tổ chức các hoạt động tập thể và các trò chơi cho cả lớp nên các
em trở nên rất tự tin, rất năng động sáng tạo. Và điều quan trọng là tôi đã thực sự xây
14


dựng được một môi trường học tập thân thiện, học sinh tích cực. Sĩ số của lớp tôi luôn
đảm bảo, chất lượng học tập của học sinh ngày càng nâng cao.
Biện pháp 8: Phối hợp các hình thức giáo dục khác:
- Tổ chức giờ sinh hoạt cuối tuần: là giáo viên chủ nhiệm lớp thì giờ sinh hoạt cuối
tuần là thời gian quan trọng nhất, bởi tiết này không đơn thuần chỉ dừng lại ở việc nhận
xét ưu, khuyết điểm của lớp trưởng về hoạt động của lớp tuần qua mà trong giờ sinh
hoạt cuối tuần nhằm để học sinh nhận thấy được các khuyết điểm của chính bản thân
mình, dù nhỏ hay lớn đều phải tự hứa trước lớp sẽ có biện pháp khắc phục trong tuần
tới. Đặc biệt trong giờ sinh hoạt này, tôi lấy các tấm gương điển hình về học tập, giúp đỡ
bạn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao để tuyên dương, khen ngợi phần này được
nhấn mạnh hơn, phần tồn tại chỉ nhắc nhở không quá khắt khe có như vậy các em mới tự
giác thực hiện tốt.
- Tìm tòi những phương pháp, tổ chức các hoạt động để lôi cuốn các em vào hoạt
động học tập “Học mà vui,vui mà học” là rất cần thiết ở trong tất cả giờ dạy.
- Qua từng đợt thi đua, giáo viên cho học sinh bình bầu những tấm gương điển hình
trong lớp để đề nghị Nhà trường, liên đội trường nêu gương và khen thưởng kịp thời.
Vào đầu năm học, giáo viên chủ nhiệm phát động quỹ lớp nhằm để phát thưởng cho học
sinh có nhiều thành tích trong học tập, lao động, văn nghệ hay các hoạt động ngoại khóa
khác. Hội đồng tự quản lớp cùng giáo viên chủ nhiệm đến thăm gia đình học sinh chưa
thực sự hòa mình vào tập thể lớp để trao đổi phối hợp kịp thời cùng gia đình, nhà
trường, địa phương để giáo dục các em.
- Tổ chức các hoạt động nhân đạo từ thiện như thăm hỏi, giúp đỡ các gia đình chính
sách ở địa phương. Lao động giúp đỡ gia đình có hoàn cảnh khó khăn, gia đình học sinh
mồ côi vào những ngày mùa,…
- Giáo viên chủ nhiệm phối hợp với các đoàn nhà trường và chính quyền địa phương
có những biện pháp giáo dục những học sinh chưa thực sự tham gia tích cực các hoạt
động của trường, của lớp. Hay những học sinh có hoàn cảnh khó khăn, con mồ côi tham
mưu cùng chính quyền địa phương để bản thân các em được quan tâm nhiều hơn, được
hỗ trợ nhiều hơn về vật chất cũng như tinh thần để các em vững bước trên con đường
học tập. Mặt khác, đề nghị các cấp kịp thời khen thưởng những học sinh có tiến bộ về
nhiều mặt, học sinh có thành tích tốt trong học tập…

15


Biện pháp 9: Huy động các lực lượng xã hội có tiềm năng tham gia vào quá trình
đào tạo để nâng cao chất lượng, gắn nhà trường với cuộc sống địa phương, gắn lý
thuyết với thực tiễn.
- Giáo viên chủ nhiệm tham gia bàn bạc thống nhất với phụ huynh về mục tiêu cần
đạt trong năm học, dựa trên khả năng của từng em. Sau đó hai bên cam kết trách nhiệm.
Mục tiêu được xây dựng như vậy có tác dụng định hướng sát thực cho sự phát triển của
từng học sinh đồng thời nâng cao ý thức, trách nhiệm, không chỉ ở giáo viên mà còn
chính bản thân của trẻ. Phối hợp với phụ huynh tạo điều kiện cho con em học tập và rèn
luyện nhân cách như xây dựng góc học tập, đôn đốc nhắc nhở việc rèn luyện đạo đức,
lao động giúp đỡ gia đình, đảm bảo giờ tự học, kiểm tra bài vở thường xuyên. Bởi chính
gia đình là nơi gần gũi các em nhất, bố mẹ là người uốn nắn cho con mình từng lời nói
hay, việc làm đúng. Từ đó phụ huynh liên hệ, trao đổi với Giáo viên chủ nhiệm, với nhà
trường thông qua sổ liên lạc, các kỳ họp phụ huynh.
- Giáo viên chủ nhiệm phối hợp với các lực lượng xã hội tham gia về tổ chức thực
hiện các hoạt động giáo dục: đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh tổ chức
các hoạt động GD ngoại khoá nhằm nâng cao và mở rộng tri thức, rèn luyện kỹ năng và
hình thành năng lực, phẩm chất về các mặt cho học sinh. Họ có thể tham gia trực tiếp
hoặc gián tiếp thông qua tập huấn, trao đổi, cụ thể:
+ Các lực lượng tham gia giáo dục toàn diện ở xã, hội cựu chiến binh tham gia giáo
dục các em học tập phẩm chất anh bộ đội cụ Hồ qua các buổi nói chuyện, mít tinh kỷ
niệm. Giáo dục truyền thống cho học sinh với những nội dung "uống nước nhớ nguồn",
"Phẩm chất anh bộ đội cụ Hồ" thông qua ngày 22/12; 27/7.
+ Đoàn thanh niên tổ chức sinh hoạt Đội và các hoạt động giáo dục ngoại khoá ở địa
phương như: Tổ chức 26/3, 19/5. Ngoài ra đoàn thanh niên tổ chức luyện tập thể dục thể
thao cho học sinh năng khiếu, làm trọng tài, tổ chức hội khoẻ Phù Đổng. Đoàn thanh
niên đóng vai trò nòng cốt trong việc tổ chức các hoạt động vui chơi, giải trí sinh hoạt
tập thể, nhất là ở khu dân cư và trong các dịp hè.
+ Phối hợp với Hội cha mẹ học sinh thường xuyên động viên nhắc nhở việc học của
con em mình. Hội cha mẹ đảm nhận giáo dục học sinh cá biệt.
+ Tham gia giáo dục phẩm chất cho học sinh là lĩnh vực mà các lực lượng xã hội ở xã
có ưu thế, xóm, thôn các tổ chức đoàn thể xã hội như: Mặt trận Tổ quốc, Đoàn thanh
niên, phụ nữ, giáo viên về hưu, cựu chiến binh, phụ lão. Thậm chí những người đứng
16


đầu dòng họ tham gia tích cực và có hiệu quả vào việc giáo dục học sinh, tuỳ theo ưu thế
của từng tổ chức, từng cá nhân và sự tham mưu phối hợp của nhà trường để họ tham gia
vào tất cả các lĩnh vực, hay từng lĩnh vực nhằm giáo dục phẩm chất cho học sinh.
* Xây dựng một cơ chế hoạt động, thực hiện các quy ước, nội dung cam kết giữa các
lực lượng xã hội (NT - GĐ - XH) nhằm mục tiêu phát triển Giáo dục Tiểu học . Kết hợp
ba môi trường giáo dục Nhà trường - Gia đình - Xã hội là một nội dung được quan tâm
đặc biệt trong quá trình phát triển xã hội hóa Giáo dục ở trường Tiểu học. Gia đình cùng
các lực lượng xã hội quản lý phần nối tiếp của quá trình đào tạo trong nhà trường, tạo
thành một quá trình khép kín, không chỉ nhằm nâng cao chất lượng GD - ĐT mà còn
giúp đánh giá kết quả toàn diện thêm chính xác, kịp thời.
III. KẾT LUẬN
3.1. Ý nghĩa của đề tài
Để công tác chủ nhiệm lớp trong Nhà trường đạt được kết quả cao thì người giáo viên
chủ nhiệm phải là người có tâm huyết với nghề, phải có lòng yêu nghề, mến trẻ, phải
thường xuyên học hỏi trau dồi chuyên môn nghiệp vụ cũng như kinh nghiệm trong công
tác chủ nhiệm.
Trong thời gian làm công tác chủ nhiệm lớp 5B, thông qua việc sử dụng các biện
pháp trên, tôi đã thu được kết quả như sau:
Sỉ số chuyên cần
SL
%
28
100

Môn học & HĐGD
SL
%
28
100

Năng lực
SL
%
28
100

Phẩm chất
SL
%
28
100

Nhìn vào bảng trên cho thấy chất lượng giáo dục đạt kết quả cao. Tôi thấy rằng
các biện pháp nâng cao trong công tác chủ nhiệm lớp đã trình bày ở trên các em không
những thích tới trường học tập mà còn rất phấn khởi hào hứng khi đến lớp. Nhiều em
trong lớp đã phát huy kĩ năng học tập, khả năng tự học và sáng tạo của mình. Phẩm chất,
năng lực của các em ngày một hoàn thiện hơn.
Với sáng kiến kinh nghiệm về giải pháp “nâng cao công tác chủ nhiệm lớp” mà
tôi đang nghiên cứu và đã áp dụng tại trường mình mang một ý nghĩa rất quan trọng, là
việc làm hết sức cần thiết, bởi lẽ các em sẽ được đến trường, được mọi người quan
tâm thương yêu, được học cách rèn luyện và rút ra những kinh nghiệm, kỹ năng mà
17


các em sẽ gặp lại trong cuộc sống, là bài học quý báu mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc
để các em tự hoàn thiện mình. Qua đó, giúp các em nhìn lại những việc làm của mình từ
trong hành động, trong suy nghĩ, lời nói việc làm. Nó còn giúp các em hoàn thiện hơn về
nhân cách, về lối sống, các em sẽ tích cực hơn. Có năng lực, phẩm chất tham gia các
hoạt động mang ý nghĩa cộng đồng, hòa đồng, thân ái, đồng cảm chia sẻ với mọi người
xung quanh và hơn hết là sống tốt, sống có ý nghĩa và có một niềm tin thiết tha hơn về
tương lai.
Qua quá trình áp dụng các biện pháp trong công tác chủ nhiệm lớp, đa số giáo viên
ở trường tôi cảm thấy nhẹ nhàng hơn, yêu thích hơn khi làm công tác chủ nhiệm lớp.
3.2. Bài học kinh nghiệm:
Theo tôi để làm tốt và thành công trong công tác chủ nhiệm lớp thì người giáo viên
cần làm tốt những công việc sau:
Bước 1: Nhận lớp, lập danh sách học sinh, điều tra độ tuổi của từng em, tìm hiểu hoàn
cảnh của từng em để lập kế hoạch chủ nhiệm phù hợp trong suốt cả năm học.
Bước 2: Nhanh chóng ổn định chỗ ngồi cho học sinh, tạm thời bầu ra hội đồng tự quản
lớp. Tiến hành học nội quy của trường, lớp cho học sinh. Lập thời khóa biểu cho học
sinh tiện theo dõi các bài học trong ngày, trong tuần.
Bước 3: Họp phụ huynh lớp để cùng bàn bạc, trao đổi kế hoạch cũng như một số quy
định về sách vở học tập cho học sinh. Lắng nghe nguyện vọng của phụ huynh để cùng
kết hợp giáo dục học sinh cho tốt hơn.
Bước 4: Trong các buổi học luôn quán xuyến, theo dõi sự tiến bộ của học sinh qua các
bài tập, bài viết. Động viên học sinh kịp thời bằng lời khen để học sinh hứng thú và nỗ
lực học tập hơn. Tạo cho học sinh thói quen nghe “lệnh” (kí hiệu S,V,♫…, gõ thước, chỉ
thước..) để tạo sự tập trung trong giờ học.
Bước 5: Cuối tuần có đánh giá, nhận xét kết quả thi đua học tập. Học sinh được bình
chọn, nhận xét những bạn đạt thành tích xuất sắc học tập trong tuần và cũng tự rút kinh
nghiệm cho bản thân mình được hoàn thiện hơn. Đồng thời phát động thi đua học tập
mới cho tuần tiếp theo.
Bước 6: Kết hợp với các đoàn thể trong trường để thực hiện đúng các chủ điểm, kế
hoạch của: Chuyên môn; Công đoàn, Đoàn Đội, Tổ khối, …nhằm làm tốt công tác chủ
nhiệm và thực hiện tốt các hoạt động trong nhà trường phù hợp với lứa tuổi học sinh lớp
mình. Đặc biệt quan tâm đến công tác Sao nhi đồng hướng dẫn cho các em thực hiện
18


đúng Lời hứa của nhi đồng. Rèn cho học sinh ý thức bảo vệ tài sản chung,giữ gìn vệ sinh
chung.
Bước 7: Thường xuyên sinh hoạt 15 phút đầu giờ với học sinh, nhắc nhở đôn đốc học
sinh tham gia tốt các buổi thể dục giữa giờ cũng như các buổi sinh hoạt ngoại khóa.
Thay đổi chỗ ngồi cho học sinh 2lần/năm học. Thay đổi nhóm trưởng để học sinh được
thể hiện được khả năng của mình.
Bước 8: Luôn chú trọng rèn vở sạch chữ đẹp cho học sinh tham gia thi VSCĐ cấp
trường. Kịp thời khen ngợi, động viên nếu học sinh làm được việc tốt hoặc có tiến bộ
trong học tập.
Bước 9: Luôn nhắc nhở học sinh tham gia và thực hiện tốt an toàn giao thông qua các
bài học sinh động Pokemon, Rùa và Thỏ…Lắng nghe những thắc mắc riêng tư cũng như
những vướng mắc trong quan hệ của học sinh để kịp thời tư vấn, chia sẻ với học sinh,
tạo mối quan hệ gần gũi là người tin cậy của các em.
Bước 10: Trao đổi, nắm bắt các thông tin với phụ huynh bằng phiếu liên lạc và học sinh
để báo cáo Lãnh đạo kịp thời những quyền lợi của học sinh.
Với mong muốn mọi trẻ em trên đất nước đều được đến trường, được hình thành
nhân cách và phát triển toàn diện nên tôi đã chọn và nghiên cứu đề tài này. Qua quá
trình áp dụng kết quả rất đáng phấn khởi. Vì vậy tôi mạnh dạn xin đưa ra để các bạn
đồng nghiệp, những thầy cô giáo và những ai quan tâm đến lĩnh vực này có thêm một tài
liệu bổ ích để tham khảo.
Xin chân thành cảm ơn !
Lệ Thủy, ngày 20 tháng 5 năm 2015
Người viết
Nguyễn Thị Hồng
Đơn vị: Trường TH số 1 Tân Thủy

19


Tài liệu tham khảo
1. Nghị quyết TW8 khóa XI – Nghị quyết số 29 - NQ/TƯ
2. Điều lệ trường Tiểu học
3. Thông tư 30 /2014/TT - BGDĐT
4. Tài liệu XHHCTGD nhận thức và hành động ( Viện khoa học giáo dục, Hà Nội
– 1999).
5. Đổ Quốc Anh ( CB), Góp phần xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích
cực, NXB Giáo dục Việt Nam 2010.
6.Nguyễn Công Khanh , Giao tiếp ứng xử tâm lý tuổi học đường, Nhà xuất bản
Thanh niên, 2007.

MỤC LỤC
I.PHẦN MỞ ĐẦU
1.1 .Lí do chọn đề tài……………………………………………………………………1
1.2. Phạm vi áp dụng của đề tài………………………………………………………….3
II.PHẦN NỘI DUNG
2.1. Thực trạng của nội dung cần nghiên cứu...........................................................3
2.2. Các giải pháp…………………………………………………………………….5
20


* Biện pháp 1: Xây dựng kế hoạch chủ nhiệm lớp………………………………….5
* Biện pháp 2: Xây dựng kỷ cương, kỉ luật trong lớp..............................................7
* Biện pháp 3: Bồi dưỡng rèn luyện học sinh nâng cao chất lượng dạy và học.......8
* Biện pháp 4: Xây dựng nề nếp học tập ................................................................8
* Biện pháp 5: Xây dựng nề nếp lớp học ................................................................9
* Biệp pháp 6: Xây dựng “lớp học thân thiện, học sinh tích cực”...........................10
* Biện pháp7: Tổ chức các hoạt động tập thể và các trò chơi vui tươi lành mạnh........ .13
* Biện pháp 8: Phối hợp các hình thức giáo dục khác..............................................14
* Biện pháp 9: Huy động các lực lượng xã hội có tiềm năng tham gia vào quá trình đào
tạo để nâng cao chất lượng, gắn nhà trường với cuộc sống địa phương, gắn lý thuyết với
thực tiễn…………………………………………………………………………....…...15
III. KẾT LUẬN
3.1.Ý nghĩa của đề tài……………………………………………………..……............17
3.2.Bài học kinh nghiệm………………………………………………………………..17

21



x

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×