Tải bản đầy đủ

Giải quyết việc làm theo pháp luật lao động việt nam và thực tiễn thực hiện tại thành phố đà nẵng

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

PHÙNG THỊ HOÀI THƢƠNG

GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
THEO PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM
VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số

: 60 38 01 07

ĐÀ NẴNG - 2015


LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành được luận văn này tôi đã nhận được rất nhiều sự động viên,

giúp đỡ của rất nhiều cá nhân và tập thể.
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến giáo viên hướng dẫn –
Tiến sĩ Nguyễn Am Hiểu, người đã đã tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình
thực hiện luận văn.
Xin cùng bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các quý thầy cô giáo, người
đã đem lại cho tôi những kiến thức bổ trợ, vô cùng có ích trong những năm học
vừa qua.
Cũng xin gửi lời cám ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo,
Khoa Sau đại học, Khoa Luật trường Đại học Quốc gia Hà Nội… đã tạo điều
kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình học tập và viết luận văn này.
Hà Nội, tháng 12 năm 2015
Học viên

Phùng Thị Hoài Thương

2


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin
cậy và trung thực.

NGƢỜI CAM ĐOAN

3


MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
PHẦN MỞ ĐẦU
Chƣơng 1. Khái niệm chung về giải quyết việc làm và pháp luật về giải
quyết việc làm ……………….………………………………… ………….…11
1.1.

Khái niệm chung về giải quyết việc làm ………………………..……...11

1.1.1. Quan niệm về việc làm và giải quyết việc làm………………….…....…….11

1.1.2. Vai trò của giải quyết việc làm…………………….……………...…………16
1.2.

Pháp luật về giải quyết việc làm……………………….……..…...….....19

1.2.1. Nguyên tắc cơ bản của pháp luật về giải quyết việc làm……… ………...19
1.2.2. Nội dung cơ bản của pháp luật về giải quyết việc làm……...……………22
Chƣơng 2. Thực trạng pháp luật về giải quyết việc làm và thực tiễn giải
quyết việc làm tại thành phố Đà Nẵng……………………………………....28
2.1.

Pháp luật về giải quyết việc làm từ năm 1945 đến nay…………...…….28

2.1.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1954 ………………..………………...28
2.1.2. Giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1985 ………………………………….30
2.1.3. Giai đoạn từ năm 1985 đến năm 1993………………………………..…….33
2.1.4. Giai đoạn từ năm 1994 đến năm 2012……..……………………………34
2.1.5. Giai đoạn từ năm 2013 đến nay…………………………………………36
2.2. Thực trạng pháp luật về giải quyết việc làm ……………………………36
2.2.1. Về trách nhiệm của các bên trong giải quyết việc làm...………………...36
2.2.2. Giải quyết việc làm cho lao động đặc thù……………………………….43
2.2.3. Tổ chức dịch vụ việc làm……………………………....………………...47
2.2.4. Quỹ giải quyết việc làm………………………………………………….48
2.3. Thực tiễn giải quyết việc làm tại thành phố Đà Nẵng…...………………53
2.2.1. Điều kiện tự nhiên – xã hội …………….……………..………………...53
2.2.2. Thực tiễn giải quyết việc làm tại Thành phố Đà Nẵng………………….57
Chƣơng 3. Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của giải
quyết việc làm ở Việt Nam và Thành phố Đà Nẵng……………………...…63
4


3.1. Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về giải quyết việc làm ở Việt Nam……...…63
3.1.1. Hoàn thiện pháp luật về việc làm và giải quyết việc làm phải đáp ứng yêu
cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.…………….…...63
3.1.2. Hoàn thiện pháp luật về việc làm và giải quyết việc làm phải phù hợp với
xu thế chung toàn cầu và hội nhập quốc tế…………………...……………….64
3.2. Giải pháp hoàn thiện các quy định về giải quyết việc làm trong của pháp
luật lao động Việt Nam………………………………………………………………..65
3.2.1. Xây dựng, ban hành và sửa đổi, bổ sung một số quy định pháp luật về giải
quyết việc làm……………………………………………………..…………….…...65
3.2.2. Hoàn thiện khung pháp luật về việc làm ..……………...……………….65
3.3. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết việc làm tại thành phố
Đà Nẵng………………………………………………………………………...66
3.3.1. Tăng cường các yếu tố đẩy mạnh phát triển kinh tế tạo việc làm mới.…66
3.3.2 Đẩy mạnh đào tạo nghề, phát triển nguồn nhân lực..……………………..67
3.3.3. Phát triển nguồn vốn, phát huy hiệu quả sử dụng vốn cho vay giải quyết
việc làm, giảm nghèo……………………………………………………………...…..68
3.3.4. Đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài…………………………………69
3.3.5. Hoàn thiện hệ thống thông tin thị trường lao động…......…………...……69
3.3.6. Nâng cao hiệu quả các Trung tâm dịch vụ việc ……………………………70
3.3.7. Tổ chức thực hiện ………………………….……….…………………………70
KẾT LUẬN ………………………………………………………………..…75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO …………………………………...76

5


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLLĐ

Bộ luật lao động

TTDVVL

Trung tâm dịch vụ việc làm

XKLĐ

Xuất khẩu lao động

QGQVL

Quỹ giải quyết việc làm

GDP

Tổng sản phẩm nội địa

ILO

Tổ chức lao động quốc tế

WTO

Tổ chức Thương mại Thế giới

ASEAN

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

AFTA

Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN

6


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động kiếm sống là hoạt động quan trọng nhất của thế giới động vật
nói chung và của con người nói riêng. Tuy nhiên, đối với con người kiếm sống
không chỉ là hoạt động đơn thuần giúp con người thích ứng với thiên nhiên, với
điều kiện sống mà qua đó còn cải tạo con người, biến con người từ sinh vật
hoang dã thành sinh vật xã hội có ý thức, tham gia vào các quan hệ xã hội. Hoạt
động kiếm sống của con người được gọi chung là việc làm hoặc thực hiện việc
làm.
Trong nền kinh tế thị trường, việc làm và thất nghiệp là vấn đề mang tính
tính chất toàn cầu, vấn đề này không loại trừ một quốc gia nào dù đó là nước
đang phát triển hay nước có nền kinh tế phát triển. Giải quyết việc làm, chống
thất nghiệp luôn là vấn đề nan giải. Với ý nghĩa của việc làm, Đảng và nhà nước
ta đã đề ra quan điểm đảm bảo việc làm cho người dân là mục tiêu xã hội hàng
đầu. Giải quyết việc làm, đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động, có nhu
cầu làm việc đều có cơ hội có việc làm là trách nhiệm của các cấp, các ngành và
của toàn xã hội. Đặc biệt trong bối cảnh suy thoái kinh tế ở Việt Nam hiện nay
thì vấn đề việc làm và giải quyết việc làm lại càng trở nên cấp thiết hơn.
Thành phố Đà Nẵng là một trong những vùng kinh tế trọng điểm của nước
ta nói chung và của khu vực Miền trung nói riêng. Đây là nơi có nhiều điều kiện
tự nhiên thuận lợi, lực lượng lao động dồi dào. Trong những năm gần đây, sự
quy hoạch đất đai tốt đã tạo nên một thành phố Đà Nẵng trẻ, đầy tiềm năng, đã
thu hút đông đảo người dân ở các tỉnh lân cận đến sống và làm việc. Do đó, vấn
đề giải quyết việc làm cho người lao động trên địa bàn thành phố là hết sức quan
trọng, góp phần không nhỏ cho sự phát triển bền vững của một Thành phố được
coi là trung tâm của miền trung. Chính vì thế tôi chọn đề tài “Giải quyết việc
làm theo pháp luật lao động Việt Nam và thực tiễn thực hiện tại thành phố Đà
Nẵng” làm luận văn Thạc sỹ luật học của mình với mong muốn góp phần hoàn

7


thiện pháp luật về việc làm và giải quyết việc làm ở Việt Nam nói chung và thực
tiễn giải quyết việc làm ở Thành phố Đà Nẵng nói riêng.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Lao động và việc làm có vai trò rất quan trọng, cho nên đề tài về lĩnh vực
này luôn tạo sức hút mạnh mẽ cho các nhà nghiên cứu, những chuyên gia kinh tế
pháp lý tiến hành nghiên cứu, tìm hiểu và đưa ra nhiều đề tài khoa học có giá trị.
Cho đến nay, đã có nhiều bài viết, nhiều đề tài, công trình nghiên cứu
khoa học về vấn đề này. Dưới góc độ kinh tế - xã hội có thể kể tới một số bài
viết trên các tạp chí như: “Giải quyết việc làm trong thời kỳ hội nhập” của tác
giả Nguyễn Thị Kim Ngân (Tạp chí Cộng sản số 23 năm 2007), “Giải quyết việc
làm cho lao động Việt Nam: Nghịch lý thiếu, thừa” của tác giả Lan Ngọc (Báo
Lao động số 291 ngày 16/12/2008), “Pháp luật lao động trong quá trình toàn
cầu hóa” của tác giả Phạm Trọng Nghĩa (Tạp chí nghiên cứu Lập pháp số 11
năm 2008), “Việc làm trong hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta” của tác giả
Nguyễn Tiệp (Tạp chí Lao động – Xã hội số 394 năm 2010), “Cho thuê lại lao
động và những yêu cầu đặt ra đối với việc điều chỉnh pháp luật lao động Việt
Nam” của tác giả Lê Thị Hoài Thu (Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học 28
năm 2012).
Bên cạnh đó là các đề tài khoa học: “Đánh giá việc thực hiện chiến lược
việc làm giai đoạn 2001-2005 và xây dựng chiến lược việc làm trong kỳ đại hội
X” của Viện Khoa học Lao động xã hội năm 2004, “Nghiên cứu, đánh giá tác
động về lao động, việc làm và xã hội sau khi Việt Nam gia nhập WTO và đề xuất
những giải pháp” của Cục Việc làm năm 2008, “Pháp luật lao động về việc làm
– Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Nguyễn Thắng Lợi năm 2010,
“Pháp luật về quan hệ lao động Việt Nam – Thực trạng và phương pháp hoàn
thiện” của ĐHQGHN do PGS.TS Lê Thị Hoài Thu chủ trì.
Một số công trình nghiên cứu dưới góc độ pháp lý như: Luận văn Thạc sỹ
luật học: “Việc làm và quy định của pháp luật về việc làm ở Việt Nam – Những
vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Nguyễn Văn Quynh (2003), “Pháp luật
8


lao động về việc làm và giải quyết việc làm ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập”
của tác giả Đinh Thị Nga Phượng (năm 2011), “Những vấn đề pháp lý cơ bản về
việc làm và giải quyết việc làm trong bối cảnh suy thoái kinh tế ở Việt Nam hiện
nay” của tác giả Lâm Thị Thu Huyền (2011). Ngoài ra, một số chuyên đề tốt
nghiệp như: “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính
sách giải quyết việc làm cho người lao động trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng”
của Đặng Phước Tuấn (2005),“Giải quyết việc làm cho người lao động thông
qua trung tâm dịch vụ việc làm ở Thành phố Đà Nẵng” của Huỳnh Thị Thu
Hiền (2007).
Các công trình nên trên đã đề cập một cách toàn diện các quy định pháp
luật về việc làm và giải quyết việc làm trên cả bình diện lý luận và thực tiễn.
Tuy nhiên, để có cái nhìn đa chiều và góp thêm tiếng nói nhằm hoàn thiện pháp
luật giải quyết việc làm trong giai đoạn hiện nay là việc làm hết sức cần thiết,
đặc biệt thực tiễn giải quyết việc làm tại Thành phố Đà Nẵng để góp phần làm
sáng tỏ thêm kho tàng lý luận về giải quyết việc làm ở nước ta trong điều kiện
hội nhập nền kinh tế thế giới.
3. Mục đích của việc nghiên cứu đề tài
Luận văn nghiên cứu với mục đích:
- Làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về việc làm, giải quyết việc làm; phân
tích các quy định của pháp luật hiện hành về giải quyết việc làm.
- Phân tích và đánh giá thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về
giải quyết việc làm tại Thành phố Đà Nẵng.
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật lao động về
giải quyết việc làm và một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết việc
làm tại Thành phố Đà Nẵng
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của
chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng và
9


Nhà nước ta về phát triển kinh tế - xã hội, về vấn đề việc làm và giải quyết việc
làm. Trong quá trình nghiên cứu các tác giả sẽ vận dụng các nguyên lý của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để phân tích làm sáng tỏ các nội
dung nghiên cứu.
Ngoài ra, luận văn sử dụng các phương pháp chủ yếu như: phương pháp
phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh, thống kê, điều tra... làm cơ sở cho quá
trình nghiêm cứu.
5. Ý nghĩa luận văn và thực tiễn của luận văn
Với kết quả nghiên cứu nêu trên, luận văn là nguồn tài liệu tham khảo cho
sinh viên các trường đại học chuyên luật và không chuyên luật cũng như cán bộ
nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách khi nghiên cứu về lĩnh vực này. Bên
cạnh đó, các cá nhân quan tâm, tìm hiểu pháp luật về giải quyết việc làm, về
thực tiễn thực hiện các chính sách giải quyết việc làm tại Thành phố Đà Nẵng
cũng có thể tham khảo.
Về mặt thực tiễn, luận văn góp phần thiết thực trong việc giải quyết hiệu
quả vấn đề việc làm trong phạm vi cả nước nói chung và tại thành phố Đà Nẵng
nói riêng.
6. Kết cấu của luận văn
Kết cấu của luận văn được xây dựng phù hợp với mục đích, nhiệm vụ và
phạm vi nghiên cứu. Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham
khảo, nội dung của luận văn gồm có ba chương:
Chương 1: Khái quát chung về giải quyết việc làm và pháp luật về giải
quyết việc làm.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về giải quyết việc làm và thực tiễn giải
quyết việc làm tại Thành phố Đà Nẵng.
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiểu quả giải
quyết việc làm ở Việt Nam và thực tiễn tại Thành phố Đà Nẵng.

10


Chương 1: Khái quát chung về giải quyết việc làm và pháp luật về giải
quyết việc làm
1.1. Khái quát chung về giải quyết việc làm
1.1.1. Quan niệm việc làm và giải quyết việc làm
1.1.1.1. Quan niệm việc làm
Việc làm có thể coi là sự tham gia của một cá thể vào tập hợp các hoạt
động có liên quan đến việc sản xuất ra một sản phầm hay dịch vụ nào đó mà
người khác có của cải và mong muốn mua được nó. Việc làm được coi là một
trong những vấn đề sống còn của toàn xã hội. Mọi hoạt động lao động tạo ra
nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm.
Có thể nhìn nhận việc làm ở hai góc độ khác nhau: dưới góc độ kinh tế xã hội và dưới góc độ pháp lý.
- Dưới góc độ kinh tế - xã hội:
Với mỗi quốc gia, việc làm là phản ánh quan trọng về thực trạng phát
triển kinh tế - xã hội của quốc gia đó, nó luôn là vấn đề được xã hội quan tâm
hàng đầu không chỉ ở riêng một quốc gia nào mà còn là vấn đề có tính toàn cầu,
phản ánh sự phát triển của lao động xã hội. Hoạt động kiếm sống là hoạt động
quan trọng nhất của thế giới động vật nói chung và con người nói riêng. Tuy
nhiên, đối với con người, kiếm sống không phải là hoạt động sinh vật đơn thuần
giúp con người thích ứng với tự nhiên, với điều kiện sống mà qua đó còn cải tạo
con người, biến con người từ sinh vật hoang dã thành sinh vật xã hội, có ý thức,
tham gia các quan hệ xã hội, hình thành xã hội.
Theo Phó cố vấn kinh tế Giăng Mu-tê, Văn phòng lao động quốc tế:
“Việc làm có thể được định nghĩa như một tình trạng trong đó có sự trả công
bằng tiền hoặc hiện vật, có một sự tham gia tích cực, có tính chất cá nhân và
trực tiếp vào nỗ lực sản xuất” [9, trang 10-11]
Theo Guy Hân-tơ, Viện phát triển hải ngoại Luân-đôn (Anh): “Việc làm
theo nghĩa rộng là toàn bộ các hoạt động kinh tế của một xã hội, nghĩa là tất cả
11


những gì quan hệ đến việc kiếm sống của con người, kể cả các quan hệ xã hội và
các tiêu chuẩn hành vi tạo thành khuôn khổ của quá trình kinh tế”.
Giáo sư Sô-nin và Phó Tiến sỹ Ê. Jit-nốp (Liên Xô cũ) lại cho rằng: “Việc
làm là sự tham gia của người có khả năng lao động vào một hoạt động xã hội có
ích trong khu vực xã hội hóa của sản xuất, trong học tập, trong công việc nội trợ,
trong kinh tế phụ của công trang viên”.
Đối với Tổ chức lao động quốc tế (ILO), thuật ngữ “việc làm” được đề
cập trong nhiều văn kiện như Tuyên ngôn Philadenphia năm 1944; “Chương
trình việc làm thế giới” năm 1969; Tuyên bố tại Hội nghị việc làm thế giới năm
1976; Công ước số 22 năm 1964... nhưng trong các văn kiện này chưa nêu ra
khái niệm “việc làm”. Đến tận Hội nghị quốc tế lần thứ 13 năm 1993 của các
nhà thống kê lao động, ILO mới đưa ra quan niệm về người có việc làm và
người thất nghiệp. Theo đó, người có việc làm được hiểu là những người làm
một việc gì đó được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật
hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì
lợi ích hay vì thu nhập gia đình không được nhận tiền công hoặc hiện vật; còn
người thất nghiệp là những người không có việc làm nhưng đang tích cực tìm
việc làm hoặc đang chờ trở lại việc làm. Gần đây nhất, năm 2005, Tổ chức Lao
động quốc tế đã đưa vào Từ điển chuyên ngành khái niệm “việc làm”. Theo đó,
“Việc làm là một công việc được trả công. Việc làm cũng đề cập đến số người tự
tạo việc làm và tham gia làm việc để được trả công” [21]. Đây là khái niệm ngắn
gọn, chỉ chung chung đến những công việc do cá nhân thực hiện cho chính bản
thân hoặc cho chủ thể khác để được trả công.
Có thể còn có nhiều khái niệm khác nữa về việc làm. Nhưng dù ở góc độ
nào, khái niệm đó đều thể hiện các tiêu chí định danh việc làm là những dạng
hoạt động lao động, trong đó có việc người lao động chi phí sức lao động của
mình với mục đích giành được lợi ích (thu nhập) nào đó, nhằm thỏa mãn như
cầu của bản thân, gia đình và xã hội.

12


Hoạt động lao động được coi là việc làm có thể được thể hiện dưới các
hình thức khác nhau, đó là: làm các công việc để nhận tiền công, tiền lương
bằng tiền mặt hoặc hiện vật cho công việc đó; làm các công việc để thu lợi
nhuận cho bản thân; làm công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả
thù lao dưới hình thức tiền công, tiền lương cho công việc đó. Như vậy, dù ở
hình thức nào, được trả thù lao trực tiếp hay gián tiếp, thù lao đó được thể hiện
bằng tiền mặt hay lợi ích vật chất khác thì việc làm cũng luôn thể hiện là các
hoạt động tiềm tàng khả năng tạo ra lợi ích hay thu nhập cho người bỏ sức lao
động tiến hành hoạt động đó.
Như vậy, xét về phương diện kinh tế - xã hội, có thể hiểu việc làm là các
hoạt động lao động, tạo ra, đem lại lợi ích, thu nhập và việc làm là dạng hoạt
động của mỗi cá nhân nhưng lại luôn gắn liền với xã hội và được xã hội công
nhận.
- Dưới góc độ pháp lý:
Quyền có việc làm được coi là quyền hiến định của mọi công dân. Tuy
nhiên, trước năm 1986, khái niệm việc làm chỉ bó hẹp trong phạm vi những gì
mà pháp luật cho phép. Trong giai đoạn này, chỉ những người trong biên chế
Nhà nước hoặc là xã viên hợp tác xã mới được coi là có việc làm nghiêm chỉnh.
Quan niệm này xuất phát từ việc đề cao các hình thức sở hữu được coi là thể
hiện bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa là quốc doanh và tập thể. Bên cạnh
đó, luật pháp cũng không thừa nhận sức lao động là một loại hàng hóa, không
thừa nhận có sự tồn tại của các hiện tượng kinh tế - xã hội như thất nghiệp, thị
trường lao động, quyền tự do kinh doanh của người dân. Nhà nước là chủ sở hữu
lớn nhất và cũng là chủ sử dụng lao động lớn nhất của nền kinh tế, có trách
nhiệm đảm bảo việc làm cho mọi người lao động theo kế hoạch. Từ quan niệm
trên, các quy định pháp lý về vấn đề việc làm chủ yếu thể hiện các chế độ như
tuyển dụng lao động, cho thôi việc đối với công nhân viên chức Nhà nước. Nhà
nước lo tất cả mọi vấn đề về việc làm cho lực lượng lao động trong biên chế từ
tiền lương, các chế độ bảo hiểm xã hội... cũng như các ưu đãi, phúc lợi xã hội
13


khác. Do vậy, khi đề cập đến việc làm ở khía cạnh pháp lý, người ta thường cho
rằng việc làm trước hết là quyền của người lao động. Điều 58 Hiến pháp 1980
khẳng định: “công dân có quyền có việc làm”.
Từ khi chuyển sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cơ
chế giải quyết việc làm đã có những thay đổi căn bản. Điều 55, Hiến pháp 1992
khẳng định: “Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân. Nhà nước và xã hội
có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho người lao động”. Trong bối cảnh
đó trên cơ sở tiếp thu và vận dụng có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế và hoàn
cảnh nước ta, Bộ luật Lao động được Quốc hội thông qua ngày 23/6/1994 đã
quy định tại Điều 13: “Mọi hoạt động lao động tạo ra thu nhập không bị pháp
luật cấm đều được thừa nhận là việc làm” và Điều 5, BLLĐ năm 1994 khẳng
định quyền làm việc và tự do lựa chọn việc làm: “Mọi người đều có quyền có
việc làm, lựa chọn việc làm và nghề nghiệp...Mọi hoạt động tạo ra việc làm, tự
tạo việc làm, dạy nghê và học nghề để có việc làm, mọi hoạt động sản xuất kinh
doanh thu hút nhiều lao động đều được Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện
thuận lợi hoặc giúp đỡ”.
Xét về mặt lịch sử pháp lý, đây là lần đầu tiên quan niệm về việc làm
được ghi nhận trong một văn bản pháp luật quan trọng của Nhà nước. Trước đó,
trong các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực lao động, tuy có ít nhiều đề
cập đến vấn đề việc làm nhưng chủ yếu là đề cập ở góc độ các cơ chế, chính
sách bảo đảm việc làm cho người lao động, chứ chưa đưa ra một quan niệm hay
định nghĩa chính thức về việc làm.
Khái niệm về việc làm được ghi nhận tại BLLĐ năm 1994 vẫn được giữ
nguyên qua các lần sửa đổi, bổ sung năm 2002, 2006 và 2007. Đến BLLĐ năm
2012, quan niệm về việc làm mặc dù được diễn đạt một cách ngắn gọn hơn
nhưng về cơ bản vẫn giống như quan niệm tại Điều 13, BLLĐ năm 1994: “Việc
làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm” (Điều
9).

14


Như vậy, trên cơ sở những quy định của BLLĐ, ta có thể hiểu một cách
khái quát nhất: Việc làm là một dạng hoạt động lao động, mang lại thu nhập cho
người lao động và được xã hội thừa nhận.
Từ quan niệm trên cho thấy, việc làm được cấu thành bởi ba yếu tố:
Thứ nhất, là hoạt động lao động, thể hiện sự tác động của sức lao động
của con người vào tư liệu sản xuất để tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ.
Thứ hai, việc làm tạo ra thu nhập, điều này chỉ rõ tính chất hữu ích và
nhấn mạnh tiêu thức tạo ra thu nhập của việc làm. Những hoạt động của con
người dù có tiêu tốn sức lực mà không tạo ra thu nhập, tức không vì mục đích
kiếm sống thì không được thừa nhận là việc làm.
Thứ ba, hoạt động đó không bị pháp luật cấm. Điều này chỉ rõ tính chất
pháp lý của việc làm. Hoạt động có ích không giới hạn về phạm vi, ngành nghề
và hoàn toàn phù hợp với sự phát triển của thị trường lao động ở Việt Nam trong
quá trình phát triển kinh tế nhiều thành phần. Người lao động hợp pháp ngày
nay được đặt vào vị trí chủ thể, có quyền tự do hành nghề, tự do liên doanh liên
kết, tự do tìm kiếm việc làm, tự do thuê mướn lao động trong khuôn khổ của
pháp luật, không bị phân biệt đối xử dù làm việc trong hay ngoài khu vực Nhà
nước. Điều này còn khẳng định tính chất pháp lý trong hoạt động của người lao
động thuộc khu vực ngoài Nhà nước và các khu vực phi chính thức.
Quan niệm về việc làm theo quy định tại BLLĐ năm 1994 và BLLĐ năm
2012 đã tiếp thu có chọn lọc các quan điểm, khái niệm về việc làm trên thế giới.
Nó mang tính khái quát cao và nêu bật được các yếu tố cấu thành việc làm.
Quan niệm một cách đúng đắn về việc làm sẽ là cơ sở để ban hành những chính
sách đảm bảo việc làm và giải quyết tốt vấn đề việc làm ở nước ta.
1.1.1.2. Quan niệm giải quyết việc làm
Giải quyết việc làm là một quá trình tạo ra môi trường hình thành các chỗ
làm và sắp xếp người lao động phù hợp với chỗ làm việc để có các chỗ làm việc

15


chất lượng, đảm bảo nhu cầu của cả người lao động và người sử dụng lao động,
đồng thời đáp ứng mục tiêu phát triển đất nước.
Giải quyết việc làm không chỉ là trách nhiệm của nhà nước mà là trách
nhiệm chung của toàn xã hội, các doanh nghiệp và ngay cả bản thân của người
lao động. Hiện nay, các chính sách của nhà nước luôn quan tâm chú trọng đến
việc tạo công ăn việc làm cho người lao động thông qua các văn bản quy phạm
pháp luật, các chương trình, chính sách hỗ trợ tới tận hộ gia đình, các cá nhân
sẵn sàng làm việc. Chính vì vậy, chính sách nhà nước là một trong những yếu tố
quan trọng tác động rất mạnh đến việc làm của người lao động, khuyến khích
các doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh như giảm thuế sử dụng đất, thuê
nhà xưởng, văn phòng, hỗ trợ về cơ sở hạ tầng nhằm phục vụ cho các công trình
sản xuất. Chính sách nhà nước tác động toàn diện đến vấn đề giải quyết việc
làm. Bên cạnh đó, các chương trình, chiến lược phát triển, các hoạt động cụ thể
của các doanh nghiệp tác động trực tiếp đến giải quyết việc làm cho người lao
động như đào tạo nghề, tuyển dụng, bố trí sản xuất phù hợp với nguồn lực và
yêu cầu.
Giải quyết việc làm còn có một ý nghĩa là tạo thêm được công ăn việc làm
mới cho người lao động. Ở đây là tạo thêm công ăn việc làm mới cho người lao
động mang tính chất là người lao động đang không có việc làm nay có việc làm
chứ không phải người lao động đang đi làm có thêm việc làm khác nữa. Vậy nên
giải quyết việc làm là tạo thêm việc làm mới từ các cơ chế chính sách của nhà
nước cũng như việc tuyển dụng thêm lao động của các doanh nghiệp.
Ngoài ra, hình thành môi trường cho sự kết hợp các yếu tố sức lao động
và tư liệu sản xuất. Ở đó thông qua cơ chế chính sách khuyến khích thu hút của
nhà nước, thông qua sự hoạt động đầu tư của nhà sản xuất nhằm tạo thêm nơi
làm việc mà người lao động có thể vận dụng sức lao động của mình vào sản xuất
của cải cho xã hội.
1.1.2. Vai trò của việc làm và giải quyết việc làm
1.1.2.1. Vai trò của việc làm
16


Việc làm có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, nó không thể thiếu
đối với từng cá nhân và toàn bộ nền kinh tế, là vấn đề cốt lõi và xuyên suốt trong
các hoạt động kinh tế, có mối quan hệ mật thiết với kinh tế và xã hội, nó chi
phối toàn bộ mọi hoạt động của cá nhân và xã hội.
Thứ nhất, đối với từng cá nhân thì có việc làm đi đôi với có thu nhập để
nuôi sống bản thân mình, vì vậy nó ảnh hưởng trực tiếp và chi phối toàn bộ đời
sống của cá nhân. Việc làm ngày nay gắn chặt với trình độ học vấn, trình độ tay
nghề của từng cá nhân, thực tế cho thấy những người không có việc làm thường
tập trung vào những vùng nhất định (vùng đông dân cư khó khăn về điều kiện tự
nhiên, cơ sở hạ tầng,..), vào những nhóm người nhất định (lao động không có
trình độ tay nghề, trình độ văn hoá thấp,..). Việc không có việc làm trong dài
hạn còn dẫn tới mất cơ hội trau dồi, nắm bắt và nâng cao trình độ kĩ năng nghề
nghiệp làm hao mòn và mất đi kiến thức, trình độ vốn có.
Ở khía cạnh pháp lý, có việc làm là quyền cơ bản của con người. Mỗi cá
nhân có khả năng lao động, có nhu cầu lao động đều có quyền được làm việc để
tạo ra thu nhập cho bản thân nếu hoạt động đó không trái pháp luật. Điều này đã
được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp luật quốc tế và pháp luật của nhiều
nước. Điều 2 Tuyên ngôn về quyền con người năm 1948 của Liên hợp quốc ghi
nhận: “Mọi người đều có quyền làm việc, tự do chọn nghề, được có những điều
kiện làm việc thuận lợi và chính đáng và được bảo vệ chống lại thất nghiệp”.
Điều 1 Công ước số 122 của ILO về chính sách việc làm năm 1964 cũng nêu rõ:
“Các nước thành viên phải tuyên bố và áp dụng một chính sách tích cực nhằm
xúc tiến toàn dụng lao động, có năng suất và được tự do lựa chọn” cho người
lao động. Ngay tại điều 5 BLLĐ năm 1994 của Việt Nam cũng khẳng định:
“Mọi người đều có quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm và nghề nghiệp, học
nghề và nâng cao trình độ nghề nghiệp, không bị phân biệt đối xử về giới tính,
dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo”. Về mặt pháp lý, những quy
định trên của quốc tế cũng như của quốc gia là cơ sở pháp lý để đảm bảo cho
mỗi cá nhân đều có việc làm và thu nhập, có được cuộc sống ổn định và bền
vững, đáp ứng nhu cầu tối thiểu của con người.
17


Thứ hai, đối với kinh tế thì lao động là một trong những nguồn lực quan
trọng, là đầu vào không thể thay thế đối với một số ngành, vì vậy nó là nhân tố
tạo nên tăng trưởng kinh tế và thu nhập quốc dân, nền kinh tế luôn phải đảm bảo
tạo cầu và việc làm cho từng cá nhân sẽ giúp cho việc duy trì mối quan hệ hài
hoà giữa việc làm và kinh tế, tức là luôn bảo đảm cho nền kinh tế có xu hướng
phát triển bền vững, ngược lại nó cũng duy trì lợi ích và phát huy tiềm năng của
người lao động.
Thứ ba, đối với xã hội thì mỗi một cá nhân, gia đình là một yếu tố cấu
thành nên xã hội, vì vậy việc làm cũng tác động trực tiếp đến xã hội, một mặt nó
tác động tích cực, mặt khác nó tác động tiêu cực. Khi mọi cá nhân trong xã hội
có việc làm thì xã hội đó được duy trì và phát triển do không có mâu thuẫn nội
sinh trong xã hội , không tạo ra các tiêu cực, tệ nạn trong xã hội, con người được
dần hoàn thiện về nhân cách và trí tuệ…Ngược lại khi nền kinh tế không đảm
bảo đáp ứng về việc làm cho người lao động có thể dẫn đến nhiều tiêu cực trong
đời sống xã hội và ảnh hưởng xấu đến sự phát triển nhân cách con người. Con
người có nhu cầu lao động ngoài việc đảm bảo nhu cầu đời sống còn đảm bảo
các nhu cầu về phát triển và tự hoàn thiện, vì vậy trong nhiều trường hợp khi
không có việc làm sẽ ảnh hưởng đến lòng tự tin của con người, sự xa lánh cộng
đồng và là nguyên nhân của các tệ nạn xã hội. Ngoài ra khi không có vệc làm
trong xã hội sẽ tạo ra các hố ngăn cách giàu nghèo là nguyên nhân nảy sinh ra
các mâu thuẫn và nó ảnh hưởng đến tình hình chính trị.
Vai trò của việc làm đối với từng cá nhân, kinh tế, xã hội là rất quan
trọng. Vì vậy, để đáp ứng được nhu cầu việc làm của toàn xã hội đòi hỏi Nhà
nước phải có những chiến lược, kế hoạch cụ thể đáp ứng được nhu cầu này.
1.1.2.2. Vai trò của giải quyết việc làm
Giải quyết việc làm là một trong những chính sách xã hội cơ bản của mọi
quốc gia nhằm góp phần đảm bảo an toàn, ổn định và phát triển xã hội. Hội nghị
thượng đỉnh Cophenhagen, 3/1995 coi mở rộng việc làm là một trong những nội
dung cơ bản nhất của chiến lược phát triển xã hội của các nước trên thế giới năm
18


2010. Đối với nước ta, giải quyết việc làm cho người lao động, hạn chế thất
nghiệp ở tỷ lệ thấp là một trong những mục tiêu kinh tế vĩ mô mà Nhà nước
thường xuyên quan tâm thực hiện.
Chính sách giải quyết việc làm có mối quan hệ biện chứng với các chính
sách kinh tế - xã hội khác, đặc biệt là mối quan hệ chặt chẽ giữa chính sách việc
làm với các chính sách như: chính sách dân số, chính sách giáo dục – đào tạo,
chính sách cơ cấu kinh tế, chính sách công nghệ...
Chính sách giải quyết việc làm kéo theo các chính sách phát triển giáo
dục để nhằm đào tạo nguồn lực phù hợp cung cấp cho thị trường lao động. Trên
cơ sở về cơ cấu dân số, chính sách giải quyết việc làm cũng được xây dựng phù
hợp.
Giải quyết việc làm vừa có ý nghĩa về mặt kinh tế, vừa có ý nghĩa về mặt
chính trị và xã hội. Các chính sách về giải quyết việc làm phù hợp sẽ giảm tỉ lệ
thất nghiệp, giảm các tệ nạn xã hội. Ngược lại, thực hiện không tốt công tác giải
quyết việc làm giúp, nhất là trong giai đoạn kinh tế suy thoái, nạn thất nghiệp sẽ
tăng và cùng với nó là tình trạng đói nghèo, các tệ nạn sẽ dễ dàng phát sinh. Khi
đó gánh nặng sẽ đè lên các chính sách về bảo trợ xã hội, an ninh xã hội. Tình
trạng bất ổn trong công tác giải quyết việc làm kéo dài có thể gây ra bất ổn về
chính trị, xã hội.
1.2. Pháp luật về giải quyết việc làm
1.2.1. Nguyên tắc cơ bản của pháp luật về giải quyết việc làm
Nguyên tắc bảo đảm quyền tự do việc làm của công dân. Khoản 1, điều 5
BLLĐ quy định quyền của người lao động: “a) Làm việc, tự do lựa chọn việc
làm, nghề nghiệp, học nghề, nâng cao trình độ nghề nghiệp và không bị phân
biệt đối xử; b) Hưởng lương phù hợp với trình độ kỹ năng nghề trên cơ sở thoả
thuận với người sử dụng lao động; được bảo hộ lao động, làm việc trong điều
kiện bảo đảm về an toàn lao động, vệ sinh lao động; nghỉ theo chế độ, nghỉ
hằng năm có lương và được hưởng phúc lợi tập thể; c) Thành lập, gia nhập,
hoạt động công đoàn, tổ chức nghề nghiệp và tổ chức khác theo quy định của
19


pháp luật; yêu cầu và tham gia đối thoại với người sử dụng lao động, thực hiện
quy chế dân chủ và được tham vấn tại nơi làm việc để bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của mình; tham gia quản lý theo nội quy của người sử dụng lao động;
d) Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật; đ)
Đình công”. Đây là sự khẳng định quyền làm việc và tự do lựa chọn việc làm
của người lao động, cũng nhằm khẳng định và cụ thể một nguyên tắc hiến định
rất tiến bộ tại Điều 5 Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm
1992 “Lao động là quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”, điều đó cũng phù
hợp với nguyên tắc tự do việc làm của pháp luật quốc tế.
Nguyên tắc cấm cưỡng bức, ngược đãi người lao động. Theo khoản 2 và
3 điều 8 BLLĐ quy định các hành vi bị nghiêm cấm: “2) Ngược đãi người lao
động, quấy rối tình dục tại nơi làm việc; 3) Cưỡng bức người lao động”.
Nguyên tắc này nhằm đảm bảo quyền lợi cho người lao động. Theo đó, trong
quan hệ lao động, người sử dụng lao động vốn có lợi thế hơn so với người lao
động, nên người sử dụng lao động không bị ép buộc người lao động tiến hành
những việc làm trái với ý muốn của họ hoặc ngược đãi họ. Ở khía cạnh nào đó,
nguyên tắc này như là sự bổ sung cho nguyên tắc bảo đảm quyền tự do việc làm.
Tuy nhiên, xét ở bình diện rộng hơn, nguyên tắc này bảo vệ nhân quyền và
chống lại ách nô dịch việc làm.
Nguyên tắc bảo đảm sự bình đẳng trong lĩnh vực việc làm: Đây là nguyên
tắc thể hiện nguyên tắc “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật”(Điều 52,
Hiến pháp), được quy định tại các Điều 7và 8 BLLĐ. Theo đó mọi công dân đều
có quyền bình đẳng về cơ hội có việc làm, được đối xử bình đẳng đối với mọi
việc làm và được trả công ngang nhau khi làm những công việc như nhau,
không bị phân biệt đối xử về giới tính, dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng,
tôn giáo. Nguyên tắc này, xa hơn là bảo vệ quyền bình đẳng cơ hội việc làm của
người lao động.
Nguyên tắc thực hiện một số ưu đãi đối với một số đối tượng đặc thù.
Nguyên tắc này xuất phát từ thực tế không phải ai cũng có khả năng làm việc, có
20


được cơ hội việc làm như nhau do có sự khác nhau trong những vấn đề như: giới
tính, mức độ trưởng thành hay những đặc điểm đặc thù khác nhau như là người
tàn tật, người có hoàn cảnh đặc biệt, yếu thế, nhất là trong điều kiện cạnh tranh
lao động ngày càng gay gắt. Do vậy, chính sách giải quyết việc làm đã dành cho
các đối tượng cụ thể như: Tại chương X, BLLĐ có những quy định riêng đối với
lao động nữ như chính sách của Nhà nước đối với lao động nữ; Nghĩa vụ của
người sử dụng lao động đối với lao động nữ; Bảo vệ thai sản đối với lao động
nữ; Quyền đơn phương chấm dứt, tạm hoãn hợp đồng lao động của lao động nữ
mang thai; Nghỉ thai sản; Bảo đảm việc làm cho lao động nữ nghỉ thai sản; Trợ
cấp nghỉ để chăm sóc con ốm, khám thai, thực hiện các biện pháp tránh thai;
Quy định một số công việc không được sử dụng lao động nữ. Chương XI, BLLĐ
quy định lao động chưa thành niên và một số lao động khác như lao động là
người cao tuổi; lao động là người khuyết tật; lao động là người giúp việc gia
đình; người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, lao động cho các tổ
chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam, người lao động làm việc trong lĩnh vực
nghệ thuật, thể dục thể thao, người lao động nhận công việc về làm tại nhà.
Chính sách pháp luật có những ưu đãi nhất định nhằm hỗ trợ họ có được những
cơ hội việc làm, hòa nhập với cộng đồng, khắc phục những yếu thế đặc thù của
họ. Đây cũng là một nội dung trong chính sách xã hội của Nhà nước.
Nguyên tắc khuyến khích mọi hoạt động tạo ra việc làm và hỗ trợ tạo ra
việc làm. Khoản 2, 3, 4 và 5, điều 12 BLLĐ quy định về chính sách hỗ trợ phát
triển việc làm của Nhà nước, cụ thể: “2) Có chính sách bảo hiểm thất nghiệp,
các chính sách khuyến khích để người lao động tự tạo việc làm; hỗ trợ người sử
dụng lao động sử dụng nhiều lao động nữ, lao động là người khuyết tật, lao
động là người dân tộc ít người để giải quyết việc làm.3) Khuyến khích, tạo điều
kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài đầu tư phát
triển sản xuất, kinh doanh để tạo việc làm cho người lao động. 4) Hỗ trợ người
sử dụng lao động, người lao động tìm kiếm và mở rộng thị trường lao động ở
nước ngoài. 5) Thành lập Quỹ quốc gia về việc làm để hỗ trợ cho vay ưu đãi tạo
việc làm và thực hiện các hoạt động khác theo quy định của pháp luật. ”. Ngoài
21


ra, Nhà nước có biện pháp bảo đảm việc làm, chống sa thải người lao động
nhưng đào tạo, đào tạo lại nghề, chính sách đối với lao động dôi dư, quy định
chỉ tiêu tạo việc làm mới bắt buộc trong chương trình dự án phát triển kinh tế xã hội, ưu đãi đối với các dự án sử dụng lao động tại chỗ, sử dụng lao động Việt
Nam... Nguyên tắc này vừa thể hiện trách nhiệm của Nhà nước và thể hiện trách
nhiệm của xã hội, của người sử dụng lao động và của bản thân người lao động
trong vấn đề giải quyết việc làm.
Nguyên tắc bảo vệ người lao động. Nguyên tắc này nhằm bảo vệ quyền
lợi của người lao động. Trước hết là bảo vệ việc làm cho người lao động như:
Quy định về thời gian thử việc, về ký kết hợp đồng lao động, về điều chuyển
công tác phải tuân theo những quy trình chặt chẽ. Trong quá trình làm việc, pháp
luật cũng quy định thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi phù hợp. Người lao
động còn được tham gia Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế để được chăm sóc sức
khỏe, được bảo hiểm khi ốm đau và được nhận lương hưu khi hết tuổi lao động.
Trong trường hợp bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp người lao động được
đảm bảo điều kiện cấp cứu, điều trị, điều dưỡng... để phục hồi sức khỏe. Nếu
còn tiếp tục làm việc thì được sắp xếp công việc phù hợp. Khi người lao động
thôi việc hoặc bị mất việc làm do điều kiện kinh tế khó khăn thì người sử dụng
lao động phải trả tiền trợ cấp mất việc làm.
1.2.2. Nội dung cơ bản của pháp luật về giải quyết việc làm
Giải quyết việc làm là một trong những chính sách quan trọng của mỗi
quốc gia có tác động không chỉ đối với sự phát triển kinh tế mà còn đối với đời
sống xã hội của mỗi quốc gia.
Giải quyết việc làm, đảm bảo việc làm cho người lao động được quy định
tại Điều 13 BLLĐ năm 1994 như sau: “Giải quyết việc làm, đảm bảo cho mọi
người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm là trách nhiệm của Nhà
nước, của các Doanh nghiệp và toàn xã hội”. Điều 9 BLLĐ năm 2012 cũng
khẳng định: “Nhà nước, người sử dụng lao động và xã hội có trách nhiệm tham
gia giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ
22


hội có việc làm”. Đây là những khẳng định có tính chất tuyên ngôn của Nhà
nước về vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động. Theo đó, giải quyết việc
làm còn bao gồm phát triển kinh tế - xã hội nhằm tạo việc làm, khuyến khích
mọi tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển kinh tế nhằm tự tạo việc làm cho mình và
cho xã hội. Điều này có nghĩa là, vấn đề tự tạo việc làm cho bản thân chịu tác
động của việc thực hiện hàng loạt cơ chế pháp lý khác như quyền tự do kinh
doanh, tự do cư trú, bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh
tế, khuyến khích đầu tư... Còn việc làm cho người lao động trong quan hệ với
người sử dụng lao động chịu sự tác động của các chế độ pháp lý như quyền được
lao động, tự do tìm kiếm việc làm, tự do cư trú hợp đồng lao động, dạy nghề,
bảo đảm việc làm, thất nghiệp...
Do vậy, có thể khẳng định, giải quyết việc làm là một chính sách lớn của
Nhà nước thông qua hàng loạt cơ chế, biện pháp pháp lý và kinh tế - xã hội và
bảo đảm các vấn đề xã hội. Đó cũng là nội dung điều chỉnh của pháp luật về vấn
đề việc làm.
1.2.2.1. Hoàn thiện thể chế phát triển thị trường lao động:
Trong những năm đổi mới, nhất là từ giai đoạn 2001 đến nay, hệ thống
pháp luật kinh tế tiếp tục được hoàn thiện đã góp phần tạo nên thị trường lao
động phát triển. Bộ luật lao động năm 1994, sửa đổi bổ sung năm 2002 và 2006,
Bộ luật lao động năm 2012, Luật bảo hiểm xã hội, Luật dạy nghề, Luật người
lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, các nghị định, thông tư liên quan
tới lao động, thị trường lao động và việc làm đã hoàn thiện khung pháp lý cho
thị trường lao động phát triển, tăng cường cơ hội việc làm và hoàn thiện quan hệ
lao động. Các chế độ về tiền lương, thu nhập, trợ cấp ngày càng hoàn thiện, góp
phần nâng cao năng suất lao động và cải thiện thu nhập của người lao động.
Mặc dù vậy, nhiều ý kiến cho rằng, chính sách pháp luật về việc làm của
nhà nước ta hiện nay không phù hợp và khó thực hiện. Các quy định chủ yếu
điều chỉnh đối với lao động có quan hệ lao động, còn các đối tượng khác như
việc làm ở khu vực phi chính thức, khu vực nông thôn chưa được quy định cụ
23


thể. Nhiều quy định mới chỉ được thể hiện bằng các văn bản dưới luật, tính pháp
lý chưa cao, chưa phù hợp với tình hình thực tiễn. Các chính sách còn mang tính
chung chung, chưa rõ ràng, cụ thể. Còn thiếu các chính sách về bình đẳng việc
làm, việc làm an toàn, các quy định về việc làm đầy đủ, việc làm bán thời gian;
các khái niệm, định nghĩa về thị trường lao động chưa được xác định rõ; các giải
pháp hỗ trợ của Nhà nước chưa đầy đủ, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn... gây
khó khăn trong hoạt động quản lý và tổ chức thực hiện trong lĩnh vực việc làm.
Việc triển khai tại một số địa phương gặp nhiều lúng túng, vướng mắc do
cơ chế chồng chéo, không phân rõ trách nhiệm giữa các cơ quan thực hiện. Một
số địa phương, doanh nghiệp không thực hiện đầy đủ các chính sách đã được
ban hành, ví dụ như: quy định về việc thành lập Quỹ Giải quyết việc làm địa
phương; đảm bảo tỷ lệ lao động là người tàn tật; việc thực hiện các chế độ đối
với người lao động; triển khai chương trình, dự án gắn với quy hoạch nguồn
nhân lực cũng như kế hoạch tạo việc làm cho người lao động...
Các dự án cho vay giải quyết việc làm từ Quỹ Quốc gia về việc làm chủ
yếu là dự án trong lĩnh vực nông nghiệp, chiếm trên 60%. Đối tượng vay là các
cơ sở sản xuất kinh doanh chiếm tỷ lệ thấp - dưới 10% nên chưa tạo thêm nhiều
việc làm mới. Một số dự án cho vay sai mục đích, không đúng đối tượng; nhu
cầu vay vốn lớn nhưng nguồn vốn chỉ đáp ứng được 30-35% nhu cầu của nhân
dân. Cơ chế quản lý, sử dụng nguồn vốn chưa hợp lý gây ảnh hưởng đáng kể
đến hoạt động của quỹ…
1.2.2.2. Kết nối cung cầu lao động
Hệ thống dịch vụ việc làm được phát triển từ năm 1992 qua Chương trình
việc làm quốc gia theo Nghị quyết số 120/1992/NQ-HĐBT ngày 11/4/1992, đã
tạo môi trường pháp lý phát triển dịch vụ kết nối cung-cầu về lao động, tăng
cường cơ hội để người lao động tiếp cận thông tin về việc làm, lựa chọn công
việc. Đặc biệt, với việc sửa Điều 18 của Bộ luật lao động năm 1995, Nghị định
số 19/2005/NĐ-CP ngày 28/5/2005 và Nghị định số 71/2008/NĐ-CP của Chính
phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 19/2005/NĐ-CP đã từng
24


bước hoàn thiện khung pháp lý cho dịch vụ việc làm. Cùng với các trung tâm
giới thiệu việc làm công lập, các doanh nghiệp cũng được phép hoạt động giới
thiệu việc làm, kể cả sự tham gia của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài.
1.2.2.3. Hỗ trợ lao động di chuyển
Chính phủ đã thực hiện các chương trình hỗ trợ di cư đến các vùng kinh tế
mới; hỗ trợ di dân thực hiện định canh định cư đối với đồng bào dân tộc thiểu số
(Quyết định số 33/2007/QĐ-TTg); Chương trình di dân gắn với xóa đói giảm
nghèo (thuộc nội dung của Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo giai
đoạn 2006- 2010). Các chương trình di dân đã đáp ứng một phần về tái phân bổ
nguồn lao động, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế vùng, góp phần ổn định đời
sống cho đồng bào dân tộc thiểu số và bảo vệ an ninh quốc phòng.
Các quy định về cư trú, đăng ký hộ khẩu tại các khu đô thị, các thành phố
lớn ngày càng thông thoáng. Luật Cư trú (năm 2007) đã mở rộng quyền cư trú
của công dân, giúp cho việc di chuyển lao động dễ dàng hơn. Các chính sách
phát triển đô thị, các khu công nghiệp, khu chế xuất, các vùng kinh tế trọng
điểm... cũng có tác động kích thích di chuyển lao động, nhất là di chuyển nông
thôn - đô thị, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động, nâng cao điều kiện về việc
làm và thu nhập cho lao động nông thôn.
1.2.2.4. Tín dụng ưu đãi cho sản xuất, kinh doanh
Thông qua việc ban hành gần 20 chính sách tín dụng ưu đãi, sử dụng cơ
chế cho vay tín dụng thông qua các chương trình, tổ chức, hội đoàn thể, Nhà
nước hỗ trợ vốn sản xuất, kinh doanh cho các nhóm yếu thế như lao động nghèo,
lao động nông thôn, lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, lao động
vùng chuyển đổi sử dụng đất nông nghiệp, các tổ chức kinh doanh thu hút nhiều
lao động.
- Đối với các cá nhân, tổ chức kinh doanh: Chương trình Việc làm quốc
gia được thành lập theo Nghị quyết số 120/1992/NQ-HĐBT ngày 11/4/1992 có

25


x

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×