Tải bản đầy đủ

Tiểu luận giữa kỳ môn: Pháp luật Việt Nam về các vấn đề xã hội (10đ)

`

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
KHOA LUẬT VÀ QUẢN LÝ XÃ HỘI
---oOo---

BÀI TIỂU LUẬN GIỮA KỲ MÔN

Pháp luật Việt Nam về các vấn đề xã hội

Sinh viên

: xxx

Ngày sinh

: xxx

Mã sinh viên

: xxx


Chuyên ngành

: KHQL

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2015


ĐỀ BÀI
Nội dung về Phòng, chống tệ nạn nghiện ma túy:
1. Định nghĩa, đặc điểm và hậu quả của tệ nạn nghiện ma túy
2. Nội dung, yêu cầu của pháp luật về phòng, chống tệ nạn nghiện ma túy.

2


MỞ ĐẦU

Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ của nền kinh tế toàn cầu,
các tệ nạn xã hội cũng bùng phát mạnh mẽ, với nhiều biểu hiện ngày càng tinh vi, có
tổ chức chặt chẽ, vượt ra khỏi biên giới quốc gia đã gây ra những hiểm họa lớn cho
toàn nhân loại. Tệ nạn xã hội với những biểu hiện thường gặp là mại dâm, cờ bạc,
tham nhũng, trộm cướp, chủ nghĩa khủng bố, băng đản xã hội đen (mafia), các loại
hình tội phạm đã xuất hiện từ lâu, là những mối đe dọa trực tiếp đến tính mạng và
tài sản, đến trật tự an ninh xã hội và các chuẩn mực đạo đức, truyền thống văn hóa
của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Trong đó không thể nào không kể đến tệ nạn
nghiện ma túy – nó thực sự trở thành vấn đề toàn cầu, đã và đang gây ra hậu quả
nghiêm trọng về tính mạng, sức khỏe, đời sống kinh tế, văn hóa và đạo đức của con
người. Chính vì vậy tôi đã chọn đề tài “Nội dung, yêu cầu của pháp luật Việt Nam
về phòng, chống tệ nạn nghiện ma túy” để làm bài tiểu luận này và cũng để góp một
phần nhỏ sức mình vào công cuộc phòng, chống tệ nạn nghiện ma túy đang diễn ra
vô cùng phức tạp hiện nay ở nước ta.

3


I – KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TỆ NẠN NGHIỆN MA TÚY

1. Ma túy
a. Ma túy là gì?

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì “Ma túy là bất kỳ chất gì khi đưa vào
cơ thể sống có thể làm thay đổi một hay nhiều chức năng sinh lý của cơ thể”.
Theo Chương trình kiểm soát ma túy quốc tế của Liên hợp quốc (UNDCP)
năm 1991 thì “Ma túy là những chất độc, có tính gây nghiện, có nguồn gốc tự nhiên
hoặc nhân tạo. Khi xâm nhập vào cơ thể con người có tác dụng thay đổi tâm trạng,
ý thức và trí tuệ, làm cho con người bị lệ thuộc vào chúng, gây nên những tổn
thương cho cá nhân người sử dụng và cả cộng đồng”.
Theo từ điển Tiếng việt (Wikipedia) thì “ Ma túy là tên gọi chung chỉ những
chất kích thích khi dùng một lần có thể gây nghiện có nguồn gốc tự nhiên hay nhân
tạo. Những chất này khi đưa vào cơ thể sống sẽ làm thay đổi trạng thái nhận thức
và sinh lý.”
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về ma túy nhưng chúng ta thể khái quát
một cách đơn giản và ngắn gọn về ma túy như sau:
“Ma túy hay còn gọi là “cái chết trắng” đó là một số chất tự nhiên hoặc
chất tổng hợp (hóa học) khi đưa vào cơ thể người bằng bất kỳ hình thức nào sẽ
gây ức chế hoặc kích thích mạnh hệ thần kinh, làm giảm đau hoặc có thể gây ảo
giác, nếu sử dụng nhiều lần có thể gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng”.
b. Nguồn gốc :
Theo khái niệm cuối cùng thì ma túy có nguồn gốc:
Ma túy tự nhiên là sản phẩm của các cây trồng tự nhiên và các chế phẩm của
chúng như thuốc phiện, cần sa, cocain.
Ma túy bán tổng hợp là các chất ma túy được chế từ ma túy tự nhiên và một
số chất phụ gia khác, có tác dụng mạnh hơn chất ma túy ban đầu. Ví dụ: Heroin là
một loại ma túy bán tổng hợp được chiết xuất từ cây thuốc phiện, bằng cách chế
thuốc phiện với các hóa chất để tạo ra morphine và sau đó kết tủa thành heroin dạng
thô.

4


Ma túy tổng hợp là các loại ma túy được điều chế bằng phương pháp tổng
hợp hóa học toàn phần từ hóa chất như: thuốc lắc, ma túy đá…
c. Hình thức sử dụng ma tuý: chủ yếu là hút, hít, tiêm chích thuốc phiện, hêrôin.
Hiện nay, hình thức sử dụng ma tuý tổng hợp, thuốc lắc đang có xu hướng phát triển
mạnh trong thanh niên và học sinh, sinh viên.
d. Tác hại của ma túy:
Thứ nhất, ma túy là những chất độc, có tính gây nghiện ( nghĩa là chất kích

thích và ức chế thần kinh, dễ gây ra tình trạng nghiện đối với người sử dụng), ảnh
hưởng xấu đến sức khỏe người sử dụng. Khi xâm nhập vào cơ thể sẽ gây thay đổi
tâm trạng, ý thức và trí tuệ, làm cho con người bị lệ thuộc vào chúng và tạo nên
những tác động tiêu cực cho con người và đời sống cộng đồng.
Thứ hai, việc sử dụng, tiêm chích, nghiện hút, tàng trữ và buôn bán ma túy
đang là hiểm họa lớn của toàn nhân loại, làm gia tăng tội phạm như trộm cắp, bạo
lực, tham nhũng, vắt kiệt nguồn nhân lực, tài chính, hủy diệt nhiều tiềm năng xã hội.
Thứ ba, ma túy làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, các giá trị
truyền thống, tàn phá cuộc sống yên vui và hạnh phúc gia đình, gây xói mòn đạo
đức, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn xã hội và an ninh quốc gia.
Thứ tư, ma túy là tác nhân, là con đường trực tiếp chủ yếu làm lây lan đại
dịch thế kỷ HIV/ AIDS ( chiếm trên 70% số người bị nhiễm HIV là do người sử
dụng ma túy gây ra)…….
Vì những lý do trên ma túy đã và đang là một tệ nạn xã hội đặc biệt nghiêm
trọng cần được ngăn chặn, đẩy lùi và xóa bỏ hoàn toàn.
3. Khái niệm tệ nạn nghiện ma túy
a. Tệ nạn xã hội là gì?
Đó là các hiện tượng xã hội bao gồm những hành vi sai lệch với chuẩn mực
xã hội,vi phạm đạo đức và pháp luật, gây hậu quả xấu về mọi mặt đối với đời sống
xã hội.

5


Tệ nạn là một trong những nguyên nhân chính phát sinh tội phạm. Có nhiều tệ
nạn xã hội, ví dụ như: nghiện ma túy, cờ bạc, mê tín, tham nhũng, quan liêu ...
nhưng nguy hiểm nhất là tệ nạn nghiện ma túy.
b. Nghiện ma túy là gì?
Ma tuý vẫn đang còn là một vấn đề nhức nhối của xã hội. Ma tuý không chỉ
huỷ hoại sức khoẻ con người mà còn khiến nhiều gia đình rơi vào cảnh khánh kiệt,
bần cùng. Ma tuý không chỉ là nguyên nhân của các mối bất hoà trong gia đình mà
còn là nguyên nhân dẫn đến phạm tội và gây mất trật tự, an toàn xã hội.
Theo Tổ chức Y tế thế giới thì “Nghiện ma túy là là trạng thái nhiễm độc chu
kỳ hoặc mãn tính, gây tác hại cho cá nhân và xã hội do dùng lặp lại một chất ma
túy tự nhiên hay tổng hợp”.
- Theo nghĩa rộng: nghiện ma túy là tình trạng một bộ phận trong xã hội là những
người có thói quen dùng các chất ma túy, thường tìm mọi thủ đoạn, hành vi để có
được các chất ma túy và sử dụng chúng bất chấp sự nghiêm cấm của pháp luật và dư
luận xã hội.
- Theo nghĩa hẹp: nghiện ma túy là sự lệ thuộc của con người cụ thể đối với các chất
ma túy. Sự lệ thuộc đó đã tác động lên hệ thần kinh trung ương tạo nên những phản
xạ có điều kiện không thể quên hoặc từ bỏ được.
c. Người nghiện ma túy là gì?
Người nghiện ma túy là người thường xuyên lệ thuộc vào thuốc gây nghiện
(được gọi chung là ma túy như: heroin, cocain, moocfine, thuốc phiện, cần sa…) có
sự thèm muốn mãnh liệt khó cưỡng lại được, khi không sử dụng ma túy sẽ xuất hiện
hội chứng cai (Theo Thông tư số 22/LB-TT ngày 21/7/1994 Liên Bộ Lao động
Thương binh và Xã hội – Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện, quyết định 167/TTg
ngày 08/4/1994 của Thủ tướng Chính phủ).
Theo Luật phòng, chống ma túy năm 2000 thì “ Người nghiện ma túy là
người sử dụng chất ma túy, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần và bị lệ thuộc vào
các chất này”.
d. Tệ nạn nghiện ma túy là gì?
6


Đó một loại tệ nạn xã hội mà nạn nhân có thói quen sử dụng chất ma tuý dẫn
đến tình trạng lệ thuộc vào ma tuý khó có thể bỏ được.
Có thể nói, nghiện ma tuý là loại tệ nạn đáng quan tâm nhất hiện nay, vì nó
thu hút số thanh thiếu niên sa ngã vào con đường nghiện ngập ngày một tăng.
Nghiện ma tuý làm suy kiệt trí tuệ, sức khoẻ, giống nòi. Nghiện ma tuý cũng là
đồng hành với tội phạm và là một trong những con đường ngắn nhất dẫn tới lây
nhiễm HIV/AIDS.
Theo báo cáo của Cục phòng, chống tệ nạn xã hội (Bộ Lao động - Thương
binh và Xã hội), trong 10 năm trở lại đây, ở Việt Nam đã có khoảng 10 vạn người
nghiện ma tuý, trong đó có tới 70% số người nghiện dưới 30 tuổi, đặc biệt có tới
50% tổng số người nghiện là trẻ em (dưới 16 tuổi). Sa vào ma túy là con đường
ngắn nhất dẫn tới sự hủy hoại chính mình ở cả hiện tại và tương lai; mà các em bị
hủy hoại, tức là ảnh hưởng đến tương lai của đất nước. Đây là một vấn đề gây nhiều
bao lo lắng, bức xúc cho các nhà giáo dục và toàn xã hội nói chung.
Ngoài ra, số liệu của Bộ Y tế cũng cho biết, hiện cả nước có hơn 197.000
người nhiễm HIV, trong đó năm 2011 có hơn 14.000 người xét nghiệm phát hiện
nhiễm HIV và hầu hết ở lứa tuổi khá trẻ, từ 20 - 39 tuổi chiếm 82% và lây truyền
qua đường máu (46,7%) và tình dục (41,4%) là chủ yếu. Mặc dù tỷ lệ nhiễm
HIV/AIDS giảm dần, tuy nhiên, nguy cơ tiềm tàng cao ở nhóm nghiện chích ma tuý
vẫn đang là mối nguy cho cả cộng đồng.
Trong những năm gần đây tệ nạn ma tuý và tội phạm ma tuý ở nước ta diễn
biến rất phức tạp. Ma tuý đã vào trường học, rình rập từng nhà, từng ngõ ngách gây
ra những cái chết dần chết mòn không những cho người nghiện, mà cả gia đình họ.
Nghiện ma tuý cũng là nguyên nhân gây ra những tệ nạn xã hội khác. Đa số người
nghiện ma tuý, để có tiền mua ma tuý đều phạm tội trộm cắp, cướp giật, lừa đảo.
Theo một nguồn thông tin, khoảng 75% các tội phạm hình sự có nguyên nhân bắt
nguồn từ những người nghiện ma tuý. Đa số những người bị nhiễm HIV/AIDS là
những người nghiện hút.
e, Các giai đoạn của nghiện ma tuý:

7


Các biểu hiện thường gặp ở người vừa sử dụng ma tuý: Sau khi người sử
dụng ma tuý vừa sử dụng xong một liều ma tuý thì nhìn chung tinh thần hưng
phấn,vẻ mặt xung mãn, đỏ mặt, mắt đỏ và ướt, trông hoạt bát khác thường. Nếu tuổi
còn trẻ họ thường dễ bị khiêu khích, muốn tìm cảm giác mạnh, gây gổ đánh nhau, tự
rạch tay, dùng thuốc lá đốt chân tay…
Các dấu hiệu trên được biểu hiện cụ thể qua các giai đoạn sau :
Giai đoạn 1: Sau khi dùng 5 – 10 phút, biểu hiện phổ biến là mắt đỏ và trông
ướt long lanh, sau đó chuyển qua sụp mi mắt, ngồi tại chỗ mắt lim dim, gãi chân tay,
vò đầu, bứt tóc… thể hiện rõ nhất tong trường hợp dùng thuốc phiện pha lẫn
seduxen. Những biểu hiện này người nhà khó phát hiện ra nó thường sảy ra ở nơi
hút chích
Giai đoạn 2: Sau 10 đến 20 phút, mắt đỏ ướt, đồng tử teo, giọng nói khàn
khàn, uống nhiều nước lạnh, tâm lý ở trạng thái hưng phấn cao, nói nhiều, cử chỉ và
động tác thiếu chính xác. Nếu có tật thì tật thường xuất hiện ở mức cao như vuốt
mũi, nhổ râu, nặn mụn, cắn móng tay, lấy ráy tai.
Giai đoạn 3: Sau 90 phút người sử dụng ma tuý tìm chỗ yên tĩnh để thưởng
thức cơn phê. Lúc này họ nằm như ngủ, nhưng không ngủ lại hút nhiều thuốc lá, tàn
thuốc vung vãi. Quan sát nơi họ nằm thường thấy chăn màn thủng do tàn thuốc lá
rơi vào, bề bộn đồ đạc, hôi, người sử dụng ma tuý sợ tắm, sợ ồn ào.
f. Một số đặc trưng chủ yếu của người nghiện ma tuý :
- Về thực lực: Sống phụ thuộc vào ma tuý, sức khoẻ suy yếu, nhiều bệnh tật phát
sinh, dễ mắc các bệnh truyền nhiễm.
- Về tinh thần: luôn tỏ ra thất vọng, lập dị, suy sụp về các giá trị về tinh thần, thiếu ý
trí quyết tâm, mất niềm tin vào cuộc sống.
- Về tâm lý: không có khả năng suy nghĩ, tư duy, trí nhớ giảm, mất phương hướng,
không có hứng thú trong sinh hoạt. Luôn tìm những câu trả lời chỉ cốt để đáp ứng
mong muốn của người khác nhằm lẩn trốn bản thân. Lời nói không đi đôi với việc
làm, xuất hiện các biểu hiện tiêu cực.
- Về xã hội: ít quan hệ (các quan hệ công khai chính đáng), sống vật vờ, cô lập và xa
lánh mọi người .
8


g. Nguyên nhân dẫn đến nghiện ma túy:
Vì đối tượng nghiện ma túy vô cùng đa dạng ở mọi lứa tuổi, nghề nghiệp,
thành phần xã hội và giới tính nên nguyên nhân dẫn đến của tình trạng nghiện ma
túy rất đa dạng nhưng chủ yếu do những nguyên nhân sau: bị bạn bè lôi kéo, rủ rê,
thích tìm cảm giác lạ, đua đòi lối sống ăn chơi, thích tìm khoái lạc, chơi trội, buồn
chán căng thẳng, không có giải pháp khi bị thất nghiệp hoặc bi quan trước tiền đồ,
cuộc sống, phong tục tập quán (đồng bào vùng cao cho rằng hút thuốc phiện là thú
vui), trình độ dân trí thấp, các thành viên trong gia đình không quan tâm đến nhau,
nạn sản xuất, tàng trữ, vận chuyển ma tuý, buôn bán, sử dụng ma tuý chưa được
nghiêm trị ở mọi lúc, mọi nơi, do lạm dụng các thuốc giảm đau khi chữa bệnh, hoặc
có vấn đề sức khỏe tâm thần…..
Với những hậu quả và tác hại vô cùng nghiêm trọng đến bản thân, gia đình
và xã hội từ tệ nạn nghiện ma túy gây ra thì nhà nước đã ban hành nhiều văn bản
nhằm phòng, chống và tiến tới xóa bỏ tệ nạn nghiện ma túy trong đời sống.

9


II – NỘI DUNG VÀ YÊU CẦU CỦA PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG CHỐNG TỆ NẠN
NGHIỆN MA TÚY

1. Khái niệm phòng, chống ma tuý?
Phòng, chống tệ nạn nghiện ma tuý là phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh
chống tệ nạn nghiện ma tuý và kiểm soát các hoạt động hợp pháp liên quan đến tệ
nạn nghiện ma tuý.
2. Nội dung và yêu cầu của pháp luật Việt Nam về Phòng, chống tệ nạn nghiện
ma túy:
Các chính sách về phòng, chống tệ nạn ma túy, nghiện ma túy được nhà nước
thể chế, cụ thế hóa bằng các văn bản pháp luật sau:
a) Luật số 23 năm 2000 của Quốc hội về Phòng, chống ma túy:
CHƯƠNG I:

Điều 4:
1. Phòng, chống ma tuý là trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức và
của toàn xã hội.
2. Nhà nước có chính sách khuyến khích, bảo vệ cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức
tham gia phòng, chống tệ nạn ma tuý; tổ chức đấu tranh chống các tội phạm về ma
tuý và sử dụng đồng bộ các biện pháp kinh tế, pháp luật, văn hoá, xã hội, nghiệp vụ
để tuyên truyền, vận động nhân dân, cán bộ, công chức và cán bộ, chiến sĩ thuộc lực
lượng vũ trang nhân dân tham gia phòng, chống tệ nạn ma tuý; kết hợp phòng,
chống tệ nạn ma tuý với phòng, chống các loại tội phạm, HIV/AIDS và các tệ nạn
xã hội khác.
Điều 5
1. Nhà nước Việt Nam thực hiện các điều ước quốc tế về phòng, chống ma tuý và
các điều ước quốc tế khác có liên quan mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký
kết hoặc tham gia trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và
các bên cùng có lợi; hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế, tổ chức, cá nhân
nước ngoài trong hoạt động phòng, chống ma tuý.
2. Cá nhân, tổ chức nước ngoài nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú, đi lại trên
lãnh thổ Việt Nam có trách nhiệm tuân thủ các quy định của Luật này và các quy
định khác của pháp luật Việt Nam về phòng, chống ma tuý.
CHƯƠNG II: TRÁCH NHIỆM PHÒNG, CHỐNG MA TUÝ

Điều 6,7,8, 9, 10,11,12 : Trách nhiệm của Cá nhân, gia đình, Nhà trường và
các cơ sở giáo dục, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, các tổ
chức khác, Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, Các cơ quan thông tin,
tuyên truyền về phòng, chống ma túy.
Điều 6: Cá nhân, gia đình có trách nhiệm:
10


1. Giáo dục thành viên trong gia đình, thân nhân về tác hại của ma tuý và thực hiện
quy định của pháp luật về phòng, chống ma tuý; quản lý chặt chẽ, ngăn chặn thành
viên trong gia đình tham gia tệ nạn ma tuý;
2. Thực hiện đúng chỉ định của thầy thuốc về sử dụng thuốc gây nghiện, thuốc
hướng thần để chữa bệnh;
3. Đấu tranh với các hành vi trái phép về ma tuý của thân nhân và của người khác;
4. Tham gia, hỗ trợ hoạt động cai nghiện ma tuý tại các cơ sở cai nghiện và tại cộng
đồng; theo dõi, giúp đỡ người đã cai nghiện ma tuý hoà nhập cộng đồng; phòng,
chống tái nghiện.
Điều 7: Cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức có trách nhiệm phát hiện, cung cấp
nhanh chóng các thông tin về tệ nạn ma tuý cho cơ quan công an hoặc cơ quan khác
có thẩm quyền. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải xem xét, giải quyết kịp thời
những thông tin, tố giác về tệ nạn ma tuý.
Điều 8
1. Cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức có trách nhiệm phát hiện, báo cáo kịp thời
cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền việc trồng cây có chứa chất ma tuý; tham gia
triệt phá cây có chứa chất ma tuý do chính quyền địa phương tổ chức.
2. Tại các vùng phải xoá bỏ cây có chứa chất ma tuý, các cơ quan nhà nước trong
phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tổ chức thực hiện chủ
trương, chính sách của Nhà nước về phát triển sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp để
thay thế việc trồng cây có chứa chất ma tuý; quy hoạch cơ cấu nông nghiệp, lâm
nghiệp, công nghiệp, dịch vụ và thị trường phù hợp để nhân dân chuyển hướng sản
xuất có hiệu quả.
Điều 9: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, các tổ chức khác
trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm:
1. Tổ chức và phối hợp với cơ quan có thẩm quyền tuyên truyền, giáo dục nhân dân
kiến thức, pháp luật về phòng, chống ma tuý; xây dựng môi trường xã hội lành
mạnh, văn minh;
2. Phòng ngừa, ngăn chặn người của tổ chức mình và mọi công dân tham gia tệ nạn
ma tuý;
3. Giám sát hoạt động phòng, chống ma tuý ở cơ quan, nhà trường, các cơ sở giáo
dục khác và địa bàn dân cư;
4. Phối hợp với chính quyền các cấp, các cơ quan có thẩm quyền để vận động cai
nghiện ma tuý; tham gia giáo dục, dạy nghề, tìm việc làm và giúp đỡ người đã cai
nghiện ma tuý hoà nhập cộng đồng; phòng, chống tái nghiện.
Điều 10: Nhà trường và các cơ sở giáo dục khác có trách nhiệm:
1. Tổ chức thực hiện chương trình giáo dục về phòng, chống ma tuý; giáo dục pháp
luật về phòng, chống ma tuý và lối sống lành mạnh cho học sinh, sinh viên, học
viên; quản lý chặt chẽ, ngăn chặn học sinh, sinh viên, học viên tham gia tệ nạn ma
tuý;
11


2. Phối hợp với gia đình, cơ quan, tổ chức và chính quyền địa phương để quản lý,
giáo dục học sinh, sinh viên, học viên về phòng, chống ma tuý;
3. Phối hợp với cơ quan y tế và chính quyền địa phương tổ chức xét nghiệm khi cần
thiết để phát hiện học sinh, sinh viên, học viên nghiện ma tuý.
Điều 11: Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân trong phạm vi nhiệm vụ,
quyền hạn của mình có trách nhiệm tổ chức phòng, chống ma tuý ở cơ quan, đơn vị
mình; phòng ngừa, ngăn chặn cán bộ, công chức và cán bộ, chiến sĩ thuộc lực lượng
vũ trang nhân dân tham gia tệ nạn ma tuý; tuyên truyền, động viên cán bộ, công
chức và cán bộ, chiến sĩ thuộc lực lượng vũ trang nhân dân và nhân dân phát hiện,
tố giác, đấu tranh với tệ nạn ma tuý.
Điều 12: Các cơ quan thông tin, tuyên truyền có trách nhiệm phối hợp với cơ quan,
tổ chức, đơn vị vũ trang nhân dân tổ chức tuyên truyền, giáo dục để nhân dân nhận
thức rõ về tác hại của ma tuý; chủ trương, chính sách, pháp luật, biện pháp của Nhà
nước về phòng, chống ma tuý.
Điều 13
1. Cơ quan chuyên trách phòng, chống tội phạm về ma tuý thuộc Công an nhân dân
được tiến hành một số hoạt động sau đây:
A) Chủ trì phối hợp với các cơ quan hữu quan thực hiện các hoạt động ngăn chặn,
đấu tranh chống các tội phạm về ma tuý tại các địa bàn biên giới và nội địa;
B) Áp dụng các biện pháp nghiệp vụ trinh sát cần thiết để phát hiện tội phạm về ma
tuý;
C) Trưng cầu giám định mẫu vật, mẫu phẩm sinh học cần thiết để phát hiện tội
phạm về ma tuý;
D) Yêu cầu cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức có liên quan cung cấp thông tin, tài
liệu, tình hình tài chính và tài khoản tại ngân hàng khi có căn cứ cho rằng có hành vi
quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5 và 8 Điều 3 của Luật này;
Đ) Yêu cầu cơ quan bưu điện mở bưu kiện, bưu phẩm để kiểm tra khi có căn cứ cho
rằng trong bưu kiện, bưu phẩm đó có chất ma tuý, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc
hướng thần;
E) áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ người tố giác, người làm chứng và
người bị hại trong các vụ án về ma tuý.
2. Cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức quy định tại các điểm d và đ khoản 1 Điều
này khi được cơ quan chuyên trách phòng, chống tội phạm về ma tuý yêu cầu có
trách nhiệm thực hiện nghiêm chỉnh các yêu cầu đó.
3. Chính phủ quy định cụ thể về điều kiện, thủ tục, thẩm quyền và trách nhiệm của
cơ quan chuyên trách phòng, chống tội phạm về ma tuý trong việc thực hiện các
hoạt động quy định tại khoản 1 Điều này.
Điều 14
1. Cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức tham gia các hoạt động phòng, chống ma tuý
được Nhà nước bảo vệ và giữ bí mật.
12


2. Trường hợp cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức do tham gia phòng, chống ma tuý
mà bị thiệt hại về tài sản thì được Nhà nước đền bù; trường hợp cá nhân bị thương
tích, tổn hại về sức khoẻ hoặc bị thiệt hại về tính mạng thì bản thân hoặc gia đình
được hưởng chế độ, chính sách đặc biệt theo quy định của Chính phủ.
3. Cơ quan công an, hải quan, bộ đội biên phòng, cảnh sát biển, viện kiểm sát, toà án
và chính quyền các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách
nhiệm thực hiện quy định tại khoản 1 Điều này.
b, Quyết định số 50 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc kiện toàn Ủy ban
Quốc gia phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma tuý, mại dâm.
Điều 6. Trách nhiệm cụ thể của các cơ quan là Thành viên Ủy ban Quốc gia phòng,
chống ma tuý:
1. Bộ Công an: Là cơ quan thường trực về phòng, chống tệ nạn ma tuý;
6. Văn phòng Chính phủ: tổng hợp các hoạt động chung về công tác phòng, chống tệ
nạn ma tuý để báo cáo Thủ tướng Chính phủ;
7. Bộ Tài chính
a) Chủ trì xây dựng dự toán ngân sách nhà nước theo dự toán và bảo đảm đủ và kịp
thời kinh phí chi từ hàng năm cho công tác phòng, chống tệ nạn ma tuý;
b) Chỉ đạo Tổng cục Hải quan trong việc chủ trì và phối hợp với Bộ Quốc phòng,
Bộ Công an kiểm soát và ngăn chặn việc vận chuyển chất ma túy, thuốc gây nghiện
trái phép vào Việt Nam và từ Việt Nam ra nước ngoài.
8. Bộ Kế hoạch và Đầu tư:
a) Phối hợp với Bộ Tài chính và các Bộ, ngành liên quan xây dựng dự toán ngân
sách hàng năm cho công tác phòng, chống tệ nạn ma tuý.
9. Bộ Tư pháp:
Phối hợp với các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu, đề xuất hoàn thiện hệ thống văn
bản quy phạm pháp luật về phòng, chống tệ nạn ma tuý;
10. Bộ Văn hoá - Thông tin:
Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan chỉ đạo thực hiện công tác thông tin
tuyên truyền về phòng, chống tệ nạn ma tuý.
11. Bộ Giáo dục và Đào tạo:
Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan chỉ đạo, tổ chức công tác giáo dục về
phòng, chống tệ nạn ma tuý trong các cơ sở giáo dục.
12. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn:
Chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng, Ủy ban Dân tộc và các địa phương chỉ đạo
việc tuyên truyền, vận động việc xoá bỏ cây có chứa chất ma túy và chuyển đổi cơ
cấu cây trồng thay thế cây có chứa chất ma tuý.
13


13. Bộ Công nghiệp:
Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan ban hành và thực hiện các quy định
về quản lý tiền chất, chất gây nghiện và chất hướng thần trong lĩnh vực sản xuất
công nghiệp;
14. Ủy ban Dân tộc:
Phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Quốc phòng chỉ đạo việc
chuyển đổi sản xuất thay thế cây có chứa chất ma tuý; phối hợp với Bộ Công an, Bộ
Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Quốc phòng chỉ đạo công tác phòng, chống
AIDS và phòng, chống tệ nạn ma tuý, mại dâm ở miền núi và vùng dân tộc ít người.
15. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam:
Chủ trì việc vận động các tầng lớp nhân dân trong cả nước triển khai công tác
phòng, chống tệ nạn ma tuý gắn liền với cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng
đời sống văn hoá ở khu dân cư.
16. Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Đoàn
Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Nông dân Việt Nam và các tổ chức chính
trị - xã hội, căn cứ chức năng, nhiệm vụ triển khai công tác phòng, chống AIDS và
phòng, chống tệ nạn ma tuý, mại dâm cho đoàn viên, hội viên; phối hợp với các Bộ,
ngành, các địa phương huy động sức mạnh toàn dân tham gia vào công tác phòng,
chống tệ nạn ma tuý.
Điều 7. Tổ chức chỉ đạo công tác phòng, chống tệ nạn ma tuý ở các Bộ, ngành
Trung ương và địa phương:
1. Các Bộ, ngành Trung ương:
Căn cứ vào đặc điểm, yêu cầu cụ thể của từng ngành, cơ quan để thành lập
Ban Chỉ đạo phòng, chống tệ nạn ma tuý giúp Thủ trưởng Bộ, ngành chỉ đạo, triển
khai và phối hợp công tác phòng, chống tệ nạn ma tuý của Bộ, ngành mình. Ban Chỉ
đạo do một lãnh đạo Bộ, ngành làm Trưởng ban. Trường hợp không thành lập Ban
Chỉ đạo thì Thủ trưởng cơ quan phải phân công một lãnh đạo phụ trách công tác này
và bố trí công chức chuyên trách hoặc kiêm nhiệm giúp lãnh đạo theo dõi, tổng hợp
chung.
Thủ trưởng các Bộ, ngành quyết định thành lập Ban Chỉ đạo, quy định chức
năng, nhiệm vụ, thành phần và ban hành Quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo phòng,
chống tệ nạn ma tuý.
2. Ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương:
a) Thành lập Ban Chỉ đạo phòng, chống tệ nạn ma tuý tại các tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương (sau đây gọi tắt là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) để giúp Chủ tịch Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo, triển khai phòng, chống tệ nạn ma tuý trên địa bàn
tỉnh và do Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh làm Trưởng ban;
Ban Chỉ đạo và các thành viên Ban Chỉ đạo do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
quyết định.
14


b) Thành lập bộ phận chuyên trách đặt tại Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để
giúp Ban Chỉ đạo phối hợp, lồng ghép, kiểm tra, đôn đốc các hoạt động về phòng,
chống tệ nạn ma tuý (thuộc biên chế của Văn phòng Ủy ban nhân dân) và phân công
một Phó Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phụ trách bộ phận này;
c) Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, thành phần và Quy chế hoạt động của Ủy ban
Quốc gia, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu
thành viên và ban hành Quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo cấp tỉnh và hướng dẫn
cấp dưới xây dựng Quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo phù hợp, thống nhất, gọn
nhẹ và hoạt động có hiệu quả.
3. Ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi tắt là cấp huyện):
a) Thành lập Ban Chỉ đạo phòng, chống tệ nạn ma tuý cấp huyện do một lãnh đạo
Ủy ban nhân dân cấp huyện làm Trưởng ban. Ban Chỉ đạo và các thành viên Ban
Chỉ đạo do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định;
b) Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp huyện có nhiệm vụ giúp việc Ban Chỉ đạo. Tuỳ
theo tính chất, đặc điểm và yêu cầu cụ thể của từng địa phương có thể tổ chức bộ
phận chuyên trách hoặc bố trí công chức chuyên trách trong Văn phòng Hội đồng
nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện theo dõi, tổng hợp chung và phân công một
Phó Văn phòng trực tiếp phụ trách công tác này;
c) Căn cứ chức năng, nhiệm vụ, thành phần và Quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo
cấp tỉnh và hướng dẫn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp
huyện quy định chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu thành viên và ban hành Quy chế của
Ban Chỉ đạo cùng cấp.
4. Ở xã, phường, thị trấn (sau đây gọi tắt là cấp xã):
a) Căn cứ vào đặc điểm, yêu cầu của công tác phòng, chống tệ nạn ma tuý của từng
địa phương mà Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định thành lập Ban Chỉ đạo
phòng, chống tệ nạn ma tuý;
b) Trường hợp không thành lập Ban Chỉ đạo, phân công một lãnh đạo Ủy ban nhân
dân cấp xã theo dõi, chỉ đạo chung công tác này. Bộ phận giúp việc do Văn phòng
Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp xã đảm nhận.
5. Kinh phí hoạt động: Kinh phí hoạt động của Ban Chỉ đạo phòng, chống tệ nạn
ma tuý ở các Bộ, ngành, địa phương do Ngân sách nhà nước bảo đảm theo quy định
hiện hành của Luật Ngân sách nhà nước;
CHƯƠNG IV: CAI NGHIỆN MA TUÝ

Điều 25: Nhà nước có chính sách khuyến khích việc tự nguyện cai nghiện ma tuý;
áp dụng chế độ cai nghiện đối với người nghiện ma tuý;
Điều 26
1. Người nghiện ma tuý có trách nhiệm:

15


A) Tự khai báo về tình trạng nghiện ma tuý của mình với cơ quan, tổ chức nơi làm
việc hoặc chính quyền cơ sở nơi cư trú và tự đăng ký hình thức cai nghiện;
B) Tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về cai nghiện ma túy.
2. Gia đình có người nghiện ma tuý có trách nhiệm:
A) Báo cho chính quyền cơ sở về người nghiện ma tuý trong gia đình mình và tình
trạng nghiện của người đó;
B) Giúp người nghiện ma tuý cai nghiện tại gia đình theo sự hướng dẫn, giám sát
của cán bộ y tế và chính quyền cơ sở;
C) Theo dõi, giám sát, phòng ngừa, ngăn chặn người nghiện sử dụng trái phép chất
ma tuý hoặc có hành vi gây mất trật tự, an toàn xã hội;
D) Hỗ trợ cơ quan có thẩm quyền đưa người nghiện ma tuý vào cơ sở cai nghiện và
đóng góp kinh phí cai nghiện theo quy định của pháp luật.
Điều 34: Uỷ ban nhân dân các cấp nơi có người nghiện ma tuý có trách nhiệm lập
kế hoạch tổ chức cai nghiện và phòng, chống tái nghiện ma tuý tại địa phương; chỉ
đạo cơ quan lao động - thương binh và xã hội chủ trì phối hợp với cơ quan công an,
y tế, giáo dục và đào tạo cùng cấp và các cơ quan, tổ chức có liên quan tổ chức cai
nghiện ma tuý, quản lý, giáo dục người nghiện ma tuý và người đã cai nghiện ma
tuý; hỗ trợ, tạo điều kiện cho người đã cai nghiện ma tuý hoà nhập cộng đồng.
CHƯƠNG VI: HỢP TÁC QUỐC TẾ VỀ PHÒNG, CHỐNG MA TUÝ

Điều 46
Nhà nước Việt Nam thực hiện chính sách hợp tác quốc tế đa phương và song
phương trong lĩnh vực phòng, chống ma tuý trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ
quyền quốc gia với các nước trong khu vực Đông Nam á và các nước khác trên thế
giới;
Điều 47
Trên cơ sở các quy định của Luật này và các điều ước quốc tế có liên quan mà Việt
Nam ký kết hoặc tham gia, các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thực hiện các
chương trình hợp tác về phòng, chống ma tuý với các cơ quan hữu quan của các
nước, các tổ chức quốc tế, tổ chức, cá nhân nước ngoài.
Điều 48
Việc phối hợp giữa các cơ quan hữu quan của Việt Nam với nước có liên quan để
giải quyết vụ việc cụ thể về ma tuý phải tuân theo các quy định của điều ước quốc tế
mà Việt Nam và nước có liên quan đã ký kết hoặc tham gia, hoặc theo thoả thuận
trực tiếp giữa Chính phủ Việt Nam với Chính phủ nước có liên quan.
Điều 49
1. Nhà nước Việt Nam dành ưu tiên cho nước ký kết điều ước quốc tế song phương
với Việt Nam sự tương trợ tư pháp trong điều tra, truy tố, xét xử các tội phạm về ma
tuý.
2. Nhà nước Việt Nam có thể từ chối tương trợ tư pháp trong các trường hợp sau:
16


A) Yêu cầu tương trợ tư pháp không phù hợp với các điều ước quốc tế về phòng,
chống ma tuý mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia và pháp luật Việt Nam;
B) Việc thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp gây tổn hại đến chủ quyền, an ninh
quốc gia hoặc lợi ích quan trọng khác của Việt Nam.
Điều 50
Trong trường hợp Việt Nam và nước có liên quan không cùng tham gia điều ước
quốc tế đa phương hoặc chưa ký với nhau điều ước quốc tế song phương thì các cơ
quan tư pháp của Việt Nam trong khuôn khổ pháp luật và thực tiễn của mình, được
thoả thuận trực tiếp với cơ quan tư pháp của nước có liên quan trong việc điều tra,
truy tố, xét xử tội phạm về ma tuý.
Điều 51
Nhà nước Việt Nam thực hiện yêu cầu chuyển giao hàng hoá có kiểm soát trên cơ sở
điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia để phát hiện và truy cứu trách
nhiệm hình sự đối với người phạm tội về ma tuý. Quyết định sử dụng biện pháp này
được tiến hành theo thoả thuận giữa các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và
của nước có liên quan.
CHƯƠNG VII: KHEN THƯỞNG VÀ XỬ LÝ VI PHẠM

Điều 52: Cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức có thành tích trong đấu tranh phòng,
chống ma tuý thì được khen thưởng theo quy định của pháp luật.
Điều 53
1. Mọi hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống ma tuý phải được xử lý kịp thời,
nghiêm minh theo quy định của pháp luật; việc xử lý phải kiên quyết, công khai và
thông báo cho cơ quan, tổ chức, chính quyền cơ sở nơi người vi phạm làm việc hoặc
cư trú.
2. Người nào sử dụng tài sản, phương tiện của mình để chứa chấp hoặc tạo điều kiện
cho các hoạt động trái phép về ma tuý; không thực hiện hoặc thực hiện không đầy
đủ yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền về phòng, chống ma tuý; cản trở, chống đối,
xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của người tố giác, người làm
chứng, người bị hại, người thi hành công vụ hoặc có hành vi khác vi phạm các quy
định của Luật này thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý hành chính
hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy
định của pháp luật.
3. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm các quy định của Luật này trong
khi thi hành nhiệm vụ về phòng, chống ma tuý thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi
phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì
phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Điều 54: Việc khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với các vi phạm
pháp luật về phòng, chống ma tuý được thực hiện theo quy định của pháp luật về
giải quyết khiếu nại, tố cáo.

17


III – TRÁCH NHIỆM CỦA BẢN THÂN TÔI TRONG VIỆC PHÒNG, CHỐNG
TỆ NẠN NGHIỆN MA TÚY:

Học tập, nghiên cứu nắm vững những quy định của pháp luật của nhà
nước đối với công tác phòng, chống ma tuý và nghiêm chỉnh chấp hành.
Không sử dụng ma tuý dưới bất kỳ hình thức nào. Không tàng trữ, vận
chuyển, mua bán hoặc làm những việc khác liên quan đến ma tuý.
Khuyên nhủ bạn học, người thân của mình không sử dụng ma tuý hoặc tham
gia các hoạt đông vận chuyển, mua bán ma tuý. Khi phát hiện những Học sinh,
Sinh viên có biểu hiện sử dụng ma tuý hoặc nghi vấn buôn bán ma tuý phải báo cáo
kịp thời cho Thầy, Cô giáo để có biện pháp ngăn chặn.
Nâng cao cảnh giác tránh bị đối tượng xấu rủ rê, lôi kéo vào các việc làm
phạm pháp, kể cả việc sử dụng và buôn bán ma tuý.
Có ý thức phát hiện những đối tượng có biểu hiện nghi vấn dụ dỗ học sinh,
sinh viên sử dụng ma tuý hoặc lôi kéo Học sinh, Sinh viên vào hoạt động vận
chuyển, mua bán ma tuý; báo cáo kịp thời cho Thầy, Cô giáo hoặc cán bộ có trách
nhiệm của nhà trường.
Phát hiện những đối tượng bán ma tuý xung quanh khu vực trường học và
kịp thời báo cáo cho Thầy, Cô giáo, cán bộ nhà trường.
Phát hiện và báo cáo kịp thời cho chính quyền địa phương những đối tượng
mua bán, tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và những nghi vấn khác xảy ra ở địa
bàn mình cư trú hoặc tạm trú.
Tích cực tham gia phong trào phòng, chống ma tuý do nhà trường, tổ chức
đoàn, tổ chức hội phụ nữ phát động.
Hưởng ứng và tham gia thực hiện những công việc cụ thể, góp phần thực hiện
nhiệm vụ phòng, chống ma tuý tại nơi cư trú, tạm trú do chính quyền địa phương
phát động.
Ký cam kết không vi phạm pháp luật, không tham gia các tệ nạn xã hội,
trong đó có tệ nạn ma tuý;

18


KẾT LUẬN
Nghiện ma túy hay lệ thuộc ma túy hiện đã được khoa học chứng minh là một
căn bệnh của não bộ mang bản chất mãn tính và tái diễn, khiến cho người nghiện
phải thôi thúc kiếm tìm để sử dụng cho dù biết rõ các hậu qủa của nó mang lại cho
bản thân và những người xung quanh. Việc sử dụng trái phép chất ma túy là nguyên
nhân gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng về kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng. Từ
nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã xác định tệ nạn ma túy là hiểm họa lớn cho
toàn xã hội gây tác hại cho sức khỏe, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người,
phá hoại hạnh phúc gia đình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội
và an ninh quốc gia, đe dọa sự ổn định, phát triển và thành quả đổi mới của đất
nước. Phòng, chống tệ nạn ma túy phải có cả sự phối, kết hợp, đoàn kết của tất cả
mọi công dân, mọi địa phương trên toàn quốc để ngăn chặn, đẩy lùi và tiến tới xóa
bỏ hoàn toàn “cái chết trắng” ở Việt Nam để tiến tới xây dựng một nước dân giàu
nước mạnh, dân chủ và văn minh!!!

19



x

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×