Tải bản đầy đủ

Chuyên đề cải cách hành chính

NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
CỦA CƠ QUAN CHÍNH QUYỀN VÀ CÔNG CHỨC,
NĂNG LỰC KINH DOANH CỦA DOANH NHÂN
CGKT. Vũ Quốc Tuấn
MỤC LỤC
Mục đích, ý nghĩa của chuyên đề
Phần một. Nâng cao năng lực quản lý nhà nước của cơ quan chính
quyền và công chức
I.Thực trạng và vấn đề
1. Quan niệm và chủ trương
2. Thực trạng và vấn đề
II. Kiến nghị một số giải pháp
1. Những điểm chung về giải pháp
2. Nâng cao tính chuyên nghiệp
3. Kết hợp các lực lượng
4. Nắm vững khâu mấu chốt
5. Nói đi đôi với làm
6. Thực sự phục vụ nhân dân
7. Trau dồi văn hóa quản lý
Phần hai. Nâng cao năng lực kinh doanh của doanh nhân
I. Thực trạng và vấn đề

1. Sự hình thành tầng lớp doanh nhân ở Việt Nam
2. Thực trạng doanh nhân nước ta hiện nay và vấn đề đặt ra
II. Kiến nghị một số giải pháp
1. Rèn luyện tinh thần kinh doanh
2. Về chiến lược, chiến thuật trong kinh doanh
3. Ứng dụng công nghệ tiên tiến và quản trị hiện đại
4. Xây dựng và phát huy nguồn lực con người
5. Nâng cao tầm cỡ, tham gia chuỗi sản xuất và kinh doanh
quốc tế
6. Đề cao văn hóa kinh doanh
7. Đổi mới và sáng tạo không ngừng
Kết luận

CIEM _ Trung tâm Thông tin – Tư liệu

1


Mục đích, ý nghĩa của chuyên đề
Từ khi công cuộc Đổi Mới được triển khai đến nay, để phù hợp với yêu cầu
xây dựng nền kinh tế thị trường, chức năng, nhiệm vụ của bộ máy hành
chính nhà nước đã có sự chuyển biến rất cơ bản. Sự chuyển biến nay có tác
động rất lớn đến năng lực kinh doanh của doanh nhân. Chính vì vậy, rất
cần nghiên cứu những vấn đề liên quan đến năng lực quản lý nhà nước
trong mối tương quan với năng lực kinh doanh của doanh nhân.
Chuyên đề này có mục đích:
- Phân tích thực trạng của năng lực quản lý nhà nước của cơ quan chính
quyền và công chức trong bộ máy hành chính nhà nước và năng lực kinh
doanh của doanh nhân; những chỗ được và chưa được so với yêu cầu của
thời kỳ mới: phát triển đất nước bền vững và hội nhập kinh tế quốc tế thành
công;
- Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao năng lực quản lý nhà nước của
cơ quan chính quyền và công chức trong bộ máy hành chính nhà nước và
năng lực kinh doanh của doanh nhân, trong đó đi sâu vào những giải pháp
riêng của từng nhóm đối tượng song có mối liên quan chặt chẽ giữa hai
nhóm đó.
Ý nghĩa của Chuyên đề:
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Nhà nước và doanh nghiệp được
xác định là chủ thể; hơn nữa, hiện nay, nền kinh tế nước ta đang gặp những
khó khăn rất lớn, vì vậy, việc nâng cao năng lực quản lý của cơ quan chính

quyền cũng như của doanh nhân có ý nghĩa rất quan trọng. Chuyên đề cố
gắng đi sâu, giúp cho mỗi nhóm đối tượng nhận rõ những điểm mạnh, yếu
của mình, đồng thời đề xuất một số giải pháp chủ yếu, thiết thực để khắc
phục khó khăn, tiếp tục phát triển bền vững; trong đó, việc nâng cao năng
lực quản lý nhà nước của cơ quan chính quyền và công chức có ý nghĩa
quyết định đối với việc nâng cao năng lực kinh doanh của doanh nhân.

Phần một. NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA
CƠ QUAN CHÍNH QUYỀN VÀ CÔNG CHỨC
I.Thực trạng và vấn đề
1. Quan niệm và chủ trương
2
CIEM _ Trung tâm Thông tin – Tư liệu


Năng lực quản lý nhà nước thể hiện trong năng lực của toàn bộ hệ thống
hành chính nhà nước, bao gồm: hệ thống thể chế, bộ máy nhà nước, đội
ngũ công chức và tài chính công. Năng lực quản lý nhà nước của cơ quan
chính quyền các cấp có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của một đất
nước, có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển.
Trong phần này, xin điểm qua những mốc lớn về quan niệm và chủ trương
cải cách hành chính nhà nước trong thời gian qua.
Đại hội lần thứ VI của Đảng (tháng 12 năm 1986), cùng với việc khẳng
định đường lối đổi mới toàn diện đất nước, đã đề ra chủ trương “ Thực hiện
một cuộc cải cách lớn về bộ máy của các cơ quan nhà nước, theo phương
huớng: xây dựng và thực hiện một cơ chế quán lý nhà nước thể hiện quyền
làm chủ tập thể của nhân dân lao động ở tất cả các cấp. Tăng cường bộ máy
nhà nước từ Trung ương đến địa phương và cơ sở thành một hệ thống
thống nhất, có sự phân định rành mạch nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm
từng cấp theo nguyên tắc tập trung dân chủ, phân biệt chức năng quản lý
hành chính - kinh tế với quản lý sản xuất - kinh doanh, kết hợp quản lý theo
ngành với quản lý theo địa phương và vùng lãnh thổ, phù hợp với đặc điểm
tình hình kinh tế, xã hội”1.
Tiếp theo Đại hội VI, Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Khóa
VI (tháng 3-1989) đã đề cập việc đổi mới hệ thống chính trị với định
hướng: phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, trên cơ sở đó, đổi mới tổ chức
và phương thức hoạt động của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể quần
chúng. Về mặt Nhà nước, đòi hỏi đặt ra là phải thực hiện đúng đắn quyền
lực của mình; quản lý mọi mặt hoạt động của xã hội bằng pháp luật theo
đừong lối, chính sách của Đảng. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Nghị
quyết Trung ương 6 Khóa VI đã có bước tiến khá xa trong nhận thức và
quan niệm về vai trò, chức năng của bộ máy hành chính trong điều kiện thể
chế kinh tế mới; mà điều quan trọng là chuyển sang thực hiện chức năng
quản lý nhà nước theo pháp luật, chấm dứt sự can thiệp trực tiếp vào điều
hành hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp; quan tâm hơn nữa
việc xây dựng thể chế; công tác xây dựng bộ máy và công tác cán bộ. Như
vậy, trên thực tế, lúc này đã hình thành quan niệm về ba bộ phận chủ yếu
của công tác cải cách hành chính (thể chế; bộ máy; cán bộ, công chức).
Đại hội lần thứ VII của Đảng (tháng 6-1991) đề ra chủ trương tiếp tục đổi
mới bộ máy nhà nước, sửa đổi Hiến pháp, cải tiến tổ chức và hoạt động của
Quốc hội, sửa đổi cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của Chính phủ
và của chính quyền địa phương các cấp ... Việc cải cách bộ máy nhà nước
1

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1986, tr. 118

3
CIEM _ Trung tâm Thông tin – Tư liệu


được đặt trong một chỉnh thể thống nhất là đổi mới hệ thống chính trị. Đại
hội VII thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội và Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến
năm 2000, trong đó đã “đặt trọng tâm cải cách nhằm vào hệ thống hành
chính với nội dung chính là xây dựng một hệ thống hành pháp và quản lý
hành chính nhà nước thông suốt từ Trung ương xuốn cơ sở, có đủ quyền
lực, năng lực, hiệu lực”2.
Thực hiện chủ trương của Đại hội VII, tháng 4-1992, Quốc hội đã thông
qua Hiến pháp 1992, thay thế Hiến pháp 1980. Trong Hiến pháp 1992, có
hai điểm đổi mới về cơ chế hoạt động của Chính phủ: (i) thiết lập vị trí, vai
trò mới của Thủ tướng Chính phủ; (ii) chuyển chức năng của Bộ sang thực
hiện chức năng quản lý vĩ mô; đề cao trách nhiệm của Bộ trưởng trong việc
quản lý nhà nước về lĩnh vực chuyên ngành mình được phân công; bảo
đảm quyền tự chủ trong sản xuất, kinh doanh của các đơn vị kinh tế.
Một điểm mới rất đáng ghi nhận là tại Kỳ họp thứ 2 Quốc hội Khóa IX
(tháng 12-1992), Chính phủ đã đề ra một số quan điểm về nội dung, giải
pháp tiến hành cải cách hành chính, như (i) Xây dựng nền hành chính có
hiệu lực, hiệu quả. Chống mọi biểu hiện phân tán, cục bộ, địa phương, bản
vị, phải hướng tới một nền hành chính dân chủ, sát với nhân dân, giải quyết
nhanh chóng mọi công việc theo yêu cầu của nhân dân; và (ii) Về nguyên
tắc, nền hành chính quốc gia phải được thể chế hóa và quy định bằng hệ
thống pháp luật hành chính để điều chỉnh các quan hệ hình thành trong quá
trình quản lý nhà nựớc. Có thể nói những quan điểm này đã thể hiện một
bước tính pháp quyền của nền hành chính hiện đại.
Tháng 1 năm 1994, Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ Khóa VII
đã chính thức hóa việc “Tiếp tục xây dựng và từng bước hoàn thiện Nhà
nước pháp quyền Việt Nam. Đó là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì
nhân dân, quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật”, đồng thời nhấn
mạnh “Xúc tiến cải cách hành chính. Đổi mới và tăng cường hệ thống hành
pháp cả về tổ chức, cán bộ, cơ chế hoạt động. Phát huy vai trò điều hành
của bộ máy hành pháp. Xác định vai trò và trách nhiệm của chính quyền
địa phương trên cơ sở pháp luật thống nhất và sự điều hành tập trung của
Chính phủ” 3. Như vậy, công tác cải cách hành chính vẫn bao gồm ba nội
dung (thể chế, tổ chức bộ máy và công chức, công vụ) nhưng tổ chức bộ
máy vẫn là trọng tâm.
2

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991, tr. 43

3

Văn kiện Hội nghị toàn quốc giữa nhiệm kỳ Khóa VII, tr. 56 và 58.

4
CIEM _ Trung tâm Thông tin – Tư liệu


Căn cứ vào tình hình thực tế, ngày 4-5-1994, Chính phủ đã ban hành Nghị
quyết số 38/CP về cải cách thủ tục hành chính trong việc giải quyết công
việc của công dân và tổ chức, coi cải cách thủ tục hành chính là khâu đột
phá trong toàn bộ công tác cải cách hành chính. Thực tế cho thấy đây là sự
lựa chọn đúng đắn, cần thiết, vừa loại bỏ được những thủ tục phiền hà gây
khó khăn cho dân và doanh nghiệp, đồng thời qua đó, làm bộc lộ những bất
hợp lý của nền hành chính đang cản trở sự phát triển kinh tế, xã hội.
Một bước phát triển mới trong quá trình cải cách hành chính là Nghị quyết
Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa VII (tháng 11995), được coi là nghị quyết chuyên đề về cải cách hành chính. Nghị
quyết khẳng định việc cải cách nền hành chính nhà nước là yêu cầu bức
xúc, là trọng tâm của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam; đồng thời đề ra mục tiêu của cải cách hành chính là
xây dựng một nền hành chính trong sạch, có đủ năng lực, sử dụng đúng
quyền lực và từng bước hiện đại hóa để quản lý có hiệu lực và hiệu quả
công việc của Nhà nước, thúc đẩy xã hội phát triển lành mạnh, đúng
hướng, phục vụ đắc lực đời sống của nhân dân, xây dựng nếp sống và làm
việc theo pháp luật trong xã hội. Nghị quyết khẳng định tiếp ba bộ phận
của cải cách hành chính: cải cách thể chế hành chính; cải cách tổ chức bộ
máy và quy chế hoạt động của hệ thống hành chính; xây dựng đội ngũ cán
bộ, công chức hành chính. Vấn đề tài chính công cũng đã bước đầu được
đề cập.
Đại hội lần thứ VIII của Đảng (tháng 7-1996) tiếp tục khẳng định cải cách
hành chính là trọng tâm của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước, nhấn
mạnh cải cách hành chính phải dựa trên cơ sở pháp luật và tiến hành đồng
bộ trên các mặt: cải cách thể chế hành chính, tổ chức bộ máy và xây dựng,
kiện toàn đội ngũ cán bộ, công chức hành chính. Cải cách hành chính được
coi là một giải pháp cơ bản để thực hiện các mục tiêu chủ yếu của Kế
hoạch phát triển kinh tế, xã hội 5 năm 1996-2000. Nghị quyết phân định rõ
thêm thẩm quyền và trách nhiệm của từng cấp hành chính; giữa các cơ
quan của Chính phủ với chính quyền các tỉnh, thành phố; đề ra những chủ
trương đổi mới chế độ công chức và công vụ; thành lập Tòa án hành chính;
thực hiện xã hội hóa đối với một số hoạt động thuộc lĩnh vực dịch vụ.
Riêng về xã hội hóa, ngày 19-8-1999, Chính phủ đã ban hành Nghị định số
73/1999/NĐ-CP về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với ba lĩnh vực
quan trọng là giáo dục, y tế và văn hóa, thể thao, trong đó nhấn mạnh
phương châm xã hội hóa là “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, trong đó
5
CIEM _ Trung tâm Thông tin – Tư liệu


Nhà nước có vai trò nòng cốt, thực hiện quản lý nhà nước, không làm thay
dân cũng không khoán trắng cho dân.
Hội nghị lần thứ 3 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa VIII (tháng
6 năm 1997) đã ra Nghị quyết về phát huy quyền làm chủ của nhân dân,
tiếp tục xây dựng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong đó
nhấn mạnh tiếp tục thực hiện cải cách hành chính, nhằm mục tiêu vừa cơ
bản vừa cấp bách hàng đầu là giữ vững và phát huy bản chất tốt đẹp của
Nhà nước, ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái đạo đức, tham nhũng,
lãng phí, quan liêu, sách nhiễu nhân dân còn diễn ra nghiêm trọng trong bộ
máy nhà nước. Tại Nghị quyết này, cuộc cải cách hành chính được đặt ở
tầm cao mới với yêu cầu bảo đảm cho việc thực hiện dân chủ hóa đời sống
chính trị của xã hội, nhằm phát huy hơn nữa quyền làm chủ của nhân dân.
Có thể coi đây là một bước chuyển biến mới trong nhận thức về cải cách
hành chính.
Tiếp đó, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 (lần 2) và Hội nghị lần thứ 7 của
Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (tháng 8-1999) đã đặt cải cách
hành chính trong tổng thể của đổi mới hệ thống chính trị: không thể cải
cách hành chính một cách biệt lập mà không đồng thời đổi mới tổ chức và
phương thức lãnh đạo của Đảng, đổi mới tổ chức và phương thức hoạt
động của các đoàn thể nhân dân, đổi mới tổ chức và cơ chế hoạt động của
các cơ quan lập pháp, cơ quan tư pháp. Nghị quyết Trung ương 7 đã đề ra
chủ trương sắp xếp lại tổ chức, bộ máy Đảng và các tổ chức trong hệ thống
chính trị gắn liền với cải cách hành chính, thực hiện tinh giản biên chế, cải
cách chính sách tiền lương. Cải cách thủ tục hành chính được coi là nhiệm
vụ thường xuyên của các cơ quan hành chính các cấp.
Đại hội lần thứ IX của Đảng (tháng 4-2001) khẳng định tiếp” Xây dựng
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng”,
“Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các
cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư
pháp”. Về cải cách hành chính, Nghị quyết Đại hội nhấn mạnh ”Xây dựng
một nền hành chính nhà nước dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước
hiện đại hóa”4, điều chỉnh chức năng và cải tiến phương thức hoạt động của
Chính phủ theo hướng thống nhất quản lý vĩ mô việc thực hiện các nhiệm
vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội; các bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực;
thực hiện phân cấp, nâng cao tính chủ động cho chính quyền địa phương;
Nghị quyết cũng đề ra những chủ trương quan trọng về xây dựng đội ngũ
4

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc giat, Hà Nội, 2001, tr. 133

6
CIEM _ Trung tâm Thông tin – Tư liệu


cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực, hoàn thiện chế độ công vụ, quy
chế cán bộ, công chức.
Đáng chú ý là trong Nghị quyết Đại hội IX, lần đầu tiên, có hẳn một mục
riêng về “Đấu tranh chống tham nhũng”, trong đó chỉ rõ “nạn tham nhũng
diễn ra nghiêm trọng kéo dài gây bất bình trong nhân dân và là một nguy
cơ lớn đe dọa sự sống còn của chế độ ta”, và nhấn mạnh “ Tiếp tục xóa bỏ
những thủ tục hành chính phiền hà, nhất là ở những lĩnh vực, những khâu
dễ xảy ra tham nhũng, sách nhiễu”5.
Trong thời gian này, Chính phủ đã ban hành “Chương trình tổng thể cải
cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010” theo Quyết định số
136/2001/QĐ-TTg ngày 17-9-2001, một văn bản đề cập toàn diện từ thực
trạng đến mục tiêu, nội dung và tổ chức thực hiện cải cách hành chính.
Mục tiêu chung của “Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước
giai đoạn 2001-2010” được đề ra là “xây dựng một nền hành chính dân
chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hóa, hoạt động có
hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có
phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng, phát triển
đất nước. Đến năm 2010, hệ thống hành chính về cơ bản được cải cách phù
hợp với yêu cầu quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hôi chủ
nghĩa”. Chương trình cũng nhấn mạnh rằng việc thực hiện cải cách hành
chính phải được tiến hành đồng bộ với đổi mới hệ thống chính trị, gắn liền
với bước đi của đổi mới kinh tế. Nội dung của cải cách hành chính được
xác định gồm đủ bốn lĩnh vực: (i) cải cách thể chế; (ii) cải cách tổ chức bộ
máy hành chính; (iii) đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công
chức; và (iv) cải cách tài chính công.
Đại hội lần thứ X của Đảng (tháng 4-2006) đã dành hẳn một chương trong
Nghị quyết để nói về “Nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý của Nhà nước”
trong thể chế kinh tế thị trường. Đại hội X nhấn mạnh “Tiếp tục xây dựng
và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”; và quyết định “Đẩy
mạnh cải cách hành chính, đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ
theo hướng xây dựng hệ thống cơ quan hành pháp thống nhất, thông suốt,
hiện đại. Luật hóa cơ cấu, tổ chức của Chính phủ; tổ chức bộ quản lý đa
ngành, đa lĩnh vực, bảo đảm tinh gọn và hợp lý. Phân cấp mạnh, giao
quyền chủ động hơn nữa cho chính quyền địa phương, nhất là trong việc

5

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 50, 135

7
CIEM _ Trung tâm Thông tin – Tư liệu


quyết định về ngân sách, tài chính, đầu tư, nguồn nhân lực, thực hiện nghĩa
vụ tài chính đối với Trung ương”6.
2. Thực trạng và vấn đề
Qua những điểm trình bày trên đây về quá trình chuyển biến trong quan
niệm và chủ trương cải cách hành chính, có thể thấy: trải qua thực tiễn, tầm
quan trọng của cải cách hành chính đã được nhận thức ngày càng sâu sắc
thêm; Đảng và Chính phủ đã có nhiều văn bản chỉ đạo việc thực hiện. Thế
nhưng đến nay, cải cách hành chính vẫn được nhận định là triển khai chậm
và còn nhiều yếu kém. Đại hội lần thứ X của Đảng (tháng 4-2006) đã nhận
định “Những yếu kém của bộ máy quản lý nhà nước và công tác cán bộ
chậm được khắc phục. Cải cách hành chính chưa đạt yêu cầu, chưa gắn với
xây dựng và chỉnh đốn Đảng, với đổi mới phương thức và nâng cao hiệu
quả hoạt động của Quốc hội, chưa phối hợp chặt chẽ với cải cách và đổi
mới hoạt động tư pháp. Năng lực và phẩm chất của nhiều cán bộ, công
chức còn yếu, một bộ phận không nhỏ thoái hóa, biến chất. Dân chủ ở
nhiều nơi bị vi phạm; kỷ luật, kỷ cương phép nước chưa nghiêm. Quan
liêu, tham nhũng, lãng phí còn nghiêm trọng, đặc biệt là tình trạng nhũng
nhiễu, cửa quyền, thiếu trách nhiệm của một bộ phận không nhỏ cán bộ,
công chức, nhất là ở các cơ quan trực tiếp giải quuyết công việc của dân và
doanh nghiệp”7.
Dưới đây, xin nêu lên những vấn đề đang nổi lên và cần được quan tâm
trong công cuộc cải cách hành chính liên quan đến doanh nghiệp như sau.
Về thể chế
Quá trình chuyển đổi nền kinh tế cũng đòi hỏi sự chuyển đổi chức năng
của bộ máy hành chính nhà nước thực sự ăn khớp chặt chẽ, để bộ máy hành
chính nhà nước làm được nhiệm vụ phục vụ công cuộc phát triển kinh tế,
tạo môi trường thuận lợi cho các hoạt động kinh tế. Thực tiễn của công
cuộc phát triển đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế đang đòi hỏi đẩy mạnh
cải cách hành chính, vì việc này đã được đề ra từ nhiều năm, đã có nhiều
văn bản chỉ đạo thực hiện, song cải cách hành chính vẫn tiến hành quá
chậm chạp, và hiện nay, chính những khuyết điểm, yếu kém của nền hành
chính hiện đang là là những cản trở trong việc phát huy sức mạnh của toàn
dân tộc cho công cuộc phát triển, kìm hãm sức phát triển của nền kinh tế.
Đẩy mạnh cải cách hành chính đã là nhiệm vụ hết sức cấp bách.
6
7

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.126
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.174

8
CIEM _ Trung tâm Thông tin – Tư liệu


Trong cải cách hành chính, nhiệm vụ và nội dung đầu tiên, quan trọng nhất
là cải cách thể chế kinh tế, thể chế hành chính. Thể chế quyết định việc tổ
chức bộ máy, tuyển chọn và sắp xếp, sử dụng cán bộ, công chức cũng như
toàn bộ quá trình vận hành của bộ máy hành chính. Đến nay, với việc ban
hành Hiến pháp 1992, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Cạnh tranh,
Luật Thương mại, Luật Ngân hàng, Luật Hải quan, Luật Đất đai, Luật Xây
dựng, v.v... cùng hàng loạt văn bản quy phạm pháp luật khác, về cơ bản, đã
hình thành được bộ khung pháp lý cho việc hình thành và phát triển nền
kinh tế thị trường ở nước ta. Đối với doanh nghiệp, ý nghĩa quan trọng nhất
là đã bảo đảm các nguyên tắc: về tính đa dạng của các chủ thể thuộc các
thành phần kinh tế khác nhau tham gia thị trường; nguyên tắc bình đẳng
trong kinh doanh; nguyên tắc tự do kinh doanh trong những lĩnh vực mà
pháp luật không cấm; nguyên tắc tự do hợp đồng; nguyên tắc cạnh tranh
lành mạnh, v.v...
Tuy nhiên, có thể thấy hệ thống thể chế đang còn nhiều khiếm khuyết, yếu
kém đang tác động không thuận đối với yêu cầu phát triển của doanh
nghiệp. Nổi bật nhất là:
(i) Về các loại thị trường, cho đến nay, tuy đã có nhiều văn bản pháp quy
về các lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp được ban hành, song nhìn
chung, khuôn khổ pháp lý và điều kiện cho việc hình thành và phát triển
các loại thị trường cơ bản chưa được xây dựng đồng bộ (kể cả năm loại thị
trường: thị trường hàng hóa và dịch vụ, thị trường tài chính, thị trường bất
động sản, thị trường sức lao động, thị trường khoa học và công nghệ). Các
thị trường vận hành thiếu lánh mạnh, thậm chí chồng chéo. Thị trường bất
động sản đang có nhiều yếu kém: thị trường nhà ở lúc nóng, lúc lạnh; tình
trạng đầu cơ khá phổ biến; riêng thị trường đất đai, công tác quy hoạch
thiếu bài bản cùng với công tác thu hồi đất và đền bù giải tỏa thiếu công
khai, minh bạch đã tạo cơ hội cho những kẻ đầu cơ và một số người có
quyền lực chiếm đoạt đất đai trục lợi bất chính, gây ra tình trạng bất ổn
trong dân và nông thôn. Đáng quan tâm là trong những tháng cuối năm
2007 và đầu năm 2008, thị trường tài chính, bao gồm cả thị trường vốn và
thị trường tiền tệ có nhiều rối ren, lạm phát tăng nhanh, giá cả leo thang,
ảnh hưởng lớn đế sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế, tác động xấu đến
hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
(ii) Về nguyên tắc bình đẳng trong kinh doanh, các doanh nghiệp thuộc các
thành phần kinh tế đã được xác định là cạnh tranh bình đẳng, vừa cạnh
tranh vừa hợp tác, song trong thực tế, vẫn còn nhiều bất bình đẳng. Luật
9
CIEM _ Trung tâm Thông tin – Tư liệu


Doanh nghiệp 2005 đã thể hiện một bước tiến quan trọng trong việc tạo sự
bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc các sở hữu khác nhau trong việc gia
nhập thị trường và quản lý doanh nghiệp, song nhiều chính sách cụ thể vẫn
chưa thể hiện được tư duy đó. Doanh nghiệp nhà nước vẫn được hưởng
nhiều ưu đãi trong việc tiếp cận các nguồn lực phát triển, như đất đai, vốn
liếng, thực hiện các dự án đem lại nhiều lợi nhuận, v.v... Gần đây, các tổng
công ty nhà nước, tập đoàn kinh tế nhà nước vốn kinh doanh đã kém hiệu
quả lại không bị ngăn chặn trong việc đầu tư vào những ngành nghề không
phải là ngành nghề kinh doanh chủ yếu của họ với hy vọng kiếm lợi nhuận
trước mắt, không tính toán đầy đủ đến những rủi ro có thể gặp. Trong khi
đó, doanh nghiệp dân doanh, doanh nghiệp nhỏ và vừa - những doanh
nghiệp sử dụng vốn liếng đạt hiệu quả cao và sử dụng phần lớn lao động xã
hội, lại không được quan tâm đúng mức, đang gặp khó khăn lớn về vốn
liếng, về đất đai làm mặt bằng cho sản xuất, kinh doanh.
(iii) Thủ tục hành chính đang là khâu gây nhiều phiền hà cho doanh nghiệp,
chủ yếu là các loại giấy phép. Trong công tác quản lý, việc đặt ra giấy phép
là cần thiết; đó là một loại công cụ quản lý hành chính nhằm điều tiết, kiểm
soát những hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc dịch vụ cần có những điều
kiện nhất định để bảo đảm lợi ích chung của cộng đồng, ổn định kinh tế vĩ
mô, bảo vệ và phát triển môi trường, sức khỏe của nhân dân và trật tự, an
toàn xã hội. Song những năm gần đây, giấy phép đã được ban hành khá tùy
tiện bằng nhiều biến dạng muôn hình muôn vẻ: ngoài giấy phép, có giấy
chứng nhận, chứng chỉ hành nghề, giấy đăng ký, thẻ, phê duyệt, chứng chỉ,
văn bằng, ... nhiều khi bằng hình thức quyết định hành chính như văn bản
xác nhận, quyết định, giấy xác nhận, văn bản chấp thuận, v.v...
Vấn đề đặt ra là cần ngăn chặn những loại giấy phép không có căn cứ pháp
lý, không rõ mục đích, không cần thiết, thậm chí trở thành rào cản, hạn chế
sức phát triển của doanh nghiệp. Luật Doanh nghiệp 2005 đã quy định tại
Khoản 4 Điều 7 “Chính phủ định kỳ rà soát, đánh giá lại toàn bộ hoặc một
phần các điều kiện kinh doanh, bãi bỏ hoặc kiến nghị bãi bỏ các điều kiện
không còn phù hợp; sửa đổi hoặc kiến nghị sửa dổi các điều kiện bất hợp
lý; ban hành hoặc kiến nghị ban hành điều kiện kinh doanh mới theo yêu
cầu quản lý nhà nước”. Tiếp đó, Khoản 5 Điều 7 Luật Doanh nghiệp cũng
đã quy định: “Bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân
dân các cấp không được quy định về ngành, nghề kinh doanh có điều kiện
và điều kiện kinh doanh”. Trước yêu cầu tạo lập môi trường kinh doanh
ngày càng thuận lợi cho kinh doanh, để nâng cao năng lực cạnh tranh và
hội nhập kinh tế quốc tế của doanh nghiệp, rất cần thiết sớm có văn bản
10
CIEM _ Trung tâm Thông tin – Tư liệu


quy phạm pháp luật hướng dẫn cụ thể việc thực hiện các quy định của Luật
Doanh nghiệp về thẩm quyền quy định ngành, nghề kinh doanh có điều
kiện và điều kiện kinh doanh các ngành, nghề đó.
(iv) Về tính minh bạch, công khai trong hoạt động của cơ quan hành chính
nhà nước. Đây là một vấn đề có tính nguyên tắc trong hoạt động của các cơ
quan nhà nước, song ở nước ta, đây lại là một vấn đề đang gây nhiều bức
xúc trong dân và doanh nghiệp cần sớm được chấn chỉnh.
Trước hết là trong việc soạn thảo và ban hành các văn bản quy phạm pháp
luật. Doanh nhân nước ta thường đánh giá thể chế nước ta hiện nay là
thể chế “sáu không”: không nhất quán (về đường lối, tư tưởng chính
sách); không minh bạch (không công bố công khai, nói rõ lý lẽ để mọi
người thông hiểu chính sách); không thông suốt (hiểu và thi hành chính
sách có sự khác nhau giữa cấp trên và cấp dưới, giữa các ngành); không
đồng bộ (giữa các chính sách với nhau, lại có sự chồng chéo, gây ra
không thi hành được); không khả thi (chính sách không sát thực tế, có
khi dựa vào nguyện vọng chủ quan, do đó không đi vào cuộc sống);
không tiên liệu được (chính sách không ổn định, hay thay đổi trong thời
gian ngắn, doanh nghiệp khó dự báo, tính toán trong việc lập kế hoạch
kinh doanh).
Quá trình soạn thảo các văn bản quy phạm pháp luật thường được thực hiện
một cách “khép kín” trong nội bộ các cơ quan nhà nước, dù có tổ chức
những cuộc hội thảo, lấy ý kiến đóng góp nhưng có nhiều trường hợp chỉ là
hình thức, chiếu lệ. Có những cơ quan còn ngại nghe ý kiến phản biện của
các doanh nghiệp hoặc của tổ chức xã hội - nghề nghiệp đối với các dự
thảo văn bản quy phạm pháp luật.
Nguyên tắc giải trình của cơ quan nhà nước đối với dân và doanh nghiệp về
những hoạt động và những quyết định của bộ máy nhà nước cũng chưa trở
thành nền nếp; quyền được thông tin của dân và doanh nghiệp chưa được
thể chế hóa.
Về tổ chức bộ máy
Thời gian qua, đã có những bước đổi mới, điều chỉnh, bổ sung trong chức
năng, trách nhiệm của bộ máy nhà nước theo yêu cầu của đổi mới kinh tế.
Vai trò và chức năng quản lý vĩ mô của Chính phủ và các cơ quan chính
phủ đã được làm rõ hơn; đã có sự phân cấp quản lý cho chính quyền địa
phương. Sự phân biệt giữa quản lý hành chính nhà nước với quản lý sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp đã bước đầu được tách bạch rõ hơn.
11
CIEM _ Trung tâm Thông tin – Tư liệu


Quản lý nhà nước đã có bước chuyển từ quản lý trực tiếp sang quản lý gián
tiếp bằng quy hoạch, kế hoạch, pháp luật và các công cụ khác, v.v...
Tuy nhiên, có thể thấy đó mới là những chuyển biến bước đầu về nhận
thức, còn trong thực tế, bộ máy quản lý nhà nước đang còn nhiều yếu kém,
ảnh hưởng không thuận đến hoạt động của doanh nghiệp.
Việc xác định và phân công chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ và mỗi cơ
quan trung ương chưa thật hợp lý, còn chồng chéo, trùng lắp, nhất là ở
những lĩnh vực hấp dẫn và lĩnh vực quản lý có sự giao thoa, đan xen về
phạm vi, đối tượng giữa các bộ, ngành. Do đó, không làm rõ được các nội
dung quản lý nhà nước của mỗi bộ, ngành; từ đó, khó xác định kết quả,
hiệu quả công việc của mỗi cơ quan cũng như trách nhiệm khi xảy ra
những sai sót ảnh hưởng đến kinh doanh của doanh nghiệp (chưa kể những
cách làm việc vô trách nhiệm của công chức). Trong thực tế, đã có tình
trạng “những việc dễ làm, có lợi ích, có nguồn thu, có kinh phí lớn, thì
nhiều bộ, ngành cùng làm. Nhưng các công việc khó làm, không có nguồn
thu, ít kinh phí lại đùn đẩy nhau, dẫn đến tình trạng vừa trùng chéo, vừa bỏ
trống, bỏ sót công việc cần quản lý, không rõ địa chỉ xử lý công việc giữa
các cơ quan đối với dân và các tổ chức doanh nghiệp, sự nghiệp, xã hội đòi
hỏi”8. Có thể kể ra rất nhiều trường hợp doanh nghiệp gặp khó khăn, kêu ca
các cơ quan nhà nước thường bị đùn đẩy từ cơ quan này sang cơ quan khác,
vụ việc kéo dài, không được giải quyết, gây thiệt hại lớn cho doanh nghiệp.
Thực tiễn cho thấy đang còn thiếu sự nghiên cứu cơ bản về lý luận tổ chức
bộ máy nhà nước trong điều kiện duy nhất một đảng cầm quyền, chuyển
sang kinh tế thị trường. Do đó, đã không có đủ lý lẽ thuyết phục khi thực
hiện sự sắp xếp, thay đổi, điều chỉnh tổ chức, bộ máy nhà nước làm cơ sở
cho việc kiện toàn bộ máy một cách căn bản. Và cũng do đó, chủ trương
tinh giản biên chế cũng khó thực hiện. Tổ chức nhiều thêm, công chức
nhiều thêm là những tầng nấc hành chính mà doanh nghiệp rất khó vượt
qua. Nhằm giảm bớt khó khăn cho doanh nghiệp khi có công việc cần tiếp
cận cơ quan nhà nước, đã thí điểm mô hình “một dấu, một cửa” song kết
quả không nhiều; nay đang chuyển sang mô hình “một cửa liên thông”, còn
chờ xem hiệu quả; song điều quan trọng nhất chính là ở chỗ xác định cho
đúng chức năng của Nhà nước: Nhà nước cần làm những việc gì nhất thiết
phải làm; những việc gì cần chuyển giao cho các tổ chức xã hội dân sự đảm
nhiệm và những việc gì nên để cho thị trường tự điều chỉnh, Nhà nước
không nên can thiệp.
Về đội ngũ công chức
8

Thang Văn Phúc (chủ biên) Cải cách hành chính nhà nước, Nxb Chính trị quốc gia, 2001, tr. 160

12
CIEM _ Trung tâm Thông tin – Tư liệu


Hiệu quả của bộ máy hành chính nhà nước phụ thuộc rất lớn vào năng lực
và phẩm chất của đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước. Cho đến nay, Nhà
nước đã ban hành nhiều văn bản nhằm xây dựng và quản lý cán bộ, công
chức, nhằm bảo đảm cho đội ngũ này đáp ứng được yêu cầu của nền kinh
tế thị trường. Năm 1998, đã ban hành Pháp lệnh Cán bộ công chức.
Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 – 2010
cũng đã đề ra mục tiêu “ đến năm 2010, đội ngũ cán bộ, công chức có số
lượng, cơ cấu hợp lý, chuyên nghiệp, hiện đại. Tuyệt đại bộ phận cán bộ,
công chức có phẩm chất tốt và đủ năng lực thi hành công vụ, tận tụy phục
vụ phát triển đất nước và phục vụ nhân dân”.Nhiều hoạt động đào tạo, bồi
dưỡng và quản lý cán bộ công chức đã được các cơ quan nhà nước thực
hiện.
Tuy vậy, cho đến nay, chất lượng đội ngũ của bộ, công chức chưa ngang
tầm với yêu cầu: kiến thức và năng lực quản lý về các mặt luật pháp, hành
chính cũng như kỹ năng hành chính còn kém. Song điều đáng quan ngại
hơn nữa chính là sự suy thoái về đạo đức của một bộ phận không ít cán bộ,
công chức. Không ít trường hợp cán bộ, công chức lợi dụng chức quyền để
vòi vĩnh, đòi hối lộ, gây đủ mọi phiền hà đối với doanh nghiệp, làm tăng
thêm chi phí kinh doanh và thời gian của doanh nghiệp.
Đảng và Nhà nước đã đề ra nhiều giải pháp để xây dựng một đội ngũ cán
bộ, công chức vừa tinh thông nghiệp vụ, vừa có đạo đức trong sáng, bao
gồm những công việc rất quan trọng như: rà soát lại chức năng, nhiệm vụ
của cơ quan hành chính các cấp làm cơ sở cho việc bố trí cán bộ, công
chức; hoàn chỉnh thể chế về cán bộ, công chức, xây dựng quy hoạch, kế
hoạch phát triển đội ngũ cán bộ, công chức; phân biệt giữa công chức hành
chính với công chức sự nghiệp; hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn công chức,
hệ thống tiền lương, tiền thưởng, chính sách thu hút nhân tài; tổ chức việc
đào tạo, bồi dưỡng công chức, v.v... Pháp lệnh cán bộ, công chức đã bước
đầu đưa các công việc thi tuyển, nâng ngạch công chức thành nền nếp, quy
định các chức danh, tiêu chuẩn, ngạch bậc công chức và chế độ đãi ngộ đối
với cán bộ, công chức, v.v...
Hiện nay, để bảo đảm tiếp tục phát triển đất nước và hội nhập kinh tế quốc
tế, sự khan hiếm nhân lực có chất lượng cao đang trở thành một vấn đề lớn
– một “nút thắt cổ chai” của quá trình phát triển, kể cả nhân lực ở cơ sở
doanh nghiệp cũng như trong các cơ quan quản lý nhà nước. Chế độ công
vụ lạc hậu đã không khuyến khích phát triển tài năng; lại chưa tách bạch rõ
công vụ và công chức tuy có mối quan hệ với nhau song công vụ là công
việc còn công chức là những người thực hiện công việc đó. Pháp lệnh cán
13
CIEM _ Trung tâm Thông tin – Tư liệu


bộ, công chức ban hành năm 1998 tuy đã có sửa đổi bổ sung năm 2000 và
2003 nay chuẩn bị ban hành Luật cán bộ, công chức; song vẫn chưa phân
biệt được rõ “cán bộ” với “công chức”, “viên chức”. Khái niệm “cán bộ,
công chức” vẫn bao gồm cả những người làm việc trong các tổ chức chính
trị - xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp.
Gần đây, có tình hình một số công chức có năng lực (kể cả cấp giám đốc,
cấp vụ) đã xin thôi việc trong cơ quan nhà nước để ra làm việc bên ngoài;
đây được gọi là “chảy máu chất xám”. Đó là điều bình thường nếu xét về
sự dịch chuyển lao động trong thị trường lao động đang cần được khụyến
khích tạo lập. Song, nếu xét về yêu cầu tăng cường năng lực của bộ máy
nhà nước, thì tình trạng đó không chỉ là hậu quả của việc thiếu những chính
sách cần thiết để phát huy tài năng của họ, mà còn là dấu hiệu của tình
trạng giảm sút người có năng lực sẽ có ảnh hưởng không tốt đến chất lượng
quản lý điều hành của cơ quan nhà nước. Riêng trong các cơ quan hoạch
định chính sách, đội ngũ công chức lại có tầm quan trọng đặc biệt, vì họ là
những “tham mưu chiến lược” hoạch định hệ thống thể chế, chính sách
quản lý đất nước, bảo đảm sự phát triển hoặc gây ra sự trì trệ của nền kinh
tế. Chính vì vậy, những người này phải là chuyên gia được tuyển chọn kỹ
và tạo điều kiện cho họ làm việc đạt hiệu quả cao nhất.
Về tài chính công
Tài chính công là một bộ phận của hệ thống tài chính trong nền kinh tế thị
trường, gắn liền với hoạt động của Nhà nước. Tài chính công bao gồm:
ngân sách nhà nước, tín dụng nhà nước, bảo hiểm xã hội và các quỹ tập
trung của Nhà nước, có nhiệm vụ cung ứng các nguồn vốn để sử dụng cho
các yêu cầu về háng hóa và dịch vụ công cộng mà Nhà nước cần thực hiện
mà khu vực tư nhân không thể thực hiện được hoặc không muốn thực hiện
do vốn lớn, thời gian hoàn vốn dài hoặc lợi nhuận thấp.
Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 – 2010
đã đề ra các nội dung cải cách tài chính công, như: đổi mới cơ chế phân cấp
quản lý tài chính và ngân sách giữa trung ương và địa phương, bảo đảm
tính chủ động cho chính quyền địa phương trong việc phân bổ ngân sách;
phân biệt rõ cơ quan hành chính công quyền với tổ chức sự nghiệp, dịch vụ
công và trên cơ sở đó, đổi mới chế độ cấp kinh phí; đổi mới cơ chế tài
chính đối với khu vực dịch vụ công, v.v... Nhà nước có cơ chế, chính sách
tạo điều kiện để các doanh nghiêp, các tổ chức xã hội trực tiếp thực hiện
các dịch vụ công cộng dưới sự hỗ trợ và kiểm tra của cơ quan hành chính.

14
CIEM _ Trung tâm Thông tin – Tư liệu


Vấn đề đang nổi lên hiện nay là (i) Chi đầu tư từ khu vực nhà nước (ngân
sách nhà nước, tín dụng nhà nước, doanh nghiệp nhà nước) lớn nhưng hiệu
quả thấp; Đầu tư từ khu vực nhà nước chiếm gần 50% tổng vốn đầu tư xã
hội, trong đó ngân sách nhà nước và trái phiếu chính phủ chiếm 25,3%,
doanh nghiệp nhà nước chiếm khoảng 14%, vốn tín dụng nhà nước chiếm
khoảng 8%. Đầu tư dàn trải, nhiều công trình dở dang chậm đưa vào sử
dụng, lại thất thoát khá phổ biến và kéo dài, hệ số ICOR có xu hướng tăng
cao dần (từ 4,5 đến 4,8). (ii) Nhiều tập đoàn, tổng công ty đầu tư sang
những ngành nghề không thuộc chuyên ngành, thế mạnh của mình, nhất là
vào những lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bất động sản, chứng khoán đầy
rủi ro. Theo thống kê chưa đầy đủ, đến cuối năm 2007, đã có 28/70 tập
đoàn và tổng công ty nhà nước có hoạt động trong các lĩnh vực chứng
khoán, bảo hiểm, bất động sản với trị giá lên đến 23.300 tỷ đồng9.
II. Kiến nghị một số giải pháp
1. Những điểm chung về giải pháp
Qua gần ba chục năm đổi mới, có thể thấy vấn đề bao trùm là xác định cho
rõ chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường. Nhà
nước phải chuyển từ cai trị là chủ yếu sang phục vụ dân và doanh nghiệp là
chủ yếu; Chính phủ phải thực hiện sự chuyển biến trên bốn mặt sau đây.
a) Thực hiện chức năng quản lý nhà nước bao quát các thành phần kinh tế;
chuyển mạnh từ quản lý trực tiếp sang quản lý gián tiếp, tạo môi trường
cho doanh nghiệp tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động kinh tế, khắc
phục bệnh quan liêu, cửa quyền, bao sân, ôm đồm, can thiệp trực tiếp vào
sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Thể chế kinh tế phải được tạo lập
và thủ tục hành chính phải được cải cách theo hướng thuận tiện, đơn giản,
xóa bỏ các quy định gây phiền hà cho doanh nghiệp;
b) Thực hiện một nền hành chính có kỷ luật, kỷ cương, có hiệu lực và hiệu
quả cao; các tổ chức và cá nhân trong bộ máy nhà nước được xác định
nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm cá nhân rõ ràng, đề cao trách nhiệm
công vụ; ngăn chặn và xử lý nghiêm minh những hành vi trái pháp luật,
xâm phạm quyền tự do kinh doanh của công dân;
c) Xây dựng một nền hành chính trong sạch, đẩy lùi các hiện tượng tiêu
cực của đội ngũ công chức trong quan hệ với doanh nghiệp; cơ quan và
công chức không được lợi dụng chức vụ để mưu lợi riêng trái pháp luật.
Muốn vậy, cần công bố công khai, minh bạch những chủ trương, chính
sách, thủ tục hành chính liên quan đến dân và doanh nghiệp, để doanh
9

Thời báo Kinh tế Việt Nam, số 123, ngày 22-5-2008

15
CIEM _ Trung tâm Thông tin – Tư liệu


nghiệp biết mà thực hiện đồng thời cũng là căn cứ để doanh nghiệp giám
sát hoạt động của cơ quan và công chức. Chính phủ phải có cơ chế: (i) cung
cấp kịp thời các thông tin cho dân và doanh nghiệp (chính sách, văn bản
quy phạm pháp luật đang dự kiến và đã ban hành...) và chế độ báo cáo
trước dân và doanh nghiệp; (ii) tiếp nhận thông tin phản hồi đối với hoạt
động của cơ quan chính quyền; (iii) cơ chế và kiểm tra việc thực hiện cơ
chế giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của dân và doanh nghiệp.
d) Xây dựng một nền hành chính khoa học, hiện đại, ứng dụng các công
nghệ và phương tiện hiện đại trong tổ chức bộ máy, điều hành công việc
hành chính, ứng dụng rộng rãi công cụ tin học, internet, tổ chức giao ban,
hội nghị trực tuyến, v.v... khắc phục cách nghĩ, cách làm thủ công tốn kém
thời gian, tiền bạc mà hiệu quả thấp.
2. Nâng cao tính chuyên nghiệp
Tính chuyên nghiệp của bộ máy hành chính nhà nước cần được thực hiện
qua hai cấp độ khác nhau: tính chuyên nghiệp của mỗi tổ chức trong bộ
máy và tính chuyên nghiệp của công chức.
Đối với bộ máy, cần phân biệt rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính
phủ và chính quyền địa phương; phân biệt rõ chức năng quản lý nhà nước
và hoạt động sự nghiệp; tách bạch giữa chức năng quản lý nhà nước với
chức năng kinh doanh của doanh nghiệp (trong đó có việc thực hiện quyền
của chủ sở hữu (Nhà nước) đối với doanh nghiệp nhà nước, quyền hạn của
Bộ chủ quản, cấp hành chính chủ quản đối với doanh nghiệp). Cần khắc
phục tình trạng UBND địa phương can thiệp vào những giải pháp cụ thể
trong kinh doanh của doanh nghiệp, can thiệp vào việc đấu thầu, giao đất
hoặc cho thuê đất không đúng luật pháp; hoặc hình sự hóa những quan hệ
dân sự. Những khiếu nại của doanh nghiệp đối với cơ quan hành chính
hoặc quyết định hành chính cần được xét xử bằng Tòa án hành chính.
Đối với công chức, vấn đề đặt ra là phải gấp rút trang bị những kiến thức
và kỹ năng cơ bản, bổ sung kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ và quản lý,
bảo đảm xây dựng đội ngũ công chức nhà nước thành thạo về chuyên môn,
nghiệp vụ, có trình độ quản lý đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nựớc
trong thời kỳ mới. Nội dung phải bao gồm: đường lối, chủ trương, chính
sách kinh tế, xã hội; kiến thức về hành chính nhà nước; kiến thức về quản
lý nhà nước trong nền kinh tế thị trường (kiến thức về kinh tế thị trường và
vai trò của Nhà nước trong cơ chế mới); kiến thức quản lý các lĩnh vực
chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp; bồi dưỡng ngoại ngữ để tăng
16
CIEM _ Trung tâm Thông tin – Tư liệu


khả năng giao dịch, nghiên cứu tài liệu nước ngoài; kiến thức cơ bản về tin
học, sử dụng công cụ tin học. Đương nhiên, để thúc đẩy và khuyến khích
công chức đi sâu vào chuyên môn, nghiệp, vụ, nâng cao tính chuyên
nghiệp, rất cần đổi mới và hoàn chỉnh cơ chế tuyển chọn, bồi dưỡng, đào
tạo, xử lý vấn đề tiền lương đi đôi với tạo điều kiện cho công chức phát huy
tài năng.
Nhà nước đang đặt vấn đề nghiên cứu ban hành “Luật Công vụ”, đây là
một việc rất cần thiết để điều chỉnh hành vi của công chức cơ quan nhà
nước trong việc thi hành chính sách và pháp luật, bảo đảm quyền hạn và
nghĩa vụ của họ trước dân và doanh nghiệp. Luật này không nên điều chỉnh
cả các chính khách, những người làm việc trong các tổ chức quần chúng
(lâu nay được gọi chung là cán bộ, công chức), vì như vậy là lẫn lộn giữa
người làm chính sách và người thực thi chính sách, lẫn lộn giữa công chức
của bộ máy nhà nước với nhân viên các tổ chức xã hội, dẫn đến hành chính
hóa bộ máy của các tổ chức xã hội vốn là những tổ chức tự nguyện.
3. Kết hợp các lực lượng
Công cuộc cải cách hành chính nhà nước, nâng cao trình độ quản lý nhà
nước cần được thực hiện với sự kết hợp các lực lượng trong bộ máy nhà
nước, giữa bộ máy nhà nước với các tổ chức trong hệ thống chính trị và với
các tổ chức xã hội dân sự, trên cơ sở phát huy sự tham gia nhiệt tình của
toàn dân và của các doanh nghiệp.
Trước hết, cải cách hành chính chỉ có thể triển khai thuận lợi trên cơ sở đổi
mới sự lãnh đạo của Đảng mà quan trọng nhất là xác định cho rõ mối quan
hệ giữa Đảng và Nhà nước. Chừng nào cấp ủy Đảng còn can thiệp trực
tiếp, không căn cứ vào các quy định của luật pháp, trong việc xử lý các vấn
đề của doanh nghiệp, như cấp đất, cho vay vốn, thực hiện các dự án, xét xử
các vụ án kinh tế, xử lý các khiếu nại, tố cáo đối với cơ quan nhà nước,
v.v... thì không những không phát huy được vai trò của Nhà nước, ảnh
hưởng xấu đến việc quản lý nhà nước bằng pháp luật, mà còn tạo tâm lý ỷ
lại của cơ quan chính quyền vào cấp ủy Đảng, không đề cao được trách
nhiệm cá nhân trong quản lý. Chính vì vậy, cần thực hiện đúng như Nghị
quyết Đại hội lần thứ X của Đảng đã chỉ rõ: “Đảng lãnh đạo Nhà nước
bằng đường lối, quan điểm, các nghị quyết, lãnh đạo thể chế hóa, cụ thể
hóa thành Hiến pháp, pháp luật, kế hoạch, các chương trình công tác lớn
của Nhà nước; bố trí đúng cán bộ và thường xuyên kiểm tra việc tổ chức
thực hiện. Đảng lãnh đạo nhưng không bao biện, làm thay Nhà nước; trái

17
CIEM _ Trung tâm Thông tin – Tư liệu


lại, phát huy mạnh mẽ vai trò chủ động, sáng tạo của Nhà nước trong quản
lý đất nước và xã hội”10.
Đồng thời, cần thu hút sự tham gia của dân và doanh nghiệp, của các tổ
chức xã hội dân sự vào công việc cải cách hành chính nhà nựớc. Nhà nước
không thể ôm đồm những việc không thuộc chức năng của mình, có những
việc cần thiết và có thể chuyển giao cho doanh nghiệp hoặc tổ chức xã hội
dân sự thực hiện. Trước mỗi công việc, cần đặt ra những câu hỏi như sau;
(i) những công việc nhất thiết Chính phủ phải làm vì đúng chức năng của
Chính phủ; không ai thay thế được; (ii) những công việc mà có thể có cả
Chính phủ, dân và tổ chức xã hội dân sự cùng làm; (iii) những công việc
mà Chính phủ có thể làm hoặc có thể không làm; và (iv) những công việc
cần chuyển giao cho dân, doanh nghiệp hoặc tổ chức xã hội - nghề nghiệp
làm, Chính phủ không làm.
Đó là những căn cứ để tổ chức bộ máy và bố trí công chức cũng như quyết
định những khoản chi bằng nguồn vốn của Nhà nước. Làm được như vậy
cũng tức là tăng cường vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với toàn xã
hội, để Nhà nước tập trung vào chức năng quản lý bằng pháp luật, chính
sách và hướng dẫn, kiểm tra, kiểm soát.
4. Nắm vững khâu mấu chốt
Cải cách nền hành chính nhà nước, nâng cao năng lực quản lý nhà nước
của bộ máy hành chính bao gồm nhiều nội dụng, trong đó khâu mấu chốt là
thể chế, chủ yếu là thể chế kinh tế, thể chế hành chính.
Nhà nước cần tập trung vào việc hoạch định thể chế và thực hiện thể chế,
bảo đảm cho thể chế đi vào cuộc sống, chuyển thành hành động của hàng
triệu người dân, hàng chục vạn doanh nghiệp nhằm mục tiêu xây dựng và
phát triển đất nước. Trong tình hình nước ta hiện nay, thể chế kinh tế phải
tập trung vào các lĩnh vực (i) tạo lập đồng bộ các yếu tố của thị trường và
các chính sách bảo đảm cho các thị trường vận hành lành mạnh, khắc phục
sự can thiệp bằng mệnh lệnh hành chính làm méo mó thị trường; (ii) tạo
khung khổ pháp lý, môi trường thuận lợi cho sự ra đời và hoạt động của các
loại hình doanh nghiệp, bảo đảm cho các doanh nghiệp kinh doanh đúng
pháp luật, cùng hợp tác và cạnh tranh bình đẳng, xóa bỏ những ưu ái đối
với doanh nghiệp nhà nước, tập đoàn kinh tế nhà nước gây ra sự bất bình
đẳng trong kinh doanh; (iii) đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính nhằm
thực thi thể chế một cách đúng đắn, để thể chế phát huy tác dụng trong thực

10

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.137

18
CIEM _ Trung tâm Thông tin – Tư liệu


tế, giảm bớt phiền hà, khó khăn cho doanh nghiệp, đi đôi với tăng cường
quản lý nhà nước, khắc phục những hành vi kinh doanh bất hợp pháp.
Cần đổi mới cách soạn thảo thể chế, thu hút thật rộng rãi ý kiến của các
doanh nghiệp, các chuyên gia trong quá trình soạn thảo, khắc phục tình
trạng thể chế không sát với yêu cầu của cuộc sống, trái với các quy luật của
thị trường, nhất là khắc phục tình trạng cơ quan chủ trì soạn thảo cố ý đưa
vào những điều khoản có lợi cho cơ quan, ngành, đẩy khó khăn cho dân và
doanh nghiệp. Đối với những chính sách quan trọng, có tác động lớn đến
đời sống xã hội, cần nghiên cứu tác động của chính sách sẽ thực hiện đối
với các tầng lớp sẽ bị tác động bởi chính sách.
5. Nói đi đôi với làm
Nói đi đôi với làm là một giải pháp xuất phát từ thực tế, vì không ít thể chế,
chính sách rất đúng đắn của Đảng và Nhà nước không đi vào cuộc sống,
thậm chí bị biến dạng qua các cấp hành chính, lại đang có không ít cơ quan,
công chức nói nhưng không làm hoặc nói một đằng, làm một nẻo, không
những không phục vụ được mục tiêu đề ra mà còn gây ra mất lòng tin của
dân và doanh nghiệp đối với cơ quan nhà nước.
Vì vậy, cần (i) bảo đảm cho các quan điểm trong thể chế, chính sách được
thấu suốt trong hệ thống cơ quan hành chính các cấp, bằng nhiều hình thức
giáo dục, tuyên truyền thật sâu rộng; (ii) công bố công khai, minh bạch,
rộng rãi các chủ trương, chính sách của Nhà nước trên các phương tiện
thông tin đại chúng, nhất là trong những tầng lớp chịu tác động nhiều nhất
(được hưởng lợi hoặc chịu thiệt thòi) do chính sách mới ban hành; (iii) tổ
chức thanh tra, kiểm tra chặt chẽ việc thực hiện thể chế, chính sách mới,
qua đó xem xét việc thi hành chính sách trong thực tế, khen thưởng và kỷ
luật nghiêm minh; đồng thời qua đó, có thể phát hiện những nội dung
không phù hợp để bổ sung, sửa đổi; và (iv) kiểm tra chặt chẽ việc thi hành
Luật Công vụ.
Để “nói đi đôi với làm”, cần thiết tăng cường sự kiểm tra, giám sát của dân
và doanh nghiệp và các tổ chức đại diện doanh nghiệp (các hội, hiệp hội
doanh nghiệp) đối với các cơ quan hành chính và công chức. Phải thực hiện
“trách nhiệm giải trình” của cơ quan nhà nước đối với dân và doanh
nghiệp, thực hiện thường xuyên việc cơ quan hành chính tiếp xúc với đại
diện dân và doanh nghiệp để báo cáo công việc đã làm, sơ kết việc thực
hiện những chính sách lớn, quan trọng, qua đó thấy được tình hình triển
khai thực hiện chính sách, uốn nắn những sai trái và đôn đốc việc thực
hiện.
19
CIEM _ Trung tâm Thông tin – Tư liệu


6. Thực sự phục vụ nhân dân
Đây là một vấn đề thuộc trách nhiệm đạo đức của đội ngũ công chức với
yêu cầu hình thành một đội ngũ công chức “vừa hồng, vừa chuyên”, thực
sự là “công bộc” của dân. Hiện nay, vấn đề này đang trở thành bức xúc vì
trong thực tế không ít công chức đã và đang lợi dụng quyền hạn và trách
nhiệm tham ô, tư lợi, đục khoét của công, gây phiền hà, sách nhiễu dân và
doanh nghiệp. Trong nhiều vấn đề của nền hành chính nhà nước cần được
chấn chỉnh hiện nay, điều mà doanh nhân kêu ca, phàn nàn nhiều nhất
chính là thái độ ứng xử của đội ngũ nhân viên, công chức các cơ quan công
quyền. Trong số họ, không ít người chưa đủ nhận thức về chức năng phục
vụ của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường, chưa nhận rõ doanh nhân là
tầng lớp nhân dân đã đóng thuế để nuôi mình mà mình phải phục vụ. Chính
do nhận thức ấy mà có những công chức vẫn tự cho mình là cấp trên, người
có quyền ban ơn, có quyền “cho” và coi doanh nhân là kẻ dưới, phải “xin”,
chịu sự ban ơn của họ.
Vì vậy, cần phấn đấu về hai mặt:
(i) Đối với công chức, cần tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao ý thức phục vụ
dân và doanh nghiệp, tận tụy đối với công việc, coi việc của doanh nghiệp
như việc của mình mà hết lòng hết sức thực hiện đến nơi đến chốn, không
đùn đẩy, trốn tránh trách nhiệm; khắc phục tình trạng có những kiến nghị
của doanh nghiệp bị kéo dài hết năm này qua năm khác, không cơ quan nào
chịu trách nhiệm chính trong việc giải quyết, gây ra tốn kém, mất thời cơ
của doanh nghiệp. Công chức phải chấp hành nghiêm túc Luật Công vụ,
lấy việc tận tâm, tận lực phục vụ dân và doanh nghiệp là mục tiêu cao nhất,
là niềm vui và lẽ sống của mình.
(ii) Đối với cơ quan, cần tăng cường kỷ luật công vụ: phân công cụ thể và
công bố công khai trách nhiệm của mỗi công chức; có cơ chế thưởng phạt
nghiêm minh. Các thủ tục, quy chế hành chính phải được công bố công
khai, minh bạch, để làm căn cứ cho doanh nhân biết và thực hiện, đồng thời
cũng là căn cứ để doanh nhân giám sát công việc của công chức; nhất là
phải được thi hành thông suốt từ trên xuống dưới, khắc phục tình trạng
“chưa được cấp trên hướng dẫn”. Đồng thời, chú trọng bồi dưỡng kiến thức
nghiệp vụ chuyên môn kỹ thuật cho công chức; thực hiện chế độ lương
thưởng và tạo điều kiện cho công chức thực hiện thuận lợi chức trách của
mình.
7. Trau dồi văn hóa quản lý

20
CIEM _ Trung tâm Thông tin – Tư liệu


Văn hóa quản lý nói ở đây là văn hóa của các cơ quan công quyền, là nói
đến tư duy, quan niệm, cách ứng xử, phong cách sinh hoạt, v.v...của bộ
máy hành chính nhà nước và của mỗi công chức trong quan hệ với dân và
doanh nghiệp, với ý nghĩa của một bộ máy hành chính thực sự "của dân, do
dân và vì dân". Từ thực tiễn nước ta, có thể sơ bộ nêu lên những yêu cầu
chủ yếu của văn hoá quản lý trong thời kỳ mới như sau.
a) Trước hết, văn hoá quản lý là sự tự nguyện làm đày tớ trung thành của
nhân dân, thực hiện đúng "dân là chủ, công chức là đày tớ", chuyển bộ máy
hành chính từ chỗ đơn thuần là "cai trị" sang bộ máy "phục vụ dân" là
chính. Chính quyền phải coi nhiệm vụ phục vụ người dân và doanh nghiệp
là nhiệm vụ chính, quan trọng nhất (bên cạnh các nhiệm vụ về an ninh,
quốc phòng). Cơ quan nhà nước và công chức phải giành khó khăn về
mình, tạo thuận lợi nhất cho dân và doanh nghiệp trong đời sống và kinh
doanh.
b) Đó là lòng tin yêu, kính trọng, học hỏi, phát huy tài năng và trí tuệ của
từng người và của cả dân tộc, với niềm tin vững chắc vào sức mạnh sáng
tạo của dân, của các thành phần kinh tế. Mọi việc làm của bộ máy đều
nhằm giải phóng mọi năng lực sản xuất, coi con người là mục tiêu, là cái
đích tối thượng của toàn bộ công cuộc phát triển, thực sự coi sự nghiệp đổi
mới và phát triển đất nước là của dân, do dân và vì dân. Từ thể chế quản lý
cho đến các công việc cụ thể như kế hoạch, quy hoạch phát triển, xây dựng
công trình, giải phóng mặt bằng, bố trí tái định cư, v.v... đều phải quan tâm
đáp ứng các nhu cầu cụ thể, các điều kiện sinh sống của dân cư.
c) Minh bạch hóa, công khai hóa các thể chế, chính sách là một yêu cầu rất
quan trọng của văn hóa quản lý, không những là nhằm bảo đảm quyền
được thông tin của dân mà còn nhằm tôn trọng phản biện xã hội một cách
thiết thực, để phát huy trí tuệ của dân, lắng nghe ý kiến, tâm tư của dân,
góp phần hoàn chỉnh thể chế quản lý, chống quan liêu, tham nhũng. Những
vấn đề thuộc về bí mật nhà nước cần được quy định chặt chẽ, hạn chế đến
mức thấp nhất, khắc phục tình trạng vin vào giữ bí mật mà bao che cho
những hành vi xâm phạm quyền được thông tin của xã hội.
d) Văn hóa quản lý phải được cụ thể hóa trong mỗi cơ quan hành chính
thành những quy chế cơ quan, nội quy công sở, trong đó có những quy định
cụ thể và thủ tục cần thiết về từng loại công việc và của mỗi công chức
trong các hoạt động liên quan đến dân và doanh nghiệp. Văn hoá quản lý
không chỉ đọng lại trên lời nói, trong các bài diễn văn tại các cuộc hội nghị,
cũng không chỉ trong các văn kiện, các văn bản quy phạm pháp luật, các
thông tư, chỉ thị, mà phải được thể hiện trong cách làm việc hàng ngày của
21
CIEM _ Trung tâm Thông tin – Tư liệu


mỗi cán bộ, công chức thuộc mọi ngành, mọi cấp, từ trung ương đến cơ sở;
thể hiện sinh động trong cuộc sống thường ngày.
Phần hai
NÂNG CAO NĂNG LỰC KINH DOANH CỦA DOANH NHÂN
I. Thực trạng và vấn đề
1. Sự hình thành tầng lớp doanh nhân ở Việt Nam
Tầng lớp doanh nhân nước ta được hình thành và ngày càng phát triển từ
khi công cuộc đổi mới được triển khai. Thực tiễn đã khẳng định doanh
nhân nước ta đã thực sự là đội ngũ xung kích, đóng góp rất quan trọng vào
sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước.
Doanh nhân là người trực tiếp quản lý, điều hành các hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp, họ có trách nhiệm kinh doanh những tài sản
được giao (hoặc của bản thân họ), làm ra được nhiều lợi nhuận, nếu kinh
doanh kém, họ có thể không được sử dụng tiếp; đồng thời, họ cũng có
quyền hạn cao nhất trong việc điều hành các hoạt động của doanh nghiệp;
đương nhiên, họ được hưởng thù lao tương xứng với cống hiến của họ để
ràng buộc trách nhiệm của họ với lãi của tài sản mà họ được hưởng và kích
thích động cơ làm ăn lâu dài của họ.
Trong thể chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp, do không công
nhận sản xuất hàng hoá và thị trường, cũng không có doanh nghiệp và
doanh nhân thực thụ, theo đúng nghĩa. Chỉ được phép tồn tại khu vực kinh
tế quốc doanh và khu vực kinh tế hợp tác xã; còn khu vực kinh tế dân
doanh bị coi là "phi xã hội chủ nghĩa", chủ doanh nghiệp tư nhân là đối
tượng bị cải tạo. Trong thể chế đó, giám đốc doanh nghiệp nhà nước đều là
"cán bộ", được bổ nhiệm theo ngạch bậc công chức. Trong xí nghiệp sản
xuất, họ điều hành sản xuất theo chỉ tiêu pháp lệnh; trong xí nghiệp phân
phối vật tư, hàng hoá, họ là người cấp phát hàng hoá, vật tư theo lệnh. Họ
không có động lực nào thúc đẩy phải nâng cao hiệu quả kinh doanh của
doanh nghiệp, do đó, cũng không có yêu cầu nâng cao trình độ của bản
thân mình. Thang lương của họ được xếp theo quy mô của xí nghiệp, số lao
động càng nhiều thì lương càng ở bậc cao, được nâng bậc theo thâm niên,
đến hẹn lại lên, bất kể tình hình sản xuất kinh doanh của xí nghiệp.
Tuy vậy, thời đó cũng có những giám đốc và chủ nhiệm hợp tác xã giàu
tâm huyết và có năng lực, có sáng kiến và một số địa phương đã dũng cảm
sáng tạo nhiều cách làm ăn mới có hiệu quả, lúc đó gọi là "xé rào", đạt một
số thành tích, song vẫn bị nhiều hạn chế do thể chế kế hoạch hoá tập trung
22
CIEM _ Trung tâm Thông tin – Tư liệu


quan liêu bao cấp. Điều cần được ghi nhận là chính một số tìm tòi, thể
nghiệm của một số giám đốc, chủ nhiệm hợp tác xã và địa phương thời kỳ
đó gắn với cuộc sống, gắn với nhân dân, đã ở cội nguồn của công cuộc đổi
mới, góp phần tạo điều kiện cho công cuộc đổi mới sâu rộng sau này.
Đến những năm chuyển sang thể chế kinh tế thị trường, người dân được trả
lại quyền kinh doanh hợp pháp, kinh tế dân doanh được công nhận, được
Nhà nước bảo hộ về tư liệu sản xuất, về sở hữu và quyền bình đẳng trước
pháp luật. Từ đó, xuất hiện một lớp người mới trong lĩnh vực kinh doanh,
đối mặt trực tiếp với thị trường, đó là doanh nhân, một thành quả đặc biệt
của công cuộc đổi mới. Doanh nhân đã thực sự trở thành một tầng lớp xã
hội mới, bao gồm doanh nhân trong kinh tế dân doanh, từ người chủ hộ
kinh tế gia đình, chủ trang trại, chủ nhiệm các tổ sản xuất, các hợp tác xã
đến giám đốc các doanh nghiệp tư nhân, giám đốc các loại hình công ty kể
cả trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Luật Doanh nghiệp 1999 và tiếp theo là Luật Doanh nghiệp 2005 quy định
rõ quyền bình đẳng trong kinh doanh của các loại doanh nghiệp thuộc các
thành phần kinh tế - là một mũi đột phá của tư duy mới giải phóng mọi
năng lực sản xuất, làm giàu cho đất nước, khuyến khích mạnh mẽ sự phát
triển của các loại hình doanh nghiệp và tạo môi trường thuận lợi cho sự
trưởng thành của đội ngũ doanh nhân.
2. Thực trạng doanh nhân nước ta hiện nay và vấn đề đặt ra
Tình hình chung
Doanh nhân nước ta còn quá mỏng về số lượng. Đến hết năm 2007, cả
nước ta 85 triệu dân mới có khoảng 350.000 doanh nghiệp. Có thể so sánh
với nước Bỉ: một nước chỉ có khoảng 10 triệu dân nhưng có tới 700.000
doanh nghiệp; nước Pháp với 60 triệu dân có tới 2,4 triệu doanh nghiệp;
Đài Loan 22 triệu dân có 1,2 triệu doanh nghiệp. Số doanh nghiệp của ta
còn ít có nguyên nhân từ những năm dài trong thể chế kế hoạch hoá tập
trung bao cấp và những năm chiến tranh; đến nay, ta mới có điều kiện khắc
phục dần. Điều này một phần do quan niệm của ta về doanh nghiệp còn
hẹp; nếu theo quan niệm phổ biến trên thế giới, thì số doanh nghiệp ở nước
ta cao hơn nhiều, tuy vẫn quá ít so với các nước.
Doanh nhân nước ta có những mặt mạnh như có trình độ văn hoá, thông
minh, nhạy bén, nhanh chóng tiếp cận và vận dụng những kiến thức mới;
nhưng có nhiều mặt yếu về năng lực quản lý, về kiến thức pháp luật, về đạo
đức kinh doanh mà đáng chú ý là thiếu tính cộng đồng, thiếu ý chí làm ăn
lớn, chưa dám mạo hiểm và chịu rủi ro, chữ tín kém.
23
CIEM _ Trung tâm Thông tin – Tư liệu


Theo kết quả điều tra, khảo sát những năm gần đây, chúng ta có những số
liệu sau đây:
- Xuất thân của giám đốc doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu
hạn: có gần 40% trước đây đã là giám đốc, phó giám đốc doanh nghiệp nhà
nước, 25% đã là cán bộ các cơ quan quản lý nhà nước;
- Trên 80% chủ doanh nghiệp là nam; tỷ lệ nữ giữ chức vụ giám đốc trong
công ty trách nhiệm hữu hạn là 23%;
- Độ tuổi giám đốc: trung bình là 40, trong đó độ tuổi 40-49 là 42%, độ tuổi
50-59 là 32%, độ tuổi 30-39 là 20%;
- Về trình độ học vấn: 77% có trình độ đại học; một số đã qua những lớp
đào tạo về quản lý kinh doanh.
- Đối với đội ngũ người quản lý trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa, cũng
theo các cuộc khảo sát, đa số vừa là chủ sở hữu vừa là người điều hành
doanh nghiệp, hầu hết đều thiếu kiến thức quản lý cần thiết, chỉ có 60% chủ
doanh nghiệp là qua lớp quản lý trên dưới 3 tháng; 44% biết rõ các luật
thuế, 25% biết Luật Lao động, 22% biết Luật phá sản.
Những yếu kém trong quản lý kinh doanh
Trước yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập kinh tế quốc tế của thời kỳ
mới, doanh nhân nước ta đang bộc lộ nhiều mặt yếu kém. Có thể nêu lên
một số điểm chính sau đây.
Tầm nhìn hạn hẹp. Vào WTO, gia nhập sân chơi lớn toàn cầu, doanh nhân
nước ta đứng trước một không gian kinh tế rộng lớn hơn trước rất nhiều, đã
là một doanh nhân “toàn cầu”. Công việc kinh doanh mở ra trên toàn cầu,
đòi hỏi ở mỗi doanh nhân một tầm nhìn mới với những kiến thức mới, cung
cách kinh doanh mới để thích nghi và phát triển. Thế nhưng, doanh nhân
nước ta chưa có đủ tầm nhìn về những vấn đề quan trọng như: tầm nhìn đối
với thị trường toàn cầu; đối với cạnh tranh toàn cầu; đối với nguồn vốn
toàn cầu và nguồn nhân lực toàn cầu, v.v... Tầm nhìn hạn hẹp đang hạn chế
việc khai thác thời cơ, hạn chế thách thức và do đó, ảnh hưởng đến việc
nắm lấy thời cơ để tận dụng, vượt lên và trưởng thành. Do tầm nhìn hạn
hẹp, doanh nhân nước ta thường mới tập trung vào kinh doanh ngắn hạn,
thiếu chiến lược kinh doanh bài bản, thường kinh doanh theo kinh nghiệm,
thiếu nghiên cứu thị trường , kể cả thị trường trong nước và thị trường nước
ngoài, thiếu phân tích đối thủ cạnh tranh, v.v...
24
CIEM _ Trung tâm Thông tin – Tư liệu


Yếu kém trong quản trị doanh nhiệp. Trong quản trị doanh nghiệp, doanh
nhân nước ta đang còn nhiều yếu kém trong nhiều lĩnh vực chủ yếu. (i)
Trong quản lý nhân lực, là một trong những yếu tố then chốt trong năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp hiện nay, nhiều doanh nhân nước ta cũng
chưa có phương huớng hoặc nguồn lực để đào tạo lại, bổ sung kiến thức
cho nguồn nhân sự hiện có, kể cả nhân sự cho bộ máy điều hành cũng như
cho người lao động. (ii) Trong quản lý tài chính doanh nghiệp, bộ máy kế
toán, thống kê chưa đủ chuyên nghiệp, còn nhiều lúng túng, nhầm lẫn, kể
cả trong việc hạch toán chi phí kinh doanh, thường bị cơ quan thuế phạt.
(iii) Trong việc ứng dụng công nghệ, nhất là đối với nhiều doanh nghiệp
trong các làng nghề, rất cần đổi mới công nghệ để giảm thiểu ô nhiễm môi
trường, doanh nhân cũng còn nhiều lúng túng, kể cả về phương hướng ứng
dụng và nguồn lực để thực hiện.
Thiếu sót trong việc thực hiện các trách nhiệm xã hội. (i) Đối với người lao
động trong doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp thường không làm đầy đủ
trách nhiệm trong việc thi hành Luật Lao động, như về giờ giấc làm việc,
tiền lương, thưởng, bảo hiểm xã hội, cũng như thực hiện các biện pháp để
người lao động yên tâm gắn bó lâu dài với doanh nghiệp. (ii) Đối với khách
hàng là người tiêu dùng, vẫn còn những trường hợp doanh nhân kinh doanh
dối trá, làm hàng nhái, hàng rởm, hàng không bảo đảm tiêu chuẩn chất
lượng, thiếu vệ sinh an toàn thực phẩm, ảnh hưởng đến quyền lợi của
khách hàng. (iii) Đối với đối tác, còn những doanh nhân thiếu tôn trọng chữ
tín trong giao dịch, thường vi phạm hợp đồng về giao nhận hàng hóa. (iv)
Đối với Nhà nước, thường có các hành vi vi phạm pháp luật như trốn thuế,
lậu thuế; một số doanh nhân lợi dụng đăng ký kinh doanh để mua bán hóa
đơn đỏ kiếm lời bất chính. (v) Đối với địa phương nơi doanh nghiệp cư trú,
thường không bảo đảm vệ sinh an toàn môi trường, thậm chí gây ô nhiễm
môi trường, hoặc thiếu tôn trọng phong tục tập quán địa phương, gây ra
tranh chấp, v.v...
II. Kiến nghị một số giải pháp
1. Rèn luyện tinh thần kinh doanh
Đối với nước ta, vấn đề rèn luyện tinh thần kinh doanh có tầm quan trọng
hàng đầu, không chỉ vì đây là một phẩm chất cần có của mỗi doanh nhân
khi nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi từ kế hoạch hóa tập trung
quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường, những rơi rớt của tư duy kinh tế
cũ đang còn dai dẳng, mà vì bước vào thời kỳ mới, khi nước ta đã là thành
viên của WTO, cuộc cạnh tranh trên thị trường toàn cầu diễn ra hết sức
25
CIEM _ Trung tâm Thông tin – Tư liệu


x

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×