Tải bản đầy đủ

Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thu hút FDI trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp tại hải phòng

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
TRỌNG HIẾU

GVHD: ĐOÀN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT
CHXHCN

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

CNH-HĐH

Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa

CSHT

Cơ sở hạ tầng

DN

Doanh nghiệp


DNNN

Doanh nghiệp nước ngoài

ĐTNN

Đầu tư nước ngoài

GCNĐT

Giấy chứng nhận đầu tư

KCN

Khu công nghiệp

KCX

Khu chế xuất

KKT

Khu kinh tế

SXKD

Sản xuất kinh doanh

TNHH

Trách nhiệm hữu hạn

TPHCM

Thành phố Hồ Chí Minh

XTĐT

Xúc tiến đầu tư


1


NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
TRỌNG HIẾU

GVHD: ĐOÀN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG ANH
ASEAN
BCC

Association of Southeast
Asia Nations
Business Co-operation
Contract

Hiệp hội quốc gia Đông Nam Á
Hợp đồng hợp tác kinh doanh
Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển
giao
Xây dựng - Chuyển giao - Kinh
doanh

BOT

Build - Operation - Transfer

BTO

Build - Transfer- Operation

BT

Build – Transfer

Xây dựng - Chuyển giao

FDI

Foreign Direct Investment

Đầu tư trực tiếp nước ngoài

FOC

Foreign Operation Contract

Hợp đồng 100% vốn nước ngoài

GDP

Gross Domestic Product

Tổng sản phẩm quốc nội

IMF

International Money Fund

Quỹ tiền tệ quốc tế

JVC

Joint Venture Contract

Hợp đồng liên doanh

M&A

Merges and Acquisitions

Sát nhập và mua lại

MNC

Multinational Corporation

Công ty đa quốc gia

NIC
ODA
CPI

Newly Industrialized
Country
Official Development
Assistant
Provincial Competitiveness
Index

Nước công nghiệp mới
Viện trợ phát triển chính thức
Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

TNC

Transnational corporation

Công ty xuyên quốc gia

WB

World Bank

Ngân hàng thế giới

WTO

World Trade Orgnization

Tổ chức Kinh tế Thế giới

2


NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
TRỌNG HIẾU

GVHD: ĐOÀN

DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1: Dòng vốn FDI vào Việt Nam từ 1988-2012..................................................21
Biểu đồ 1.2: Tình hình thu hút và giải ngân vốn FDI của Việt Nam đến T3-2015...........22
Biểu đồ 1.3: Tỷ trọng vốn FDI vào Việt Nam theo quốc gia năm 2014 ..........................23
Biểu đồ 1.4: Cơ cấu vốn FDI vào Việt Nam theo lĩnh vực đầu tư....................................25
Biểu đồ 2.1: So sánh tốc độ tăng trưởng GDP Hải Phòng và bình quân cả nước.............28
Biểu đồ 2.2: Cơ cấu vốn đầu tư FDI ở Hải Phòng theo lĩnh vực đầu tư...........................38
Biểu đồ 2.3: Top 10 quốc gia đầu tư nhiều nhất tại Hải Phòng (2000 – 2014).................41
Biểu đồ 2.4: Cơ cấu hình thức đầu tư theo số dự án..........................................................43
Biểu đồ 2.5: Đóng góp của khu vực FDI vào GDP của Hải Phòng (2008 – 2014)..........44
Biểu đồ 2.6: Đóng góp của khu vực FDI vào giá trị sản xuất công nghiệp của Hải Phòng
giai đoạn 2001-2014............................................................................................................46
Biểu đồ 2.7: Đóng góp của khu vực FDI vào giá trị xuất khẩu toàn thành phố...............47

DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Các nước đầu tư FDI nhiều nhất tại Việt Nam..................................................24
Bảng 2.1: Tổng hợp kết quả chỉ số PCI 2009-2014 của Thành phố Hải Phòng...............29
Bảng 2.2: Kết quả 10 chỉ số thành phần PCI 2014 - TP Hải Phòng..................................30
Bảng 2.3: Ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp cho các doanh nghiệp FDI..................34
Bảng 2.4: Cơ cấu vốn đầu tư FDI vào các ngành công nghiệp Hải Phòng.......................40
Bảng 2.5: Đóng góp của khu vực FDI vào tổng nguồn vốn đầu tư phát triển của Hải
Phòng...................................................................................................................................45
Bảng 2.6: So sánh năng lực cạnh tranh trong thu hút FDI của các quốc gia thuộc
ASEAN +1..........................................................................................................................54

DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 2.1: Bản đồ vị trị địa lý thành phố Hải Phòng........................................................26

3


NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
TRỌNG HIẾU

GVHD: ĐOÀN

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài

Toàn cầu hóa kinh tế đang phát triển mạnh mẽ và trở thành một xu hướng tất yếu. Kể
từ khi gia nhập WTO (11/1/2007), Việt Nam ngày càng tham gia sâu hơn vào tiến trình
hội nhập kinh tế quốc tế, và điều đó đã tác động mạnh tới quá trình phát triển kinh tế đất
nước. Trong những năm vừa qua, Việt Nam đã đón nhận nhiều làn sóng đầu tư trực tiếp
nước ngoài đến từ nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau như: Nhật Bản, Singapore,
Đài Loan…Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI có thể nói đã tác động khá tích
cực lên nhiều khía cạnh khác nhau của đời sống kinh tế - xã hội của Việt Nam.
Là một thành phố cảng, đầu mối giao thông quan trọng giao lưu kinh tế trong nước và
quốc tế, Hải Phòng đã chủ động nắm bắt xu hướng, đổi mới và thu hút vốn đầu tư nước
ngoài để phát triển nền kinh tế xã hội theo hướng hiện đại. Vốn FDI vào Hải Phòng đã và
đang là nguồn vốn bổ sung quan trọng, làm gia tăng năng lực sản xuất kinh doanh của
thành phố, đặc biệt là sản xuất công nghiệp. Khối doanh nghiệp FDI tại Hải Phòng tham
gia vào nhiều ngành sản xuất công nghiệp chủ chốt như thép cán, thiết bị cơ khí, xi măng,
dây cáp điện, hàng điện tử, sản phẩm plastic, da giày, dệt may, dược… Việc thu hút FDI
đã góp phần quan trọng chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng của Hải Phòng, thể hiện
qua một loạt dự án công nghệ cao, hiện đại. Từ đó, có vai trò tích cực trong chuyển giao
công nghệ, đào tạo nhân lực; tạo thêm nhiều việc làm mới với thu nhập ổn định; đóng
góp cho ngân sách; thúc đẩy xuất khẩu…
Nhận thức được tầm quan trọng của vốn đầu tư nước ngoài FDI đối với các ngành sản
xuất công nghiệp tại Hải Phòng, em đã chọn đề tài “Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
thu hút FDI trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp tại Hải Phòng” làm đề tài nghiên cứu
khoa học.
2. Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là đưa ra được các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
hoạt động thu hút FDI trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp tại Hải Phòng trong thời gian
tới.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ đặt ra của bài viết là:
- Hệ thống hóa cơ sở lí luận về FDI.
4


NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
TRỌNG HIẾU

GVHD: ĐOÀN

- Phân tích thực trạng hoạt động thu hút vốn FDI trong sản xuất công nghiệp tại Hải
Phòng, đánh giá thành tựu, hạn chế và những nguyên nhân.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thu hút vốn FDI trong sản xuất
công nghiệp tại Hải Phòng trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động thu hút vốn FDI.

- Phạm vi nghiên cứu: Lĩnh vực sản xuất công nghiệp tại Hải Phòng và một số địa
phương khác để so sánh và rút ra bài học kinh nghiệm cho Hải Phòng.
5. Phương pháp nghiên cứu:

Đề tài được sử dụng một số Phương pháp nghiên cứu như:
6.

Phương pháp hệ thống, tổng hợp, thống kê, phân tích
Phương pháp liệt kê, phân loại
Phương pháo duy vật biện chứng
Phương pháp so sánh, đối chiếu
Một số phương pháp khác
Kết cấu của đề tài:
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của bài viết được
chia làm 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động FDI
Chương 2:Thực trạng hoạt động thu hút vốn FDI trong lĩnh vực sản xuất công
nghiệp tại Hải Phòng.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thu hút vốn FDI
trong sản xuất công nghiệp tại Hải Phòng.
Em xin chân thành cám ơn thầy ĐOÀN TRỌNG HIẾU đã tận tình giúp đỡ để chúng
em hoàn thành tốt đề tài này. Mặc dù đã cố gắng hết sức nhưng trong quá trình nghiên
cứu và tìm hiểu cũng không tránh khỏi những khuyết điểm và sai sót. Em rất mong nhận
được những ý kiến đóng góp từ các thầy cô để bài viết của chúng em được hoàn thiện
hơn.
Em xin chân thành cám ơn!

5


NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
TRỌNG HIẾU

GVHD: ĐOÀN

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
TRONG LĨNH VỰC CÔNG NGHIỆP
1.1.Tổng quan về hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.1. Khái niệm
Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đưa ra định nghĩa về FDI như sau: “FDI là một khoản đầu
tư với những quan hệ lâu dài, thеo đó một tổ chức trong một nền kinh thế (nhà đầu tư
trực tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác”.
Thеo Tổ chức Kinh tế thế giới (WTO), “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra
khi nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác
(nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó”.
Thеo Luật đầu tư Việt Nam 2005, “FDI là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt
Nam vốn bằng tiền hoặc bất kì một tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư thеo
quy định của Luật này” , trong đó nhà đầu tư nước ngoài được hiểu là tổ chức kinh tế, cá
nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam.
Từ những khái niệm trên, có thể rút ra một khái niệm chung về FDI như sau: “Đầu tư
trực tiếp nước ngoài là loại hình đầu tư nhằm mục đích thu được lợi ích lâu dài từ các
doanh nghiệp hoạt động ngoài nền kinh tế của nhà đầu tư. Hơn thế, trong đầu tư
FDI, mục đích của nhà đầu tư là đạt được tiếng nói chủ đạo trong việc quản lý doanh


nghiệp đó.”
Một số khái niệm liên quan:
- Dòng vốn FDI bao gồm vốn FDI inflow – các dòng vốn đầu tư được tiếp nhận và
FDI outflow – các dòng vốn đầu tư từ một nước ra nước ngoài. Trong khuôn khổ đề tài sẽ
chủ yếu nghiên cứu các dòng vốn FDI vào các nước đang phát triển.
- Lượng vốn FDI là số lượng tiền vốn đầu tư hay các tài sản hợp pháp mà chủ đầu tư
sử dụng để góp vốn đầu tư.
- Nước đầu tư: là nước doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động đầu tư ra
nước ngoài.
- Nước chủ nhà: là nước nhận được đầu tư và là nơi hoạt động đầu tư diễn ra.
- Doanh nghiệp FDI là doanh nghiệp do chủ đầu tư nước ngoài sở hữu và vận hành tại
nước nhận đầu tư hoặc doanh nghiệp liên kết với nước ngoài và lượng vốn của chủ đầu tư
nước ngoài đạt một tỉ lệ nhất định trong số vốn pháp định.
- Vốn đăng ký là lượng vốn mà chủ đầu tư cam kết sẽ đầu tư vào nước nhận đầu tư.
- Vốn thực hiện là lượng vốn mà chủ đầu tư thực sự đầu tư.

6


NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
TRỌNG HIẾU

GVHD: ĐOÀN

1.1.2. Đặc điểm của FDI
- FDI chủ yếu là đầu tư tư nhân với mục đích là tìm kiếm lợi nhuận
Do tự quyết định đầu tư và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh, nên chủ đầu tư sẽ chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh có tính
sinh lợi cao. Các nước nhận đầu tư, nhất là các nước đang phát triển cần lưu ý điều này
khi tiến hành thu hút FDI, phải xây dựng cho mình một hành lang pháp lý đủ mạnh và
các chính sách thu hút FDI hợp lý để hướng FDI vào phục vụ cho các mục tiêu phát
triển kinh tế, xã hội của nước mình, tránh tình trạng FDI chỉ phục vụ cho mục đích tìm
kiếm lợi nhuận của các chủ đầu tư.
-

Chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một tỷ lệ vốn tối thiểu trong vốn pháp định hoặc
vốn điều lệ tuỳ theo quy định của luật pháp từng nước để giành quyền kiểm soát hoặc
tham gia kiểm soát doanh nghiệp nhận đầu tư.
Luật các nước thường quy định không giống nhau về vấn đề này. Luật Mỹ quy định
tỷ lệ này là 10%, Pháp và Anh là 20%, Việt Nam theo luật hiện hành là 30% (theo điều 8
Luật ĐTNN 1996), trừ những trường hợp do Chính phủ quy định thì nhà đầu tư nước
ngoài có thể góp vốn với tỉ lệ thấp hơn nhưng không dưới 20% (theo điều 14 mục 2
Nghị định 24/2000 NĐ-CP). Tỷ lệ đóng góp của các bên trong vốn điều lệ hoặc vốn
pháp định sẽ quy định quyền và nghĩa vụ của mỗi bên, đồng thời lợi nhuận và rủi ro
cũng được phân chia dựa vào tỷ lệ này. Theo Luật đầu tư nước ngoài của Việt Nam,
trong doanh nghiệp liên doanh, các bên chỉ định người của mình tham gia vào Hội đồng
quản trị theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp vào vào vốn pháp định của liên doanh.
- Chủ đầu tư tự quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách
nhiệm về lỗ lãi.
Nhà đầu tư nước ngoài được quyền tự lựa chọn lĩnh vực đầu tư, hình thức đầu tư, thị
trường đầu tư, quy mô đầu tư cũng như công nghệ cho mình, do đó sẽ tự đưa ra những
quyết định có lợi nhất cho họ. Vì thế, hình thức này mang tính khả thi và hiệu quả kinh
tế cao, không có những ràng buộc về chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần cho nền
kinh tế nước nhận đầu tư.
- FDI không chỉ bao gồm vốn đầu tư ban đầu của chủ đầu tư dưới hình thức pháp
định và trong quá trình hoạt động, nó còn bao gồm cả vốn vay của doanh nghiệp để triển
khai hoặc mở rộng dự án cũng như vốn đầu tư từ nguồn lợi nhuận thu được.
- FDI thường đi kèm với chuyển giao công nghệ
7


NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
TRỌNG HIẾU

GVHD: ĐOÀN

Thông qua hoạt động FDI, nước chủ nhà có thể tiếp nhận được công nghệ, kĩ thuật
tiên tiến, học hỏi kinh nghiệp quản lý của nước đầu tư, Do vậy, FDI thường đi kèm với
chuyển giao công nghệ, Đây là điểm khác biệt khá lớn giữa FDI với các hình thức đầu tư
khác, cũng là lý do giải thích tại sao các quốc gia tăng cường thu hút nguồn vốn này, đặc
biệt là các nước đang và kém phát triển.
Tóm lại:
- Điểm quan trọng để phân biệt FDI với các hình thức khác là quyền kiểm soát, quyền
quản lý đối tượng tiếp nhận đầu tư.
- Đối với nước tiếp nhận đầu tư: Ưu điểm của hình thức này là tính ổn định và hiệu
quả sử dụng vốn của FDI cao hơn các hình thức khác do nhà đầu tư trực tiếp sử dụng
vốn. Nhà đầu tư không dễ dàng rút vốn để chuyển sang các hình thức đầu tư khác nếu
thấy sự bất ổn của nền kinh tế nước nhận đầu tư. Do đó mức độ ổn định của dòng vốn
đầu tư đối với nước nhận đầu tư cao hơn. Tuy nhiện lại có nhược điểm là nước nhận đầu
tư sẽ bị phụ thuộc vào kinh tế ở khu vực FDI.
- Đối với nhà đầu tư: Chủ động nên có thể nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, lợi
nhuận thu về cao hơn. Có thể chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ sản phẩm, khai thác nguồn
nguyên liệu, nhân công giá rẻ và những lợi thế khác của nước nhận đầu tư, tranh thủ
những ưu đãi từ các nước nhận đầu tư. Tuy nhiên hình thức này mang tính rủi ro cao vì
nhà đầu tư phải chịu hoàn toàn chịu trách nhiệm về dự án đầu tư. Hoạt động đầu tư chịu
sự điều chỉnh từ phía nước nhận đầu tư, không dễ dàng thu hồi và chuyển nhượng vốn.
1.1.3. Các hình thức FDI
1.1.3.1. Theo hình thức thâm nhập
- Đầu tư mới (Greenfield Investment): là hoạt động đầu tư trực tiếp vào các cơ sở sản
xuất kinh doanh hoàn toàn mới ở nước ngoài, hoặc mở rộng một cơ sở sản xuất kinh
doanh đã tồn tại.
- Mua và sát nhập (M&A – Merger and Acquisitions)
Mua và sáp nhập lại là hình thức FDI trong đó hai hay nhiều doanh nghiệp có vốn
FDI đang họat động sáp nhập vào nhau hoặc một doanh nghiệp này (có thể đang hoạt
động ở nước nhận đầu tư hay ở nước ngoài) mua lại một doanh nghiệp có vốn FDI ở
nước nhận đầu tư.

8


NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
TRỌNG HIẾU

GVHD: ĐOÀN

Phần lớn các vụ M&A được thực hiện giữa các tập đoàn xuyên quốc gia và tập trung
vào các lĩnh vực công nghiệp ô tô, dược phẩm, viễn thông và tài chính ở các nước phát
triển. Mục đích chủ yếu của hoạt động đầu tư M&A là:
- Khai thác lợi thế thị trường mới mà họat động thương mại quốc tế hay đầu tư theo
kênh truyền thống không mang lại hiệu quả mong đợi. Họat động này tạo cho các công
ty mở rộng nhanh chóng họat động ra thị trường nước ngoài.
- Bằng con đường M&A các công ty xuyên quốc giA (TNC) có thể sáp nhập các công
ty của mình với nhau hình thành một công ty khổng lồ họat động trong nhiều lĩnh vực
hay các công ty khác nhau cùng họat động trong một lĩnh vực có thể sáp nhập lại nhằm
tăng khả năng cạnh tranh toàn cầu của tập đòan.
- Thông qua M&A các công ty có thể giảm chi phí từng lĩnh vực nghiên cứu và phát
triển sản xuất, phân phối và lưu thông.
- M&A tạo điều kiện thuận lợi cho việc tái cấu trúc ngành công nghiệp và cơ cấu
ngành công nghiệp ở các quốc gia, do đó hình thức này đóng vai trò quan trọng trong sự
phát triển công nghiệp ở mọi quốc gia.
1.1.3.2. Theo động cơ của nhà đầu tư
- Vốn tìm kiêm tài nguyên: Đây là các dòng vốn nhằm khai thác nguồn tài nguyên
thiên nhiên rẻ và dồi dào của nước tiếp nhận, khai thác nguồn lao động có thể kém về
kỹ năng nhưng giá thấp hoặc khai thác nguồn lao động có kỹ năng dồi dào. Nguồn vốn
loại này còn nhằm mục đích khai thác các tài sản sẵn có thương hiệu ở nước tiếp nhận.
Nó cũng còn nhằm khai thác các tài sản trí tuệ của nước tiếp nhận. Ngoài ra, hình thức
vốn này còn nhằm tranh giành các nguồn tài nguyên chiến lược để khỏi lọt vào tay đối
thủ cạnh tranh.
- Vốn tìm kiếm hiệu quả: Đây là nguồn vốn nhằm tận dụng giá thành đầu vào kinh
doanh thấp ở nước tiếp nhận như giá nguyên liệu rẻ, giá nhân công rẻ, giá các yếu tố
sản xuất như điện, nước, chi phí thông tin liên lạc, giao thông vận tải, mặt bằng sản xuất
kinh doanh rẻ, thuế suất ưu đãi…
-Vốn tìm kiếm thị trường: Đây là hình thức đầu tư nhằm mở rộng thị trường hoặc giữ
thị trường khỏi bị đối thủ cạnh tranh giành mất. Ngoài ra, hình thức đầu tư này còn nhằm
tận dụng các hiệp định hợp tác kinh tế giữa nước tiếp nhận với các nước và khu vực khác,
lấy nước tiếp nhận làm bàn đạp để thâm nhập vào các thị trường khu vực và toàn cầu.
1.1.3.3. Theo Luật đầu tư Việt Nam 2005
9


NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
TRỌNG HIẾU

GVHD: ĐOÀN

Theo Luật đầu tư 2005, FDI được thực hiện dưới 3 hình thức chính như sau:
- Hình thức Hợp đồng hợp tác kinh doanh (Bussiness Corporation Contract –
BCC): là hình thức đầu tư được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân
chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân.
- Hình thức doanh nghiệp liên doanh: là doanh nghiệp do hai hoặc nhiều bên hợp
tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định ký giữa chính
phủ nước CHXHCN Việt Nam và Chính phủ nước ngoài, hoặc doanh nghiệp do doanh
nghiệp có vốn ĐTNN hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam, hoặc do doanh nghiệp liên
doanh hợp tác với nhà ĐTNN trên cơ sở hợp đồng liên doanh. Doanh nghiệp liên doanh
đước thành lập theo hình thức công ty TNHH. Mỗi bên liên doanh chịu trách nhiệm trong
phạm vi phần vốn cam kết góp vào vốn pháp định của doanh nghiệp. Doanh nghiệp liên
doanh có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam, được thành lập và hoạt động kể từ
ngày được cấp giấy phép đầu tư. Vốn pháp định của doanh nghiệp liên doanh ít nhất bằng
30% vốn đầu tư.
- Hình thức doanh nghiệp 100% vốn ĐTNN: là doanh nghiệp thuộc sở hữu của Nhà
nước ĐTNN, do nhà ĐTNN thành lập tại Việt Nam, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về
kết quả kinh doanh. Doanh nghiệp 100% vốn ĐTNN được thành lập theo hình thức công
ty TNHH, có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam, được thành lập và hoạt động kể
từ ngày được cấp giấy phép đầu tư. Vốn pháp định của doanh nghiệp 100% vốn nước
ngoài ít nhất bằng 30% vốn đầu tư.
Luật Đầu tư 2005 cũng quy định thêm FDI có thể được đầu tư theo các phương thức
đặc biệt:
- Hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao (BOT): là hình thức đầu tư được
kí giưa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng, kinh doanh công
trình kết cấu hạ tầng trong một thời hạn nhất định; hết thời hạn, nhà đầu tư chuyển giao
không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nước Việt Nam
- Hợp đồng xây dựng – chuyển giao – kinh doanh: (BTO): là hình thức đầu tư
được kí giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết
cấu hạ tầng. Sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho Nhà nước
Việt Nam. Chính phủ dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong một thời
hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận.

10


NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
TRỌNG HIẾU

GVHD: ĐOÀN

- Hợp đồng xây dựng-chuyển giao (BT): là hình thức đầu tư được kí giữa cơ quan
nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng. Sau khi
xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho nhà nước Việt Nam. Chính phủ
tạo điều kiện cho nhà đầu tư thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận
hoặc thanh toán cho nhà đầu tư theo thỏa thuận trong hợp đồng BT.
1.1.4. Tác động của FDI đến nước nhận đầu tư
1.1.4.1. Tác động tích cực
- FDI tạo điều kiện thuận lợi để nước nhận đầu tư có thể khai thác tốt nhất các lợi thế
sẵn có về tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, nguồn nhân lực … Để tổ chức hoạt động
SXKD, các nhà ĐTNN phải thuê lao động, mua hàng hóa, nguyên vật liệu và dịch vụ cần
thiết của nước sở tại; nhờ vậy nước tiếp nhận đầu tư sẽ có thời cơ để khai thác triệt để các
nguồn nhân lực nhà rỗi và lợi thế sẵn có của mình.
- FDI là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho đầu tư phát triển xã hội của một quốc gia,
đồng thời thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế của quốc gia đó. Trong xu thế hội nhập kinh tế
hiện nay, cùng với các nguồn vốn khác, FDI góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy
phát triển kinh tế của nhiều quốc gia. Đặc biệt ở các quốc gia chậm và đang phát triển, do
nguồn vốn trong nước còn hạn hẹp nên FDI được coi là nguồn bổ sung quan trọng để
thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội. Đồng thời nhờ có công nghệ hiện đại, phương thức
quản lý tiên tiến nên các doanh nghiệp FDI đã tạo ra được các sản phẩm, dịch vụ có chất
lượng cao, góp phần nâng cao GDP, thúc đẩy tăng trưởng của nước tiếp nhận đầu tư.
- Tạo công ăn việc làm, nâng cao tay nghề cho người lao động của nước nhận đầu tư.
Các doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài … thu hút một số
lượng lớn lao động của nước sở tại. Người lao động khi vào làm việc với các doanh
nghiệp có vốn FDI sẽ tiếp thu được phương thức quản lý và tác phong làm việc tiên tiến
của các nước công nghiệp.
- FDI tạo điều kiện cho nước nhận đầu tư được tiếp nhận về vốn, khoa học kĩ thuật,
công nghệ hiện đại và phương thức quản lý kinh doanh tiên tiến. Tất cả các nước nhận
đầu tư đều thông qua FDI để giải quyết những khó khăn trước mắt của họ, nhưng tùy
theo mỗi nước mà có thể chú trọng về vốn, công nghệ hay cách quản lý điều hành. Tuy
nhiên đối với các nước chậm phát triển thì FDI còn mang ý nghĩa quan trọng hơn, đó là
tại cho nền kinh tế của họ có được bước phát triển nhảy vọt cả về chất và về lượng, giúp
họ từng bước tham gia sâu hơn vào tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, và đó cũng là cách
11


NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
TRỌNG HIẾU

GVHD: ĐOÀN

tốt nhất để “đi tắt, đón đầu”, tìm con đường ngắn nhất để nền kinh tế thoát ra khỏi tình
trạng lạc hậu.
- Thông qua tiếp nhận FDI, nước tiếp nhận đầu tư có điều kiện thuận lợi để gắn kết
nền kinh tế trong nước với hệ thống sản xuất, phân phối, trao đổi quốc tế, thúc đẩy quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế của các nước này. Chủ thể chủ yếu của hoạt động FDI trên
thế giới hiện nay là các công ty, tập đoàn xuyên quốc gia, với mạng lưới toàn cầu. Thông
qua tiếp nhận đầu tư của các công ty, tập đoàn này, nước sở tại có điều kiện thuận lợi để
tiếp cận và thâm nhập thị trường quốc tế, mở rộng thị trường xuất khẩu, làm quen với tập
quán thương mại quốc tế, thích nghi nhanh hơn với những thay đổi trên thị trường thế
giới… Chính nhờ vai trò làm cầu nối này mà FDI trở thành nhân tố tích cực đẩy nhanh
quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Với những ưu điểm như vậy, càng có nhiều quốc gia coi trọng FDI và có các chính
sách ưu tiên, khuyến khích nhận FDI trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Trên
thực tế, một số nước đã áp dụng mô hình phát triển sau đây: Trong giai đoạn đầu sử dụng
vốn ODA của các nước lớn, hoặc vay nợ để có vốn đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật ban
đầu. Giai đoạn sau đó chuyển sang thu hút FDI, đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất,
sức cạnh tranh. Và khi có vị thế nhất định, có công nghệ tiên tiến, các doanh nghiệp trong
nước sẽ vươn ra đầu tư nước ngoài, thu lợi nhuận về nước.
1.1.4.2. Tác động tiêu cực.
Bên cạnh những tác động tích cực mà FDI mang lại, nước nhận đầu tư cũng phải chịu
không ít những tác động tiêu cực từ hoạt động tiếp nhận FDI
- Gây ra sự mất cân đối trong cơ cấu đầu tư (giữa vốn trong nước và vốn nước ngoài),
đồng thời có thể khiến cho nền kinh tế phụ thuộc không những vào dòng vốn nước ngoài
mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác từ nhà ĐTNN như: bí quyết kĩ thuật, công nghệ,
cung cấp vật tư, nguyên liệu, bao tiêu sản phẩm… Nên kinh tế phát triển có tính lệ thuộc
bên ngoài, thiếu bền vững, nhất là khi dòng vốn FDI có sự biến động lớn.
- Các nhà ĐTNN thường sử dụng lợi thế của họ để gây sức ép hoặc cạnh tranh không
bình đẳng đối với đối tác ở nước sở tại. Trong trường hợp đầu tư dưới hình thức liên
doanh, nhà ĐTNN thường dùng biện pháp “chuyển giá” thông qua cung ứng vật liệu, chi
tiết, linh kiện, bộ phận sản phẩm dở dang với giá cao, làm cho giá thành sản phẩm cao
một cách giả tạo, giảm lợi nhuận, thậm chí tạo ra tình trạng lỗ giả, lãi thật, gây thiệt hại
cho người tiêu dùng và giảm thu ngân sách Nhà nước sở tại (nhất là trong trường hợp
12


NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
TRỌNG HIẾU

GVHD: ĐOÀN

chính sách và trình độ quản lí của nước sở tại có nhiều kẽ hở). Đối với doanh nghiệp
100% vốn nước ngoài, đôi khi họ áp dụng biện pháp cạnh tranh bằng bán phá giá, chịu lỗ
trong giai đoạn đầu hay các hình thức cạnh tranh không bình đẳng khác để loại trừ đối
thủ, độc chiếm hoặc khống chế thị trường, gây áp lực cho doanh nghiệp trong nước, làm
cho một số ngành sản xuất trong nước chậm phát triển.
- Nếu không có các quy định và sự kiểm soát chặt chẽ, nước tiếp nhận đầu tư dễ trở
thành “bãi thải công nghệ” của các công ty xuyên quốc gia MNC. Lợi dụng trình độ công
nghệ thấp và quản lý yếu kém của nước chủ nhà, một số nhà ĐTNN thông qua con đường
FDI để tiêu thụ những máy móc, thiết bị lạc hậu, thậm chí đã đến hạn thải loại sang nước
tiếp nhận FDI. Thực tế ở nhiều quốc gia cho thấy khi thực hiện dự án liên doanh, các đối
tác nước ngoài đã tranh thủ góp vốn bằng các thiết bị vật tư lạc hậu đã qua sử dụng (được
tân trang lại) hoặc nhiều khi đã đến thời hạn thanh lí, gây thiệt hại lớn cho nền kinh tế của
nước nhận đầu tư.
- FDI có khả năng gây ra một số ảnh hưởng bất lợi về mặt kinh tế- xã hội cho nước
tiếp nhận đầu tư. So với các hình thức ĐTNN khác, thì với FDI, nước tiếp nhận đầu tư
khó chủ động trong việc điều phối, phân bố và sử dụng nguồn vốn này, vì các yếu tố cơ
bản như: quy mô, địa điểm, hình thức đầu tư, sản phẩm công nghệ, phân phối sản
phẩm… đều do nhà đầu tư quyết định. Vì vậy, FDI có khả năng gây ra một số ảnh hưởng
bất lợi về mặt kinh tế - xã hội như làm tăng chênh lệch về thu nhập, gia tăng sự phân hóa
trong các tầng lớp nhân dan, tăng mức độ chênh lệch phát triển trong một vùng hoặc giữa
các vùng… thông qua sức mạng về tiềm lực tài chính của các doanh nghiệp đầu tư, các
công ty xuyên quốc gia. Bên cạnh đó, nếu nước tiếp nhận đầu tư không chuẩn bị một quy
hoạch đầu tư cụ thể và khoa học, gây ra đầu tư tràn lan kém hiệu quả, tài nguyên bị khai
thác bừa bãi … sẽ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
Tuy nhiên, những tác động bất lợi của FDI có thể gây ảnh hưởng không tốt đến mức
nào đối với nước tiếp nhận đầu tư còn tùy thuộc vào quan điểm, nhận thức, chiến lược,
thể chế, chính sách, công tác tôt chức quản lý của nước chủ nhà đối với lĩnh vực này. Nếu
có sự chuẩn bị kỹ lưỡng, đầy đủ ngay từ đầu thì nước tiếp nhận FDI có thể hạn chế, giảm
thiểu được những tác động tiêu cực, bất lợi, xử lý hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích của
nhà ĐTNN và lợi ích quốc gia, tạo ra lợi ích tổng thể tích cực của việc tiếp nhận FDI cho
tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước theo những mục tiêu và định hướng của
mình.
13


NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
TRỌNG HIẾU

GVHD: ĐOÀN

1.1.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động thu hút FDI
Để thu hút và sử dụng nguồn vốn FDI một cách có hiệu quả, nước nhận đầu tư cần
phải chủ động xây dựng cho mình một môi trường đầu tư mang tính ổn định và hấp dẫn.
Mục tiêu cuối cùng của nhà đầu tư là tối đa hóa lợi nhuân. Vì vậy, các công ty đa và
xuyên quốc gia thường chọn điểm đến là các quốc gia có môi trường đầu tư đảm bảo cho
đồng vốn của họ sinh lời cao nhất. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động thu hút vốn FDI
đối với một quốc gia bao gồm:
1.1.5.1. Tình hình phát triển kinh tế thế giới và nước tiếp nhận đầu tư
Đây là nhân tố tiên quyết khi một nhà đầu tư lựa chọn điểm đến đầu tư. Nền kinh tế
thế giới có tác động rất lớn đến hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư. Kinh tế thế giới phát
triển nhanh có nghĩa là hoạt động đầu tư diễn ra đang sôi động, sản phẩm và dịch vụ tạo
ra nhiều, sức mua của thị trường tăng, các chỉ số về giá cả và tài chính lành mạnh khuyến
khích các nhà đầu tư trong các hoạt động đầu tư và kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận.
Ngược lại, khi tế thế giới gặp khủng hoảng, tại một số khu vực và nền kinh tế sẽ có tác
động dây chuyền ảnh hưởng chung tới nền kinh tế thế giới, các chỉ số tài chính và giá cả
kém lành mạnh, hoạt động đầu tư đối mặt với nhiều rủi ro.
Tình hình phát triển kinh tế của một quốc gia cũng ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động
đầu tư vào nước đó. Quốc gia có tốc độ phát triển kinh tế nhanh,đời sống người dân được
cải thiện, sức mua tăng cao bao giờ cũng thu hút được nhiều tư bản đầu tư. Quốc gia có
trình độ phát triển kinh tế thấp, các hoạt động kinh tế trì trệ, lạm phát leo thang, điều kiện
sống dân cư nghèo nàn, khó khăn lạc hậu sẽ hông khuyến khíc được các nhà đầu tư đến
đầu tư và tìm kiếm lợi nhuận kinh doanh, ngoại trừ các hoạt động đầu tư phi lợi nhuận,
mang tính cộng đồng và từ thiện, hay các hoạt động đầu tư mang tính tiêu cực, bất hợp
pháp.
1.1.5.2. Tình hình chính trị, xã hội của quốc gia tiếp nhận đầu tư
Một đất nước có tình hình chính trị và xã hội ổn định sẽ tạo điều kiện cho kinh tế phát
triển, đời sống nhân dân được nâng cao, các phúc lợi xã hội được đảm bảo, đồng thời
giảm thiểu những rủi ro về khả năng kiểm soát nguồn vốn FDI của các nhà ĐTNN, tạo ra
môi trường đầu tư an toàn, khiến các nhà ĐTNN thấy yên tâm hơn khi bỏ vốn đầu tư.
Ngược lại những bất ổn về chính trị xã hội, không chỉ làm cho dòng vốn FDI bị chững
lại, thu hẹp mà còn làm cho dòng vốn trong nước chảy ngược ra ngoài, tìm đến những địa
chỉ đầu tư mới an toàn và hấp dẫn hơn.
14


NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
TRỌNG HIẾU

GVHD: ĐOÀN

Điều kiện này không chỉ bao gồm yếu tố duy trì sự ổn định về chính trị, trật tự an toàn
xã hội cần thiết cho sự phát triển bình thường của đất nước, mà còn phải ổn định được dư
luận và tâm lý xã hội chung, thuận lợi và ủng hộ các nhà ĐTNN. Bất kỳ sự bất ổn chính
trị, các xung đột khu vực, nội chiến, hay sự hoài nghi, tẩy chay, thiếu thiện cảm của giới
lãnh đạo và nhân dân đối với vốn FDI … đều là những nhân tố nhạy cảm tác động tiêu
cực đến tâm lý và hành động thực tế của các nhà ĐTN, cũng như làm chậm lại các cải
cách chính sách cần thiết đối với việc thu hút FDI của nước chủ nhà.
1.1.5.3. Hệ thống pháp luật đầu tư, cơ chế, chính sách thu hút FDI
Hệ thống pháp luật đầu tư là thành phần quan trọng của môi trường đầu tư, bao gồm
các văn bản pháp luật, các văn bản quản lý hoạt động đầu tư (như hướng dẫn đầu tư, đánh
giá, thẩm định dự án, quản lý các hoạt động đầu tư ..) nhằm tạo nên hành lang pháp lý
đồng bộ và thuận lợi nhất cho hoạt động FDI.
Các quy định trong hệ thống pháp luật đầu tư của nước tiếp nhận đầu tư phải đảm bảo
sự an toàn về vốn và cuộc sống cá nhân cho nhà đầu tư khi hoạt động đầu tư đó của họ
không làm phương hại đến an ninh quốc gia (như đảm bảo pháp lý đối với tài sản tư nhân
và môi trường cạnh tranh lành mạnh, đảm bảo việc di chuyển lợi nhuận về nước cho các
nhà đầu tư được dễ dàng). Nội dung của hệ thống pháp luật của nước nhận đầu tư càng
đồng bộ, chặt chẽ, không chồng chéo, phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế bao
nhiêu thì khả năng thu hút nguồn vốn FDI của nước đó càng cao bấy nhiêu.
Ngoài hệ thống pháp luật nói chung, các nhà ĐTNN còn quan tâm đến những cơ chế,
chính sách cảu nước nhận đầu tư đối với các hoạt động FDI, như sự bình đảng giữa các
nhà đầu tư trong nước và nhà ĐTNN, những chính sách đặc biệt của nước sở tại dành cho
các nhà đầu tư để thu hút nguồn vốn FDI, đặc biệt là nguồn vốn FDI của các nhà đầu tư
lớn trên thế giới. Các chính sách được các nhà đầu tư quan tâm là: Chính sách thương
mại, chính sách tiền tệ, chính sách về thuế và tín dụng…
Chính sách thương mại cần thông thoáng theo hướng tự do hóa, để đảm bảo khả năng
xuất - nhập khẩu các máy móc thiết bị, nguyên liệu sản xuất, cũng như sản phẩm của các
doanh nghiệp FDI.
Chính sách tiền tệ phải giải quyết được các vấn đề chống lạm phát và ổn định tiền tệ.
Chính sách lãi suất và tỷ giá tác động trực tiếp đến dòng chảy của FDI với tư cách là
những yếu tố quyết định giá trị đầu tư và mức lợi nhuận thu được tại một thị trường nhất
định. Nghiên cứu sự vận động của vốn FDI ở các nước trên thế giới cho thấy, dòng vốn
15


NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
TRỌNG HIẾU

GVHD: ĐOÀN

đầu tư dài hạn, nhất là FDI đổ vào một nước thường tỷ lệ thuận với sự gia tăng lòng tin
của các chủ đầu tư, đồng thời tỷ lệ nghịch với độ chênh lệch lãi suất trong - ngoài nước
và khu vực. Nếu độ chênh lệch lãi suất đó càng cao, tư bản nước ngoài càng ưa đầu tư
theo kiểu cho vay ngắn hạn, ít chịu rủi và hưởng lãi ngay trên chỉ số chênh lệch lãi suất
đó. Khi mức lãi suất trong nước cao hơn lãi suất quốc tế, sức hút với dòng vốn chảy vào
càng mạnh, tuy nhiên việc đó cũng đồng nghĩa với việc tăng chí phí trong đầu tư và giảm
đi một phần lợi nhuận của các nhà đầu tư. Một tỷ giá hối đoái linh hoạt, phù hợp với tình
hình phát triển kinh tế ở từng giai đoạn sẽ tăng khả năng thu lợi nhuân từ xuất khẩu, có
sức hấp dẫn với vốn nước ngoài. Quốc gia có mức tăng trưởng xuất khẩu cao sẽ làm yên
lòng các nhà đầu tư vì khả năng trả nợ của nước đó được đảm bảo hơn, độ mạo hiểm
trong đầu tư sẽ giảm xuống.
Các mức ưu đãi tài chính - tiền tệ dành cho vốn FDI trước hết phải bảo đảm cho các
chủ đầu tư tìm kiếm được lợi nhuận cao nhất trong điều kiện kinh doanh chung của khu
vực để khuyến khích họ đầu tư vào trong nước và vào những nơi chính phủ muốn khuyến
khích đầu tư.
Những ưu đãi về thuế thường dành cho các sự án đầu tư có tỷ lệ vốn nước ngoài cao,
quy mô lớn, dài hạn, hướng về thị trường nước ngoài, sử dụng nhiều nguyên vật liệu và
lao động trong nước, tái đầu tư lợi nhuận.
Hệ thống thuế thi hành sẽ càng hiệu quả nếu càng rõ ràng, đơn giản, dễ áp dụng và
mức thuế không được quá cao (so với lãi suất, lợi nhuận bình quân, so với mức thuế
chung của khu vực và quốc tế …). Các thủ tục thuế, cũng như các thủ tục quản lý FDI
khác phải được tinh giản hợp lý, tránh vòng vèo nhiều khâu trung gian, phải công khai và
thuận lợi cho đối tượng chịu quản lý và nộp thuế.
Ở nhiều nước, Chính phủ đã lập ra Quỹ hỗ FDI để hỗ trợ tín dụng cho các nhà đầu tư,
nhất là cho những dự án thuộc diện khuyến khích đầu tư. Chính sự hỗ trợ tín dụng, cùng
với các dịch vụ tài chính, bảo lãnh của chính phủ, của các cơ quan tín dụng xuất khẩu và
của các tổ chức tài chính đa phương như WB đã đang và sẽ đóng vai trò to lắm làm tăng
dòng vốn nước ngoài, nhất là FDI tư nhân vào các nước đang phát triển.
1.1.5.4. Hệ thống cơ sở hạ tầng
Hệ thống CSHT của quốc gia tiếp nhận đầu tư cũng là một trong các yếu tố khiến các
nhà đầu tư băn khoăn trước khi quyết định đầu tư, bởi vì hệ thống CSHT ngày có ảnh
hưởng trực tiếp đến hoạt động SXKD của họ trên lãnh thổ của nước sở tại. Một tổng thể
16


NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
TRỌNG HIẾU

GVHD: ĐOÀN

hạ tầng phát triển phải bao gồm một hệ thống giao thông vận tải phát triển với các sân
bay, cầu, cảng, đường xá, kho bãi và các phương tiện vận tải đảm bảo và đủ tầm hoạt
động quốc tế; một hệ thống thông tin liên lạc viễn thông hiện đại có thể liên lạc trên toàn
cầu; hệ thống điện, nước đầy đủ và phân bổ tiện lợi cho các hoạt động SXKD cũng như
đời sống và một hệ thống mạng lưới cung cấp các loại dịch vụ phát triển rộng khắp, đa
dạng và có chất lượng cao (y tế, giáo dục, giải trí, các dịch vụ hải quan, tài chính, thương
mại, quảng cáo, kỹ thuật …). Tóm lại, hệ thống kết cấu hạ tầng đó phải giúp các nhà
ĐTNN giảm được chi phí và cảm thấy thuận tiện trong hoạt động đầu tư của minh.
Trong các điều kiện và chính sách hạ tầng phục vụ FDI, chính sách đất đai và bất
động sản có sức chi phối mạnh mẽ đến luồng FDI đổ vào một quốc gia, càng tạo cho các
nhà ĐTNN sự an tâm về sở hữu và quyền chủ động linh hoạt sử dụng, mua bán đất đai,
bất động sản mà họ có được bằng nguồn vốn đầu tư của mình như một đối tượng kinh
doanh thì họ sẽ càng đầu tư với quy mô lớn và lâu dài hơn vào các dự án ở nước tiếp
nhận đầu tư. Việc phát triển hệ thống CSHT không chỉ là điều kiện cần để tăng sức hấp
dẫn của môi trường đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ đầu tư triển khai các dự án
và kế hoạch đầu tư của mình, mà còn là cơ hội để nước tiếp nhận đầu tư có thể và có khả
năng thu lợi đầy đủ hơn từ dòng vốn nước ngoài đã thu hút được (thông qua tăng thu
nhập từ dịch vụ vận tải, thương mại, tài chính, thông tin phục vụ các dự án đầu tư đang
và sẽ triển khai…)
Dịch vụ thông tin đầu tư đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động thu hút vốn FDI
của một quốc gia. Các hoạt động dịch vụ này rất phong phú và mang tính thời sự cao, bao
gồm: từ việc cung cấp thông tin cập nhật có hệ thống, đáng tin cậy về môi trường đầu tư
của nước tiếp nhận đầu tư cho các đối tác tiềm năng rộng rãi toàn thế giới; hỗ trợ các nhà
đầu tư trong và ngoài nước tiếp xúc và lựa chọn các đối tác thích hợp, tin cậy; đến giúp
đỡ các bên làm thủ tục ký kết các hợp đồng kinh doanh, thành lập các liên doanh và cả
các dịch vụ thông tin cần thiết khác liên quan đến đánh giá các quá trình và kết quả hoạt
động kinh doanh.
1.1.5.5. Trình độ của đội ngũ lao động, của khoa học công nghệ và hệ thống doanh
nghiệp trong nước
Trước đây, vấn đề nguồn nhân lực dồi dào, giá rẻ là một trong những lợi thế so sánh
của các quóc gia tiếp nhận vốn FDI. Tuy nhiên trong những năm gần đây, các nhà ĐTNN
không còn chú trọng nhiều đến vấn đề nhân lực giá rẻ nữa. Thay vào đó, họ cần một đội
17


NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
TRỌNG HIẾU

GVHD: ĐOÀN

ngũ lao động đã được đào tại và có trình độ tay nghề, có thể đảm đương công việc ở
những doanh nghiệp có công nghệ hiện đại và trang thiết bị tiên tiến. Vì thế, một số nước
dù có nguồn nhân công dồi dào và rẻ, những nếu chưa được đào tại nghề, thiếu trình độ
quản lý và lạc hậu về khoa học công nghệ… thì sẽ khó thu hút được các nhà ĐTNN
Một nước có hệ thống doanh nghiệp trong nước phát triển, đủ sức tiếp thu chuyển
giao công nghệ và là đối tác bình đẳng đối với nhà ĐTNN sẽ là điều kiện tốt thu hút dòng
vốn FDI. Hệ thống các doanh nghiệp trong nước bao gồm doanh nghiệp sản xuất và dịch
vụ ở tất cả các lĩnh vực, ngành nghề, thành thạo các nghiệp vụ kinh doanh quốc tế, đủ sức
giữ được thị phần tại thị trường trong nước và ngày càng có sức cạnh tranh quốc tế.
Mạng lưới các doanh nghiệp về dịch vụ tài chính - ngân hàng có vai trò quan trọng trong
hệ thống đó, nhằm tạo ra các điều kiện thuân lợi cho việc huy động và lưu chuyển vốn
trong nước và quốc tế.
1.1.5.6. Bộ máy hành chính nhà nước và đội ngũ cán bộ công chức
Lực cản lớn nhất làm nản lòng các nhà ĐTNN là thủ tục hành chính rườm rà, phiền
phức gây tốn kém thời gian, chi phí ,mất cơ hội đầu tư. Bộ máy hành chính hiệu quả
quyết định sự thành công không chỉ trong việc thu hút vốn FDI mà còn là của toàn bộ quá
trình huy động và sử dụng nguồn vốn này cho đầu tư phát triển. Bộ máy cần thống nhất,
gọn nhẹ, sáng suốt và nhạy bén về chính sách, với những thủ tục hành chính, những quy
định pháp lý có tính chất đơn giản, công khai và nhất quán, được thực hiện bởi những
con người có trình độ chuyên môn cao, được giáo dục tốt và có kỷ luật, tôn trọng pháp
luật.
Tóm lại, trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, dòng vốn
FDI sẽ có xu hướng tìm đến những quốc gia có nền kinh tế, chính trị xã hội ổn định, hệ
thống pháp luật đầu tư đầy đủ, cởi mở, chính sách FDI thông thoáng, thị trường tiêu thị
lớn, nền hành chính hữu hiệu với đội ngũ cán bộ công chức có trình độ.
1.2. Tình hình thu hút FDI trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp tại Việt Nam
1.2.1. Tổng quan về sản xuất công nghiệp và FDI trong sản xuất công nghiệp.
1.2.1.1. Sản xuất công nghiệp
Sản xuất công nghiệp là lĩnh vực sản xuất hàng hóa vật chất mà sản phẩm được “chế
tạo, chế biến” cho nhu cầu tiêu dùng hoặc phục vụ hoạt động kinh doanh tiếp theo. Đây
là hoạt động kinh tế, sản xuất quy mô lớn, được sự hỗ trợ và thúc đẩy mạnh mẽ của các
tiến bộ về công nghệ, khoa học và kỹ thuật.

18


NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
TRỌNG HIẾU

GVHD: ĐOÀN

Công nghiệp là một trong hai ngành sản xuất vật chất cơ bản của nền kinh tế quốc
dân, trình độ phát triển của công nghiệp là một trong những tiêu chuẩn đánh giá trình độ
phát triển kinh tế một quốc gia. Các ngành công nghiệp không những cung cấp hầu hết tư
liệu sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật cho tất cả các ngành kinh tế mà còn tạo ra
các sản phẩm tiêu dùng có giá trị đóng góp vào phát triển kinh tế và nâng cao trình độ
văn minh của toàn xã hội. Không chỉ thế, sản xuất công nghiệp sẽ thúc đẩy sự phát triển
của các ngành kinh tế khác, như nông nghiệp, giao thông vận tải, thương mại dịch vụ,
củng cố an ninh quốc phòng, khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên ở
các vùng khác nhau, làm thay đổi sự phân công lao động, giảm mức độ chênh lệch về
trình độ phát triển giữa các vùng lãnh thổ.
Sản xuất công nghiệp bao gồm nhiều ngành, được phân công cụ thể và có sự phối hợp
giữa các ngành sản xuất để tạo ra sản phẩm cuối cùng. Một số ngành công nghiệp chính
tại Việt Nam:
- Công nghiệp năng lượng: Khai thác than đá, dầu khí, điện năng
- Công nghiệp luyện kim: Luyện kim đen, luyện kim màu
- Công nghiệp cơ khí, quả tim của công nghiệp nặng, sản xuất các công cụ, thiết bị,
máy động lực phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng
- Công nghiệp điện tử - tin học: lĩnh vực công nghiệp trẻ, bùng nổ trong những năm
gần đây, là thước đo trình độ phát triển kinh tế - kĩ thuật của các quốc gia trên thế giới,
sản xuất thiết bị công nghệ, phần mềm, thiết bị điện tử (linh kiện điện tử, tụ điện, vi
mạch), điện tử tiêu dùng và thiết bị viễn thông
- Công nghiệp hóa chất: Bổ sung cho các nguồn nguyên liệu tự nhiên, có giá trị sử
dụng cao trong đời sống xã hội, sản xuất các sản phẩm như hóa chất, phân bón, thuốc
nhuộm, cao su, hóa dầu, dược phẩm…
- Công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng: Công nghiệp dệt may, da giày, sành-sứ-thủy
tinh, chủ yếu phục vụ nhu cầu của nhân dân
- Công nghiệp thực phẩm: Đáp ứng nhu cầu hàng ngày của con người về ăn uống, sản
phẩm của ngành rất đa dạng phong phú: thịt, cá hộp đông lạnh, rau quả sấy, đóng hộp,
chế biến sữa, rượu bia, nước giải khát…
1.2.1.2. FDI trong sản xuất công nghiệp
Có thể thấy, sản xuất công nghiệp chính là chìa khóa vàng trong tiến trình công
nghiệp hóa - hiện đại hóa đối với các nước đang phát triển như Việt Nam. Để quá trình
19


NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
TRỌNG HIẾU

GVHD: ĐOÀN

sản xuất công nghiệp được diễn ra thuận lợi, cần có một nguồn vốn vững chắc và đảm
bảo. Bên cạnh nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp trong nước, vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài FDI sẽ tạo ra nguồn lực đáng kể cho hoạt động sản xuất công nghiệp. Nhất là
trong điều kiện kinh tế khó khăn hiện nay (đối mặt với nhiều khủng hoảng, các doanh
nghiệp trong nước lâm vào tình trạng khát vốn…), FDI càng trở nên quan trọng và là
nguồn vốn chủ yếu cho sản xuất công nghiệp.
Trên thế giới, dòng vốn FDI luôn có xu hướng đổ vào lĩnh vực sản xuất công nghiệp.
Khi tiến hành một hoạt động sản xuất công nghiệp, các nhà đầu tư luôn quan tâm đến
những yếu tố về đất đai, vị trí thuận lợi của nó cho việc triển khai sản xuất, tiếp cận thị
trường, tiêu thụ sản phẩm được các nhà đầu tư hết sức quan tâm. Bên cạnh đó, các nhà
đầu tư nước ngoài rất quan tâm đến những ưu đãi mà nhà nước sở tại dành cho họ. Nước
tiếp nhận đầu tư, để thu hút đầu tư phát triển kinh tế một cách có hiệu quả nhất trong việc
sử dụng các nguồn lực và đảm bảo cho sự tăng trưởng kinh tế bền vững, cần tạo ra những
khu vực thuận lợi và cung cấp ưu đãi vượt trội để nhanh chóng đạt được mục tiêu của
mình, hạn chế mức tối đa những ảnh hưởng không tốt đến môi trường. Như vậy, dựa vào
nhu cầu tổ chức sản xuất, kinh doanh của nhà đầu tư, và phát triển kinh doanh và phát
triển kinh tế xã hội của nước sở tại mà dòng vốn FDI được đầu tư vào sản xuất công
nghiệp.
1.2.2. Tình hình thu hút FDI tại Việt Nam
Tại Việt Nam, đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI được nhìn nhận là một trong
những “trụ cột” tăng trưởng kinh tế trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp. Vai trò của
FDI được thể hiện rất rõ qua việc đóng góp vào các yếu tố quan trọng của tăng trưởng
như bổ sung nguồn vốn đầu tư, đẩy mạnh xuất khẩu, chuyển giao công nghệ, phát triển
nguồn nhân lực và tạo công ăn việc làm cho người dân,…Ngoài ra, FDI cũng đóng góp
tích cực vào tạo nguồn thu ngân sách và thúc đẩy Việt Nam hội nhập sâu rộng vào nền
kinh tế thế giới. Nhờ có sự đóng góp quan trọng của FDI mà Việt Nam đã đạt được tốc
độ tăng trưởng kinh tế cao trong nhiều năm qua và được biết đến là quốc gia phát triển
năng động, đổi mới, thu hút được sự quan tâm của cộng đồng quốc tế.
Kể từ khi luật ĐTNN ban hành năm 1987 tới năm 2014, cả nước có hơn 17.520 dự
án còn hiệu lực với tổng số vốn đăng ký thu hút được là 254,3 tỷ USD, tổng vốn thực
hiện đạt 106,3 tỷ USD, trải rộng trên nhiều lĩnh vực, từ khai khoáng, nông lâm nghiệp

20


NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
TRỌNG HIẾU

GVHD: ĐOÀN

đến công nghiệp chế biến và các ngành dịch vụ như bất động sản, y tế, giáo dục, khách
sạn… trong đó lĩnh vực công nghiệp chiếm tới gần 60%.
Biểu đồ 1.1.: Dòng vốn FDI vào Việt Nam từ 1988-2012
Đơn vị: Triệu USD

Nguồn: Tổng cục thống kê 2013
Có thể chia dòng vốn FDI vào Việt Nam làm bốn giai đoạn: giai đoạn 1987 1996, giai đoạn 1997 - 1999, giai đoạn 2000 - 2008 và 2009 tới nay.
Trong giai đoạn đầu 1987 - 1996, khi luật ĐTNN được ban hành và Việt Nam vừa
gia nhập hiệp hội các nước Đông Nam Á ASEAN, dòng vốn FDI đổ vào Việt Nam tăng
nhẹ, tuy nhiên dòng vốn tương đối ít cả về số dự án và số vốn đăng kí. Giai đoạn 1997 1999, do môi trường đầu tư chưa thuận lợi, lại chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài
chính tiền tệ khu vực Đông Nam Á nên dòng vốn FDI có xu hướng giảm. Từ năm 2000
tới năm 2008 cho thấy sự tăng tốc mạnh mẽ của dòng vốn FDI từ 391 dự án vào năm
2000 lên tới 1557 dự án vào 2008. Năm 2008 cũng là năm mà lượng vốn FDI đổ vào Việt
Nam lớn nhất trong lịch sử thu hút FDI vào Việt Nam với 71726 triệu USD vốn đăng kí.
Nguyên nhân là do trong giai đoạn này, nền kinh tế khu vực đã được phục hồi sau khủng
hoảng tài chính tiền tệ khu vực, Việt Nam cũng liên tục kí kết các hiệp định kinh tế song
phương, đa phương và khu vực. Đặc biệt, cuối năm 2006 Việt Nam gia nhập tổ chức
thương mại thế giới WTO, việc thực hiện các cam kết này, cùng với việc đổi mới, hoàn
thiện hệ thống pháp luật, chính sách ĐTNN đã góp phần cải thiện môi trường đầu tư,
nâng cao sức hấp dẫn đối với nhà ĐTNN. Vốn đầu tư FDI sau khi Việt Nam gia nhập
WTO có sự tăng trưởng mạnh, với mức tăng trưởng 75,3% vào năm 2007 và 42,6% vào
năm 2008. Giai đoạn 2009 – 2011, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới
nên trong giai đoạn này, FDI vào Việt Nam giảm mạnh, năm 2010 Việt Nam chỉ thu hút

21


NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
TRỌNG HIẾU

GVHD: ĐOÀN

được 1328 dự án với tổng vốn đăng kí 18600 triệu USD. Tuy nhiên, từ năm 2012 đến
nay, việc thu hút FDI đã có dấu hiệu phục hồi. Năm 2012, Việt Nam có 1.287 dự án FDI
mới được cấp chứng nhận đầu tư, với tổng vốn đăng ký 8,6 tỷ USD, bằng 71,2% so với
năm 2011. Năm 2013, số dự án là 1747 và tổng số vốn đăng kí đạt 14.3 tỷ USD, tăng
70.5% so với năm 2012. Năm 2014, tổng số vốn đăng kí đạt 20,23 tỷ USD, bằng 93,5%
so với cùng kỳ năm 2013 và tăng 19% so với kế hoạch năm 2014 (17 tỷ USD).
Biểu đồ 1.2: Tình hình thu hút và giải ngân vốn FDI của Việt Nam đến T3-2015

Đã có tổng cộng 92 quốc gia và vùng lãnh thổ đã có đầu tư tại Việt Nam. Trong
năm 2014 vừa qua, Hàn Quốc là nhà đầu tư lớn nhất với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới
và tăng thêm 3,6 tỷ USD, chiếm 26,3% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam.
Biểu đồ 1.3: Tỷ trọng vốn FDI vào Việt Nam theo quốc gia năm 2014

Singapore đứng vị trí thứ hai với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là
2,64 tỷ USD, chiếm 19,3 % tổng vốn đầu tư; Hồng Kông đứng vị trí thứ 3 với tổng vốn
đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 1,67 tỷ USD, chiếm 12,2% tổng vốn đầu tư; Tiếp
22


NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
TRỌNG HIẾU

GVHD: ĐOÀN

theo là Nhật Bản đứng ở vị trí thứ 4 với tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm khoảng
1,66 tỷ USD, chiếm 12,1% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam.
Như vậy, lũy kế tính đến hết năm 2014, Hàn Quốc hiện đang là nhà đầu tư lớn
nhất tại Việt Nam, tiếp theo là Nhật Bản, Singapore và Đài Loan…

Bảng 1.1: Các nước đầu tư FDI nhiều nhất tại Việt Nam

Về hình thức đầu tư, hình thức đầu tư của các dự án FDI chủ yếu vẫn là hình
thức 100% vốn nước ngoài, sau đó là hình thức liên doanh, các hình thức như hợp đồng
hợp tác kinh doanh, hợp đồng BOT, BT, BTO, công ty mẹ - con chỉ chiếm 1 tỷ lệ nhỏ. Có
thể nói, sự thay đổi trong chính sách thu hút FDI có sự ảnh hưởng đáng kể tới xu hướng
đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài. Cụ thể, trước năm 1996, hầu hết các dự án được
tiến hành dưới hình thức xí nghiệp liên doanh, trong đó đối tác tham gia phía Việt Nam
là các DNNN. Đó là do chính sách đầu tư nước ngoài đến năm 1995 chủ yếu khuyến
khích hình thức liên doanh, không khuyến khích hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài.
Điều chỉnh chính sách trong năm 2000 theo hướng tạo khuyến khích và bình đẳng về
chính sách giữa các loại hình đầu tư đã tác động mạnh, làm thay đổi hình thức đầu tư của
dự án có vốn nước ngoài, theo đó hình thức 100% vốn nước ngoài tăng lên rõ rệt. Quá
trình này diễn ra từ năm 2000, được điều chỉnh mở rộng hơn bằng Luật Đầu tư năm

23


NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
TRỌNG HIẾU

GVHD: ĐOÀN

2005. Trong những năm gần đây, hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài vẫn tiếp tục xu
hướng tăng và trở thành hình thức đầu tư chính. Điều này cho thấy, nhà đầu tư nước
ngoài đã tin tưởng hơn vào môi trường luật pháp của Việt Nam, có xu hướng hoạt động
độc lập hơn, không cần phải dựa vào đối tác trong nước để khai thác những yếu tố thuận
lợi như trong giai đoạn đầu mới thu hút đầu tư nước ngoài. Điều đó thể hiện giai đoạn
phát triển ở mức cao hơn của đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.
1.2.3. Dòng vốn FDI vào ngành công nghiệp tại Việt Nam
Công nghiệp là ngành thu hút FDI lớn nhất vào nước ta trong những năm vừa qua.
Trong năm 2014, đã có 774 dự án FDI vào ngành công nghiệp, chiếm 71,6% tổng vốn
đầu tư đăng ký với tổng số vốn cấp mới và tăng thêm là 14,49 tỷ USD
Biểu đồ 1.4.: Cơ cấu vốn FDI vào Việt Nam theo lĩnh vực đầu tư
Đơn vị: %

Nguồn; Tổng cục thống kê 2014
Các dự án FDI vào ngành công nghiệp ở Việt Nam hầu hết là đầu tư mới, đã thu
hút lượng lao động lớn, cộng với năng suất lao động của khu vực này cao hơn khu vực
khác nên giá trị sản xuất công nghiệp tăng trưởng nhanh hơn công nghiệp chung của cả
nước, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện

24


NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
TRỌNG HIẾU

GVHD: ĐOÀN

đại hóa. Các doanh nghiệp FDI đã tạo ra một số ngành công nghiệp mới và đưa năng lực
sản xuất tăng lên như dầu khí, viễn thông, hóa chất, ô tô, xe máy, thép, điện tử và điện tử
gia dụng, dệt may, da giày, thực phẩm.

CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THU HÚT VỐN FDI TRONG LĨNH VỰC
SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP TẠI HẢI PHÒNG
2.1. Tổng quan về môi trường đầu tư tại Hải Phòng
2.1.1. Điều kiện tự nhiên của thành phố Hải Phòng
Hình 2.1.: Bản đồ vị trị địa lý thành phố Hải Phòng

Nguồn: Cổng thông tin điện tử thành phố Hải Phòng
Hải Phòng là thành phố ven biển, lớn thứ 2 trong vùng đồng bằng sông Hồng, nằm
phía Đông miền duyên hải Bắc Bộ, cách thủ đô Hà Nội 102 km, phía Bắc và Đông Bắc
giáp Quảng Ninh, phía Tây Bắc giáp Hải Dương, phía Tây Nam giáp Thái Bình và phía
Đông là bờ biển chạy dài theo hướng Tây Bắc – Đông Nam từ phía Đông đảo Cát Hải
đến cửa sông Thái Bình.
25


x

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×