Tải bản đầy đủ

Chuyên đề môn LỊCH sử TDTT

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THỂ DỤC THỂ THAO
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-*-*-*-

CHUYÊN
ĐỀ
MÔN: LỊCH SỬ TDTT

Lớp: 7A
Tên: Đặng Ngọc Nhật Hòa

TP. Hồ Chí Minh, ngày 2 tháng 4 năm 2016.

1


Chuyên đề: lịch sử phát triển TDTT cận đại, quan điểm đường lối của
đảng và nhà nước về công tác TDTT trong giai đoạn cách mạng mới;
những mặt tốt và chưa tốt của công tác TDTT Việt Nam trong giai đoạn

hiện nay và những giải pháp thúc đẩy TDTT Việt Nam phát triển.

Bài Làm
I. Thể Dục Thể Thao trong giai đoạn đầu của thời kỳ cận đại:
Thời đại phát triển của chủ nghĩa tư bản từ cuộc cách mạng tư sản đầu tiên
ở thế kỷ thứ 17(Cách mạng tư sản Anh 1640) đến trước cách mạng xã hội
chủ nghĩa tháng Mười vĩ đại gọi là thời cận đại.
Trong thời kỳ này nền kinh tế và văn hóa của chế độ mới đã được phát
triển, đã diễn ra cuộc đấu tranh giữa cái mới,tiến bộ và cái cũ phản động.
Đồng thời, trong lý luận và thực tiễn của giáo dục chung và giáo dục thể

2


chất, của y học và một số nghành văn hóa khác có quan hệ với tăng cường
sức khỏe, phát triển và hoàn thiện con người đã được những thành tựu đáng
kể.
Những cơ sở lý luận của giáo dục thể chất .
Thời kỳ này triết học duy vật, khoa học tự nhiên và lý luận giáo dục mới có
ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển của cơ sở lý luận giáo dục thể chất.
Giăng Giác Rútxô (1712-1778) đã phát triển về tư tưởng về vai trò quy
định của môi trường bên ngoài trong việc hình thành nhân cách con người.
Ông viết “thân thể sinh ra trước tâm hồn, nên việc quan tâm đến thân thể
phải là việc trước tiên ”. Bắt đầu là rèn luyện cơ thể, sau đó là các trò chơi
và các bài tập giáo dục thể chất.
Nhà giáo dục Thụy Sĩ Logan Pêxtalốtxi (1746 – 1827) có công lớn trong
lĩnh vực giáo dục thể chất. Ông đã soạn ra Phương pháp phân tích, gọi các
động tác ở khớp là các động tác sơ đẳng, là cơ sở để giảng dạy động tác
phối hợp phức tạp.
Các nhà cách mạng tư sảnPháp ở cuối thế kỷ XVIII có công lớn trong cơ sở
lý luận cho giáo dục thể chất. Họ cho rằng cần phải đưa giáo dục thể chất
vào hệ thống giáo dục quốc dân.
Sự nảy sinh và phát triển của các hệ thống giáo dục quốc gia .
Vào đầu thế kỷ XIX hầu hết các nước tư bản, các hệ thống giáo dục quốc
gia bắt đầu được xây dựng ở Đức, Thụy Điển, Pháp. Tất cả các hệ thống ấy
dều là những hệ thống giáo dục, bởi thể dục đã tạo ra khả năng huấn luyện
các bộ phận khác nhau của thân thể, huấn luyện các động tác và kỹ xảo cụ
thể và cũng đáp ứng tốt hơn với phương thức tiến hành chiến tranh trong
thời gian ấy.
Hệ thống giáo dục thể chất ở Đức.


3


Các đại biểu nổi tiếng của hệ thống giáo dục này là Antôn phít và Lôgan
Gútmút (1763 -1839) cho rằng phương tiện giáo dục thể chất gồm:
Rèn luyện chống thời tiết xấu và nhiệt độ thấp của không khí, biết chịu
đựng đói, khát, mất ngủ.
Các bài tập phát triển các giác quan,chủ yếu trong lúc tham gia trò chơi đặc
biệt.
Tất cả các bài tập Hy Lạp, trượt băng, mang vác vật nặng,các trò chơi giải
trí.
Các bài tập cưỡi ngựa, đấu kiếm, nhảy múa trong đó có các bài tập trên
ngựa gỗ và một số dụng cụ khác.
Các động tác đơn giản của từng bộ phận cơ thể , lao động chân tay.
Công lao chính củ Gútmút là soạn thảo kỷ thuật của các bài tập thể dục và
đưa vào trường học.
Hệ thống giáo dục thể chất của Thụy Điển :
Dấu hiệu chủ yếu của bài tập thể dục Thủy Điển là tính đối xứng và thẳng
hàng. Tư thế đúng của tay chân và mình được đặc biệt chú ý. Trong thời
gian tập có nhiều lần nghĩ giữa giờ. Thể dục Thụy Điển đã đặt cơ sở cho sự
phát triển thể dục phát triển chung.
Đến nay hệ thống thể dục Thụy Điển vẫn được áp dụng rộng rãi trong nhà
trường.
Hệ thống giáo dục thể chất của Pháp :
Vào những năm 1770 – 1848 Đại tá Phơranxixcô Amôrốt và những người
kế tục ông có công lao to lớn trong việc xây dựng hệ thống giáo dục của
Pháp. Các ông đã biên soạn hệ thống bài tập có tính ứng dụng quân sự đào
tạo binh sĩ.
Ông cho rằng bài tập thể dục tốt nhất là bài tập phát triển kỹ năng cần thiết
trong đời sống, đặc biệt là trong chiến tranh như các bài tập đi, chạy, nhảy,

4


mang các ở các địa hình tự nhiên. Các bài tập thăng bằng , leo trèo, bò , lặn,
vật, ném , bắn , đấu kiếm, nhào lộn hay các bài tập tay không, múa.
Quan điểm dạy của ông là không theo một sơ đồ nào mà dựa vào nguyên
tắc chung: Vừa sức với người tập và đơn giản trong chừng mực, có thể theo
nguyên tắc từ dễ đến khó và chú ý đặc điểm cá nhân. Đây là hệ thống giáo
dục thể chất có tầm quan trọng trong giáo dục.
Giáo dục thể chất và thể thao của các nước khác :
Trường học ở một số nước như : Đan Mạch , Anh , Mỹ và một số nước
Đông Á, Đông Nam Á, đã trở thành những trung tâm chính phát triển thể
thao. Tại các trường học xuất hiện các nhóm thể thao nghiệp dư như chạy,
đấm bốc, bơi, chèo thuyền, các môn bóng. Từ những năm 30 của thế kỉ
XIX người ta tổ chức các cuộc thi thường xuyên về các môn thể thao cho
học sinh.
Tại các nước Đông Nam Á, trong các trường truyền đạo, giáo dục thể chất
gồm trò chơi, bơi, các cuộc hành tiến… Song việc giảng dạy trong các
trường này có trình độ thấp.
Các quan điểm của các nhà nhân đạo chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa không
tưởng bàn về giáo dục thể chất cho con người :
Tư tưởng cơ bản của các nhà nhân đạo chủ nghĩa :
Sử dụng giáo dục thể chất không những để huấn luyện quân sự mà còn tăng
cường sức khỏe, phát triển sức mạnh thể chất con người. Đây là tư tưởng
mới và tiến bộ hơn trước. Hạn chế của quan điểm này là khuynh hướng
giáo dục thể chất chỉ nhằm bảo đảm hạnh phúc cá nhân của con người.
Nhà nhân đạo chủ nghĩa người Italia V.D.Phentrơ (1378 – 1446) thành lập
trường học có thể dạy thể dục, giáo dục thể chất được đưa vào kế hoạch

5


giảng dạy trong trường , dạy các bài tập cưỡi ngựa, đấu kiếm, bơi, đua
thuyền.
Nhà nhân đạo chủ nghĩa người pháp Phơrăngxoa Rappolo ( 1494 – 1553)
vì coi trọng giáo dục thể chất nên ông đề nghị luân phiên giờ học văn hóa
và tập thể dục. Ông sử dụng các bài tập của giời quý tộc và của cả người
nghèo vào mục đích giáo dục con người.
Các nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng Tômátmô ( 1478 – 1535) người Anh
và Tômadô Campalena ( 1568 – 1639) người Italia là đỉnh cao của sự phát
triển về giáo dục của các tư tưởng theo trường phái nhân đạo chủ nghĩa.
Các ông miêu tả về xã hội tương lai và đời sống hạnh phúc con người.
Theo các ông, mục đích của giáo dục là chuẩn bị kiến thức cho trẻ em phục
vụ xã hội, tăng cường giáo dục thể chất là điều cần thiết để phát triển hài
hòa tinh thần và thể chất con người trong đó có người lao động.
Học thuyết của các nhà sang lập cộng sản chủ nghĩa khoa học giáo dục thể
chất – một bộ phận của nền văn hóa chung đối với người lao động :
Các nhà sáng lập cộng sản chủ nghĩa khoa học đã chỉ cho tác động nguy
hại của chủ nghĩa tư bản đối với sức khỏe, đối với sự phát triển thể chất và
tinh thần của giai cấp công nhân. Ảnh hưởng của phân công lao động đối
với sự phát triển nhân cách con người là những nguyên nhân làm cho con
người không thể phát triển toàn diện vể thể chất và tinh thần trong điều
kiện xã hội tư bản.
Khi phân tích những điều kiện sống cụ thể của giai cấp công nhân
Ph.Ăngghen đã viết trong cuốn “ Tình cảm của giai cấp công nhân ở Anh ”
rằng “ Giai cấp tư sản chỉ đem lại cho công nhân cuộc sống và học vấn
chừng nào điều đó cần cho lợi ích của nó, giai cấp tư sản hoàn toàn không
quan tâm tới sự phát triển thể chất và trí tuệ của công nhân ”.

6


Các Mác viết : “ Chúng ta hiểu giáo dục gồm 3 việc : Thứ nhất là giáo dục
trí tuệ, thứ hai là giáo dục thể chất, những gì đang được giảng dạy ở các
trường thể dục và trung tâm huần luyện quân sự; thứ ba là giảng dạy kỹ
thuật, làm cho trẻ biết những nguyên tắc cơ bản của quá trình sản xuất,
đồng thời có kỹ năng sử dụng công cụ đơn giản nhất của tất cả các ngành
sản xuất ”.
Ph.Ăngghen đã viết : “ Chủ nghĩa xã hội sẽ tạo cho công nhân không chỉ
những điều kiện vật chất đầy đủ và ngày càng cải thiên để tồn tại mà cả sự
phát triển và sử dụng hoàn toàn tự do những năng lực thể chất và trí tuệ của
mình ”.

Giai đoạn thứ hai của thời kỳ cận đại bao gồm sự kiện công xã Pải năm
1871 đến cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười vĩ đại 1917.
Sự xuất hiện các tổ chức thể dục đầu của công nhân :
Trong quá trình đấu tranh bảo vệ lợi ích, giai cấp công nhân đã xây dựng
các tổ chức của mình. Liên đoàn những người cộng sản ( Là tổ chức cộng
sản đầu tiên trong lịch sử 1847 – 1852, tiền than của quốc tế thứ nhất) đã
lãnh đạo hoạt động của các hội quần chúng khác nhau của giai cấp công
nhân.
Những người cộng sản đã tham gia các tổ chức thể dục khác nhau và xây
dựng trong quần chúng các nhóm thể dục và ca hát mới. Về sau đã trở
thành một tổ chức quần chúng tự lập của những người lao động.( Ví dụ: hội
thể dục kỳ nghỉ hè của công nhân thành lập ở Đức năm 1850).
Phong trào thể thao của công xã Pari :
Sau công xã Pari, số lượng các tổ chức khác nhau của giai cấp công nhân
đã tăng lên. Trong số đó, có những tổ chức thể thao do công nhân thành lập

7


cho họ và con cái của họ. Có tổ chức hoạt động thể thao không mang tính
chất chính trị. Nhưng cũng có tổ chức tích cực tham gia chính trị, theo yêu
cầu của các tổ chức Đảng, trở thành những trung tâm tuyên truyền cổ động.
Sự phát triển rộng rãi thể thao của công nhân diễn ra vào cuối thế kỉ XIX ở
Đức , Pháp , Hunggary… phong trào trở thành một bộ phận lớn của các lực
lượng tiến bộ trong lịch sử thể thao.
Lo sợ trước sự phát triển này, nhiều xí nghiệp của các nhà tư bản đã thành
lập tổ chức thể thao cho công nhân để lôi kéo thanh niên công nhân về phía
mình, mục đích để họ lãng quên các tổ chức chính trị của giai cấp công
nhân.
Năm 1913 một tổ chức thống nhất các tổ chức thể thao công nhân các nước
Anh , Áo , Hungary , Đức , Pháp , Bỉ đã làm nền tảng cho sự thống nhất
quốc tế của các vận động viên công nhân. Song, do chiến tranh thế giới lần
thứ nhất nên bị gián đoạn , sau cách mạng Tháng Mười và chiến tranh thế
giới lần thứ nhất kết thúc, tổ chức thể thao quốc tế mới ra đời.
Phong trào “ Chim ưng ” và thể dục “ Chim ưng ” :
Để thu hút thanh niên , phong trào “ Chim ưng ” ở Tiệp Khác đã soạn thảo
hệ thống và quy định trang phục thống nhất , có nhạc đệm.
Bài tập được chia thành 4 nhóm :
Nhóm 1 : Thể dục dụng cụ gồm có xà đơn , xà kép , ngựa gỗ…
Nhóm 2 : Những động tác tay không.
Nhóm 3 : Các động tác tập thể.
Nhóm 4 : Các động tác chiến đấu gồm có vật , đấu gươm , thể dục quân sự.
Sự phát triển tiếp tục của thể thao và hệ thống giáo dục thể chất .

8


Chính sách trong lĩnh vực thể thao của giai cấp tư sản và các chính phủ tư
sản càng ngày càng trở nên phản động. Thể thao đã được sử dụng nhằm
củng cố chế độ tư bản và lôi kéo thanh niên về phía mình và làm cho quần
chúng xao nhãng đấu tranh giai cấp. Chúng đã khuyến khích xây dựng các
công trình thể thao, cải tiến các hệ thống giáo dục thể chất. Nhưng chúng
chỉ tập trung vào những hình thức có lợi cho chúng.
Các tổ chức thể thao tư sản :
Giai cấp tư sản đã cố gắng mở rộng ảnh hưởng của chúng bằng cách thành
lập các hội và câu lạc bộ thể thao mới , khuyến khích hoạt động thể thao
trong các tổ chức khác nhau.
Vào năm1911 Liên đoàn câu lạc bộ thê thao Thiên chúa giáo quốc tế ra đời
với mục đích tách thanh niên ra khỏi đời sống chính trị chuẩn bị cho họ
phục vụ quân đội.
Sự xuất hiên các hình thức mới trong giáo dục thể chất :
Trong lĩnh vực thể thao có những nhà hoạt động tiến bộ, họ nhìn thấy thể
thao là phương tiện tốt nhất để giáo dục đạo đức và thể chất cho thanh niên,
tăng cường hữu nghị giữa các dân tộc.
Trong thời kỳ này, có các hệ thống thể dục của người Pháp Gioócgiơ
Đêmêni ( 1850 – 1917) và Gioóc – Ebe.
Thể dục Gioócgiơ Đêmêni :
Thể dục Gioócgiơ Đêmêni đã có những hệ cống hiến vào việc xây dựng cơ
sở khoa học thể dục, thể thao, trò chơi. Ông tập trung nghiên cứu về sinh lý
học, giáo dục và giáo dục thể chất. Ông phê phán một số hạn chế của
trường phái thể thục Thụy Điển và cho rằng :
Bài tập thể dục phải động chứ không tĩnh. Thể lực phải cải thiên khả năng,
chức năng cơ thể và các hệ thống cơ quan, nâng cao năng lực phối hợp

9


động tác và khéo léo. Khi thực hiện các bài tập phải biết thả lỏng cơ bắp đã
tham gia hoạt động. Các bài tập phải tuân theo nguyên tắc chung, đảm bảo
về mặt sinh lý vận động, giáo dục và phát triển các tố chất thể lực và các
phẩm chất tâm lý, ý chí. Tuy nhiên còn hạn chế về mặt nhìn nhân sinh lý
học trong giáo dục thể chất.
Phương pháp tự nhiên của Goóc – Ebe:
Ông đề nghị tiến hành các bài tập trên địa hình tự nhiên, không cần trang
thiết bị chuyên môn. Tùy theo hoàn cảnh, giáo viên phải biết sáng tạo các
bài tập trong hoàn cảnh khác nhau kể cả tạo ra chướng ngại vật nhân tạo.
Ông tập trung vào phương pháp tập luyện của nam mà không nêu ra
phương pháp tập luyện của nữ.
Thể dục cơ bản của Ninxơ Búc :
Ông sử dụng rộng rãi các dụng cụ thể dục sáng tạo như thang dóng, ghế
băng, khung treo… Ông đã làm cho thời gian hoạt động của giờ học đạt
giới hạn. Cho đến nay , phương pháp này vẫn được áp dụng.
Những quan điểm giáo dục thể chất tiến bộ ở nước Nga trước cách mạng xã
hội chủ nghĩa Tháng Mười.
Các nhà khoa học Nga đã có vai trò to lớn trong việc phát triển các quan
điểm khoa học đúng đắn về giáo dục thể chất:
Nhà sư phạm kiệt xuất Côntantin Usinxky là người đầu tiên đề nghị cho trẻ
em tập luyện thân thể 5 phút trong thời gian học lý thuyết để nâng cao hiệu
quả học tập.
P.Létsgap là nhà khoa học đầu tiên tìm hiểu quá trình giáo dục thể chất
bằng phương pháp khoa học ở những điểm sau :
Giáo dục trí tuệ và giáo dục thể chất phải chuẩn bị cho con người lao động
có năng suất cao, vì hạnh phúc của toàn xã hội.

10


Nhiệm vụ quan trọng của giáo dục thể chất là trau dồi kỹ năng lĩnh hội các
kết quả thu được từ các bài tập cũng như kỹ năng phân tích chung.
Chỉ có giáo dục phát triển con người hài hòa mới có thể có năng suất và
hiệu quả cao.
Ông cho rằng : Phát triển hài hòa là phát triển đúng đắn phát triển trí óc với
sức mạnh thể chất của con người. Sự phát triển hài hòa chỉ có thể có khi
tuân thủ các nguyên tắc liên tục, có tính đến đặc điểm lứa tuổi, giới tính và
cá biệt hóa trong sự phát triển thể chất của mỗi người.
Sự phát triển thể chất đúng đắn chỉ có thể được thực hiện với sự hỗ trợ của
hệ thống giáo dục thể chất có luận chứng khoa học.
Bản thân hệ thống giáo dục thể chất phải gồm một số không nhiều các động
tác tự nhiên được áp dụng trong các điều kiện khác nhau và dưới các hình
thức khác nhau.
Những quan điểm của ông đã được chứng minh và vận dụng trong giáo dục
thể chất ở Liên Xô ngay sau Cách mạng Tháng Mười.
Tháng 12 năm 1986 đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đề ra chủ trương
đổi mới ở thời kỳ mới ở đất nước ta. Từ giữa năm 1988 đến 1990 chính
sách đổi mới bắt đầu.Trên đất nước đã hình thành nền kinh tế nhiều thành
phần, vận động theo cơ chế thị trường dưới sự quản lý của nhà nước.Trong
lĩnh vực hoạt động văn hóa giáo dục, TDTT có nhiều tiến bộ và hoạt động
mạnh hơn trước.
II. Đường lối của Đảng và nhà nước về công tác TDTT trong giai đoạn
cách mạng mới:
Khi đất nước đã hoàn toàn giải phóng , cách mạng nước ta nước ta chuyển
sang một giai mới, ban bí thư trung ương Đảng đã ra chỉ thị số 227 CT/TƯ
ngày 18/11/1975. Chỉ thị đã nhận định: Trong những năm qua, từ khi có

11


chỉ thị 180 CT/TƯ 28/8/1970 công tác TDTT phát triển đúng hướng, góp
phần tích cực phục vụ sản xuất , chiến đấu, đời sống và xây dựng con
người mới. Trong tình hình mới chỉ thị yêu cầu nghành TDTT “ phấn đấu
vươn lên, đưa phong trào quần chúng rèn luyện thân thể và nề nếp, phát
triển công tác TDTT có chất lượng, có tác dụng tích cực nhằm mục tiêu
khôi phục và tăng cường sức khỏe của nhân dân, góp phần xây dựng con
người mới phát triển toàn diện” .
Để thực hiện mục tiêu này, chỉ thị đã nêu ra 4 phương hướng là:
Kết hợp TDTT, lấy thể dục làm cơ sở, kết hợp thể dục với vệ sinh phòng
chống bệnh, kết hợp thành tựu hiện đại của thế giới với kinh nghiệm truyền
thống của dân tộc , tập trung phục vụ phong trào cơ sở.
Tập luyện TDTT phải phù hợp với từng lứa tuổi nam nữ, nghành nghề, sức
khỏe của từng người và phù hợp với điều kiện kinh tế, hoàn cảnh địa lí tự
nhiên và truyền thống của từng vùng. Thực hiện kiểm tra y học và bảo đảm
an toàn trong tập luyện và thi đấu.
Kết hợp việc phát triển quần chúng với việc xây dựng lực lượng nồng cốt
bao gồm cán bộ, huấn luyện viên, trọng tài, giáo viên, hướng dẫn viên, và
vận động viên TDTT.
Triệt để sử dụng những điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất có sẵn, dựa vào
lực lượng của nhân dân.
Trải qua 20 năm thực hiện chỉ thị 227 CT/TƯ Ban Bí thư trung ương Đảng
đã đánh giá:
Nhũng năm gần đây TDTT đã phát triển, phong trào TDTT được mở rộng
với nhiều hình thức, nhiều môn thể thao dân tộc được khôi phục và phát
triển, nhiều môn thể thao đã được những thành tích đầy khích lệ, cơ sở vật
chất đã được đầu tư nâng cấp và xây dựng mới.

12


Tuy nhiên TDTT ở nước ta còn ở trình độ thấp, số người tập luyện thể thao
thường xuyên còn ít, thanh thiếu niên tham gia chưa tích cực, giáo dục thể
chất trong nhà trường, lực lượng vũ trang còn thấp…
Để thực hiện tốt và khắc phục được yếu kém nghành TDTT phải:
Coi TDTT là một bộ phận quan trọng trong chính sách phát triển kinh tế xã hội của Đảng và nhà nước ta, nhằm phát huy nhân tố con người.
Thực hiện giáo dục thể chất trong tất cả các trường học, làm cho việc tập
luyện TDTT trở thành nếp sống hàng ngày của hầu hết học sinh, sinh viên,
thanh niên, chiến sĩ lực lượng vũ trang và một bộ phận nhân dân.
Kiện toàn hệ thống đào tạo cán bộ quản lý, cán bộ khoa học, huấn luyện
viên, giáo viên TDTT, kiện toàn tổ chức nghành TDTT các cấp, nâng cấp.
Xây dựng mới và hiện đại hóa một số cơ sở nghiên cứu, ứng dụng khoa
học, y học TDTT tạo điều kiện cho sự phát triển mạnh mẽ nền thể thao Việt
Nam vào đầu thế kỷ XXI.
Ngày 24/3/1994 Ban Bí Thư Trung ương Đảng ra chỉ thị 36 CT/TƯ về
công tác TDTT trong giai đoạn mới.
Ngành TDTT đã thực hiện tổng điều tra xây dựng quy hoạch phát triển sự
nghiệp TDTT đến năm 2000 và đầu thế kỷ XXI. Đã tổ chức đại hội TDTT
toàn quốc năm 1985, 1990, 1995…phong trào TDTT trong học sinh được
phát triển, các Đại hội Phù Đổng được tổ chức năm 1983, 1987, 1996…
Cơ sở vật chất phục vụ tập luyện và thi đấu ngày càng hoàn thiện, nghành
TDTT được nhà nước tặng Huân chương Độc Lập hạng nhất năm 1981 và
Huân chương Hồ Chí Minh 1996 vì công sức của cán bộ, huấn luyện viên,
vận động viên sau 50 năm xây dựng và trưởng thành .

13


Năm 1986 đã ban hành chương trình giáo dục thể chất đầu tiên trong các
trường dạy nghề và sư phạm kỹ thuật. Chương trình gồm 60 tiết học nội
khóa và một số giờ ngoại khóa.
Từ khi thành lập Hội Thể thao Đại học Việt Nam đã phối hợp cùng Bộ Đại
học –Trung học chuyên nghiệp và Dạy nghề tổ chức nhiều hoạt động
TDTT quy mô khu vực và toàn nghành cũng như quốc tế. Hội thể thao Đại
học Việt Nam đã tham dự các hội thể thao mùa hè của sinh viên thế giới
(Universiade) lần XI năm 1981, XII năm 1983, XIII năm 1985, XIV năm
1987, XV năm 1989, XVI năm 1991…

Chỉ thị 17
BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT

NAM
********

******************

Số 07- HD/KGTW

Hà nội, ngày 12 tháng 11 năm 2002

14


Kính gửi: Tỉnh uỷ, thành uỷ các tỉnh,
Thành phố trực thuộc Trung ương

HƯỚNG DẪN
Thực hiện chỉ thị 17-CT/TW của Ban bí thư về
phát triển thể dục thể thao đến năm 2010

Ngày 23 tháng 10 năm 2002; Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá
IX) đã ban hành Chỉ thị số 17-CT/TW về phát triển thể dục thể thao đến
năm 2010. Sau khi thống nhất ý kiến với Ban Cán sự Đảng, Uỷ ban thể dục
thể thao, Ban Khoa giáo Trung ương hướng dẫn một số yêu cầu và nội
dung chính trong việc tổ chức thực hiện Chỉ thị số 17-CT/TW của Ban Bí
thư như sau:
I. YÊU CẦU
1. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm và tăng cường sự lãnh đạo, chỉ
đạo của các cấp uỷ đảng, chính quyền, các ngành, đoàn thể đối với việc
phát triển thể thao (TDTT).
2. Xây dựng và thực hiện có hiệu quả kế hoạch hành động triển khai
Chỉ thị số 17-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá IX) phù hợp
với điều kiện của từng ngành, địa phương, tạo được sự chuyển biến rõ rệt
về công tác TDTT trường học, TDTT quần chúng ở cơ sở và đào tạo tài
năng thể thao.

15


II. NHỮNG VIỆC CẦN TRIỂN KHAI ĐỂ THỰC HIỆN CHỈ
THỊ
1. Tổ chức triển khai Chỉ thị số 17-CT/TW của Ban bí thư đến từng
chi bộ và đảng viên
- Tổ chức phổ biến Chỉ thị số 17-CT/TW của Ban bí thư đến từng
chi bộ và đảng viên.
- Ban Tuyên giao tỉnh uỷ, thành uỷ chỉ đạo các cơ quan thông tin đại
chúng đẩy mạnh việc tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức và
trách nhiệm lãnh đạo của các cấp uỷ đảng, chính quyền đối việc phát triển
TDTT. Làm cho mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu sâu hơn về vị trí,
vai trò của TDTT đói với việc nâng cao sức khoẻ, thể lực của mọi người
dân, đặc biệt là thanh thiếu niên và góp phần xây dựng nếp sống văn hoá,
trật tự an toàn xã hội, tạo niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước
ta.
2. Xây dựng và tổ chức thực hiện văn bản của tỉnh ủy, thành uỷ về
tăng cường sự lãnh đạo của Đảng nhằm phát triển TDTT của địa phương
theo tinh thần Chỉ thị số 17-CT/TW của Ban bí thư.
- Ban Tuyên giáo tỉnh ủy, thành uỷ phối hợp với tổ chức đảng Sở
TDTT và các ban, ngành liên quan dự thảo văn bản (nghị quyết hoặc kế
hoạch hành động…) về phát triển TDTT của địa phương thực hiện Chỉ thị
số 17-CT/TW của Ban bí thư để trình tỉnh ủy, thành ủy xem xét và phê
duyệt. Dự thảo văn bản cần đánh giá thực trạng công tác TDTT; khẳng định
vị trí, tầm quan trọng của công tác TDTT; đối với việc chuẩn bị nguồn nhân
lực phục vụ CNH, HĐH (nâng cao sức khoẻ và thể lực; góp phần giáo dục
đạo đức, lối sống; nâng cao đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân; góp
phần đẩy lùi tệ nạn xã hội, giữ gìn trật tự, an ninh xã hội…); những vấn đề
bức xúc nhất đang đặt ra ở địa phương; các chủ trương và giải pháp thích

16


hợp với tình hình thực tế của địa phương để tăng cường đầu tư về tài chính,
cơ sở vật chất, cán bộ cho TDTT ở cơ sở, ưu tiên đối với những vùng khó
khăn; phân công trách nhiệm cụ thể cho từng ngành, từng tổ chức, từng cán
bộ lãnh đạo; hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện của các cấp, các ngành,
đoàn thể ở địa phương.
- Sau khi có văn bản của tỉnh uỷ, thành uỷ, Ban Tuyên giáo và tổ
chức đảng cơ sở TDTT có trách nhiệm giúp cấp uỷ tổ chức hướng dẫn và
kiểm tra việc thực hiện của các cấp, các ngành, đoàn thể ở địa phương.
3. Xây dựng kế hoạch về phát triển TDTT ở địa phương trình HĐND
và UBND tỉnh, thành phố phê duyệt và tạo nguồn lực để thực hiện. Kế
hoạch này cần có những nội dung chủ yếu sau:
- Tổ chức đảng sở TDTT các tỉnh, thành phố phối hợp với các cơ
quan hữu quan xây dựng kế hoạch phát triển TDTT ở địa phương. Cần tập
trung phát triển TDTT cơ sở, đẩy mạnh hoạt động TDTT trường học, phát
hiện, bồi dưỡng tài năng thể thao tại địa phương theo tinh thần Chỉ thị số
17-CT/TW của Ban bí thư. Duy trì thường xuyên phong trào “Toàn dân rèn
luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”, lựa chọn những nội dung thiết
thực, cụ thể và phù hợp với điều kiện, truyền thống văn hoá của địa
phương.
- Đưa nội dung phát triển TDTT vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã
hội của địa phương; lồng ghép công tác TDTT với các cuộc vận động xây
dựng đời sống văn hoá, các chương trình xoá đói, giảm nghèo…; huy động
cộng đồng tham gia tích cực vào các hoạt động phát triển TDTT.
- Chỉ đạo các phòng Văn hoá - Thông tin - TDTT, các Trung tâm
TDTT, các trường học xây dựng và thực hiện kế hoạch nhằm nâng cao chất
lượng hoạt động của các tổ chức TDTT cơ sơ; bồi dưỡng nâng cao năng lực
chuyên môn và đạo dức của các cán bộ, cộng tác viên TDTT; căn cứ các

17


mục tiêu quốc gia về TDTT giai đoạn 2001 - 2010 để phấn đấu tăng cường
chất lượng hoạt động TDTT ở địa phương mình.
- Chỉ đạo việc thực hiện các kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng, bố trí sử
dụng cán bộ, thực hiện các chính sách đãi ngộ đội ngũ cán bộ TDTT, ưu
tiên đào tạo cán bộ người dân tộc.
- Điều chỉnh phân bổ ngân sáchcủa địa phương và vận động thêm
các nguồn tài trợ để tăng đầu tư cho hoạt động TDTT ở cơ sở, nhất là ở các
vùng khó khăn.
- Căn cứ vào thực tiễn hoạt động của mạng lưới TDTT ở địa phương
để chủ động điều chỉnh các cơ chế thích hợp và đề xuất với các cơ quan
trung ương về viễc bổ sung hoàn thiện và ban hành mới các văn bản pháp
luật và các chính sách liên quan.
- Tổng kết việc triển khai xã hội hoá TDTT ở cơ sở, rút ra các bài
học kinh nghiệm, các cách làm hay để không ngừng phát huy kết quả của
xã hội hoá TDTT. Tăng cường sự phối hợp liên ngành, phối hợp với các tổ
chức và cá nhân trong, ngoài nước để khai thác các nguồn lực và tìm ra
những giải pháp thiết thực nhằm phát triển TDTT.
4. Trước mắt các cấp uỷ đảng có liên quan cần tập trung chỉ đạo việc
chuẩn bị và tổ chức thật tốt SEA Games 22 (năm 2003) theo tinh thần Chỉ
thị số 17-CT/TW

III. KIỂM TRA VÀ ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN CHỈ THỊ
Ban tuyên giáo các tỉnh uỷ, thành uỷ và tổ chức đảng sở TDTT định
kỳ kiểm tra việc thực hiện Chỉ thị ở các cấp, các ngành; kịp thời chỉ đạo các
cơ sở giải quyết những vấn đề nảy sinh trong quá trình thực hiện Chỉ thị.
Hàng năm tổng hợp đánh giá tình hình, đúc rút kinh nghiệm để báo cáo tỉnh

18


uỷ, thành uỷ, đồng thời gửi báo cáo về Ban Khoa giáo Trung ương để Ban
tổn ghợp báo cáo Ban Bí thư.

Chỉ thị 641
THỦ TƯỚNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

CHÍNH PHỦ

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

______

__________

Số: 641/QĐ-TTg

Hà Nội, ngày 28 tháng 4 năm 2011

QUYẾT ĐỊNH
Về việc phê duyệt Đề án tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc
người Việt Nam giai đoạn 2011 - 2030
____________
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Thể dục, thể thao, ban hành theo Lệnh số 22/2006/L-CTN
ngày 12 tháng 12 năm 2006 của Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam;
Căn cứ Quyết định số 2198/QĐ-TTg ngày 03 tháng 12 năm 2010 của Thủ
tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển thể dục, thể thao

19


Việt Nam đến năm 2020;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Phê duyệt Đề án tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc người Việt
Nam giai đoạn 2011 – 2030 (sau đây gọi tắt là Đề án), với những nội
dung chủ yếu sau đây:
1. Mục tiêu tổng quát
Phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam trong 20 năm tới để nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước; từng bước nâng cao chất lượng giống nòi và tăng tuổi thọ
khỏe mạnh của người Việt Nam.
2. Mục tiêu cụ thể
Tăng cường công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe bà mẹ và trẻ sơ
sinh, giảm mạnh tỷ lệ suy dinh dưỡng để cải thiện các chỉ số cơ bản của trẻ
em 5 tuổi và đảm bảo các tiêu chí đánh giá thể lực, tầm vóc thân thể của
thanh niên Việt Nam lứa tuổi trưởng thành.
a) Cải thiện tầm vóc thân thể của thanh niên Việt Nam đạt nhịp độ tăng
trưởng ổn định theo các tiêu chí sau:
- Đối với nam 18 tuổi: Năm 2020 chiều cao trung bình 167 cm; năm 2030
chiều cao trung bình 168,5 cm.
- Đối với nữ 18 tuổi: Năm 2020 chiều cao trung bình 156 cm; năm 2030
chiều cao trung bình 157,5 cm.
b) Cải thiện thể lực, đặc biệt là sức bền và sức mạnh của đa số thanh niên
có bước phát triển rõ rệt, thu hẹp khoảng cách so với các nước phát triển ở
châu Á theo các tiêu chí sau:
- Đối với nam 18 tuổi

20


+ Chạy tùy sức 5 phút tính quãng đường trung bình đạt 1.050 m vào năm
2020; 1.150 m vào năm 2030.
+ Lực bóp tay thuận đạt trung bình 45 kg năm 2020; 48 kg năm 2030.
- Đối với nữ 18 tuổi
+ Chạy tùy sức 5 phút tính quãng đường trung bình đạt 850 m vào năm
2020; 1.000 m năm 2030.
+ Lực bóp tay thuận đạt trung bình 30 kg năm 2020; 34 kg năm 2030.
c) Hình thành phong trào của toàn xã hội chăm lo phát triển thể lực, tầm
vóc người Việt Nam; mở rộng các hoạt động sinh hoạt văn hóa, thể thao,
giải trí lành mạnh, giúp con người phát triển hài hòa về thể lực, trí lực, tâm
lực.
d) Tăng cường chăm sóc sức khỏe trẻ em, người chưa thành niên và thanh
niên nhằm giảm thiểu các bệnh về tim mạch, bệnh béo phì, bệnh gây bất
bình thường về chiều cao thân thể, góp phần nâng cao chất lượng cuộc
sống.
3. Phạm vi, đối tượng
a) Phạm vi: Đề án được thực hiện trong phạm vi toàn quốc và chỉ đạo trọng
điểm ở 4 thành phố, 6 tỉnh đồng bằng, miền núi.
b) Đối tượng của Đề án: Bà mẹ mang thai, trẻ sơ sinh, nhi đồng, thiếu niên,
thanh niên đến 18 tuổi.
4. Thời gian thực hiện
Thời gian thực hiện Đề án là 20 năm, chia làm 2 giai đoạn
- Giai đoạn 1: Từ năm 2011 – 2020: Giai đoạn thực hiện thí điểm giải pháp
đồng bộ về dinh dưỡng và thể dục thể thao; trong đó, chương trình 1 chỉ
tiến hành nghiên cứu trong 5 năm từ năm 2011 – 2015.
- Giai đoạn 2: Từ năm 2021 – 2030: Thụ hưởng thành quả của giai đoạn 1

21


để thực hiện mở rộng trong phạm vi toàn quốc và hoàn thiện Đề án.
5. Các chương trình của Đề án
a) Chương trình 1: Nghiên cứu triển khai, ứng dụng những yếu tố chủ yếu
tác động đến thể lực, tầm vóc người Việt Nam.
- Phân công thực hiện
+ Cơ quan chủ trì: Bộ Y tế.
+ Cơ quan phối hợp: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Giáo dục và
Đào tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ, Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và
Đầu tư).
- Nhiệm vụ: Xây dựng các chỉ số sinh học và các tiêu chí, tiêu chuẩn phát
triển thể lực, tầm vóc; đề xuất khả năng can thiệp cải thiện thể lực, tầm vóc
người Việt Nam.
- Nội dung chủ yếu
+ Khảo sát, thống kê các chỉ số sinh học và tổng hợp các tiêu chí, tiêu
chuẩn đánh giá thể lực, tầm vóc người Việt Nam.
+ Khảo sát thống kê số liệu về yếu tố di truyền và môi trường chi phối
chiều cao đứng.
+ Điều tra tổng hợp và xác định tần số bệnh tật gây bất thường về tầm vóc
thân thể, thể lực; đề xuất một số biện pháp can thiệp.
- Tiêu chí đánh giá: Có tiêu chí, tiêu chuẩn cụ thể để đánh giá thể lực, tầm
vóc người Việt Nam; thí điểm triển khai, ứng dụng những yếu tố chủ yếu
tác động đến thể lực, tầm vóc người Việt Nam từ 03 tuổi đến 18 tuổi ở 25%
số trường mẫu giáo và phổ thông.
b) Chương trình 2: Chăm sóc dinh dưỡng kết hợp với các chương trình
chăm sóc sức khỏe, chất lượng dân số có liên quan.
- Phân công thực hiện

22


+ Cơ quan chủ trì: Bộ Y tế.
+ Cơ quan phối hợp: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Giáo dục và
Đào tạo, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Lao động - Thương
binh và Xã hội, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương, Trung ương Đoàn thanh niên công sản Hồ Chí Minh, Trung ương
Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.
- Nhiệm vụ: Đảm bảo dinh dưỡng hợp lý cho bà mẹ mang thai, trẻ sơ sinh,
nhi đồng, thiếu niên, thanh niên đến 18 tuổi.
- Nội dung chủ yếu
+ Tiếp tục chương trình chăm sóc dinh dưỡng cho bà mẹ mang thai và trẻ
em dưới 5 tuổi.
+ Nghiên cứu đề xuất chuẩn thực đơn dinh dưỡng hàng ngày phù hợp với
các đối tượng của Đề án.
+ Thí điểm hướng dẫn và thực hiện chế độ chăm sóc dinh dưỡng đối với
học sinh mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông.
+ Xây dựng và triển khai chương trình sữa học đường đối với học sinh mẫu
giáo, tiểu học.
+ Đánh giá hiệu quả về dinh dưỡng đối với trẻ em và học sinh từ 03 tuổi
đến 18 tuổi.
+ Đánh giá tổng hợp sự lồng ghép Đề án này với các chương trình chăm
sóc sức khỏe, chất lượng dân số có liên quan.
- Tiêu chí đánh giá
+ Đến năm 2015 thí điểm hướng dẫn, chăm sóc chế độ dinh dưỡng cho
55% số trường mẫu giáo và phổ thông; thí điểm triển khai chương trình sữa
học đường cho 45 – 50% số trường mẫu giáo và tiểu học.
+ Đến năm 2020 mở rộng diện hướng dẫn, chăm sóc chế độ dinh dưỡng

23


cho 100% số trường mẫu giáo và phổ thông; triển khai chương trình sữa
học đường đối với toàn bộ các trường mẫu giáo và tiểu học.
c) Chương trình 3: Phát triển thể lực, tầm vóc bằng giải pháp tăng cường
giáo dục thể chất đối với học sinh từ 03 tuổi đến 18 tuổi.
- Phân công thực hiện
+ Cơ quan chủ trì: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
+ Cơ quan phối hợp: Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế, Bộ Xây dựng, Bộ
Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương, Trung ương Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Trung
ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.
- Nhiệm vụ: Nâng cao chất lượng giờ học thể dục chính khóa; tổ chức các
hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa, hướng dẫn học sinh tự luyện tập thể
dục thể thao để tăng cường thể lực, cải thiện chiều cao thân thể.
- Nội dung chủ yếu
+ Khảo sát thực trạng thể dục thể thao trường học, thể chất và sức khỏe học
sinh là đối tượng của Đề án.
+ Cải thiện và tăng cường điều kiện phục vụ hoạt động thể dục thể thao
trong trường học bao gồm: cơ chế chính sách, tổ chức quản lý, nguồn nhân
lực và cơ sở vật chất, trang thiết bị dụng cụ tập luyện.
+ Chuẩn hóa, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho giáo dục thể chất đối với
các trường thí điểm.
+ Tận dụng các công trình thể dục thể thao trên địa bàn để phục vụ cho
hoạt động giáo dục thể chất trong trường học (chính khóa và ngoại khóa).
+ Đảm bảo chất lượng dạy và học thể dục chính khóa, các hoạt động thể
thao ngoại khóa cho học sinh; xây dựng chương trình giáo dục thể chất hợp
lý có kết hợp với giáo dục quốc phòng, triển khai đồng bộ với công tác y tế

24


học đường và dinh dưỡng học đường.
+ Xây dựng thích hợp một hệ thống các lớp năng khiếu thể thao ban đầu ở
trường học, đặc biệt ở các trường trung học cơ sở.
- Tiêu chí đánh giá
+ Đến năm 2020 số trường phổ thông các cấp có câu lạc bộ thể dục thể
thao, có hệ thống cơ sở vật chất đủ phục vụ cho hoạt động thể dục thể thao,
có đủ giáo viên và hướng dẫn viên thể dục thể thao, thực hiện dạy thể dục
nội khóa kết hợp với hoạt động thể thao ngoại khóa chiếm 55% tổng số
trường.
+ Đến năm 2030 đạt định mức tiêu chí đánh giá nêu trên ở khoảng 90%
tổng số trường.
d) Chương trình 4: Tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức và thay đổi
hành vi xã hội về phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam.
- Phân công thực hiện
+ Cơ quan chủ trì: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
+ Cơ quan phối hợp: Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Giáo dục và Đào
tạo, Bộ Y tế, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông
tấn xã Việt Nam và các cơ quan thông tấn, báo chí, Ủy ban nhân dân các
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Trung ương Đoàn Thanh niên cộng
sản Hồ Chí Minh, Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.
- Nhiệm vụ: thông tin, giáo dục, truyền thông, tiếp thị xã hội nhằm nâng
cao nhận thức, thay đổi hành vi xã hội và huy động sự tham gia của toàn xã
hội trong các hoạt động của Đề án tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc
người Việt Nam.
- Nội dung chủ yếu
+ Xác định đối tượng, nội dung và biện pháp tuyên truyền, giáo dục.

25


x

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×