Tải bản đầy đủ

GIẢI PHÁP cơ bản NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG sư PHẠM của đội NGŨ GIÁO VIÊN TRONG TRƯỜNG PHỔ THÔNG

HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA

GIẢI PHÁP CƠ BẢN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG SƯ
PHẠM CỦA ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRONG TRƯỜNG PHỔ THÔNG
ThS. Nguyễn Xuân Giáp
Trường CĐSP Nghệ An
Tóm tắt: Chất lượng đội ngũ giáo viên thực chất là chất lượng hoạt động sư
phạm của họ trong trường học chỉ có thể được hình thành trên nền tảng vững chắc của
hệ thống tri thức, kỹ năng chuyên môn và nghiệp vụ. Kiến thức chuyên môn, nghiệp
vụ của giáo viên được hình thành thông qua tất cả các hoạt động nghề nghiệp của họ
trong và ngoài nhà trường. Song hoạt động có ý nghĩa chủ đạo là hoạt động học tập,
bồi dưỡng (BD) được tổ chức thường xuyên hay định kỳ. Vì vậy để nâng cao chất
lượng đội ngũ giáo viên (GV) trong trường phổ thông (PT) cần phải thực hiện một hệ
thống các giải pháp, nhưng trong đó giải pháp có ý nghĩa quan trọng nhất là phải nâng
cao hiệu quả và chất lượng các khoá BD GV.
Từ khóa: Đội ngũ giáo viên; chất lượng, hoạt động sư phạm.
Chất lượng đội ngũ giáo viên thực chất là chất lượng hoạt động sư phạm của họ
trong trường học chỉ có thể được hình thành trên nền tảng vững chắc của hệ thống tri
thức, kỹ năng chuyên môn và nghiệp vụ. Kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ của giáo
viên được hình thành thông qua tất cả các hoạt động nghề nghiệp của họ trong và
ngoài nhà trường. Song hoạt động có ý nghĩa chủ đạo là hoạt động học tập, bồi dưỡng

(BD) được tổ chức thường xuyên hay định kỳ. Vì vậy để nâng cao chất lượng đội ngũ
giáo viên (GV) trong trường phổ thông (PT) cần phải thực hiện một hệ thống các giải
pháp, nhưng trong đó giải pháp có ý nghĩa quan trọng nhất là phải nâng cao hiệu quả
và chất lượng các khoá BD GV.
Chất lượng, hiệu quả hoạt động dạy học (DH) trong các khoá BD GV giảng
dạy trong các trường PT chỉ thực sự được nâng cao khi thực hiện tốt các nội dung
sau:
1. Tuyển chọn đội ngũ giáo viên đủ chuẩn giảng dạy các lớp bồi dưỡng
GV là yếu tố hàng đầu quyết định chất lượng, hiệu quả BD. Kết quả dạy học là
kết quả tổng hợp của các mối quan hệ tương tác qua lại của nhiều yếu tố, trong đó chất
lượng giảng dạy của GV đóng vị trí cực kỳ quan trọng, chi phối mạnh mẽ đến hiệu quả
tiếp nhận của người học.

107


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI

Điều 15 chương I của Luật giáo dục hiện hành nêu rõ "Nhà giáo giữ vai trò
quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục. Nhà giáo phải không ngừng học
tập, rèn luyện, nêu gương tốt cho người học. Nhà nước tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nhà
giáo, có chính sách bảo đảm các điều kiện cần thiết về vật chất và tinh thần để nhà
giáo thực hiện nhiệm vụ của mình…".
Trong quá trình thực hiện chương trình BD chất lượng DH có tác động trực tiếp
đến chất lượng BD của học viên. Vì thế, để đảm bảo công tác BD đội ngũ GV trong các
trường có chất lượng, điều kiện cần trước hết là có đủ đội ngũ GV đáp ứng được yêu cầu
của nhiệm vụ BD.
1.1. Định hướng chung về tuyển chọn đội ngũ giáo viên bồi dưỡng (GVBD):
Về nguyên tắc, việc tuyển chọn đội ngũ GVBD phải đủ số lượng, cơ cấu và tay
nghề chuyên môn đáp ứng được nhu cầu BD các loại hình đối tượng BD ở từng thời
kỳ. Việc tuyển chọn, xây dựng đội ngũ GVBD phải vừa đảm bảo tính chiến lược lâu
dài vừa phải đáp ứng kịp thời những thời điểm cụ thể (Chẳng hạn, giai đoạn có sự thay
đổi về chương trình, nội dung dạy học ở các cấp; hay tại một số trường nào đó có tiếp
nhận những phương tiện, thiết bị, công nghệ dạy học mới vv…thì nhu cầu về GVBD
là rất lớn).
1.2. Cơ chế, quy trình tuyển chọn:
- Dự báo, xác định nhu cầu số lượng cơ cấu đội ngũ GVBD cần thiết để hoàn
thành nhiệm vụ BD của các nhà trường trong từng giai đoạn và từng năm học.

Về mặt thực tiễn, từ việc phối kết hợp với các cơ quan quản lý giáo dục địa
phương, cơ sở đảm nhận nhiệm vụ BD điều tra khảo sát thực trạng đội ngũ hiện có với
nhu cầu dự báo để ước lượng số lượng, cơ cấu đội ngũ học viên và chương trình, nội
dung BD phù hợp cho từng loại đối tượng học viên khác nhau; từ đó mới xác định số
lượng cơ cấu đội ngũ GVBD phù hợp.
- Xây dựng tiêu chí tuyển chọn cần thỏa mãn hai góc độ: tiêu chuẩn về mặt hành
chính và tiêu chuẩn về chuyên môn, nghiệp vụ.
Dưới góc độ quản lý hành chính nhà nước, đội ngũ GVBD phải đáp ứng các
tiêu chí, tiêu chuẩn được quy định ở hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan
(Ví dụ Luật GD, Luật GDĐH, chuẩn GV các cấp…).
Mục 2, Điều 9 trong “Quy chế Bồi dưỡng thường xuyên giáo viên mầm non,
phổ thông và giáo dục thường xuyên, ban hành kèm theo Thông tư số 26 /2012/TT-

108


HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA

BGDĐT ngày 10 tháng 7 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định
về “Báo cáo viên BDTX” như sau:
“Tiêu chuẩn của báo cáo viên BDTX
a) Nắm vững Chương trình BDTX, có khả năng truyền đạt nội dung tài liệu
BDTX phù hợp với đối tượng giáo viên.
b) Có kinh nghiệm, kiến thức, hiểu biết về hoạt động học tập của giáo viên; có
khả năng hướng dẫn, tư vấn giáo viên tự học; nắm vững quy trình tổ chức, nội dung, kĩ
thuật, phương pháp, hình thức đánh giá kết quả BDTX của giáo viên.
c) Có tinh thần trách nhiệm, khả năng cộng tác với đồng nghiệp”.
Vấn đề là tiêu chuẩn về văn bằng, lý lịch, hồ sơ…chỉ là điều kiện cần mang tính
hình thức, chưa thể đảm bảo chất lượng, hiệu quả giảng dạy của GV.
Dưới góc độ thực tiễn hành động: Phải đảm bảo tính thiết thực trong việc tuyển
chọn và phân công GV.
Khi triển khai lựa chọn GV cần chú trọng đến tinh thần thái độ, năng lực giảng
dạy sát hợp với từng loại đối tượng học viên, kinh nghiệm về giảng dạy hệ không
chính quy tập trung (hệ vừa làm vừa học), đặc biệt là sự năng động cập nhật thực tiễn
(cả về sự thay đổi nội dung, phương pháp DH và cách thức làm việc, tương tác với học
viên trong những hoàn cảnh, môi trường cụ thể).
Vấn đề tuyển chọn đội ngũ GVBD còn phải xác định để phục vụ theo các loại
hình ĐT- BD khác nhau.
Khi áp dụng triển khai vào thực tế, chúng ta phải cụ thể hóa thành các tiêu
chuẩn của GV dạy từng loại đối tượng và từng chuyên ngành hẹp một cách rõ ràng, có
thể “đo đạc” được.
Đối với đội ngũ GVBD đối tượng cán bộ quản lý trường học, bên cạnh những
người được đào tạo bài bản về khoa học quản lý giáo dục (thạc sĩ, tiến sĩ QLGD) nên
ưu tiên tuyển chọn các nhà quản lý am hiểu và có kinh nghiệm thực tiễn về quản lý
nhà trường, đặc biệt đã kinh qua hay đang làm nhiệm vụ quản lý cấp học tương ứng
(chẳng hạn các cán bộ đã trải qua công tác ở Sở, Phòng GD-ĐT, các vị trí Hiệu trưởng,
Phó hiệu trưởng THPT, THCS,TH).
Đối với đội ngũ GVBD đối tượng giáo viên chuyên môn, nhân viên phục vụ các
tiêu chí tuyển chọn phải đáp ứng được từng “vị trí việc làm” cụ thể gắn liền với
chương trình, nội dung, môi trường, điều kiện cụ thể…

109


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI

Trước khi phân công nhiệm vụ cho GVBD, lãnh đạo trường cần phân tích, mô
tả công việc của ngườ GV giảng dạy bồi dưỡng. Đây là một hoạt động hết sức quan
trọng. Nội dung phân tích công việc là thu thập và mô tả thông tin về công việc được
thực hiện bao gồm:
- Kiến thức: Thể hiện mức độ hiểu biết về trình độ chuyên môn, kiến thức khoa
học và những yêu cầu nhất định trong công việc;
- Kỹ năng: Khả năng sử dụng các biện pháp dạy học và khả năng sử dụng các
dụng cụ, thiết bị DH để thực hiện nhiệm vụ; khả năng tư duy và thể chất cần có để
thực hiện nhiệm vụ và mức độ thành thạo trong việc phối hợp các phương pháp dạy
học, giáo dục mà không cần phụ thuộc vào việc sử dụng dụng cụ, thiết bị DH
- Kinh nghiệm tiếp cận, thích nghi với đối tượng học viên và môi trường địa
phương nơi đặt lớp, biện pháp tổ chức quản lý việc học của học viên; vv…
Từ kế hoạch, chương trình BD, điều kiện về tổ chức triển khai thực hiện giảng
dạy, phân tích công việc nhằm giúp cho mỗi GV nhận thức đầy đủ nhiệm vụ thực hiện
giảng dạy trên cơ sở trả lời các câu hỏi: Những hoạt động tư duy và thể chất nào để
cán bộ, GV đảm nhận được vị trí này? Công việc được thực hiện khi nào, ở đâu, nhiệm
vụ thực hiện như thế nào? Bằng cấp nào cần có để thực hiện công việc? Cần những
điều kiện nào để thực hiện? Những biện pháp thực hiện thành công? Từ đó, để phân
công nhiệm vụ cho mỗi cán bộ, giáo viên đúng năng lực chuyên môn và sở trường của
họ.
1.3. Tổ chức tuyển chọn GVBD
Việc tuyển chọn, xây dựng đội ngũ GVBD nên tiến hành theo 2 chiều: Các cơ
quan có thẩm quyền và cơ sở BD (trường SP) xây dựng kế hoạch, chương trình và các
điều kiện triển khai, phổ biến quán triệt đến các đơn vị bộ phận liên quan. Các đơn vị
có nguồn và mỗi cá nhân giảng viên tiếp cận tìm hiểu tiêu chuẩn, tiêu chí và sắp xếp
kế hoạch phù hợp để đăng ký cụ thể phần chuyên môn mình có thể đảm nhận
Đối với trường SP, sau khi được cấp có thẩm quyền giao nhiệm vụ cho trường
là đầu mối, phải tham mưu, đề xuất tiêu chuẩn, tiêu chí, các yêu cầu và lập kế hoạch
tuyển chọn, chuẩn bị kịp thời đội ngũ GV BD đủ đáp ứng nhiệm vụ BD được giao.
Có thể phổ biến về nhu cầu, các tiêu chuẩn, tiêu chí để đội ngũ giảng viên ở các
đơn vị (Khoa, Bộ môn, Phòng, Ban, Trung tâm…) đăng ký trước. Căn cứ vào nguồn
đăng ký, thẩm định việc đáp ứng các tiêu chuẩn để lựa chọn những người xứng đáng
thích hợp, đáp ứng yêu cầu công việc.

110


HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA

1.4. Nguồn giáo viên để tuyển chọn.
Nếu nguồn GV trong trường thiếu thì hợp đồng thêm với các GV thỉnh giảng ở
các cơ sở khác, nhất là cán bộ ở Sở, Phòng GD-ĐT và các chuyên gia ở các trường PT.
Bên cạnh việc lựa chọn đội ngũ đáp ứng trực tiếp giảng dạy kịp thời, nhiệm vụ
trước mắt cũng cần chuẩn bị xây dựng đội ngũ kế cận để đáp ứng dài hạn.
2. Tăng cường kiểm tra giám sát hoạt động giảng dạy của giáo viên thông qua cơ
chế 4 bên: Trường SP-TT GDTX huyện- Phòng GD huyện- Đội ngũ cán bộ lớp
Bản chất của quá trình dạy học là một hệ thống toàn vẹn bao gồm 2 thành tố cơ
bản quyết định, luôn tương tác với nhau, đó là dạy và học. Dạy và học xen kẽ và thâm
nhập vào nhau, quy định lẫn nhau, sinh thành ra nhau. Toàn bộ quá trình dạy học lại
có mối quan hệ mật thiết với môi trường kinh tế, chính trị,văn hóa xã hội và môi
trường khoa học- kỹ thuật-công nghệ.
Nhiệm vụ quản lý dạy học là:
- Quản lý việc dạy của thầy: Thầy dạy phải nghiêm túc, đầy đủ theo chương
trình và kế hoạch đào tạo.
- Xây dựng nền nếp giảng dạy, nâng cao chất lượng dạy ở tất cả các khâu của
quá trình giảng dạy của GV.
- Xây dựng cách học cho học sinh, giúp học sinh xác định đúng đắn động cơ tinh
thần thái độ học tập, có phương pháp học tập đối với từng môn ở lớp, ở nhà.
Trong thực tế hiện nay nếu lương tâm, trách nhiệm làm nghề của GV nếu không
cao thì họ rất dễ buông lỏng hoặc dễ dãi với học viên.
So với dạy học ở hệ chính quy thì điều kiện giảng dạy, hoàn cảnh không gian
tác nghiệp của GV ở các lớp BD có những đặc thù khác biệt. Cơ cấu học viên thường
đa dạng và có nơi ở, hoàn cảnh gia đình, điều kiện sinh sống khác nhau. Trong lớp
thường có nhiều độ tuổi, nhiều học viên đã lớn tuổi, có gia đình. Một số có tâm thế học
không đúng đắn, cốt để lấy văn bằng, chứng chỉ chứ không chuyên tâm vào việc nâng
cao trình độ chuyên môn. Các lớp học hệ BD đặt ở Trung tâm GDTX địa phương
thường ở xa nơi làm việc của bộ phận điều hành. Mặt khác đối với người học thường
không thoát ly hẳn được việc cơ quan trong quá trình học. Những người có chức năng
quản lý lớp học ở Trung tâm GDTX địa phương lại thường hay nể nang. GV khi dạy
hệ này thường độc lập “tự túc tự tác” triển khai nhiệm vụ ít được kiểm tra giám sát.
Để thực hiện quản lý dạy học các hệ BD có hiệu quả, trước hết phải xây dựng,
xác lập cơ chế giám sát hoạt động giảng dạy của GV phù hợp thông qua cơ chế phối

111


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI

hợp nhịp nhàng của 3 lực lượng: Trường SP-TT GDTX huyện- Đội ngũ cán bộ lớp.
Muốn vậy phải có sự phân cấp, phân nhiệm cụ thể và sự hợp tác, đồng thuận vì mục
đích chung để vừa đảm bảo việc thực hiện quy chế hành chính, vừa đảm bảo chất
lượng giảng dạy của GV.
Về hành chính, Trường SP là cơ quan chủ quản, phải là đầu mối chịu trách
nhiệm chính về xây dựng và quản lý nền nếp dạy học.
Trung tâm GDTX huyện (nơi đặt lớp) có điều kiện trực tiếp tham gia quản lý
các lớp bồi dưỡng đặt ở địa phương thuận lợi, có thể giám sát nền nếp DH như điểm
danh, làm đầu mối trao đổi thông tin hai chiều giữa học viên và trường SP.
Tuy nhiên lực lượng cốt yếu để duy trì nền nếp dạy học chính là bản thân học viên
mà lực lượng nòng cốt là đội ngũ cán bộ lớp. Vấn đề là khi tổ chức lớp phải chọn được
đội ngũ cán bộ có đủ uy tín, tâm huyết, ý thức trách nhiệm và là những người có điều kiện
thuận lợi (về thời gian, nơi ở, phương tiện đi lại, khả năng giao tiếp…).
Nền nếp DH là trạng thái vận động của hoạt động DH được diễn ra theo một
quy trình vận động khớp nhịp, có tổ chức, có kế hoạch theo một trật tự, kỷ cương nhất
định mang tính hành chính sư phạm trong nhà trường.
- Xây dựng và quản lý nền nếp DH là một quá trình tổ chức, tác động điều phối
nhằm chuyển hoá những yêu cầu khách quan mang tính chất hành chính của quá trình
DH thành ý thức tự giác, tự chủ và tự quản, tính thần trách nhiệm cá nhân và cộng
đồng trách nhiệm trong tập thể, thành hành vi thói quen làm việc có tổ chức, có kỷ
luật, theo pháp luật và luật lệ đã được quy định trong nhà trường.
- Xây dựng và quản lý nền nếp DH còn bao hàm cả việc xây cộng đồng hợp tác
với nhau trong công việc một cách nhịp nhàng, đồng bộ, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, tập
thể có trạng thái tinh thần lành mạnh, dân chủ, nhân đạo, sư phạm và thẩm mỹ.
- Xây dựng và quản lý nền nếp DH phải coi là nền tảng và gắn liền với việc
nâng cao chất lượng DH.
- Tổ chức nghiên cứu và chỉ đạo áp dụng thực hiện các văn bản pháp quy, quy
chế của Bộ GD&ĐT xây dựng và thực hiện các nội quy về nền nếp DH.
- Tổ chức chỉ đạo thực hiện kế hoạch DH đã được xây dựng, đặc biệt quan tâm
đến kế hoạch về:
+ Thực hiện chương trình các môn học.
+ Thời khoá biểu lên lớp.
+ Nền nếp ra vào lớp của thầy và trò.

112


HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA

- Chỉ đạo thực hiện hồ sơ sổ sách chuyên môn:
+ Thực hiện các loại hồ sơ, sổ sách theo quy định. Kiểm tra, thẩm định các loại
hồ sơ chuyên môn cần thiết (kế hoạch, chương trình, thời khoá biểu, giáo trình, bài
soạn, danh sách học viên vv…) trước khi GV bắt đầu triển khai đứng lớp.
- Đảm bảo đủ điều kiện vật chất cho giờ lên lớp…
- Sử dụng kế hoạch, chương trình BD, thời khoá biểu để điều khiển và kiểm
soát tiến độ thực hiện chương trình các môn học, điều tiết giờ lên lớp của GV.
+ Theo dõi các sổ điểm danh, sổ ghi đầu bài, sổ điểm theo đúng quy định.
- Quản lý chất lượng giảng dạy chuyên môn
Phải vận hành được cơ chế kiểm soát vừa chặt chẽ, vừa khuyến khích, động
viên được tính tự giác, tích cực của GV.
Muốn vậy phải có sự nhìn nhận, đánh giá chuyên môn của các nhóm, tổ bộ
môn, đồng nghiệp và cả tác động ngược từ học viên. Từ đó, đưa ra những tác động kịp
thời đến GV để họ tích cực tự giác phát huy năng lực chuyên môn trong giảng dạy.
Kiên quyết loại bỏ những người thực hiện quy chế DH thiếu nghiêm túc hay không
đảm bảo chất lượng chuyên môn khỏi công tác giảng dạy các lớp BD.
3. Cập nhật kiến thức, thực tiễn giáo dục, gắn lý luận với thực tiễn trong
nội dung bồi dưỡng
BD là làm tăng thêm trình độ hiện có của người được BD với nhiều hình thức
và mức độ khác nhau. BD không đòi hỏi chặt chẽ, bài bản cnhư đào tạo chính quy,
nhưng lại có những đặc thù riêng đòi hỏi tính linh hoạt mềm dẻo của nội dung, chương
trình và hình thức, biện pháp thực hiện.
Chất lượng, hiệu quả BD phụ thuộc vào nhiều yếu tố tương tác lẫn nhau, cả về
phía người dạy, người học, nội dung chương trình, hình thức tổ chức bồi dưỡng, không
gian, điều kiện thực hiện vv...Trong đó, nội dung chương trình, phương pháp DH là
những yếu tố hàng đầu trực tiếp có tác động mạnh mẽ đến kết quả BD.
Để kết quả BD đạt được hiệu quả thực tế, có tác dụng thực sự đối với các đối
tượng người học thì việc xây dựng chương trình và chuẩn bị nội dung BD cần phải gắn
với thực tiễn, cập nhật được các vấn đề thực tế tác nghiệp của học viên đòi hỏi.
Chương trình BD là căn cứ của việc quản lý, chỉ đạo, tổ chức và biên soạn tài
liệu phục vụ công tác BD, tự BD nhằm nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của
người học, nâng cao mức độ đáp ứng của học viên với yêu cầu phát triển giáo dục và

113


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI

yêu cầu của chuẩn nghề nghiệp đối với từng vị trí việc làm. Việc thiết kế xây dựng
chương trình, nội dung BD cần mềm dẻo có tính thực tiễn cao.
Ngoài việc thực hiện các văn bản, quy định chung của cấp trên chương trình
cần phải đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra cho các đối tượng người học trong tình hình
hiện nay và phù hợp thực trạng về trình độ, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ hiện có
của từng loại đối tượng người học. Như vậy, ngoài phần bắt buộc chung, mỗi chương
trình BD cần có phần tự chọn phân hóa linh hoạt, sát hợp với các đối tượng. Bộ phận
chuyên môn được giao xây dựng chương trình BD cần kịp thời nắm bắt thông tin cần
thiết từ cơ sở phản ánh để lựa chọn nội dung BD phù hợp hơn.
Muốn học viên, với tư cách là khách hàng sử dụng dịch vụ BD tiếp nhận được
“cái gì” từ khóa học thì, về phía GV và nhà trường chúng ta, với tư cách là người cung
cấp dịch vụ BD, cần phải xác định thật đúng đắn: cần BD “cái gì” và có biện pháp BD
“như thế nào” cho học viên.
Kiểu dạy cứng nhắc “cái gì mình có” đã lỗi thời và không phù hợp với tình hình
khách quan hiện nay. Chúng ta phải cố gắng nỗ lực để chuyển tải đến học viên cái mà
họ cần để đáp ứng yêu cầu mà thực tiễn công tác ở cơ sở của họ đặt ra. Đối với
GVBD, khi thực hiện chương trình chuẩn bị nội dung chi tiết bài giảng không nên chỉ
lý thuyết cứng nhắc giáo điều, phải chủ động cập nhật những vấn đề mới gắn với thực
tiễn giáo dục PT.
Trong thực tế hiện nay, nhiều GV còn thiếu hiểu biết thực tiễn PT đầy sinh
động, chưa chú trọng xây dựng đề cương bài giảng phù hợp thực tế cơ sở. Vì thế, nhà
trường và các đơn vị chuyên môn cần có giải pháp cụ thể, bắt buộc và tạo điều kiện để
mỗi GV trước khi nhận giảng dạy các lớp BD xâm nhập tìm hiểu thực tế để có điều
kiện đáp ứng tốt nhiệm vụ BD.
4. Tích cực đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt
động của người học. Giảm lý thuyết tăng thực hành và thảo luận trong dạy học
Về phương pháp, phải trăn trở tìm tòi phương pháp bồi dưỡng thiết thực, sao
cho học viên tự giác vào cuộc với sự nhập tâm từng vấn đề cần giải quyết, tiếp cận cập
nhật được những vấn đề có thể tự vận dụng vào thực tiễn và biết cách tự tiếp tục BD
nâng cao trình độ cho mình.
Đổi mới phương pháp bao hàm cả việc lập kế hoạch, chuẩn bị tài liệu, học liệu,
lựa chọn tinh giản nội dung, lựa chọn hình thức và phương pháp tương tác với người
học...

114


HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA

Trong xu thế đổi mới phương pháp dạy học (PPDH), dạy học hệ không chính
quy cần thực hiện theo hướng tích cực hoá hoạt động người học, phải biến quá trình
đào tạo thành quá trình tự đào tạo. Công việc của người thầy là hướng dẫn, lắng nghe
và tư vấn cho học viên, chuyển dạy kiến thức sang việc truyền nhiệt huyết và dạy
“cách học” cho học viên.
Vì vậy, cần tăng cường họat động nhóm, giờ thảo luận, xemina trong quá trình
học tập trên lớp. Hơn nữa, đối với đối tượng này để việc DH có hiệu quả, cần tổ chức
cho học viên đi thực tế học tập kinh nghiệm từ các điển hình trong và ngoài tỉnh nhiều
hơn.
Để đổi mới PPDH có hiệu quả thì tất cả các lược lượng tham gia quá trình BD
đều phải tích cực tham gia.
- Nhà quản lý cần giúp cho GV BD quan điểm DH lấy người học làm trung
tâm, “biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo”.
- GV BD phải thực sự thay đổi quan điểm về quá trình DH, sử dụng PPDH tích
cực để chuyển tải chuẩn đầu ra của môn học đến người học.
PPDH tích cực là hoạt động dạy của GV và hoạt động học của học viên được
phối hợp với nhau một cách chặt chẽ sao cho người học chủ động chiếm lĩnh kiến
thức, vận dụng kiến thức trong quá trình biến thông tin thành tri thức của mình. Nếu GV
coi người học vừa là chủ thể của hoạt động học tập, vừa là khách thể của hoạt động DH
thì phương pháp học tập của người học sẽ rất đa dạng. Trong hoạt động học tập, người
học sẽ chủ động thực hiện với sự hướng dẫn của GV, người học vừa tiếp thu kiến thức,
vừa tự tìm kiếm kiến thức, vận dụng kiến thức dưới sự hướng dẫn của GV.
Ở khâu chuẩn bị giảng dạy, GV nên chuyển “Thiết kế bài giảng” dành cho thầy
giáo với quan niệm cho rằng: GV là nhân vật trung tâm của nhà trường sang khuynh
hướng “Thiết kế hồ sơ môn học”. Thiết kế hồ sơ môn học bao gồm 2 phần: phần dành
cho GV và phần dành cho người học.
Việc đổi mới PPDH của GV cũng nhằm giúp người học rèn luyện tổng hợp các
kĩ năng vận dụng vào thực tiễn công tác chứ không chỉ chú trọng phiến diện về kiến
thức chuyên môn hẹp của học viên.
Trước khi lên lớp, GV công bố đề cương chi tiết môn học kèm mục tiêu học tập
về kiến thức, kĩ năng, thái độ, về tài liệu tham khảo, về tiêu chuẩn đánh giá môn học,
về phần tự học và hình thức đánh giá phần tự học, tên các dự án học tập, đồ án môn
học và tiêu chuẩn đánh giá đồ án, tiêu chuẩn kĩ năng làm việc nhóm, kĩ năng thuyết

115


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI

trình, nội dung đồ án vv…Một số PPDH tích cực nên áp dụng trong quá trình dạy học
như PPDH nêu và giải quyết vấn đề để khắc phục tính thụ động của người học; PPDH
theo dự án; PPDH tình huống; vv…
Tất nhiên là không có công thức chung cho các trường hợp DH khác nhau. Vấn
đề là GV phải vận dụng linh hoạt phù hợp các đối tượng, hoàn cảnh, trường hợp khác
nhau, kể cả việc sử dụng các phương pháp truyền thống sao cho đạt hiệu quả cao nhất.
Đối với đặc thù các lớp BD cần chú ý phân hóa đối tượng để điều chỉnh cách
giảng dạy và đánh giá hợp lý.
5. Đổi mới khâu kiểm tra đánh giá, nhất là khâu ra đề thi theo hướng mởtăng tỷ trọng liên hệ thực tiễn trong đề thi.
Bên cạnh việc đổi mới chương trình, nội dung và PPDH, chúng ta phải thay đổi
việc đánh giá người học. Việc sử dụng hình thức đánh giá phù hợp với từng loại đối
tượng học viên, từng cấp học cũng như nội dung, phương pháp BD khác nhau sẽ cho
phép đánh giá kết quả BD được chính xác, công bằng.
Các cấp quản lý và GV nên chọn phương thức, hình thức kiểm tra đánh giá phù
hợp để có thể đánh giá đúng năng lực người học.
Đối với GV BD cần chú ý:
- Việc đánh giá căn cứ vào chuẩn đầu ra về kiến thức, thái độ và kỹ năng của
từng học phần, chuyên đề ở từng lớp; Yêu cầu cơ bản cần đạt về kiến thức, kỹ năng, thái
độ của học viên sau mỗi mỗi giai đoạn, mỗi cấp học. Trong quá trình BD, GV cần sử
dụng kết hợp các hình thức và phương pháp đánh giá: trong giờ, ngoài giờ; chính thức,
không chính thức; qua sản phẩm, báo cáo; kết hợp định tính, định lượng. Sử dụng phối
hợp các hình thức, phương pháp kiểm tra, đánh giá khác nhau; kết hợp giữa trắc nghiệm
khách quan và tự luận; Kết hợp kiểm tra cá nhân và kiểm tra theo nhóm; Kiểm tra theo
chủ đề; Kiểm tra không chỉ viết ra giấy mà có thể là cách hiểu các kiến thức về bài học
của mình qua việc vận dụng vào bài tập, tình hưống thực tế,…
Phối hợp đánh giá thường xuyên, đánh giá định kỳ với đánh giá kết quả cuối
cùng, giữa đánh giá của GV và tự đánh giá của người học, giữa cách đánh giá của nhà
trường và cách đánh giá của đồng nghiệp, của cộng đồng,…
- Đa dạng hóa các hình thức đánh giá; Kiểm tra đánh giá để phân loại học viên,
làm cơ sở cho việc áp dụng PPDH phù hợp; Thực hiện DH cá thể hóa, hỗ trợ học viên
học tập.
- Lấy thông tin phản hồi từ người học để đánh giá quá trình DH.

116


HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA

Trong thực tế ngoài thực hiện việc đánh giá như những thao tác sư phạm
thường xuyên trong quá trình DH thì GV phải có kỹ năng ra các đề kiểm tra và đề thi.
Chính việc ra đề thi chi phối rất nhiều đến động cơ và cách học của người học. Ra đề
thi là một kỹ năng tương đối khó; Tiếc rằng ít người được đào tạo bài bản về nghiệp
vụ này. Vì vậy những GV ít kinh nghiệm thường rất khó ra đề thi hay. Trong sinh hoạt
chuyên môn ở khoa, tổ nên chú trọng thêm nội dung này. Mỗi đề thi là một công cụ để
đo lường mức độ mà thí sinh đạt tới các mục tiêu giáo dục của một chuyên đề, một học
phần hay một môn học với những mục tiêu nhất định về nhận thức, kỹ năng, thái độ. Ở
hình thức thi viết, nên ra dạng đề thi tổng hợp đòi hỏi tính độc lập tư duy của thí sinh,
tránh các đề thi chỉ yêu cầu học thuộc lòng hay tái hiện lý thuyết thuần tuý và cho thí
sinh được phép công khai sử dụng tài liệu. Đặc biệt dung lượng, độ khó của đề, theo
tôi, nên phù hợp với từng loại đối tượng thí sinh khác nhau. Với các hệ BD nên hạ thấp
độ khó của đề về mặt lý luận nhưng lại cần nâng cao mức độ vận dụng của thí sinh
bằng loại đề mở, được dùng tài liệu
Đối với nhà quản lý cần chú trọng việc đánh giá khóa học theo chương
trình, đặc biệt là đánh giá tác động của kết quả sau đào tạo, BD ngày càng trở nên yêu
cầu cấp thiết. Để tiến hành đánh giá được kết quả đào tạo, BD cần nắm vững quy trình
các bước đánh giá; các cấp độ đánh giá (Cấp độ 1: Phản ứng của học viên về khóa
học; Cấp độ 2: Mức độ thu nhận kiến thức và kỹ năng; Cấp độ 3: Thay đổi hành vi;
Cấp độ 4: Đánh giá tác động lên tổ chức); và các hình thức đánh giá bằng phỏng vấn
“ Tác động của khóa học đến công việc”, yêu cầu người học trình bày lại danh mục
kiên thức/ kỹ năng chính được cung cấp trong khóa học hoặc phỏng vấn sâu “tác động
của khóa học đến hiệu quả công tác giáo dục”.
Để hoạt động DH tại các lớp BD đội ngũ GV PT chúng ta phải thực hiện
tổng thể , trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau tất cả các nội dung trên. Tuy nhiên tuỳ
thuộc vào tình hình thực tế tại từng đơn vị ĐT-BD mà một vài nội dung nào đó được
chú trọng hơn, ưu tiên hơn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Nghị Quyết TW8 khoá XI về đổi mới căn bản và toàn diện GD-ĐT
Thông tư số 30/2009/TT-BGD ĐT quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên
THCS, giáo viên PT

117


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI

Thông tư số 39/2013/TT-BGD ĐT về việc hướng dẫn thanh tra chuyên nghành
trong lĩnh vực giáo dục
Trần Bá Hoành, Đổi mới PPDH, chương trình và sách giáo khoa, NXB Đại học
Sư phạm, Hà Nội, 2006

118



x

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×