Tải bản đầy đủ

Ảnh hưởng của thức ăn và mật độ thả tới hiệu quả ương cá bống tượng từ giai đoạn hương lên giống

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ
KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
MÃ SỐ: 52620301

ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN VÀ MẬT ĐỘ LÊN
TĂNG TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG
CỦA CÁ BỐNG TƯỢNG
(Oxyeleotris marmoratus)
TỪ GIAI ĐOẠN HƯƠNG LÊN GIỐNG
SINH VIÊN THỰC HIỆN
LÊ THỊ NHƯ HUỲNH
MSSV: 0853040051
LỚP: NTTS K3
Cần Thơ, 2012

1



TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ
KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
MÃ SỐ: 52620301

ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN VÀ MẬT ĐỘ LÊN
TĂNG TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG
CỦA CÁ BỐNG TƯỢNG
(Oxyeleotris marmoratus)
TỪ GIAI ĐOẠN HƯƠNG LÊN GIỐNG

Cán bộ hướng dẫn

Sinh viên thực hiện

Ts. PHẠM MINH THÀNH

LÊ THỊ NHƯ HUỲNH
MSSV: 0853040051
LỚP: NTTS K3

2


LỜI CẢM TẠ
Sau hơn 1 tháng thực tập, từ tháng 3 năm 2012 đến tháng 4 năm 2012 tại trại cá
giống Minh Trang, Quận Cái Răng-TP Cần Thơ, áp dụng những kiến thức đã học kết
hợp với kinh nghiệm thực tế, nay luận văn đã được chỉnh sửa và hoàn thành.
Xin chân thành biết ơn đến gia đình, những người thân và bạn bè đã động viên và tạo
điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành đề tài.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Thầy Phạm Minh Thành - Khoa Thủy Sản
- Trường Đại Học Cần Thơ, đã tận tình hướng dẫn và chỉ dạy em trong thời gian làm
đề tài, quan tâm và có những góp ý quý báu để em có thể hoàn thành bài luận văn
này.
Em xin chân thành cảm ơn quý Thầy Cô - Khoa Sinh Học Ứng Dụng - Trường Đại
học Tây Đô đã tận tình dạy bảo, truyền đạt cho em những kiến thức quý báo trong
những năm học vừa qua, tạo dựng hành trang để em bước vào cuộc sống sau này.
Sau cùng em xin chúc quý Thầy Cô sức khoẻ, niềm vui, công tác tốt và không ngừng

cống hiến cho sự nghiệp giáo dục.

Em xin chân thành cảm ơn và ghi nhớ!

3


TÓM TẮT

Hai thí nghiệm đã được thực hiện nhằm so sánh hiệu quả ương cá bống tượng từ giai
đoạn hương lên giống bằng thức ăn và mật độ khác nhau, góp phần làm cơ sở cho
những giải pháp kỹ thuật hợp lý trong quá trình ương cá bống tượng.
Thí nghiệm thứ nhất được bố trí với 03 nghiệm thức thức ăn khác nhau: trùn chỉ, trùn
chỉ kết hợp với cá tạp và cá tạp. Mỗi nghiệm thức được lặp lại 03 lần với mật độ là
500 con/m2, thời gian ương là 04 tuần và khối lượng cá trung bình ban đầu là 0,48g.
Kết quả cho thấy, các yếu tố môi trường: Nhiệt độ, pH, hàm lượng ôxy hòa tan giữa
các nghiệm thức không có sự thay đổi lớn và nằm trong phạm vi cho phép. Ở nghiệm
thức cho cá ăn hoàn toàn trùn chỉ có tốc độ tăng trưởng cao nhất khác biệt có ý nghĩa
thống kê (p < 0,05) so với 02 nghiệm thức còn lại và khối lượng cá đạt 0,88 g, kế
đến là nghiệm thức cá tạp và trùn chỉ 0,82 g và thấp nhất là nghiệm thức cá tạp 0,69
g. Tỷ lệ sống của cá bống tượng ở nghiệm thức sử dụng thức ăn trùn chỉ cao nhất (
93,9%) kết quả này khác biệt không có ý nghĩa thống kê( p > 0,05) so với nghiệm
thức cho ăn kết hợp trùn chỉ và cá tạp, tuy nhiên khác biệt có ý nghĩa (p < 0,05) so
với nghiệm thức cho cá ăn hoàn toàn cá tạp.
Thí nghiệm thứ hai được bố trí với các mật độ khác nhau (250, 500, 750 con/m2).
Mỗi nghiệm thức với 03 lần lặp lại với thức ăn sử dụng là trùn chỉ, thời gian bố trí 06
tuần. Kết quả ở mật độ 250 con/m2 cho tốc độ tăng trưởng cao nhất (1,97 %/ngày) và
khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) với nghiệm thức có mật độ 500
con/m2. Tuy nhiên lại khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) so với nghiệm thức
750 con/m2. Tỷ lệ sống của cá ở nghiệm thức mật độ 250 con/m2 cao nhất (91,1%),
kế đến là mật độ 500 con/m2 (89,4%) và cuối cùng là nghiệm thức 750 con/m2 cho tỷ
lệ sống thấp nhất. Tuy nhiên sự khác biệt tỷ lệ sống của cá giữa các nghiệm thức
k h ô n g c ó ý n g h ĩ a t h ố n g k ê ( p > 0 , 0 5 ) .
Từ khóa: Cá bống tượng, thức ăn, mật độ.

4


CHƯƠNG 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Giới thiệu
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) được xem là vùng có điều kiện tự nhiên thuận
lợi cho phát triển nuôi trồng thủy sản (NTTS) nhất trong cả nước và khu vực nuôi
trồng thủy sản ở ĐBSCL trong thời gian qua được khẳng định là nghề sản xuất mang
lại hiệu quả kinh tế và xã hội cao, góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế ở các vùng nông
thôn và ven biển, giải quyết việc làm, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo và thu hút
được sự quan tâm đầu tư của nhiều thành phần kinh tế trong và ngoài nước.
Ngoài tôm sú và cá tra là hai đối tượng sản xuất chính đem lại hiệu quả kinh tế cao,
đối tượng đang được phát triển nuôi ở các tỉnh ĐBSCL và miền Đông Nam bộ là cá
Bống tượng (Oxyeleotris marmoratus Bleeker, 1852). Khu vực nuôi cá Bống tượng
nhiều nhất là La Ngà (tỉnh Đồng Nai), Sa Đéc, Hồng Ngự (Đồng Tháp), Cái Bè
(Tiền Giang), Trà Vinh, Vĩnh Long, Cần Thơ, An Giang… (Phạm Văn Khánh &
ctv., 1999)
Cá Bống tượng (Oxyeleotris marmoratus Bleeker) là loài cá có kích thước cơ thể lớn
nhất trong họ cá Bống nước ngọt (Eleotridae) và có giá trị kinh tế cao. Hiện nay, do
có phẩm chất thịt thơm ngon nên cá Bống tượng đang dần trở thành mặt hàng xuất
khẩu được ưa chuộng trên thị trường thế giới đặc biệt là ở các nước trong khu vực
Châu Á, mang lại lợi nhuận cao cho người nuôi. Tuy nhiên, nguồn lợi cá Bống tượng
trong tự nhiên đang có xu hướng suy giảm nghiêm trọng. Vấn đề về con giống, thức
ăn là trở ngại lớn nhất để cá bống tượng được xem là đối tượng chính trong vùng.
Cá Bống tượng là loài cá có tăng trưởng tương đối chậm nhất là giai đoạn cá giống,
ở giai đoạn này tỷ lệ sống của cá còn tương đối thấp, đó cũng là trở ngại lớn nhất cho
người nuôi cá hiện nay. Vì thế, vấn đề đặt ra ở đây là làm sao tìm kiếm phương pháp
tăng hiệu quả ương nuôi để phù hợp với mong muốn phát triển nghề nuôi thương
phẩm cá Bống tượng.
Dinh dưỡng của cá giống Bống tượng là một trong những khâu quan trọng quyết
định sự thành công của ương cá Bống tượng đạt đến kích cỡ thả nuôi trong ao hay
trong bè. Trong quá trình ương mật độ cũng là một trong những chỉ tiêu kỹ thuật
quan trọng ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống và sự phân đàn của
cá. Việc xác định nhiều loại thức ăn để chọn ra một loại thức ăn phù hợp nhất để
ương cá là việc cần làm để phát triển đối tượng có giá trị kinh tế cao này. Do đó, đề
tài nghiên cứu “Ảnh hưởng của thức ăn và mật độ thả tới hiệu quả ương cá bống
tượng từ giai đoạn hương lên giống” là cần thiết.

5


1.2. Mục tiêu nghiên cứu
So sánh hiệu quả ương cá bống tượng từ giai đoạn hương lên giống bằng thức ăn và
mật độ khác nhau, góp phần làm cơ sở cho những giải pháp kỹ thuật hợp lý trong
quá trình ương cá bống tượng.
1.3. Nội dung nghiên cứu
- Xác định tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống sự phân hóa sinh trưởng của cá bống tượng
trong điều kiện khác nhau về thức ăn và mật độ.
- Xác định một số yếu tố môi trường thí nghiệm: nhiệt độ, ôxy, pH.

6


CHƯƠNG 2
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Đặc điểm phân loại, hình thái
Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) cá Bống tượng (Oxyeleotris
marmoratus Bleeker) có hệ thống phân loại như sau
Lớp:Osteichthyes
Lớp phụ: Artinopterygii
Bộ: Perciformes
Bộ phụ: Gobioidei
Họ: Eleotridae
Giống: Oxyeleotris, Bleeker
Loài: Oxyeleotris marmoratus Bleeker (1852)
Hình dạng bên ngoài cá Bống tượng có đầu to rộng, dẹp bằng, chiều rộng của đầu
bằng hoặc lớn hơn chiều cao thân, thân cá mập, phần trước hơi dẹp bằng, phần sau
hơi dẹp bên, đường lưng lỏm xuống ở trán. Cá có màu nâu đỏ hoặc nâu vàng, có
nhiều sọc màu nâu hoặc xám tạo thành vân, mặt lưng có ba đốm đen, mặt bên thân
cá có nhiều đốm đen to những đốm này không có hình dạng nhất định. Gốc vi đuôi
có một đốm đen to, vi ngực màu cam và nằm song song với tia vi (Trương Thủ Khoa
và Trần Thị Thu Hương, 1993)

Hình 2.1 Hình thái cá bống tượng

7


2.1.1. Phân bố
Cá bống tượng là loài đặc trưng cho vùng nhiệt đới. Chúng phân bố rộng rãi ở các
nước Đông Nam Á như: Campuchia, Lào, Thái Lan, Indonesia, Việt Nam.
Ở Việt Nam cá bống tượng được tìm thấy trong các lưu vực thuộc hệ thống sông
Cửu Long, sông Vàm Cỏ, sông Đồng Nai (Nguyễn Mạnh Hùng, 2003).
Gần đây, do nhu cầu về cá cho xuất khẩu rất lớn đã kích thích nghề thu gom, dưỡng
cá và nuôi cá bè. Nghề nuôi cá bè trên các sông, kênh, hồ đã phát triển khắp các tỉnh
ĐBSCL nhất là các tỉnh như: An Giang, Đồng Tháp, Tiền Giang, Cần Thơ, Sóc
Trăng và vùng hồ Trị An.
2.1.2. Tập tính sống
Cá bống tượng có tập tính sống đáy, hoạt động nhiều về đêm, ban ngày thường dùi
mình xuống bùn, đặc biệt khi gặp nguy hiểm chúng có thể vùi xuống sâu đến 1m ở
lớp bùn đáy và có thể sống ở đó từ vài giờ đến vài chục giờ. Cá sống tầng đáy nên
mọi biến động môi trường đều ảnh hưởng đến cá (Lê Như Xuân và Bùi Minh Tâm,
1995).
Cá sống thích hợp ở môi trường nước không bị nhiễm phèn, pH = 7, song chúng có
thề chịu đựng pH = 5. Nhiệt độ thích hợp nhất cho cá phát triển 26 – 320C, cá cũng
có thể chịu đựng ở nhiệt độ nước 15 – 410C. Cá sống ở nước ngọt và có thể chịu
đựng đến độ muối 15‰. Cá cần có dưỡng khí trên 3mg/l (Lê Như Xuân và Bùi Minh
Tâm, 1995). Tuy nhiên, do cá có cơ quan hô hấp phụ nên chịu đựng được trong môi
trường ẩm trên cạn (Lê Như Xuân & ctv, 1994)
Cá bống tượng thích môi trường nước tĩnh, có cỏ cây thủy sinh làm giá đỡ, cá có thể
sống ở mé bờ gần mặt nước, cá ăn mồi sống tự nhiên. Cá Bống tượng thường hoạt
động vào ban đêm, nơi có điều kiện thuận lợi cá hoạt động cả ban ngày (Lê Như
Xuân và Bùi Minh Tâm, 1995).
Yếu tố môi trường nước rất quan trọng vì đây là môi trường cư trú, sinh sản của cá
bống tượng mặt khác cũng là môi trường để các thủy sinh động thực vật và tôm, tép
cá sống để cung cấp thức ăn tự nhiên cho cá bống tượng. Môi trường nước ổn định
tốt, thức ăn cung cấp đầy đủ, cá bống tượng có sức đề kháng cao, cá khỏe mạnh và
tăng trưởng nhanh. Khi môi trường thay đổi đột ngột gây sốc cho cá, sức đề kháng
thấp, cá dễ bị nhiễm bệnh và chết, trong giai đoạn cá dưới 12 cm cá thường bị chết
hàng loạt (Nguyễn Chung, 2007). Môi trường nước có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả
ương dưỡng cá con thành cá giống vì thế cần chú trọng quan tâm bổ sung thay nước
mới và tăng các chất dinh dưỡng để tăng chất lượng nước cho cá.

8


2.1.3. Đặc điểm dinh dưỡng
Phân tích chiều dài ruột và chiều dài thân cho thấy tỉ lệ Li/L  0,5, nên mang đặc
tính của cá ăn động vật (Niconski, 1963, trích dẫn bởi Dương Nhựt Long, 2000).
Cá Bống tượng có miệng rộng, trong hàm có nhiều răng mọc thành dãy. Cơ quan
tiêu hóa có dạ dày to, ruột ngắn, chúng thích ăn mồi động vật còn tươi sống, khi cá
đói người ta cũng thấy chúng ăn cả nguồn gốc thực vật như hạt lúa và cám (Nguyễn
Mạnh Hùng và Phạm Khánh, 1996).
Khi mới nở, cá bột sử dụng noãn hoàng. Khi cá hết noãn hoàng (từ 70 – 120 giờ sau
khi nở) cá bắt đầu ăn thức ăn bên ngoài như tảo, luân trùng (rotifer) hoặc các loại
thức ăn có kích thước nhỏ như lòng đỏ trứng, bột đậu nành, loại thức ăn thích hợp
nhất trong giai đoạn này là các loại luân trùng (Nguyễn Mạnh Hùng và Phạm Khánh,
1996).
Ấu trùng của cá bống tượng cũng có thể sử dụng các loại thức ăn như lòng đỏ trứng,
bột đậu nành ở giai đoạn 1-2 tuần tuổi. Từ ngày 20 trở đi chúng ăn được trùn chỉ
băm nhỏ. Sau một tháng chúng bắt đầu ăn: tép, cá con vừa miệng. Cá bống tượng là
loài cá dữ ăn thịt nhưng không rượt đuổi con mồi, mà chỉ nằm bất động rình mồi. Cá
ăn các thức ăn chế biến khi nuôi trong ao hoặc lồng (Lê Như Xuân và Bùi Minh
Tâm, 1995).
Cá bống tượng trưởng thành có bộ máy tiêu hóa biểu hiện cho loài cá dữ điển hình.
Miệng lớn, răng hàm dài và sắc, cá bống tượng ăn động vật, chủ yếu là : cá, tôm, tép,
cua, trùn, ấu trùng côn trùng thủy sinh…Tuy nhiên, cá Bống tượng khác với cá lóc,
cá lóc chủ động đuổi bắt mồi, cá Bống tượng lại rình bắt mồi. Theo Lê Như Xuân và
Bùi Minh Tâm (1995) Cá bống tượng ăn mạnh về đêm hơn ngày nước rong cá ăn
mạnh hơn nước kém, nước lớn cá ăn mạnh hơn nước ròng. Theo Nguyễn Chung
(2007) cá Bống tượng thích ăn tép, cá tươi, khi đói cá có thể ăn tôm cá chết nhưng
không thích ăn vật ươn thối. Khi cá Bống tượng đói cá sẽ tấn công sang bắt những
con cá khác và có thể ăn lẫn nhau.
Tập tính bắt mồi của cá Bống tượng là lựa chọn con mồi dễ bắt, kích cỡ nhỏ hơn, sự
chuyển động nhanh chậm của con mồi ảnh hưởng đến số lượng mồi ăn vào của cá
Bống tượng con. Mồi sống có thể trở thành loại thức ăn thích hợp cho ương nuôi cá
Bống tượng. Tuy nhiên việc cung cấp mồi sống phải đảm bảo đủ số lượng, đúng mật
độ và đúng cỡ (Nguyễn Phú Hòa, 2006)

9


2.1.4. Đặc điểm sinh trưởng, sinh sản
Cá Bống tượng 30 ngày tuổi dài khoảng 13mm, 45 ngày tuổi dài 21mm, 60 ngày tuổi
dài khoảng 30mm, 75 ngày tuổi 41mm, 90 ngày tuổi dài khoảng 53mm (Lê Như
Xuân & ctv., 1994)
So với nhiều loài cá khác, Bống tượng có độ tăng trưởng rất chậm, đặc biệt là giai
đoạn dưới 100g/con, cá trên 100 g có tốc độ tăng trưởng khá hơn, từ cá bột lên cá
giống phải mất hơn 3 tháng mới đạt chiều dài 3 – 4 cm. Từ cá giống đề đạt được kích
thước 15-18 cm nặng 100 g/con phải mất thêm 4 – 5 tháng. Để có trọng lượng trên
300g/con, từ cá 100g cần phải 6-8 tháng và trong thiên nhiên từ cá bột thành cá
thương phẩm loại 1 từ 500 g/con phải mất gần 2 năm (Nguyễn Chung, 2007)
Tỷ lệ cá sống đến giai đoạn trưởng thành rất thấp, chỉ khoảng 0,001 - 0,003%.
Ngược lại khi cá trưởng thành thì thành thục rất nhanh (9 - 10 tháng tuổi), chu kì
phát dục ngắn hơn so với các loài cá khác. Trong môi trường tự nhiên, nếu có đầy đủ
dinh dưỡng cá có thể sinh sản 5 - 7 lần trong năm (Nguyễn Chung, 2007).
Cá cái cỡ 150 g/con là đã có thể tham gia sinh sản lần đầu. Sức sinh sản cá bống
tượng khá cao. Ngược lại với quy luật tự nhiên, cá bống tượng càng lớn thì sức sinh
sản càng giảm. Cỡ cá từ 150 – 200 g/con có số lượng trứng đẻ nhiều nhất, khoảng
270.000 trứng/kg cá cái, cỡ cá 250 g/con trở lên thì còn khoảng 60.000 trứng/kg cá
cái.
Tuổi thành thục của cá từ 9 đến 10 tháng tuổi. Mùa vụ sinh sản từ tháng 4 đến tháng
10 nhưng tập trung từ tháng 5 đến tháng 8. Ở những vùng khí hậu nóng ẩm và đầy
đủ thức ăn, cá có thể kéo dài thời gian sinh sản thêm 1 - 2 tháng nữa. Cá tự bắt cặp
và đẻ trứng. Trứng cá có hính quả lê dính chặt vào giá thể: hang, hốc đá, bọng cây,
các vật hình ống hay gạch đá có ở trong ao nuôi.
Sau khi đẻ, cá cái không rời tổ mà cùng với cá đực canh tổ và ấp trứng. Chúng bơi
xung quanh tổ và dùng vây, đuôi quạt nước tạo thanh dòng chảy cung cấp oxy cho
trứng, phôi phát triển đến khi nở thành cá bột. Thời gian ấp trứng thường từ 34 đến
82 giờ tùy thuộc vào nhiệt độ. Nhìn chung, nhiệt độ càng cao thì thời gian nở sẽ rút
ngắn lại. Ngoài ra, phương thức ấp trứng cũng ảnh hưởng đến thời gian nở của trứng
cá. Thời gian nở của phương thức ấp trưng nước tĩnh bắt đầu từ 36 đến 82 giờ trong
khi thời gian nở của phương thức ấp trứng nước chảy và nước tĩnh có sục khí cũng
bắt đầu từ 36 giờ nhưng tập trung khoảng 48 - 56 giờ sau khi trứng đã thụ tinh. Qua
kinh nghiệm thực tiễn cho thấy: ấp trứng bằng phương pháp nước tĩnh có sục khí là
tốt nhất vì kích thước cá bột rất nhỏ và yếu, dễ mẫn cảm với điều kiện môi trường.

10


2.2 Ảnh hưởng của thức ăn lên tăng trưởng của cá Bống tượng
2.2.1 Vấn đề sử dụng thức ăn
Thức ăn là cơ sở để cung cấp chất dinh dưỡng và năng lượng cho quá trình trao đổi
chất. Nếu không có thức ăn thì không có trao đổi chất. Vì thế thức ăn đóng vai trò
quyết định đến năng suất, sản lượng, hiệu quả của nghề ương cá. Trong cùng một
điều kiện ương (môi trường, đối tượng nuôi, các biện pháp kỹ thuật được áp dụng
…) thì thức ăn có vai trò quyết định đến tốc độ tăng trưởng, đến năng suất và hiệu
quả kinh tế
Trong ương cá giống, việc lựa chọn thức ăn phù hợp với giai đoạn phát triển của cá
và đảm bảo một số chỉ tiêu về tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống luôn là vấn đề tiên
phong của nhà sản xuất giống. Trong thực tế, người ương cá luôn có xu hướng sử
dụng thức ăn tươi sống để ương cá giống vì đây là thức ăn rất hấp dẫn các đối tượng
ăn thiên động vật chẳng hạn như cá bống tượng, cá lóc…Tuy nhiên việc chủ động số
lượng thức ăn này cũng là vấn đề khó khăn. Mặt khác, việc sử dụng cá xay làm thức
ăn cho ương cá còn hạn chế về giá cả cũng như chất lượng. Chính vì thế những vấn
đề trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình ương cá giống.
2.2.2 Sơ lược về thức ăn tươi sống
Thức ăn tươi sống là yếu tố quyết định sự thành công trong ương nuôi nhiều loại
động vật thủy sản đặc biệt là ở giai đoạn ấu trùng. Nghiên cứu đặc điểm sinh học, kỹ
thuật nuôi một số loại thức ăn tươi sống cho động vật thủy sản từ lâu đã được nhiều
nhà nghiên cứu quan tâm. Một số đối tượng đang chủ yếu đang được quan tâm và là
thức ăn ưa thích của ấu trùng cá tôm là: Trùn chỉ, Artemia và Moina.
Bảng 2.1: Thành phần dinh dưỡng của Trùn chỉ, Artemia và Moina (Evangeslista, 2005,
trích dẫn bởi Trần Ngọc Tuyền, 2008)
Thành phần (%)
Protein
Lipit
Carbohydrat
Tro


Trùn chỉ
47,0
18,9
20,5
10,8
2,70

Artemia
49,6
16,9
25,1
5,70
2,70

Moina
64,1
14,3
23,9
11,8
7,40

2.2.3 Thức ăn sử dụng trong thí nghiệm
Trùn chỉ hay còn gọi là giun đỏ là một loại giun đốt nước ngọt thuộc họ Tubifex, lớp
Oligocheata. Chúng phân bố chủ yếu trong môi trường nghèo dinh dưỡng như ao xừ
lý nước thải, là sinh vật chỉ thị đáng tin cậy nhất cho vùng bị ô nhiễm. Trùn chỉ có
chiều dài khoảng 1 – 8,5 cm và đường kính khoảng 0,1 – 0,3 mm. Trùn chỉ là thức
ăn tốt nhất cho ương cá tôm, mặc dù chúng có những điểm bất lợi như không ưa
sống trong điều kiện ương cá tôm, khi chết gây ô nhiễm trong bể ương cá tôm. Trùn

11


chỉ có thể mang mầm bệnh từ nơi chúng sống, dơ bẩn và đầy chất thải. Cách dùng
trùn chỉ tùy thuộc vào đặc tính ăn của cá: có thể cho xuống đáy bể, vào khay lửng
hay rải từ từ trên mặt (Trần Ngọc Hải và Trần Thị Thanh Hiền, 2000).
2.2.4 Khả năng sử dụng thức ăn và nhịp cho ăn của cá bống tượng
Theo Bùi Minh Tâm và Lê Như Xuân (1995) khi thí nghiệm ương cá 30 ngày tuổi
với thức ăn là Trùn chỉ cho tốc độ tăng trưởng cao nhất so với cho ăn bằng thức ăn
viên và trùn chỉ kết hợp với thức ăn viên sau 60 ngày ương( từ 1,141- 4,586g).
Cá bống tượng giai đoạn từ 30 – 60 ngày tuổi cho ăn trùn chỉ kết hợp cá con hay tép
băm nhỏ, nếu thức ăn là cá con và tép chết thì phải tươi không bằm nhỏ mà dùng kéo
hoặc dao bén cắt nhỏ (Nguyễn Chung, 2008).
Theo Bùi Minh Tâm và Lê Như Xuân (1995), khi theo dõi nhịp cho ăn của cá sau 60
ngày ương thì thấy cá cho ăn cả ngày lẫn đêm thì tốc độ tăng trọng cao hơn so với
chỉ cho ăn ban ngày hay chỉ cho ăn ban đêm.
2.3 Một số kết quả nghiên cứu cá bống tượng trong và ngoài nước
2.3.1 Trong nước
Nghiên cứu của Mai Viết Văn và ctv.,(2006), về ảnh hưởng của các loại thức ăn khác
nhau lên hoạt tình của men trypsin và chymotrypsin ở cá bống tượng bột. Các
nghiệm thức đã được bố trí với 2 loại thức ăn là thức ăn tươi sống và thức ăn nhân
tạo B.P trong môi trường nước xanh và nước trong. Hoạt tính trypsin và
chymotrypsin được cho ăn với các loại thức ăn khác nhau trong môi trường ương
nuôi nước trong rất thấp: 3.635-3.916 U/mg mẫu cá và 1034 – 1204 U/mg mẫu cá.
Tronh khi đó hoạt tính của trypsin và chymotrypsin trong môi trường nước xanh với
cùng loại thức ăn trên thì cao hơn 5.274 – 5.873 U/mg mẫu cá và 1.556 – 2.236
U/mg mẫu cá. Giữa các nghiệm thức sử dụng nước xanh thì hoạt tính của trypsin và
chymotrypsin đạt cao nhất khi cá được ăn thức ăn tươi sống (copepdods trộn với
rotifer). Thí nghiệm cũng chỉ ra rằng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi
cá ăn thức ăn tự nhiên và thức ăn nhân tạo.
Nghiên cứu của Nguyễn Phú Hòa và ctv, (2008), cho biết giác quan bắt mồi và khả
năng tiêu hóa các loại mồi khác nhau của cá bống tượng giống ( kích cỡ 3,5 – 4,5
cm). Thí nghiệm rút ra được là cá tìm kiếm và phát hiện con mồi từ thị giác là chính
và khả năng tiêu hóa các loại mồi lại phụ thuộc vào bản chất con mồi, kích cỡ mồi và
nhiệt độ môi trường. Thời gian tiêu hóa các loại mồi cũng khác nhau, đối với mồi là
cá mè trắng bột thời gian tiêu hóa là trong vòng 10 giờ nhưng phải tốn 12 giờ để tiêu
hóa hết mồi là tép bò. Tốc độ tiêu hóa mồi vào ban ngày nhanh hơn so với ban đêm.
Sau 6-7 giờ, khoảng 50% thức ăn trong dạ dày của cá bống tượng được tiêu hóa hết.

12


Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thanh Liêm và ctv, (2002), về sự phát triển
ống tiêu hóa của cá bống tượng gia đoạn cá bột cho thấy cá bắt đầu sử dụng thức ăn
ngoài ở 2 ngày tuổi nhưng hệ tiêu hóa của cá chỉ có thể phân biệt rõ ở ngày tuổi thứ
5 và đến khi kết thúc giai đoạn cá bột ở ngày tuổi thứ 30 thì hệ tiêu hóa mới thực sự
phát triển hoàn chỉnh
Cũng theo nghiên cứu của Trần Thị Phương Lan (2008), cá bống tượng (Oxyeleotris
marmoratus) thí nghiệm ương cá từ 2 – 30 ngày tuổi với ba chế độ cho ăn (bón phân,
lòng đỏ trứng + bột đậu nành và thức ăn công nghiệp + men vi sinh). Kết quả cho
thấy nghiệm thức bón phân không cho ăn cá chết sau 2 tuần ương, ở nghiệm thức
cho ăn lòng đỏ trứng và bột đậu nành cho tốc độ tăng trưởng chiều dài thấp hơn
nghiệm thức thức ăn công nghiệp kết hợp với men vi sinh bắt đầu vào tuần ương thứ
3 và khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Sau 4 tuần ương, cá ở nghiệm thức
thức ăn công nghiệp đạt 7,1 mm, 11,24 mg/c và tỷ lệ sống 50,79% hiệu quả nhất so
với các nghiệm thức còn lại. Vậy, trong ương cá bống tượng môi trường ương bổ
sung men vi sinh sẽ cho kết quả tốt nhất.
2.3.2 Ngoài nước

Theo nghiên cứu của Tavarutmaneegul Lin (1998), thức ăn đầu tiên của cá bống
tượng là thực vật phiêu sinh động vật cỡ nhỏ (microzooplankton) như nguyên sinh
động vật (nhóm Ciliates) và luân trùng (Rotifer). Sau 7- 20 ngày cá sử dụng lòng đỏ
trứng luột chín hỏa với nước và kết hợp với Brachionus calyciflorus. Sau khoảng 30
– 60 ngày chúng sử dụng thức ăn kích cỡ lớn như Moina, ấu trùng Artemia. Ngoài ra
chúng có thể ăn tôm, cá tép nhỏ. Sau 30 ngày ấu trùng có chiều dài trung bình 1 cm,
tỷ lệ sống 7 – 55 %. Từ ngày 30 – 60 tỷ lệ sống đạt 75 – 100 % và có chiều dài ở 60
ngày từ 1 đến 2,5. 2,9. 3,3 và 3,5 cm. Ở mật độ tương ứng là 100, 80, 40 và 20
fish/m2
Kết quả nghiên cứu của Senoo và ctv, (1993), về sự phát triển của các cơ quan cảm
giác, tính ăn của ấu trùng cá bống tượng đã có sự mô tả chi tiết từ 1 ngày tuổi sau khi
nở đến 40 ngày tuổi của ấu trùng. Theo Senoo và ctv (1993), sự biến dạng của cá
bống tượng giống trong điều kiện nuôi trong bể cho thấy 47,3% cá giống (40 ngày
tuổi) biến dạng ở miệng, nắp mang, đuôi, vây xương chậu và vùng chẩm. Một số ít
cá không thay đổi hoàn toàn về xương nắp mang hay vây xương chậu. Sự không biến
đổi này chiếm 40% trong đàn cá. Với những con cá có vi đuôi có hình dạng này thì
nhỏ hơn đáng kể so với cá phát triển bình thường cả về chiều dài và khối lượng cơ
thể. Sự biến dạng này được xem như là không thuận lợi cho sự nuôi dưỡng và kết
quả là tăng trưởng và tỷ lệ sống đều thấp. Từ đó cho thấy, sự biến dạng của bộ
xương là nguyên nhân chính của sự biến dạng và kém dinh dưỡng cho cá bống tượng

13


40 ngày tuổi. Kết quả này cũng tương tự như nghiên cứu trên cá bống tượng của Lê
Như Xuân và Bùi Minh Tâm (1995).
2.3.3 Tình hình nuôi cá bống tượng ở ĐBSCL
Hiện nay nuôi cá Bống tượng với 4 hình thức như nuôi trong ao, nuôi trong bè, nuôi
trong gièo lưới và nuôi trong bể. Nhiều hộ nuôi ở một số tỉnh đã thành công và làm
giàu một cách nhanh chóng, hàng năm thu về hàng trăm triệu đồng.
Phong trào nuôi cá Bống tượng phát triển mạnh từ 1994,1995 ở một số tỉnh như
Đồng Tháp, Cần Thơ và nhiều tỉnh khác (Từ Thanh Dung và ctv, 1998). Mặc dù chỉ
mới phát triển, nhưng nghề nuôi cá Bống tượng trong bè phát triển rất nhanh, chỉ
riêng khu vực Đồng Tháp đã có hơn 500 bè, tại một khúc sông La Ngà (Đồng Nai)
có 400 bè cá tập trung (Nguyễn Mạnh Hùng và Phạm Khánh, 1996)
Theo số liệu của Trung tâm Khuyến ngư năm 2007 diện tích nuôi cá bống tượng
khoảng 500 ha, năm 2008 khoảng 600 ha và 4000 hộ nuôi nhiều nhất ở Tân Thành
(Tp. Cà Mau), Thới Bình. Theo số liệu Trung tâm Khuyến ngư Bạc Liêu diện tích
nuôi cá bống tượng năm 2007 khoảng 72 ha, nuôi với các hình thức nuôi trong ao
đất, nuôi trong gièo lưới và nuôi trong bể xi măng.
Phong trào nuôi cá bống tượng phát triển nhanh, nhưng vấn đề về bệnh tật đã gây
cho các bè nuôi cá chết hang loạt làm cho nhiều người bị thua lổ, phong trào nuôi cá
bống tượng trong bè đã bắt đầu dừng lại, đến 2005 một số tỉnh ven biển như Cà
Mau, Bạc Liêu, Trà Vinh…một số hộ nuôi lại, nuôi trong ao đất là chủ yếu và đạt kết
quả khá khả quan, từ đó phong trào nuôi cá bống tượng bắt đầu phát triển trở lại.

14


CHƯƠNG 3
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thời gian thực hiện: Đề tài thực hiện từ đầu tháng 03/2012 và kết thúc vào cuối
tháng 05/2012.
Địa điểm thực hiện: Trại cá giống Minh Trang, phường Lê Bình, quận Cái Răng,
Cần Thơ.
3.1 Vật liệu nghiên cứu
3.1.1 Dụng cụ
- Bể lót bạt , cân điện tử, nhiệt kế, thước, vợt vớt cá, thau, xô.
- Hệ thống sục khí: máy thổi khí, dây dẫn khí, đá bọt.
3.1.2 Thức ăn, hóa chất
- Bộ dụng cụ kiểm tra các chỉ tiêu: nhiệt độ, pH, ôxy.
- Hóa chất và một số dụng cụ khác
- Thức ăn cho cá: trùn chỉ, cá tạp xay
3.1.3 Nguồn cá thí nghiệm
Nguồn cá bống tượng dùng cho thí nghiệm là cá hương đạt 3 tuần tuổi. Trước đó, cá
bột được ương trong ao đất (từ nguồn sản xuất của trại cá giống tám Tiếu).

Hình 3.1 Nguồn cá bống tượng thí nghiệm

3.2 Phương pháp tiến hành
3.2.1 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của thức ăn đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá
bống tượng
Thí nghiệm được bố trí trong giai và đặt trên bể lót bạt, độ sâu 0,5m, có sục khí. Mật
độ ương trong bể 500 con/m2 với khối lượng ban đầu là 0,48 g. Thức ăn được sử
dụng trong quá trình ương cá Bống tượng được bố trí như bảng 3.1. Cá tạp được bằm
15


nhỏ. Hằng ngày vớt bỏ thức ăn dư thừa trước khi cung cấp thức ăn mới. Khẩu phần
ăn theo yêu cầu của cá (có dư một lượng nhỏ thức ăn). Trong 4 tuần ương cá, theo
dõi hoạt động của cá, định kỳ thay 30% nước hàng ngày. Thí nghiệm được lặp lại 3
lần.
Bảng 3.1: Thức ăn được sử dụng ương cá bống tượng
Nghiệm thức
I
II
III

Tuần ương
1
Trùn chỉ
Trùn chỉ
Cá tạp

2
Trùn chỉ
Trùn chỉ
Cá tạp

3
Trùn chỉ
Cá tạp
Cá tạp

4
Trùn chỉ
Cá tạp
Cá tạp

Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng và tỉ lệ sống của cá bống
tượng.
Thí nghiệm cũng được bố trí trong giai và đặt trên bể lót bạt, độ sâu 0,5 m, có sục
khí. Thức ăn được sử dụng trong 6 tuần thí nghiệm là trùn chỉ. Mật độ được bố trí
trong quá trình ương ở bảng 3.2. Trong suốt quá trình ương cá, thường xuyên theo
dõi các hoạt động của cá, định kỳ thay 30% nước hàng ngày. Thí nghiệm cũng được
lặp lại 3 lần.
Bảng 3.2: Mật độ được bố trí trong quá trình ương cá bống tượng
Mật độ (con/m2)
250
500
750

Nghiệm thức
I
II
III

Hình 3.2: Hệ thống bể thí nghiệm

16


3.2.2 Thu và phân tích mẫu
3.2.2.1 Thu và phân tích mẫu môi trường
Trong quá trình thí nghiệm tiến hành thu và phân tích nhiệt độ, O2 hoà tan, pH nước
Nhiệt độ: Nhiệt độ được đo 2 lần/ngày bằng nhiệt kế vào lúc 07 giờ và 14 giờ.
pH nước: Xác định hằng ngày cùng lúc với nhiệt độ bằng máy đo pH.
Oxy: 2 ngày tiến hành kiểm tra một lần bằng bộ test Oxy vào lúc 07 giờ và 14 giờ.
3.2.2.2 Thu và phân tích mẫu đối tượng nghiên cứu
Trước khi bố trí thí nghiệm tiến hành cân đo 30 cá thể để xác định khối lượng và
chiều dài ban đầu.
Sau khi kết thúc thí nghiệm đếm số cá còn lại trong bể để xác định tỷ lệ sống của cá.
Chỉ tiêu tăng trưởng: cân khối lượng và đo chiều dài để kiểm tra tốc độ tăng trưởng
về chiều dài và khối lượng của cá sau khi kết thúc thí nghiệm
Các chỉ tiêu theo dõi và tính toán theo các công thức sau:
Tỷ lệ sống (Survival rate, SR): là tỷ số số lượng cá thu được sau thí nghiệm với số
lượng cá thả ban đầu
Số cá thu được
SR (%)=

x 100

(3.1)

Số cá thả lúc đầu
Tăng trưởng khối lượng (Weight Gain, WG)
WG (g) = Wt – W0

(3.2)

Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối theo ngày (Daily Weight Gain, DWG)
Wt – W0
DWG (g/ngày) = -----------∆T

(3.3)

W0: khối lượng của cá thu hoạch (g)
Wt: khối lượng của cá lúc thả ương (g)
∆T: Khoảng thời gian giữa 2 lần xác định
Tốc độ tăng trưởng đặc biệt (%/ngày) (Specific growth rate, SGR)
[ln(Wt) – ln(W0)]
SGR (%/ngày) = ------------------------- x 100
∆T
17

(3.4)


Tăng trưởng chiều dài (Length gain, LG)
LG (cm) = Lt – L0

(3.5)

Tăng trưởng chiều dài theo ngày (Daily length gain, DLG)
Lt – L0
DLG (cm/ngày) = --------------

(3.6)

∆T
Lt: Chiều dài cá đo được khi kết thúc thí nghiệm
L0: Chiều dài cá ban đầu
Phân hóa sinh trưởng
Mức độ phân hóa sinh trưởng được xác định thông qua sự khác biệt về kích thước.
Tại mỗi nghiệm thức cân 30 cá thể/1 mẫu. Xác định mức độ chênh lệch khối lượng
và chiều dài giữa cá thể lớn nhất với cá thể nhỏ nhất. Mức độ chênh lệch đó, được
chia làm 3 nhóm. Khối lượng và chiều dài cho tổng số 30 cá thể .Tính toán tỷ lệ %
giữa số cá thể trong mỗi nhóm so với 30 cá thể được cân. Tại mỗi nhóm, tính giá trị
khối lượng, chiều dài trung bình so sánh mức độ chênh lệch giữa khối lượng, chiều
dài trung bình của nhóm lớn nhất với nhóm nhỏ nhất.
3.3 Phương pháp xử lý số liệu và đánh giá kết quả
3.3.1 Xử lý số liệu
Sử dụng phần mềm Excel để tính giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, tối đa, tối thiểu
và phân tích ANOVA, tìm sự khác biệt giữa các trung bình nghiệm thức bằng phép
thử DUNCAN ở mức độ tin cậy p < 0,5
3.3.2 Đánh giá kết quả
Đánh giá kết quả ương cá giữa các nghiệm thức thông qua giá trị trung bình.

18


CHƯƠNG 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Thí nghiệm ảnh hưởng của các loại thức ăn đến tăng trưởng và tỷ lệ sống
của cá Bống tượng
4.1.1 Các yếu tố môi trường
Các yếu tố môi trường trong thí nghiệm được trình bày trong bảng 4.1.
Bảng 4.1: Các yếu tố môi trường trong bể ương cá Bống tượng
Các yếu tố môi trường
Sáng
Nhiệt độ (00C)
Chiều

Trung bình
26,8±0,55
30,0±1,23

Lớn nhất
28
31

Nhỏ nhất
26
26

pH

Sáng
Chiều

8,17±0,28
8,49±0,30

8,7
9

7,5
7,9

Oxy (ppm)

Sáng
Chiều

4,00±0,00
5,00±0,00

4
5

4
5

Nhiệt độ: là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến nuôi trồng thủy sản nói chung và cá
nói riêng. Theo Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm (2009) thì nhiệt độ môi
trường nước biến đổi theo mùa, theo ngày đêm, theo độ sâu và theo vĩ độ .
Qua bảng 4.1 cho thấy những biến động nhiệt độ trong bể ương, Vào buổi sáng nhiệt
độ trung bình (26,8±0,55), nhiệt độ lớn nhất là 280C, nhỏ nhất là 260C. Đến buổi
chiều nhiệt độ cũng có sự thay đổi , nhiệt độ trung bình (30,0±1,08), nhiệt độ lớn
nhất là 310C và nhỏ nhất là 260C.
Nhiệt độ trung bình buổi chiều luôn cao hơn buổi sáng do ảnh hưởng của ánh nắng
mặt trời. Thí nghiệm được bố trí vào giữa tháng 03, thời tiết khô hạn nên nắng nóng
kéo dài dẫn đến sự chênh lệch nhiệt độ giữa sáng và chiều, nhiệt độ buổi sáng được
đo vào lúc 06 giờ và chiều được đo lúc 14 giờ (đây là khoảng thời gian cao điểm của
nắng nóng ) nhiệt độ có sự chênh lệch không vượt quá giới hạn cho phép 50C trong
ngày ( Boyd et al, 2002). Theo Dương Nhựt Long (2000) cá bống tượng có thể sống
trong khoảng nhiệt độ dao động 15 – 41,50C, nhiệt độ thích hợp nhất là từ 26 – 320C
vì thế sự chênh lệch nhiệt độ này vẫn nằm trong khoảng thích hợp cho sự phát triển
của cá bống tượng.Theo Niconski (1963), nhiệt độ cơ thể cá chỉ chênh lệch với nhiệt
độ môi trường khoảng 0,5 – 10C. Thường nhiệt độ thích hợp cho đa số các loài cá
nuôi từ 20 – 30 0C, giới hạn cho phép là từ 10 – 400C.
pH: là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự phát triển của ấu trùng thủy
sản thông qua tính độc của các khí độc hay sự mất cân bằng ion trong nước.

19


Theo bảng 4.1 trong quá trình thí nghiệm sự biến động pH tương đối ổn định giữa
các nghiệm thức, vào buổi sáng pH trung bình (8,17 ± 0,28), lớn nhất là 8,7 và nhỏ
nhất 7,5, pH buổi chiều (8,49 ± 0,3), lớn nhất là 9 và nhỏ nhất là 7,9 có khoảng biến
động không vượt quá 1. Sự biến động pH không lớn lắm (8,17 – 8,49). Do quá trình
cung cấp nước vào bể ương đã được xử lý và kiểm tra yếu tố pH bằng máy đo pH,
nước lại được sục khí liên tục và thường xuyên thay nước, các chất thải và thức ăn
thừa của cá được vệ sinh hằng ngày nên làm cho pH của nước trong ngày ổn định
trong suốt quá trình thí nghiệm.
pH là một trong những yếu tố môi trường ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của thủy
sinh vật, pH quá cao hay quá thấp đều ảnh hưởng đến quá trình thẩm thấu của màng
tế bào, làm cho quá trình trao đổi muối giữa cơ thể sinh vật với môi trường nước bị
rối loạn (Trương Quốc Phú, 2006). Theo chanratchakool et al (1995) cho rằng pH
của ao rất quan trọng ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến cá nuôi trong ao và dao
động không quá 0,5 đơn vị trong ngày. pH thích hợp cho cá nuôi từ 7 – 9, tối ưu là
7,5 – 8,5 (Boy et al, 2002).
Ôxy hòa tan: là yếu tố chất lượng nước quan trọng trong ao nuôi, ôxy có trong môi
trường nước chủ yếu là sản phẩm hô hấp của thực vật thủy sinh, hay sự khuếch tán
từ không khí vào vào. Đối với các thủy vực nước đứng như ao hồ thì oxy trong môi
trường nước chủ yếu là do sự quang hợp của thực vật thủy sinh. Oxy là chất khí
quang trọng nó rất cần cho đời sống thủy sinh vật (Lê Như Xuân & ctv, 1994).
Quan sát bảng 4.1, cho thấy hàm lượng oxy vào buổi sáng là 4 ppm và buổi chiều là
5ppm. Sự biến động ôxy tương đối ổn định, sự biến động này xảy ra trong suốt quá
trình thí nghiệm là do nước được sục khí liên tục và đều nhau. Theo Nguyễn Chung
(2007) cá bống tượng có cơ quan hô hấp phụ, ôxy trong môi trường nước trên 3ppm,
cá phát triển tốt.
4.1.2 Ảnh hưởng của thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá bống tượng
4.1.2.1 Tỷ lệ sống của cá bống tượng
Theo Bùi Minh Tâm (2008) tỷ lệ sống của cá chịu tác động bởi nhiều yếu tố như tính
ăn động vật hoặc thực vật, yếu tố di truyền, tính ăn lẫn nhau của loài, cá lớn ăn cá bé.
Tỷ lệ sống của cá bống tượng sau 04 tuần thí nghiệm với các loại thức ăn khác nhau
được trình bày ở bảng 4.2
Bảng 4.2: Tỷ lệ sống của cá bống tượng trong thí nghiệm thức ăn

Nghiệm thức thức ăn
Trùn chỉ
Trùn chỉ + Cá tạp
Cá tạp

Tỷ lệ sống (%)
93,9 ± 0,01a
88,9 ± 0,05ab
75,0 ± 0,03c

20


Giá trị thể hiện là số trung bình và độ lệch chuẩn. Các giá trị trong cùng một cột có chữ cái giống
nhau thì khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05)

Sau 04 tuần thí nghiệm, tỷ lệ sống của cá bống tượng dao động từ 75-93,9%. Tỷ lệ
sống của cá ở nghiệm thức sử dụng thức ăn hoàn toàn trùn chỉ là cao nhất (93,9%)
kết quả này khác biệt không có ý nghĩa so với nghiệm thức trùn chỉ kết hợp với cá
tạp, tuy nhiên khác biệt có ý nghĩa (p < 0,05) so với nghiệm thức cho cá ăn hoàn toàn
cá tạp (Bảng 4.2)
Trong quá trình thí nghiệm từ quan sát và ghi nhận khả năng bắt mồi của cá cho
thấy: Đối với nghiệm thức cho cá ăn hoàn toàn trùn chỉ và nghiệm thức trùn chỉ kết
hợp với cá tạp có tỷ lệ sống cao hơn nghiệm thức cho ăn hoàn toàn cá tạp vì khi cho
cá ăn thức ăn bằng cá xay khó phân chia đều kích cỡ phần nào làm hạn chế khả năng
bắt mồi của cá, cá cần phải có thời gian để thích ứng với thức ăn và trong thời gian
đó cá có thể không bắt mồi hoặc chết. Vì thế trong điều kiện chuyển đổi thức ăn như
vậy phần nào cũng làm ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của cá.
Kết quả nghiên cứu này tương tự như kết quả nghiên cứu của Nguyễn Anh Tuấn và
ctv (2005), khi ương cá lóc bông bằng thức ăn cá tạp cũng cho tỷ lệ sống thấp hơn so
với nghiệm thức sử dụng thức ăn chế biến hay trùn chỉ.
4.1.2.2 Ảnh hưởng về tăng trưởng của cá bống tượng
Tốc độ tăng trưởng của cá bống tượng sau 04 tuần thí nghiệm với các loại thức ăn
khác nhau, kết quả được trình bày ở bảng 4.3.
Bảng 4.3: Tăng trưởng của cá bống tượng trong thí nghiệm thức ăn
Các chỉ tiêu

Nghiệm thức
II (TC+CT)

I ( TC)

III (CT)

W0 (g)
Wt (g)

0,48±0,06
0,88±0,12

0,48±0,06
0,82±0,05

0,48±0,06
0,69±0,04

L0 (cm)
Lt (cm)

3,68±0,15
4,14±0,47

3,68±0,15
4,1±0,30

3,68±0,15
3,99±0,57

WG
LG

0,41±0,13a
0,51±0,35a

0,34±0,055b
0,46±0,33a

0,21±0,047c
0,40±0,39a

DWG (g/ngày)
DLG (cm/ngày)

0,014±0,005a
0,018±0,013a

0,012±0,02b
0,017±0,01a

0,007±0,002c
0,014±0,013a

SGR (%/ngày)

2,17±0,58a

1,91±0,37b

1,29±0,34c

Giá trị thể hiện là số trung bình và độ lệch chuẩn; Các giá trị trong cùng một hàng có chữ cái khác
nhau thì khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05)

21


Từ bảng 4.3 cho thấy, tốc độ tăng trưởng về khối lượng của cá chịu ảnh hưởng bởi
các loại thức ăn và chất lượng thức ăn. Với ba nghiệm thức, thức ăn trùn chỉ, trùn chỉ
kết hợp với cá tạp, thức ăn cá tạp, nhận thấy nghiệm thức cho ăn hoàn toàn trùn chỉ
cá tăng trưởng nhanh nhất, tiếp đến là trùn chỉ kết hợp với cá tạp, cuối cùng là cá tạp
tăng trọng chậm nhất. Nghiệm thức thức ăn cho cá ăn hoàn toàn trùn chỉ khác biệt có
ý nghĩa thống kê (p < 0,05) so với nghiệm thức cho cá ăn bằng cá tạp và nghiệm
thức kết hợp cá tạp và trùn chỉ. Giữa nghiệm thức thức ăn là cá tạp và trùn chỉ kết
hợp với cá tạp khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) khi so sánh về tốc độ tăng
trưởng khối lượng.
Phân tích ở giá trị DWG và SGR cho thấy, kết quả cao nhất ở nghiệm thức trùn chỉ
(lần lượt là 0,014 g/ngày và 2,17 %/ngày) và khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05)
so với nghiệm thức trùn chỉ kết hợp với cá tạp và nghiệm thức hoàn toàn cá tạp, kế
đến là nghiệm thức sử dụng thức ăn trùn chỉ kết hợp với cá tạp lần lượt là 0,012
g/ngày và 1,91 %/ngày. Ở nghiệm thức cá tạp cho kết quả thấp nhất (0,007 g/ngày và
1,29 %/ngày). Kết quả này được lí giải, trong quá trình ương cá ở giai đoạn đầu sử
dụng moina làm thức ăn tươi sống và chuyển động nên cá quen với dạng thức ăn
này. Do vậy khi chuyển sang thức ăn trùn chỉ vốn là loại thức ăn tươi sống thích hợp
cho loài nên cá thích nghi nhanh, mặt khác khi chuyển sang cho ăn cá tạp là loại thức
ăn dạng tĩnh, không kích thích cá bắt mồi do không kích thích thị giác. Bên cạnh đó
hàm lượng chất dinh dưỡng cho trùn chỉ nhiều hơn thức ăn cá tạp. Tốc độ tăng
trưởng của cá ở nghiệm thức trùn chỉ kết hợp với cá xay thấp hơn trùn chỉ là do khi
kết hợp cho cá ăn trùn chỉ và cá tạp, cá không thích nghi kịp thời vì phải tiếp nhận
hai loại thức ăn khác nhau mà cá phải chọn một loại thức ăn thích hợp và như vậy cá
sẽ rất ít ăn hoặc không ăn dẫn đến tình trạng giảm ăn và như vậy thức ăn sẽ không
cung cấp đủ cả chất lẫn lượng cho cơ thể cá, điều này đã ảnh hưởng đến tốc độ gia
tăng khối lượng cho cá. Từ những yếu tố trên mà tốc độ tăng trưởng của cá trong
nghiệm thức trùn chỉ lớn hơn hai nghiệm thức còn lại. Điều này chứng tỏ, tốc độ
tăng trưởng phụ thuộc vào khả năng tiêu hóa và lượng dinh dưỡng cá hấp thu được
trong từng loại thức ăn là khác nhau.
Bên cạnh việc tăng trưởng về khối lượng thì tăng trưởng về chiều dài của cá Bống
tượng giữa các nghiệm thức cũng có sự khác nhau, tuy nhiên sự khác biệt ở đây
không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Qua kết quả của 28 ngày ương, các số liệu về
tăng trưởng về chiều dài của cá, nhận thấy nghiệm thức cho cá ăn trùn chỉ cho tăng
trưởng về chiều dài lớn nhất (0,51 cm), tiếp đến là nghiệm thức sử dụng thức ăn cá
tạp kết hợp với trùn chỉ (0,46 cm), thấp nhất là nghiệm thức sử dụng thức ăn hoàn
toàn cá tạp (0,4 cm). Điều này cũng được giải thích tương tự như tăng trưởng về khối
lượng, do trùn chỉ vẫn là thức ăn tươi sống và thích hợp cho cá.

22


Tốc độ tăng trưởng về chiều dài theo ngày (DLG) của cá ở nghiệm thức trùn chỉ
cũng cao nhất nhưng lại khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) so với các
nghiệm thức còn lại, điều này cũng dễ thấy vì tăng trưởng về chiều dài rất chậm so
với tăng trưởng về khối lượng nên trong thí nghiệm này sự tăng trưởng về chiều dài
giữa các nghiệm thức rất ít chưa đủ để có ý nghĩa thống kê.
4.1.2.3 Sự phân hóa sinh trưởng
Kết quả xác định mức độ phân hóa sinh trưởng thể hiện ở bảng 4.4 và bảng 4.5
Bảng 4.4: Bảng phân hóa sinh trưởng cá bống tượng về khối lượng

Nghiệm
thức
Nhóm

Khối
lượng
(g)

Kích cỡ cá
Số cá thể
Tỷ lệ
trong
%
nhóm

Khối lượng
trung bình
trong nhóm

Chênh lệch
khối lượng
(g)

I

1
2
3

0,65 – 0,86
0,86 – 1,06
1,06 – 1,27

9
19
2

30
63,3
6,7

0,77
0,91
1,2

0,43

II

1
2
3

0,75 – 0,82
0,82 – 0,88
0,88 – 0,95

16
11
3

53,3
36,7
1

0,79
0,83
0,92

0,13

1
2
3

0,63 – 0,67
0,67 – 0,72
0,72 – 0,76

10
11
9

33,3
36,7
30

0,65
0,69
0,74

0,09

III

Kết quả bảng 4.4 cho thấy, khối lượng cá trong nghiệm thức I được chia ra làm 3
nhóm: 0,65 – 0,86 g (30%), 0,86 – 1,06 g (63,3%) và 1,06 – 1,27 g (6,7%). Đối với
nghiệm thức này do cá được cho ăn hoàn toàn trùn chỉ nên khối lượng cá tăng nhanh
hơn nghiệm thức II và nghiệm thưc III. Sự xuất hiện chênh lệch về khối lượng phần
nào cũng có sự cạnh tranh về thức ăn giữa các cá thể có kích thước lớn và cá thể kích
thước nhỏ. Ở nghiệm thức II thức ăn sử dụng kết hợp giữa trùn chỉ và cá tạp thì khối
lượng rơi vào nhóm cá nhỏ (0,75 – 0,82) rất cao (53,3%). Sự phân hóa kích cỡ cá
trong thí nghiệm thức II và nghiệm thức III tương đối đồng đều hơn kích cỡ cá lại
nhỏ hơn so với nghiệm thức I, sự chênh lệch về khối lượng giữa nhóm cá lớn nhất
và nhóm cá nhỏ nhất trong nghiệm thức I là 0,43 g và lớn hơn so với kết quả của
nghiệm thức II và nghiệm thức III lần lượt là 0,13g và 0,09 g và điều này cũng nói
lên được mức độ phân hóa sinh trưởng trong các nghiệm thức khác nhau hay cụ thể
hơn, sự phân hóa về khối lượng ở nghiệm thức I diễn ra cao nhất, kế đến là nghiệm
thức II và cuối cùng là nghiệm thức III.

23


Khi cho cá ăn các loại thức ăn có giá trị dinh dưỡng khác nhau sự phân hóa sinh
trưởng về chiều dài cũng thể hiện những giá trị khác nhau. Sau 28 ngày ương, tại
mỗi nghiệm thức cũng cân 30 cá thể/ mẫu. Kết quả xác định mức độ chênh lệch về
chiều dài (phân hóa sinh trưởng) được thể hiện qua bảng 4.5.
Bảng 4.5: Bảng phân hóa sinh trưởng cá bống tượng về chiều dài

Kích cỡ cá
Nghiệm
thức
Nhóm

Chiều
dài
(cm)

Số cá thể
trong
nhóm

Tỷ lệ %

Chiều dài
trung bình
trong nhóm

Chênh lệch
chiều dài
(cm)

I

1
2
3

3,3 – 3,9
3,9 – 4,5
4,5 – 5,1

5
18
7

16,7
60
23,3

3,6
4,1
4,7

1,1

II

1
2
3

3,6 – 4,1
4,1 – 4,5
4,5 – 5,0

14
12
4

46,7
40
13,3

3,9
4,2
4,8

0,9

1
2
3

3,2 – 3,8
3,8 – 4,3
4,3 – 4,9

11
7
12

36,7
23,3
40

3,6
3,9
4,6

1

III

Qua bảng 4.4, tính phân hóa sinh trưởng về chiều dài của cá bống tượng cũng thể
hiện những giá trị khác nhau. Trong nghiệm thức I kích cỡ cá đạt khoảng trung bình
(3,9 – 4,5 cm) chiếm đa số (60%), trong khi nghiệm thức II lại chiếm đa số ở cá nhỏ
(3,6 – 4,1 cm) chiếm 46,7%. Kết quả phân tích ở 3 nghiệm thức, nghiệm thức I có
chiều dài cá đạt tối đa nhất, kế đến là nghiệm thức II và chiều dài thấp nhất vẫn nằm
ở nghiệm thức I. Điều này cũng rất phù hợp vì trong 3 nghiệm thức trùn chỉ cho kết
quả tăng trưởng nhanh nhất và thấp nhất là cá tạp do đó sự phân hóa về chiều dài ở
nghiệm thức I vẫn diễn ra mạnh nhất. Như vậy, sự tăng trưởng của cá càng nhanh thì
sự phân hóa sinh trưởng càng lớn và thức ăn cũng phần nào ảnh hưởng đến phân hóa
về chiều dài của cá bống tượng.
Tóm lại, qua 3 nghiệm thức với các loại thức ăn và so sánh các chỉ tiêu về tốc độ
tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá ở cuối thí nghiệm nhận thấy, ở nghiệm thức sử dụng
hoàn toàn trùn chỉ cho kết quả tốt nhất. Điều này phù hợp với mong muốn cần thiết
và chính đáng cho người nuôi vì đảm bảo được cả hai yếu tố về số lượng ( tỷ lệ sống
cao) và chất lượng (tốc độ tăng trưởng nhanh)

24


4.2 Thí nghiệm ảnh hưởng của mật độ lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá Bống
tượng
4.2.1. Các yếu tố môi trường
Qua 42 ngày ương cá bống tượng với 3 mật độ khác nhau (250, 500, 750 con/m2), sự
biến động của các yếu tố môi trường trong suốt thời gian thí nghiệm được thể hiện ở
bảng 4.6
Bảng 4.6: Một số yếu tố môi trường trong bể ương cá bống tượng
Các yếu tố môi trường
Nhiệt độ (00C)
Sáng
Chiều

Trung bình
26,8 ± 0,59
30,0 ± 1,08

Lớn nhất
28
31

Nhỏ nhất
26
26

pH

Sáng
Chiều

8,16 ± 0,24
8,50 ± 0,26

8,7
9

7,5
7,9

Oxy (ppm)

Sáng
Chiều

4,00 ± 0,00
5,00 ± 0,00

4
5

4
5

Qua kết quả của bảng 4.6 cho thấy, trong cùng một thời gian thì các yếu tố nhiệt độ,
oxy và pH trong thí nghiệm tương đối ổn định và chênh lệch không đáng kể. Giá trị
của các yếu tố môi trường tuy có sự biến động theo từng thời điểm nhưng đều nằm
trong ngưỡng thích hợp cho sự phát triển của cá bống tượng.
4.2.2 Ảnh hưởng của mật độ lên sinh trưởng và tỉ lệ sống của cá bống tượng
4.1.2.1 Tỷ lệ sống của cá bống tượng
Tỷ lệ sống của cá sau 06 tuần thí nghiệm với các mật độ là 250, 500, 750 con/m2,
thức ăn cho cá là trùn chỉ tỷ lệ sống của cá được trình bày ở bảng 4.7
Bảng 4.7: Tỷ lệ sống của cá bống tượng trong thí nghiệm mật độ
Nghiệm thức mật độ
250 con/m2
500 con/m2
750 con/m2

Tỷ lệ sống (%)
91,1 ± 0,04a
89,4 ± 0,02a
88,2 ± 0,04a

Giá trị thể hiện là số trung bình và độ lệch chuẩn. Các giá trị trong cùng một cột có chữ cái giống
nhau thì khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05)

Từ bảng 4.7 cho thấy mật độ 750 con/m2 cho tỷ lệ sống cao nhất (91,1%), kế đến là
nghiệm thức 500 con/m2 (89,4%), cuối cùng là nghiệm thức 750 con/m2 (88,2%).
Tuy nhiên kết quả này không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
Qua kết quả trên ta thấy mật độ thả tỷ lệ nghịch với tỷ lệ sống khi thả cá với mật độ
thấp sẽ cho tỷ lệ sống cao, với mật độ thấp cá sẽ ít cạnh tranh về không gian sống,
thức ăn nên sẽ tăng trưởng tốt hơn dẫn đến tỷ lệ sống sẽ cao hơn.

25


x

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×