Tải bản đầy đủ

Thực trạng thu chi quỹ BHXH tại phòng BHXH huyện giao thuỷ (nam định)

www.quantri.vn

l ời nói đầu
Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một trong những loại
hình bảo hiểm ra đời sớm ở nước ta. Đây là một loại
hình bảo hiểm đặc biệt, nó ít mang tính chất
kinh doanh thương mại mà chủ yếu là tính nhân
dạo và nhân văn cao cả.
Kể từ khi ra đời đến nay, nó đã góp phần làm ổn
định đời sống cho cán bộ công nhân viên chức Nhà
nước, quân nhân, những người lao động làm việc
trong các thành phần kinh tế của đất nước; ổn
định chính trị – xã hội, thúc đẩy quá trình xây
dựng, phát triển và bảo vệ tổ quốc.
Hiện nay, được sự quan tâm của Nhà nước mà
chính sách BHXH ngày càng được thực hiện tốt và
hiệu quả hơn với các đối tượng tham gia nói trên.
Để việc thực hiện BHXH tồn tại và phát huy được
tác dụng của nó cần phải có một quỹ BHXH và quỹ đó
phải hoạt động đúng mục đích tức là cơ quan BHXH
phải thực hiện tốt công tác thu – chi quỹ BHXH.

Qua thời gian thực tập tại phòng BHXH huyện
Giao Thuỷ em thấy BHXH huyện Giao Thuỷ đã đạt
được những kết quả thiết thực về hoạt động thu –
chi quỹ BHXH như: Chi đúng người, đúng đối tượng,

1


www.quantri.vn

kịp thời; thu quỹ BHXH ngày càng tăng v.v…Tuy
nhiên bên cạnh dó vẫn còn một số tồn tại nhất
định như: Thu BHXH chưa dứt điểm, số nợ đọng vẫn
còn, một vài cơ sở còn trốn nộp BHXH làm cho hoạt
động quỹ BHXH tại phòng BHXH huyện Giao Thuỷ
chưa đạt được kết quả cao, tăng gánh nặng cho ngân
sách nhà nước. Nhận thức được tầm quan trọng của
công tác quản lý thu – chi quỹ BHXH như vậy, em đã
chọn đề tài : “Th ực tr ạng thu - chi qu ỹ BHXH t ại

phòng BHXH huy ện Giao Thu ỷ (Nam Định)”
với mong muốn được góp phần nhỏ bé của mình
nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu – chi qu ỹ
BHXH tại phòng BHXH huyện Giao Thuỷ nói
riêng và trong hệ thống BHXH Việt Nam nói
chung.
Trong quá trình hoàn thành chuyên đề, do
thời gian và nhận thức còn nhiều hạn chế nên
không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em rất
mong được sự chỉ bảo của các thầy cô giáo. Qua đây em
xin gửi lời cảm ơn tới thầy giáo PGS.TS Hồ Sĩ S à đã tận
tình giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề này.

Hà Nội ngày 15 tháng 4
năm 2004
Sinh viên: Trần Văn Phác

2



www.quantri.vn

Chương I

tổng quan về bhxh và quỹ BHXH
I. Sự cần thiết phải có BHXH
1 – Sự ra đời của BHXH
Nền sản xuất hàng hoá càng phát triển thì vấn đề thuê m ướn
nhân công diễn ra càng phổ biến, mâu thuẫn giữa chủ và thợ ngày
càng gia tăng. Đặc biệt khi người lao động không may gặp rủi ro, sự
cố như: ốm đau, bệnh tật, tai nạn lao động, mất việc làm …phải nghỉ
việc. Khi rơi vào những trường hợp này, các nhu cầu cần thiết không
những không mất đi mà còn tăng lên, thậm chí còn phát sinh ra nhiều

3


www.quantri.vn

nhu cầu mới như: cần được khám chữa bệnh, điều trị khi ốm đau; cần
người nuôi dưỡng, chăm sóc khi gặp tai nạn, thương tật … Tổng thời
gian nghỉ việc người chủ không trả lương, làm cho người lao động
càng gặp nhiều khó khăn hơn và không yên tâm làm việc. Vì vậy, lúc
đầu người chủ chỉ cam kết trả công lao động nhưng sau đó đã phải
cam kết cả việc bảo đảm cho người lao động có một số thu nh ập nh ất
định để họ trang trải khi không may gặp những khó khăn đó.
Trong thực tế, nhiều khi các rủi ro trên không x ẩy ra v à ng ười ch ủ
không phải chi ra đồng nào nhưng cũng có khi xảy ra dồn dập, buộc họ
phải bỏ ra một khoản tiền rất lớn mà họ không muốn. Do đó mâu
thuẫn chủ thợ càng trở nên vô cùng gay gắt. Khi những mâu thuẫn n ày
kéo dài Nhà nước phải đứng ra can thiệp bằng cách: bu ộc gi ới ch ủ
phải có trách nhiệm hơn đối với người lao động mà mình sử dụng, thể
hiện ở việc phải trích ra một phần thu nhập của mình để hình thành
quỹ. Sau đó dùng nguồn quỹ này để trợ cấp cho người lao động và gia
đình họ, khi người lao động không may gặp những rủi ro và s ự cố b ất
ngờ. Đồng thời Nhà nước đứng ra bảo trợ cho quỹ. Bằng cách đó cả
chủ và thợ đều thấy mình có lợi và tự giác thực hiện, cuộc sống của
người lao động được đảm bảo.Người chủ được bảo vệ việc sản xuất
kinh doanh diễn ra bình thường, tránh được những xáo trộn không cần
thiết.
Mối quan hệ ba bên nêu trên được thế giới quan niệm là BHXH
cho người lao động. Như vậy BHXH là một chế độ pháp định bảo vệ
người lao động, bằng cách thông qua việc tập trung nguồn tài chính
được huy động từ sự đóng góp của người lao động, người sử dụng lao
động (nếu có), sự tài trợ của Nhà nước nhằm trợ cấp vật chất cho
người được bảo hiểm và gia đình họ trong trường hợp bị giảm hoặc
mất thu nhập do gặp các rủi ro ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh

4


www.quantri.vn

nghề nghiệp, hết tuổi lao động theo quy định của pháp luật hoặc tử
vong…
2 - Sự cần thiết phải có hệ thống BHXH
Trong cuộc sống cũng như trong các hoạt động sản xuất hàng
ngày, mặc dù không muốn nhưng người lao động không thể tránh khỏi
hết những rủi ro bất ngờ xảy ra như: ốm đau; bệnh tật, tai nạn lao
động, bệnh nghề nghiệp…Tất cả những nguyên nhân đó xảy ra đều ít
nhiều làm ảnh hưởng đến đời sống vật chất và tinh thần cho bản thân
cũng như gia đình; người thân của họ.
Muốn khắc phục được khó khăn do các rủi ro nêu trên gây ra,
người lao động cần phải được sự bảo trợ của tập thể số đông. Đặc
biệt để người lao động yên tâm tham gia sản xuất tạo điều kiện phát
triển kinh tế đất nước thì nhà nước cần phải can thiệp vào nhằm làm
giảm bớt những khó khăn cho người lao động trong các tr ường h ợp: ốm
đau, thai sản, tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp, chết, mất việc làm
khi về già…Từ đó BHXH được ra đời như một tất yếu khách quan khi
mà mọi thành viên trong xã hội đều cảm thấy cần ph ải tham gia h ệ
thống BHXH này.
II . Vai trò và những nguyên tắc của BHXH
1 – Vai trò của BHXH
1.1) Đối với người lao động
Trong giai đoạn hiện nay khi đất nước đang ngày càng hoàn thiện
quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá thì những "rủi ro" như ốm đau,
tai nạn lao động- bệnh nghề nghiệp, thai sản, mất việc làm …lại diễn ra
một cách thường xuyên và ngày càng phổ biến hơn, phức tạp hơn. Khi

5


www.quantri.vn

những rủi ro này xảy ra sẽ gây khó khăn cho ng ười lao động vế cả v ật
chất lẫn tinh thần, ảnh hưởng không tốt cho cả cộng đồng.
Với tư cách là một trong những chính sách kinh tế xã h ội của Nh à
nước, BHXH sẽ góp phần trợ giúp cho cá nhân những người lao động
gặp phải rủi ro, bất hạnh bằng cách tạo ra cho họ những thu nhập thay
thế, những điều kiện lao động thuận lợi…giúp họ ổn định cuộc sống,
yên tâm công tác, tạo cho họ một niềm tin vào tương lai. T ừ đó góp
phần quan trọng vào việc tăng năng suất lao động cũng như chất lượng
công việc cho xí nghiệp nói riêng và cho toàn xã hội nó chung.
1.2) Đối với người sử dụng lao động
Để có được sản phẩm phục vụ cho cuộc sống của con người và sự
phát triển của xã hội thì cần phải có người tạo ra s ản phẩm v à nh ờ
vào quá trình lao động sản xuất để tạo ra sản phẩm cần thiết cho con
người, cho xã hội. Những người biết vận dụng sức lao động để sản
xuất ra sản phẩm, đó chính là những người chủ sử dụng lao động.
Muốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh được đảm bảo thì người chủ
phải tạo được mối quan hệ tốt với người lao động, giải quyết những
vấn đề thuộc phạm vi trách nhiệm của mình đối với người lao động
thật tốt để họ yên tâm lao động sản xuất và có niềm tin v ào cu ộc s ống
từ đó họ lao động sản xuất hăng hái hơn, tạo ra nhiều sản phẩm tốt
hơn làm cho quá trình sản xuát kinh doanh của người chủ sử dụng lao
động hoạt động đạt kết quả cao. Muốn vậy người chủ sử dụng lao
động phải tham gia đóng BHXH cho những người lao động của mình
để có thể đảm bảo những khoản chi trả cần thiết, kịp thời đến người
lao động khi họ gặp những rủi ro bất chắc. Việc tham gia đóng góp
BHXH cho người lao động của người chủ sử dụng lao động là góp vào
quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngày càng
phát triển hơn, nâng cao năng suất, hiệu quả lao động sản xuất của

6


www.quantri.vn

doanh nghiệp cũng như nâng cao thu nhập cho người lao động và góp
vào việc phát triển nền kinh tế của đất nước.
1.3) Đối với xã hội
Thứ nhất, cần phải khẳng định rằng hoạt động BHXH là một hoạt
động dịch vụ, cơ quan BHXH là một “doanh nghiệp” sản xuất ra nh ững
dịch vụ “ bảo hiểm” cho người lao động, một loại dịch vụ mà bất cứ
ai cũng cần đến (không phải chỉ cán bộ, công nhân viên ch ức m ới cần).
Nếu các doanh nghiệp này càng sản xuất ra nhiều loại bảo hiểm (đáp
ứng đa dạng các nhu cầu) thì giá trị của những sản phẩm dịch vụ này
cũng được tính trực tiếp vào tổng sản phẩm xã hội.
Thứ hai, với tư cách là một trong những chính sách kinh tế xã hội
của Nhà nước, BHXH sẽ “ bảo hiểm” cho người lao động, hoạt động
BHXH sẽ giải quyết những “ trục trặc”, “ rủi ro” xảy ra đối v ới nh ững
người lao động, góp phần tích cực của mình vào việc phục hồi năng
lực làm việc, khả năng sáng tạo của sức lao động. S ự góp phần n ày tác
động trực tiếp đến việc nâng cao năng suất lao động cá nhân, đồng
thời góp phần tích cực của mình vào việc nâng cao n ăng su ất lao động
xã hội. Với sự trợ giúp của người lao động khi gặp phải r ủi ro b ằng
cách tạo ra thu nhập thay thế thì BHXH đã gián tiếp tác động đến
chính sách tiêu dùng quốc gia làm tăng sự tiêu dùng cho xã hội.
Thứ ba, với tư cách là một quỹ tiền tệ tập trung, BHXH tác động
mạnh mẽ tới hệ thống tài chính ngân sách Nhà nước, tới hệ thống tín
dụng tiền tệ ngân hàng. Chính vì vậy, đặt ra một yêu cầu cho quỹ
BHXH phải tự bảo tồn và phát triển quỹ bằng nhiều hình thức khác
nhau, trong đó có hình thức đầu tư phát triển phần “ nhàn rỗi” của qu ỹ.
Phần này có tác động không nhỏ tới sự phát triển đất nước, góp phần
tạo ra những cơ sở sản xuất kinh doanh m ới, việc làm m ới góp ph ần
quan trọng trong việc tạo ra việc làm cho người lao đông. T ừ đó góp

7


www.quantri.vn

phần giải quyết tình trạng thất nghiệp của đất nước, góp phần tăng
thu nhập cá nhân cho người lao động nói riêng và tăng tổng sản phẩm
quốc nội cũng như tổng sản phẩm quốc dân nói chung.
Thứ tư, BHXH góp phần vào việc thực hiện công bằng xã hội, là
công cụ phân phối lại thu nhập giữa những nguời tham gia BHXH. S ự
phân phối lại thu nhập này được tiến hành thông qua hai cách: Phân
phối lại theo chiều ngang giữa người khoẻ và người già, người đang
làm việc với người đã nghỉ hưu, người trẻ tuổi với người lớn tuổi, gi ữa
nam với nữ, người đang hưởng trợ cấp với người chưa hưởng trợ cấp;
phân phối lại theo chiều ngang là mục tiêu quan trọng của chính sách
kinh tế xã hội, giữa những người có thu nhập cao v à ng ười có thu nh ập
thấp. BHXH không bao hàm ý phân phối bình quân, cũng không hàm ý
lấy của người giàu chia cho người nghèo một cách võ đoán. ý t ưởng
của BHXH nhiễu điều phủ lấy giá gương, là đoàn kết tương trợ, phát
huy tính tự thân, sống hoà nhập có tình có nghĩa giữa các nhóm, các
giới bạn trong cùng cộng đồng với nhau mà vốn là tiềm lực của dân tộc
ta đã được lịch sử chứng minh.

2 – Những nguyên tắc của BHXH
2.1) Mọi ngưòi lao động trong mọi trường hợp bị gi ảm ho ặc m ất
khả năng lao động hoặc mất việc làm đều có quyền được BHXH .
Quyền đựơc BHXH của người lao động là một trong những biểu
hiện cụ thể của quyền con người. Nhưng khi muốn xây dựng hệ thống
BHXH thì đầu tiên Nhà nước phải tạo điều kiện và môi trường kinh
tế xã hội, về chính sách và luật pháp, về tổ chức và cơ chế quản lý cần
thiết. Đồng thời, những người sử dụng lao động và người lao động
phải thực hiện trách nhiệm đóng góp tài chính của mình. Không phải
là cái có sẵn nên trước hết phải tìm cách tạo ra nó. ở m ỗi nước không

8


www.quantri.vn

có sự đóng góp này thì chính sách BHXH có hay đến mấy cũng không
bao giờ có BHXH trong thực tiễn. Vì vậy, thực hiện trách nhiệm đóng
góp tài chính BHXH là điều kiện cơ bản nhất để người lao động được
hưởng quyền BHXH.
2.2) Nhà nước và người sử dụng lao động có trách nhiệm phải
BHXH đối với người lao động, người lao động cũng phải tự bảo
hiểm cho mình.
Đây là mối quan hệ ba bên trong nền kinh tế thị trường, trong đó
Nhà nước có vai trò quản lý vĩ mô mọi hoạt động kinh tế xã h ội trên
phạm vi cả nước. Với vai trò này Nhà nước có trong tay m ọi đi ều ki ện
vật chất của toàn xã hội, đồng thời cũng có mọi công cụ cần thiết để
thực hiện vai trò của mình. Cùng với sự tăng trưởng sự phát triển kinh
tế xã hội, cũng có những kết quả bất lợi không mong muốn. Nh ững k ết
quả bất lợi này trực tiếp hoặc gián tiếp sẽ dẫn đến những rủi ro cho
người lao động. Khi xảy ra tình trạng như vậy nếu không có BHXH thì
Nhà nước vẫn phải chi Ngân sách để giúp đỡ người lao động dưới m ột
dạng khác. Sự giúp đỡ đó chẳng những làm cho đời sống người lao
động ổn định mà còn làm cho sản xuất kinh tế xã hội của đất nước ổn
định. Vì vậy, khi trong xã hội loài người xuất hiện BHXH – m ột d ạng
đảm bảo đời sống tiến bộ hơn đối với người lao động- so với các dạng
giúp đỡ truyền thống thì Nhà nước càng có điều kiện và càng có trách
nhiệm tổ chức và tham gia dạng hoạt động đó.
Đối với người sử dụng lao động, mọi khía cạnh đặt ra cũng tương
tự như trên nhưng chỉ trong phạm vi một số doanh nghiệp. ở đó gi ữa
người lao động và người sử dụng lao động có mối quan hệ rất chặt
chẽ. Người sử dụng lao động muốn ổn định và sản xuất kinh doanh thì
ngoài việc chăm lo đầu tư để có máy móc thiết bị hịên đại, công nghệ
tiên tiến còn phải chăm lo tay nghề và đời sống của người lao động mà

9


www.quantri.vn

mình sử dụng. Khi người lao động làm việc bình thường thì phải trả
lương (trả công) thoả đáng cho người lao động. Khi họ gặp rủi ro, ốm
đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.. trong đó có rất nhiều tr ường
hợp gắn với quá trình lao động, với những điều kiện lao động cụ thể
của doanh nghiệp thì phải có trách nhiệm BHXH cho họ. Chỉ có nh ư
vậy người lao động mới yên tâm tích cực lao động sản xuất góp phần
tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp.
Đối với người lao động khi gặp những rủi ro không muốn và không
phải hoàn toàn hay trực tiếp do lỗi của người khác thì tr ước h ết đó l à
rủi ro của bản thân. Vì thế, nếu muốn được BHXH t ức là muốn nhi ều
người khác hỗ trợ cho mình, là dàn trải rủi ro của mình cho nhi ều
người khác thì tự mình phải gánh chịu trực tiếp và tr ước h ết đã...Đi ều
đó có nghĩa là bản thân người lao động phải có trách nhiệm tham gia
BHXH để tự bảo hiểm cho mình.
2.3) BHXH phải dựa trên sự đóng góp của các bên tham gia để hình
thành lên quỹ BHXH
ở nguyên tắc trên đã thấy rõ tính khách quan của trách nhi ệm ph ải
tham gia BHXH đối với người lao động của cả ba bên (Nhà nước,
người sử dụng lao động và người lao động) trong nền kinh t ế th ị
trường. Biểu hiện cụ thể của trách nhiệm này là đóng phí BHXH đầu
kỳ. Nhờ sự đóng góp đó mà phương thức riêng có của BHXH là dàn
trải rủi ro theo nhiều chiều, tạo điều kiện để phân phối thu nhập theo
cả chiều dọc và chiều ngang mới được thực hiện. Hơn nữa nó còn tạo
ra mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ giữa trách nhiệm với quyền lợi góp
phần phòng chống những hiện tượng nhiễu trong hệ thống hoạt động
mang lại nhiều lợi ích cho mọi người có liên quan này.
2.4) Phải tuân theo quy luật số lớn

10


www.quantri.vn

BHXH là một trong các nguyên tắc, các cơ chế an toàn xã hội,
trước hết là sự trợ giúp cho người lao động trong các tr ường h ợp b ị
giảm hoặc bị mất thu nhập tạm thời khi họ bị ốm đau, thai sản … ho ặc
hết tuổi lao động theo quy định của pháp luật. Trong cả cuộc đời của
người lao động thường thì thời gian lao động dài hơn thời gian người
lao động bị tạm thời mất khả năng lao động hoặc thời gian từ khi hết
tuổi lao động đến lúc chết. Vả lại tất cả những người tham gia BHXH
cùng một lúc có nhu cầu bảo hiểm, vì vậy nguyên tắc tr ước hết của
BHXH là lấy số đông bù số ít, lấy quãng đời lao động có thu nh ập để
bảo hiểm cho khi giảm hoặc mất khả năng lao động.
2.5) Kết hợp giữa các loại lợi ích, các khả năng và phương thức
đáp ứng nhu cầu BHXH
Trong BHXH cả ba bên tham gia: Người sử dụng lao động, người
lao động và Nhà nước đều nhận được nhiều lợi ích. Nhưng lợi ích
nhận được không phải luôn luôn như nhau, thống nhất với nhau m à trái
lại có lợi ích có lúc lại mâu thuẫn với nhau. Chẳng hạn việc tăng m ức
trợ cấp hoặc tăng thời hạn nghỉ làm việc và hưởng trợ cấp BHXH s ẽ
rất có lợi cho người lao động nhưng lại gây khó khăn cho người ch ủ s ử
dụng lao động, nếu giảm hậu quả bất lợi cho người sử dụng lao động
thì Nhà nước lại phải gánh chịu.
2.6) Mức trợ cấp BHXH phải đảm bảo thấp hơn tiền lương khi
đang đi làm, nhưng cũng phải lớn hơn mức lương tối thiểu
Trợ cấp BHXH nói ở đây là loại trợ cấp thay thế cho tiền lương
như trợ cấp ốm đau, thai sản, hưu trí tuổi già chứ không phải là trợ cấp
bù đắp hoặc trợ cấp BHXH. Như đã biết, tiền lương l à kho ản tiền m à
người sử dụng lao động trả cho người lao động khi họ thực hiện công
việc nhất định. Nghĩa là, chỉ người lao động có sức khoẻ bình thường,
có việc làm bình thường và thực hiện công việc nhất định mới có tiền

11


www.quantri.vn

lương. Khi đã bị ốm đau, tai nạn hay tuổi già không thực hi ện được
công việc nhất định hoặc không việc làm mà trước đó có tham gia
BHXH thì chỉ có trợ cấp BHXH và trợ cấp đó không thể bằng tiền
lương tạo ra được. Còn nếu cố tìm cách trả trợ cấp BHXH bằng hoặc
cao hơn tiền lương thì không một người lao động nào phải cố gắng có
việc làm và tích cực làm việc để có lương m à ngược lại họ sẽ cố
gắng ốm đau, thai sản để hưởng trợ cấp. Hơn nữa cách lập quỹ,
phương thức dàn trải rủi ro của BHXH cũng không cho phép tr ả tr ợ cấp
BHXH bằng tiền lương lúc đang đi làm. Vì trả trợ cấp bằng tiền lương
thì chẳng khác gì bị rủi ro đem rủi ro của mình dàn trải h ết cho nh ững
người khác.
Như vậy, mức trợ cấp BHXH phải thấp hơn m ức tiền lương lúc
đang đi làm. Tuy nhiên do mục đích, bản chất và cách làm của BHXH
thì mức trợ cấp thấp nhất cũng không thể thấp hơn m ức s ống t ối thi ểu
hàng ngày. Chỉ khi đó BHXH mới có tính nhân văn cao cả.
2.7) Kết hợp giữa BHXH bắt buộc với BHXH tự nguyện
Bảo hiểm xã hội áp dụng hình thức bắt buộc để đảm bảo quy
luật số lớn và số có hệ số an toàn cao nhằm đảm bảo cuộc sống của
người lao động. Tuy nhiên, có những trường hợp, người lao động muốn
hưởng trợ cấp hưu trí ở mức cao hơn mức được hưởng dưới hình thức
bắt buộc, hoặc khi cân nhắc thấy họ đóng thêm vào BHXH cũng l à
một hình thức gửi tiền tiết kiệm, và có khi còn lợi hơn gửi vào ngân
hàng, thì họ sẽ có nhu cầu đóng phí BHXH nhiều hơn mức quy định.
Chính vì vậy, khi đáp ứng nhu cầu đó cũng thực hiện được đảm bảo
tốt hơn cuộc sống cho người lao động đồng thời quy luật số lớn vẫn
được tôn trọng.

12


www.quantri.vn

2.8) Phải đảm bảo tính thống nhất BHXH trên phạm vi cả n ước,
đồng thời phải phát huy tính đa dạng, năng động c ủa các b ộ ph ận
cấu thành
Hệ thống BHXH của một nước thường gồm nhiều bộ phận cấu
thành. Trong đó bộ phận lớn nhất do Nhà nước tổ ch ức và b ảo hộ đặc
biệt bao trùm toàn bộ những người hưởng lương từ Ngân sách Nhà
nước và những người lao động thuộc những khu vực kinh tế quan tr ọng
của đất nước. Các bộ phận nhỏ hơn do các đơn vị kinh tế và tư nhân tổ
chức ra để bảo hiểm cho một số đối tượng hạn chế do pháp luật quy
định. Trong bộ phận do Nhà nước tổ chức còn có thể có một số bộ phận
BHXH chuyên ngành như: BHXH đối với công chức, BHXH đối với
quân nhân hưởng lương và một số bộ phận BHXH theo ngành kinh tế
có tính chất đặc thù (đường sắt, khai thác mỏ...). Các bộ phận BHXH
đựơc tổ chức như thế nào, nhiều hay ít là do đi ều kiện kinh t ế, chính
trị, xã hội và do Nhà nước quy định. ở nước ta do những diều ki ện kinh
tế xã hội chưa cho phép các tổ chức và cá nhân thực hiện BHXH m à chỉ
có BHXH của Nhà nước.
Để BHXH hoạt động có hiệu quả nhất thiết phải bảo đảm tính
thống nhất trên những vấn đề lớn hoặc cơ bản nhất để tránh tuỳ tiện,
tính cục bộ hoặc những mâu thuẫn nảy sinh. Đồng thời cũng phải có cơ
chế để mỗi bộ phận cấu thành có thể năng động trong hoạt động để
chúng có thể bù đắp, bổ xung những ưu điểm cho nhau.
2.9) BHXH phải được phát triển dần từng bước phù hợp với các
điều kiện kinh tế xã hội của đất nước trong từng giai đoạn phát
triển cụ thể
BHXH của một nước gắn rất chặt với trạng thái kinh tế, v ới các
điều kiện kinh tế xã hội, với cơ chế và trình độ quản lý đặc biệt là
với sự điều chỉnh, sự đồng bộ của nền pháp chế của nước đó. Trong

13


www.quantri.vn

tình hình nước ta, kinh tế thị trường theo định hướng XHCN đang hình
thành, nhiều mặt kinh tế xã hội đang chuyển động mạnh. Vì vậy, vi ệc
xây dựng và phát triển BHXH phải bảo đảm chắc chắn, tính toán th ận
trọng và có bước đi phù hợp.
III. quỹ BHXH
1 – Vai trò của quỹ BHXH
Trong đời sống kinh tế xã hội, có rất nhiều loại quỹ khác nhau như:
quỹ tiêu dùng, quỹ sản xuất, quỹ dự phòng, quỹ tiền lương, quỹ ti ền
thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ tiết kiệm...Tất cả các loại quỹ này đều có
một điểm chung là tập hợp các phương tiện tài chính cho những hoạt
động nào đó theo mục tiêu định trước. Quỹ lớn hay quỹ nhỏ biểu thị
khả năng về mặt phương tiện và vật chất để thực hiện công việc cần
làm.
Tất cả các quỹ đều không chỉ tồn tại với một khối lượng tĩnh tại
một thời điểm mà luôn biến động tăng lên ở đầu vào với các nguồn
thu và giảm đi ở đầu ra với các khoản chi như m ột dòng chảy liên tục.
Để đảm bảo cho đầu ra ổn định, người ta thiết lập một lượng dự trữ.
Bởi vậy, để nắm và điều hành được một quỹ nào đó thì không phải
chỉ nắm được khối lượng của nó tại một thời điểm nhất định, mà quan
trọng hơn là phải nắm được lưu lượng của nó trong một khoảng th ời
gian nhất định.
Theo những quan niệm về quỹ nói chung như trên, thì quỹ BHXH là
tập hợp những đóng góp bằng tiền của những người tham gia BHXH
hình thành một quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài Ngân sách
Nhà nước để chi trả cho những người được BHXH và gia đình họ khi
họ bị giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm hoặc mất khả năng lao động,
mất việc làm.

14


www.quantri.vn

Như vậy, quỹ BHXH là một quỹ tiêu dùng đồng thời là một quỹ dự
phòng, nó vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội r ất cao v à l à
điều kiện hay cơ sở vật chất quan trọng đảm bảo cho toàn bộ hệ thống
BHXH tồn tại và phát triển.
Quỹ BHXH hình thành và hoạt động đã tạo ra khả năng giải
quyết những rủi ro của tất cả những người tham gia với tổng dự trữ ít
nhất, giúp cho việc dàn trải rủi ro được thực hiện theo cả hai chi ều
không gian và thời gian, đồng thời giúp giảm tối thiểu thiệt hại kinh tế
cho người sử dụng lao động, tiết kiệm chi cho cả ngân sách Nhà nước
và ngân sách gia đình.
2 – Nguồn quỹ BHXH
Quỹ BHXH tập trung những đóng góp bằng tiền của những người
tham gia BHXH hình thành một quỹ tiền tệ tập trung để chi tr ả cho
những người được hưởng BHXH và gia đình họ khi họ bị giảm hoặc
mất thu nhập do bị giảm, mất khả năng lao động hoặc mất việc làm.
Như vậy quỹ BHXH là một quỹ tiêu dùng, đồng thời là một quỹ
dự phòng; nó vừa mang tính kinh tế vừa mang tính xã h ội r ất cao v à l à
điều kiện hay cơ sở vật chất quan trọng nhất đảm bảo cho toàn b ộ h ệ
thống BHXH tồn tại và phát triển.
Quỹ BHXH hình thành và hoạt động đã tạo khả năng giải quyết
những rủi ro của tất cả những người tham gia với tổng dự trữ ít nhất,
giúp cho việc giàn trải rủi ro được thực hiện theo cả hai chiều không
gian và thời gian, đồng thời giúp giảm thiểu thiệt hại kinh t ế cho ng ười
sử dụng lao động, tiết kiệm chi cho cả Ngân sách nhà nướcvà ngân
sách gia đình.
Quỹ được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau:

15


www.quantri.vn

- Thứ nhất, đó là phần đóng góp của người sử dụng lao động, người lao
động và Nhà nước, đây là nguồn chiếm tỉ trọng lớn nhất và cơ bản
của quỹ.
- Thứ hai, là phần tăng thêm do bộ phận nhàn rỗi tương đối của quỹ
được tổ chức BHXH chuyên trách đưa vào hoạt động sinh lời.
- Thứ ba, là phần nộp phạt của những cá nhân và tổ ch ức kinh t ế vi
phạm luật lệ về BHXH. Phần lớn các nước trên thế giới, quỹ BHXH
đều được hình thành từ các nguồn nêu trên. Tuy nhiên phương th ức
đóng góp và mức đóng góp của các bên tham gia có khác nhau.
2 - Mục đích sử dụng quỹ BHXH
Quỹ BHXH được sử dụng chủ yếu cho hai mực đich sau đây:
- Chi trả và trợ cấp cho các chế độ BHXH
- Chi phí cho sự nghiệp quản lý BHXH
Theo khuyến nghị của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) quỹ BHXH
được sử dụng để trợ cấp cho các đối tượng tham gia BHXH, nhằm ổn
định cuộc sống cho bản thân và gia đình họ, khi đối tượng tham gia
BHXH gặp rủi ro. Thực chất là trợ cấp cho 9 chế độ mà tổ chức này
đã nêu lên trong công ước 102 tháng 6 năm 1952 tại Giơnevơ:
1. Chăm sóc y tế
2. Trợ cấp ốm đau
3. Trợ cấp thất nghiệp
4. Trợ cấp tuổi già
5. Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
6. Trợ cấp gia đình
7. Trợ cấp sinh đẻ
8. Trợ cấp khi tàn phế

16


www.quantri.vn

9. Trợ cấp cho người còn sống ( trợ cấp mất người nuôi
dưỡng)
9 chế độ trên hình thành một hệ thống các chế độ BHXH . Tuỳ điều
kiện kinh tế xã hội mà mỗi nước tham gia công ước Gi ơnev ơ th ực hi ện
khuyến nghị đó ở mức độ khác nhau, nhưng ít nhất phải thực hiện
được ba chế độ. Trong đó, ít nhất phải có một trong năm chế độ: (3),
(4), (5), (8), (9). Mỗi chế độ trong hệ thống trên khi xây dựng đều dựa
trên những cơ sở kinh tế xã hội tài chính, thu nhập, tiền lương .v.v…
Đồng thời tuỳ từng chế độ khi xây dựng còn phải tính đến các yếu tố
sinh học; tuổi thọ bình quân của quốc gia, nhu cầu dinh dưỡng; xác suất
tử vong…
Tuy nhiên, cơ sở để xác định điều kiện hưởng BHXH phải tính
đến một loạt các yếu tố liên quan đến toàn bộ hệ thống các chế độ
cũng như từng chế độ BHXH cụ thể. Chẳng hạn khi xác định điều kiện
hưởng trợ cấp BHXH tuổi già phải dựa vào cơ sở sinh học là tuổi đời
và giới tính, của người lao động là chủ yếu. Bởi vì tuổi gi à để hưởng
trợ cấp hưu trí của mỗi giới, mỗi vùng, m ỗi quốc gia có nh ững khác
biệt nhất định. Do đó, co những nước quy định: Nam 60 tuổi và Nữ 55
tuổi sẽ được nghỉ hưu. Nhưng cũng có những nước quy định: Nam 65
tuổi và Nữ 60 tuổi.v.v…Hoặc khi xác định điều kiện hưởng trợ cấp cho
chê độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp phải tính đến các yếu t ố
như: Điều kiện và môi trường lao động; bảo hộ lao động v.v …Các y ếu
tố này thường có quan hệ và tác động qua lại với nhau ít nhiều ảnh
hưởng đến điều kiện BHXH của từng chế độ và toàn bộ hệ thống các
chế độ BHXH.
Thời gian hưởng trợ cấp và mức hưởng trợ cấp BHXH nói chung
phụ thuộc vào từng trường hợp cụ thể và thời gian đóng phí BHXH của
người lao động trên cơ sở tương ứng giữa đóng và hưởng. Đồng thời

17


www.quantri.vn

mức trợ cấp còn phụ thuộc vào khả năng thanh toán chung của từng quỹ
tài chính BHXH; mức sống chung của các tầng lớp dân cư và ng ười lao
động. Nhưng về nguyên tắc, mức trợ cấp này không cao hơn mức tiền
lương hoặc tiền công khi người lao động đang làm việc và nó chỉ b ằng
một tỷ lệ phần trăm nhất định so với mức tiền lương hay tiền công. ở
các nước kinh tế phát triển do mức lương cao nên tỷ lệ này thường thấp
và ngược lại ở những nước đang phát triển do mức tiền lêong còn th ấp
nên phải áp dụng một tỷ lệ khá cao. Ví dụ, ở pháp m ức tr ợ cấp h ưu trí
chỉ bằng 50% mức lương cao nhất ( với điều kiện đóng BHXH đủ 37,5
năm ), ốm đau được hưởng trợ cấp bằng 50% tiền lương, thời gian
nghỉ ốm được hưởng trợ cấp không quá 12 tháng. Sinh con được hưởng
trợ cấp BHXH bằng 90% tiền lương trong vòng 16 tuần v.v …Còn ở
Philipin, mức trợ cấp hưu trí từ 42% đến 102%, tuỳ thuộc từng nhóm
lương khác nhau, ốm đau được hưởng 65%, sinh con được nghỉ 45
ngày và được trợ cấp bằng 100% tiền lương v.v…
Tuy vậy, việc các nước quy định trợ cấp BHXH bằng tỷ lệ phần
trăm so với tiền lương hay tiền công thường dẫn đến bội chi qu ỹ
BHXH. Vì vậy, một số nước đã phải tìm cách khắc phục nh ư: trả ngay
1 lần khi nghỉ hưu, hoặc suốt đời đóng theo tỷ lệ phần trăm của một
mức thu nhập quy định và hưởng cũng theo tỷ lệ phần trăm của m ức
quy định.
Ngoài việc chi trả trợ cấp theo các chế độ BHXH, quỹ BHXH còn
được sử dụng cho chi phí quản lý như: Tiền lương cho những người
làm việc trong hệ thông BHXH; khấu hao tài sản cố định, văn phòng
phẩm và một số khoản chi khác… Phần quỹ nhàn rỗi phải được đem
đầu tư sinh lợi. Mục đích đầu tư quỹ BHXH là nhằm bảo toàn và tăng
trưởng nguồn quỹ. Quá trình đầu tư quỹ BHXH phải đảm bảo nguyên

18


www.quantri.vn

tắc: an toàn, có lợi nhuận, có khả năng thanh toán và đảm bảo lợi ích
kinh tế- xã hội.

chương II

Tình hình thu chi qu ỹ BHXH
t ại Phòng BHXH huy ện giao thu ỷ
I . vài nét giới thiệu về BHXH huyện Giao Thuỷ

19


www.quantri.vn

Phòng BHXH huyện Giao Thuỷ được thành lập và đi vào hoạt động từ
tháng 9 năm 1995 cùng với sự chia cắt hành chính của huyện Xuân Thuỷ thành
huyện Xuân Trường và huyện Giao Thuỷ. Phòng BHXH huyện Giao Thuỷ chủ
yếu thực hiện việc thu – chi thuần tuý mà không kinh doanh loại hình bảo hiểm
nào.
Phòng BHXH huyện Giao Thuỷ có tất cả 7 cán bộ viên chức, trong đó ông
Nguyễn Công Hoan là Giám Đốc, bà Chu Thị Vân ánh là Kế toán kiêm bộ phận
chi, bà Đặng Thị Dung phụ trách bộ phận hành chính, bà Phạm Thị Vóc và ông
Nguyễn Thành Lý phụ trách bộ phận thu, ông Trần Hải Triều phụ trách bộ phận
chính sách, ông Trần Mạnh Hùng phụ trách bộ phận y tế tự nguyện.
BHXH huyện Giao Thuỷ chịu sự quản lý trực tiếp của BHXH tỉnh Nam Định,
có con dấu và tài khoản riêng.
Sơ đồ vị trí của BHXH huyện Giao Thuỷ:
BHXH
Việt Nam

BHXH
Nam Định

BHXH
Giao Thuỷ
BHXH huyện Giao Thuỷ có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ BHXH
tỉnh Nam Định giao cho gồm:
- Xây dựng chương trình, kế hoạch công tác năm trình Giám đốc
BHXH tỉnh Nam Định phê duyệt và tổ chức thực hiện;

20


www.quantri.vn

- Theo dõi, đốc thu BHXH 20% so với tổng quỹ lương (hiện nay là 23%
do y tế nhập vào 3%) trong đó thu 15% của chủ s ử dụng lao động (hiện
nay là 17%) và 5% của người lao động (hiện nay là 6%);
- Chi trả các chế độ nghỉ ốm, thai sản cho đối tượng tham gia đóng góp
BHXH;
- Tổ chức việc chi trả lương hưu, trợ cấp BHXH, cả việc chi pháp l ệnh
người có công;
- Theo dõi tăng, giảm hàng tháng để lập danh sách chi trả lương hưu
và trợ cấp theo quy định;
- Tiếp nhận đơn thư khiếu nại, tố cáo về chế độ, chính sách BHXH
để giải quyết theo thẩm quyền hoặc báo cáo với BHXH tỉnh xem xét
giải quyết;
- Tiếp nhận, báo cáo kịp thời với BHXH tỉnh Nam Định các tr ường h ợp
hưởng lạc trợ cấp BHXH, điều chỉnh lương hưu.
- Đối chiếu tờ khai với hồ sơ gốc để triển khai cấp sổ BHXH.
Hiện nay BHXH huyện Giao Thuỷ do có sự sáp nhập của BHYT nên
có một số nhiệm vụ và quyền hạn của BHYT như: cấp thẻ BHXH,
tuyên truyền, vận động, điều hành…
II. Tình hình thu BHXH huyện Giao Thuỷ
1 - Thu BHXH
1.1) Những vấn đề chung về thu quỹ BHXH
Thu quỹ BHXH là hoạt động của các cơ quan BHXH cùng với s ự
phối hợp của các ban ngành chức năng trên cơ sở các quy định của pháp
luật nhằm tạo ra các nguồn tài chính tập trung (quỹ BHXH tập trung),
từ việc đóng góp của các bên tham gia BHXH và những nguồn tài chính
bổ xung khác.

21


www.quantri.vn

Thu quỹ BHXH là một hoạt động không thể thiếu trong hoạt động
BHXH nói chung, nó đảm bảo cho sự tạo lập và sử dụng một quỹ tiền
tệ tập trung và tạo ra nguồn tài chính để có thể tiến hành các ho ạt
động BHXH. Do đó mà việc đóng góp vào BHXH của các bên tham gia
BHXH là sự tất yếu trong hoạt động BHXH, vì những lý do sau:
- Việc đóng góp quỹ BHXH đánh dấu sự đóng góp của những
người tham gia BHXH, là cơ sở để đo sự đóng góp của các bên tham
gia BHXH.
- Tạo ra được nguồn tài chính tập trung từ đó có thể tiến hành
thống nhất các hoạt động BHXH.
- Nguồn thu của BHXH được hình thành từ ba nguồn chủ yếu:
đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và phần hỗ trợ
từ Ngân sách Nhà nước; nguồn thu này phản ánh rõ nét quan hệ ba bên
trong BHXH, là cơ sở để tạo ra các quan hệ khác trong BHXH.
- Thực chất, quan hệ ba bên trong BHXH là m ối quan hệ về l ợi ích
do sự đóng góp vào BHXH của các bên tham gia là mối quan hệ về l ợi
ích, từ việc tham gia đóng góp BHXH các bên tham gia BHXH đều tìm
kiếm được lợi ích cho mình, người sử dụng lao động tìm kiếm lợi ích
từ việc họ sẽ bỏ ra ít chi phí hơn khi người lao động không may gặp
phải những rủi ro, người lao động được tìm kiếm lợi ích từ việc họ
được hưởng các quyền lợi khi họ không may gặp phải nh ững r ủi ro,
Nhà nước đạt được mục tiêu ổn định được xã hội, ổn định được mối
quan hệ lợi ích giữa người lao động và người sử dụng lao động trong
xã hội để người lao động yên tâm tham gia sản xuất thúc đẩy nền kinh
tế-xã hội phát triển.
Từ đó có thể nói rằng, thu BHXH là một phần quan tr ọng không th ể
thiếu được của hoạt động BHXH.
1.2) Công tác thu BHXH tại BHXH huyện Giao Thuỷ

22


www.quantri.vn

Giao Thuỷ là một huyện có địa hình rất phức tạp: một mặt giáp với
biển, một mặt lại giáp với Sông Hồng nên ở đây tồn tại nhiều ngành
nghề khác nhau như: làm nông nghiệp (phần lớn), khu vực giáp với bi ển
thì nhân dân lại đánh bắt và nuôi thuỷ sản xuất khẩu (nhưng chưa có
đủ quy mô lớn để trở thành công ty hay doanh nghiệp, mà hầu hết là tư
nhân tự đứng ra làm lấy với số lao động là con em trong gia đình họ)
hoặc kinh doanh du lịch; bãi tắm (Quất Lâm), làm muối…
Trên địa bàn huyện Giao Thuỷ hiện nay chưa có khu công nghiệp
nào mà chỉ có một vài xí nghiệp; công ty có quy mô đủ lớn (đi thuê lao
động) ngoài các doanh nghiệp nhà nước có trên địa bàn, đó là: Xí
nghiệp muối Bạch Long, Công ty cổ phần xây dựng đường biển Hồng
Hà, Công ty cổ phần xây dựng đường biển Trường Giang. Các xí
nghiệp hay công ty này nằm rải rác trong huyện Giao Thuỷ mà không
tập trung một chỗ.
Công tác thu BHXH ở BHXH huyện Giao Thuỷ ít nhiều gặp phải
khó khăn do địa hình phức tạp và mức độ tập trung của các nhà máy;
xí nghiệp này. Hơn thế nữa trụ sở của BHXH huyện Giao Thu ỷ l ại đặt
ở đầu huyện, nên bước đầu công tác thu BHXH còn gặp rất nhiều khó
khăn, nhất là đội ngũ cán bộ chuyên môn còn quá ít hoặc nếu có thì
trình độ chưa thực sự tốt. Tuy vậy BHXH huyện Giao Thuỷ vẫn cố
gắng hoàn thành các chỉ tiêu về thu BHXH m à BHXH tỉnh Nam Định
giao phó. BHXH huyện Giao Thuỷ đã tiến hành lập danh sách chi ti ết
từng đơn vị; cơ quan tham gia BHXH, từng cá nhân. Bên cạnh đó BHXH
huyện Giao Thuỷ còn lập bảng lương chi tiết của từng cá nhân, quỹ
lương của từng công ty hay xí nghiệp để làm căn cứ thu quỹ BHXH.
Tại mỗi xã trong huyện, BHXH huyện Giao Thuỷ đặt một ban có trách
nhiệm thu – chi và báo cáo các trường hợp có sự thay đổi mức đóng
góp hay mức hưởng BHXH. Gần đến mỗi kỳ báo cáo; tổng kết, BHXH

23


www.quantri.vn

huyện Giao Thuỷ đã cử cán bộ đến các cơ sở còn nợ đong tiền BHXH
hoặc dùng các biện pháp thông tin khác như: gọi điện thoại, nhắn tin
qua đài truyền thanh huyện Giao Thuỷ để đôn đốc, thu kịp thời, tránh
tình trạng nợ đọng lâu dài.
Vì vậy BHXH huyện Giao Thuỷ đã đạt được các chỉ tiêu về thu
BHXH, mức thu tăng nhanh rõ rệt, như năm 1995 chỉ có 633.124.098
đồng, thì đến năm 1996 con số đó là 1.251.624.005 đồng (tăng gần
gấp đôi), tinhd đến năm 2003 BHXH huyện Giao Thuỷ đã thu được
6.282.523.923 đồng.
2 - Những nguồn thu BHXH
Thông thường, quỹ BHXH được hình thành từ nguồn sau:
- Thu từ đóng góp của những người tham gia BHXH l à ngu ồn thu
chủ yếu, quan trọng nhất cho bất cứ quỹ BHXH của bất kỳ quốc gia
nào, nó là cơ sở chủ yếu để hình thành nên quỹ BHXH và tạo ra
nguồn tài chính để thực hiện những chế độ BHXH; nhưng trong quá
trình quản lý sự đóng góp của người tham gia BHXH cũng ph ức t ạp v à
khó khăn nhất. Nguồn thu này có tầm quan trọng đặc biệt, nó l à nền
tảng để có thể thực hiện được chính sách BHXH. Thông thường, nguồn
thu này được hình thành như sau:
+ Người lao động tham gia BHXH đóng góp vào quỹ BHXH trên cơ
sở tiền lương; tuỳ theo điều kiện của mỗi quốc gia mà phần đóng góp
của người lao động có khác nhau, nhưng đều dựa trên cơ sở là ti ền
lương của người lao động làm căn cứ để tính toán số tiền người lao
động phải đóng góp vào quỹ BHXH. Theo Điều lệ BHXH hiện hành
quy định người lao động phải

đóng góp bằng 6% tiền lương

tháng( trước đây là 5%).

24


www.quantri.vn

+ Người sử dụng lao động tham gia đóng góp BHXH cho người lao
động trong đơn vị mình; thông thường phần đóng góp của người sử
dụng lao động dựa trên tổng quỹ lương. Theo Điều lệ BHXH hi ện hành
quy định người sử dụng lao động phải đóng góp bằng 17% (trước đây
là 15%) tổng quỹ tiền lương của những người tham gia BHXH trong
đơn vị.
- Thu từ việc hỗ trợ của Ngân sách Nhà nước chủ yếu là để đảm
bảo cho các hoạt động BHXH diễn ra được đều đặn, bình thường,
tránh những xáo trộn lớn trong việc thực hiện BHXH. Ngu ồn thu t ừ vi ệc
hỗ trợ của Ngân sách Nhà nước cho quỹ BHXH đôi khi l à khá l ớn, vi ệc
hỗ trợ cho hoạt động BHXH của Nhà nước là hoạt động thường xuyên
và liên tục để đảm bảo thực hiện tốt các chế độ chính sách nói riêng
và hoạt động BHXH nói chung.
- Thu từ lãi đầu tư của hoạt động đầu tư bảo toàn và tăng trưởng
quỹ được hình thành từ công việc đầu tư quỹ BHXH nhàn rỗi vào các
chương trình kinh tế – xã hội, những hoạt động đầu tư khác đem lại
hiệu quả. Từ nguồn quỹ nhàn rỗi được đem đầu tư, quỹ BHXH thu
được phần lãi đầu tư để bổ xung vào nguồn quỹ BHXH.
- Ngoài những nguồn thu trên thì quỹ BHXH còn có một số nguồn
thu khác để bổ xung vào quỹ BHXH; nói chung, những nguồn thu này
không lớn, không ổn định. Chủ yếu là những nguồn thu từ việc nhận s ự
hỗ trợ của các tổ chức nước ngoài, từ những hoạt động từ thiện, t ừ
hoạt động thanh lý nhượng bán tài sản cố định. Nguồn thu n ày th ường
chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trong tổng số thu của quỹ BHXH.
3 - Những nguyên tắc trong thu BHXH
Căn cứ pháp luật và các văn bản dưới luật thì thu BHXH phải
đảm bảo theo nguyên tắc là phải đảm bảo đúng đối tượng và đúng

25


x

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×