Tải bản đầy đủ

Vấn đề quan hệ MỹEUNga

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LỊCH SỬ - NGÀNH QUỐC TẾ HỌC
BỘ MÔN CÔNG PHÁP QUỐC TẾ

1.
2.
3.
4.
5.
6.

Nguyễn Thị Vân Anh K39.608.004
Nguyễn Diên Thụy Hồng Hạnh
K39.608.016
Trần Vũ Hoài Nhân K39.608.056
Phạm Thị Phương Thùy K39.608.084
Phạm Thị Thùy Trang K39.608.101
Lê Trần Bảo Trân K39.608.103


Vấn đề thảo luận: Không ai có thể phủ nhận việc nước Nga đã dễ dàng chiếm được Crimea.

Chủ biên thời sự quốc tế của BBC John Simpson gọi việc Nga thôn tính vùng tự trị của Ukraine
này là một “cuộc xâm lăng êm thấm nhất của thời hiện đại”. Mỹ, Anh và Pháp quyết liệt lên án
hành động của Nga. Mỹ và EU vẫn chủ yếu dùng các kênh ngoại giao và trừng phạt kinh tế để
buộc Moscow suy nghĩ và xem lại hành động của minh. Hãy bình luận:
-

Việc Nga sáp nhập vùng đông Ukraine (Crimea) vào nước Nga.
Việc trừng phạt kinh tế Mỹ và EU với Nga, hậu quả?
Tại sao Mỹ và EU lại dùng biện pháp trừng phạt kinh tế mà không dùng những biện pháp
vũ trang?
I. Việc Nga sáp nhập vùng đông Ukraine
(Crimea) vào nước Nga.
1. Vị trí địa lí

Được biết đến là nước cộng hòa tự trị
Crimea, bán đảo có phong cảnh đẹp như tranh
này là một vùng đất nhô ra từ phía nam phần
lục địa của Ukraine. Nó nằm tại bờ Bắc biển
Đen và bờ Tây biển Azov, ngăn cách với Nga ở phía đông bằng eo biển hẹp Kerch, phía Bắc
giáp với tỉnh Kherson của Ukraina.
Cộng hoà tự trị Crimea
2. Vị trí chiến lược
2.1

Đối với Nga

Crimea có vị trí khá quan trọng trong lịch sử Nga. Đây là nơi diễn ra cuộc chiến chống lại
Pháp, Anh và đế chế Ottaman của Nga năm 1850. Vì vậy Crimea là niềm tự hào của nước Nga.
Nga đã ước tính nguồn dự trữ dầu mỏ ở khu vực Crimea - vốn là nơi khai thác dầu khí của
Công ty Chernomorneftegaz (Chornomornaftohaz) - là 47 triệu tấn, còn khí đốt là 165,3 tỉ mét
khối.
Crimea có vị trí chiến lược cực kỳ quan trọng ở phía Nam nước Nga, Nga có thể đi ra đại
dương thế giới mà không phải qua biển nào nữa và từ bây giờ Nga có được một cảng nước sâu,
quan trọng hơn là nước ấm quanh năm không bị đóng băng.
Căn cứ hải quân ở Sevatopol (rìa phía Tây Nam của Crimea) là căn cứ hải quân duy nhất của
Nga ở vùng nước ấm áp và cũng là địa điểm quan trọng để triển khai lực lượng thông qua Địa


Trung Hải. Nói theo cách đơn giản hơn, nếu không có căn cứ quân sự ở Crimea, Nga sẽ không
còn là thế lực quân sự đáng gờm của thế giới.

2.2. Đối với Ucraina
Nên nhấn mạnh một điều rằng Crimea là vùng đất thuộc lãnh thổ của Ukraine. Nước cộng
hòa tự trị này đã tự nhận mình là một phần của Ukraine, là nơi sinh sống của một bộ phận
không nhỏ người Ukraine và là nơi mà người Ukraine tìm đến trong các kỳ nghỉ mùa hè. Do đó,
vai trò của Crimea đối với Ukraine là vô cùng quan trọng.
Đúng là rất nhiều vùng của Crimea – đặc biệt là Sevastopol và thủ đô Simferopol, là những
vùng thân Nga, phần còn lại không như vậy. Đặc biệt, những người Tatars – cho dù bất kỳ hoàn
cảnh nào đi nữa – không bao giờ muốn trở thành công dân Nga.
3. Lịch sử
Lịch sử Crimea gắn liền với lịch sử của những cuộc chiến khốc liệt để tranh giành vị trí chiến
lược - một cửa ngõ ra biển Đen.


Sau một thời gian thuộc đế quốc Ottoman, Crimea trở thành lãnh thổ của Nga vào năm 1783,
dưới thời của Nữ hoàng Catherine II.



Sau chiến thắng trong cuộc chiến tranh Nga - Thổ (1768-1774), Nga giành được quyền kiểm
soát bán đảo Crimea và tiến hành củng cố vị trí tiền tiêu này của đế chế Sa Hoàng. Từ đó,
Crimea là một phần lãnh thổ của Nga trong suốt hơn 200 năm.



Năm 1853, với sự ủng hộ của Anh và Pháp, đế quốc Ottoman mở cuộc tấn công Crimea. Tuy
Ottoman giành nhiều thắng lợi trong cuộc chiến làm khoảng 750.000 người chết này, nhưng
Crimea vẫn thuộc về Nga.



Năm 1921, trên bán đảo này, hình thành Cộng hoà xã hội chủ nghĩa tự trị Crimea trong thành
phần Liên bang Nga.
Năm 1954, Crimea được chuyển giao cho Ukraine như một món quà của Tổng Bí thư Khrushov
để kỷ niệm 300 năm hiệp ước Pereiaslav. Hiệp ước nói trên khẳng định sự “trung thành” của
Ukraine với Nga.
Từ 1954 - 1991, Crimea là một tỉnh của Ukraine, còn thành phố Sevastopol nằm ở phía Nam
bán đảo này vẫn là thành phố trực thuộc Trung ương trong thành phần Liên bang Nga.
1991, Liên Xô sụp đổ, các nước cộng hoà trong Liên bang tuyên bố độc lập. Crưm và
Sevastopol bị cắt đứt khỏi nước Nga. Tuy nhiên, căng thẳng đã nổ ra giữa Ukraine và Nga về
cách phân chia Hạm đội Biển Đen sau khi Liên Xô tan rã.
Ngày 28/5/1997, Nga và Ukraine đồng ý phân chia Hạm đội biển Đen theo tỷ lệ lần lượt 80%
và 20%. Thỏa thuận này cũng cho phép Nga thuê cảng Sevastopol đến 28/05/2017. Tiền thuê
hàng năm Nga trả cho Ukraine là 97,75 triệu USD.











Năm 2010, Moscow đã dùng một thỏa thuận về khí đốt để đổi lấy việc gia hạn thuê căn cứ hải
quân tại đây. Tháng 4/2010, Tổng thống mới bị lật đổ Viktor Yanukovych đã chấp nhận gia hạn
thời gian Nga có thể đóng quân tại căn cứ ở Sevastopol đến năm 2042. Đổi lại, Nga giảm 30%
giá bán khí đốt cho Ukraine, nhờ đó, Ukraine tiết kiệm tới 1 tỷ USD/quí.
4. Bàn luận về việc Nga sáp nhập Crimea.



Tại Crimea, Nga đã sử dụng luật quốc tế một cách khôn ngoan, trong đó lợi dụng được sự
mâu thuẫn giữa nguyên tắc cơ bản Nghiêm cấm sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan
hệ quốc tế (Khoản 4, điều 2, Hiến chương LHQ) và một nguyên tắc cơ bản không kém là
nguyên tắc Dân tộc tự quyết (Điều 1.2 và điều 55 Hiến chương LHQ) để sáp nhập Crimea. Đây
là hai nguyên tắc thường xung đột nhau ngay tại trung tâm của hệ thống pháp luật và chính trị
quốc tế từ năm 1945.
Nguyên tắc 1: Các quốc gia không được phép sử dụng vũ lực chống lại nhau và đặc biệt là
không được phép chiếm đoạt lãnh thổ của nhau thông qua sử dụng vũ lực. Nguyên tắc này được
thể hiện trong khoản 4 điều 2 của Hiến chương Liên Hợp Quốc “ Tất cả các quốc gia thành
viên Liên hợp quốc từ bỏ đe dọa bằng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế nhằm
chống lại sự bất khả xâm phạm về lãnh thổ hay nền độc lập chính trị của bất kỳ quốc gia nào
cũng như bằng cách khác trái với những mục đích của Liên hợp quốc”.
Với nguyên tắc này, Tổng thống V.Putin đã thực hiện việc bác bỏ mang tính chiến lược. Ông
V.Putin cho rằng:“ Tổng thống Liên bang Nga đã nhận được sự cho phép của Thượng viện để
sử dụng lực lượng vũ trang ở Ukraine. Nhưng nghiêm túc mà nói, chưa có ai hành động trên sự
cho phép đó. Quân đội Nga chưa từng tiến vào Crimea. Họ đã hiện diện ở đây từ trước, theo
đúng khuôn khổ của một hiệp định quốc tế. Đúng, chúng ta đã tăng cường lực lượng tại đây
nhưng chúng ta đã không vượt quá giới hạn quân số của lực lượng vũ trang tại Crimea, vốn
được quy định là 25.000 người”(trích “Bài diễn văn 18/03/2014 của ông V.Putin). Đáng lưu ý
hơn, Tổng thống V.Putin đã phủ nhận những hành động của các lực lượng chưa được xác định
của Crimea ở Liên Bang Nga, mặc dù những hành động đó đã được ghi hình rõ ràng và phát đi
trên khắp thế giới. Sở sĩ, ông ta làm được điều đó là do tiêu chuẩn pháp lý dùng để quy trách
nhiệm cho các chính phủ về các hành động của các chủ thể phi quốc gia được các chính phủ đó
hỗ trợ là tương đối lỏng lẻo. Ông ta nhận thức rằng sẽ rất khó thậm chí là không thể chứng minh
được lực lượng dân quân không rõ danh tính nắm dưới quyền kiểm soát hiệu quả của ông ta và
Moscow sẽ không phải chịu trách nhiệm pháp lý kể cả khi nếu họ được Nga tài trợ và chỉ đạo
chừng nào Nga còn có thể phủ nhận quyền kiểm soát hiệu quả các lực lượng tại Crimea một
cách hợp lý.
Ngoài ra, ông ta cũng biện minh cho hành động của mình ở Crimea dựa vào một tiền lệ rất
nổi tiếng là Kosovo – tiền lệ do Mỹ và phương Tây tạo ra trong một tình huống hoàn toàn tương
tự khi họ công nhận rằng việc đơn phương chia cắt Kosovo khỏi Serbia, chính xác như những gì
Crimea đang làm hiện nay, là hợp pháp và không cần bất kỳ sự cho phép nào từ chính quyền
trung ương, Mỹ có thể kiểm soát việc diễn giải và thi hành luật quốc tế để đảm bảo độc lập cho
Kosovo mà không phải chịu hậu quả pháp lý thì đến năm 2014 họ không thể phản bác hoàn


toàn những lập luận pháp lý của Moscow cho rằng việc Nga hỗ trợ và cuối cùng là sáp nhập
Crimea là có cơ sở luật quốc tế vững vàng không kém.


Nguyên tắc 2: Tất cả các dân tộc bình đẳng và có quyền tự quyết. Nguyên tắc này cũng có
nguồn gốc từ hiến chương Liên Hợp Quốc trong đó lấy” Sự tôn trọng nguyên tắc bình đẳng về
quyền lợi và quyền tự quyết của các dân tộc” làm mục tiêu của hệ thống quốc tế.
Để củng cố lập luận về quyền tự quyết của Crimea, Nga đã thoả mãn đầy đủ các yếu tố pháp
lý cần thiết: Những người muốn thực thi quyền tự quyết phải là một dân tộc rõ ràng đã phải
chịu sự đàn áp có hệ thống, và đã quyết định tình trạng tương lai của mình một cách hợp pháp,
thông qua một quy trình dân chủ và cư dân Crimea đã cấu thành một dân tộc dân chủ và tách
biệt vì tổng số người dân trên bán đảo Crimea là hơn 2,2 triệu người, 20% là người Ukraina,
58% là người Nga còn lại là người Tatar nhưng họ cũng hướng về Nga và xem ngôn ngữ Nga là
ngôn ngữ gốc. Hơn nữa,đối với người dân Crimea, tình hình hỗn loạn tại Ukraine và cuộc đảo
chính lật đổ chính quyền của ông Yanukovych tại thời điểm đó khiến họ cảm thấy bất an và
không còn muốn ở lại với Ukraine bởi sự an toàn của họ không còn được bảo đảm,đồng thời khi
tuyên bố độc lập và quyết định tổ chức trưng cầu dân ý, Hội đồng tối cao Crimea đã dựa vào
Hiến chương Liên Hợp Quốc trong đó khẳng định các quốc gia đều có quyền tự quyết. Vậy khi
tách khỏi Liên bang Xô Viết, ukraina cũng làm đúng như vậy, chính xác đến từng từ, nhưng
người dân Crimea lại bị khước từ. Tại sao?
Cuộc bỏ phiếu vào ngày 16/03/2014 với hơn 96% số người ủng hộ việc tách khỏi Ukraine là
một bằng chứng sống khẳng định đây là nguyện vọng của người dân Crimea cũng như Nga
không làm điều gì sai như Thủ tướng Crimea Sergei Aksyonov từng tuyên bố: "Tôi có thể nói
với các bạn rằng không ai lấy đi thứ gì cả. Đó là lựa chọn của người dân Crimea. Không điều gì
có thể diễn ra nếu không có sự ủng hộ của người dân địa phương, và đó là lý do vì sao đây
không phải một hành động khiêu khích, mà là hành động dân chủ thực sự".
Thêm vào đó, một cuộc thăm dò mới nhất do Trung tâm Nghiên cứu Công luận Nga cho
thấy, hơn 90% số người Crimea được hỏi cho biết họ vẫn sẽ chọn việc sáp nhập Crimea vào
Nga nếu tiến hành lại một cuộc trưng cầu dân ý.Vấn đề giờ đây là quyết định chính trị của riêng
Nga, bất cứ quyết định nào ở đây cũng chỉ dựa trên ý chí của người dân, bởi nhân dân là nền
tảng cơ bản của tất cả mọi chính quyền.
Như vậy, việc Crimea sáp nhập vào Nga là hành động hoàn toàn tự nguyện của người dân
Crimea và không vi phạm luật pháp quốc tế. Nhiều người lập luận rằng Nga đã vi phạm luật
quốc tế khi đã can thiệp quân sự khi đưa quân vào Crimea. Tuy nhiên nên nhớ rằng quân đội
Nga đã hiện diện ở đây trước đó từ lâu với hợp đồng cho thuê quân cảng Sevastopol của chính
phủ Ukraina. Do vậy sự hiện diện của quân đội Nga ở đây là hiển nhiên. Tuy rằng có những
nghi ngờ về việc Nga dùng lực lượng này để gây sức ép lên cuộc trưng cầu dân ý, nhưng kết
quả xảy ra với 96% người Crimea đồng ý sáp nhập vào Nga trong khi những người nghi ngờ kết
quả này lại không đưa ra được những bằng chứng thuyết phục cho thấy Nga đã sử dụng sức ép


quân sự tác động đến công việc nội bộ của Ukraina. Có thể thấy một ván bài chính trị cao tay đã
được Putin thực hiện ở Crimea khiến nhiều người phải ngã mũ thán phục, trong khi phương Tây
tức tối nhưng không làm gì được ngoài việc trừng phạt kinh tế Nga. Nhưng đứng ở một góc độ
khác, ta có thể thấy với sự mâu thuẫn giữa hai nguyên tắc cơ bản cấm chiếm đoạt lãnh thổ thông
qua sử dụng vũ lực và quyền tự quyết tồn tại ngay tại trung tâm của hệ thống Luật quốc tế, ông
V.Putin đã sử dụng Luật quốc tế một cách khôn ngoan kết hợp với những tiền lệ trước (như việc
Mỹ đã làm với Kosovo) để biện minh cho mình. Qua sự kiện trên có thể thấy rằng, luật pháp
quốc tế liên quan đến vấn đề quyền tự quyết dân tộc, cụ thể hơn là vấn đề ly khai còn nhiều bất
cập. Không có luật nào qui định việc ly khai của một bộ phận dân cư, mà người ta thường xem
vấn đề này là vấn đề nội bộ của dân tộc, thuộc quyền “dân tộc tự quyết”. Tuy nhiên, từ “dân
tộc” là một từ có nội hàm rộng, có thể hiểu là dân cư của một quốc gia, và cũng có thể là một
dân tộc trong nhiều dân tộc của một quốc gia đa dân tộc. Chính sự mập mờ trên đã tạo điều kiện
cho phong trào ly khai diễn ra mạnh mẽ trong thời gian sau này, nhiều trường hợp dẫn đến sự
bất ổn định. Các quốc gia có thể lợi dụng điều này để lôi kéo, thâu tóm hoặc chia rẻ sự thống
nhất của quốc gia khác núp dưới chiêu bài “nhân quyền”, “trưng cầu dân ý”. Trường hợp
NATO dùng quân sự can thiệp vào Kosovo và ủng hộ Kosovo tách ra khỏi Serbia năm 1999,
Nga can thiệp vào Gruzia năm 2008 ủng hộ nam Ossetia tách khỏi Gruzia vv là những ví dụ
điển hình.

Nguồn tham khảo: http://nghiencuuquocte.net/
http://antg.cand.com.vn/Su-kien-Binh-luan-antg/Can-nguyen-gay-cang-thang-o-Nga-345719/
- Hiến chương Liên Hiệp Quốc 1945
Giáo trình Công pháp quốc tế, Nxb Hồng Đức.
II. Việc trừng phạt kinh tế Mỹ và EU với Nga, hậu quả
1.

Việc trừng phạt kinh tế Mỹ và EU với Nga:

Trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc không trực tiếp đưa ra một định nghĩa cụ thể về “Cấm
vận”, nhưng trong Chương 7, khoản 41 có đề cập đến điều này và có thể được xem là một định
nghĩa: “Hội đồng bảo an có thể quyết định những biện pháp không bao gồm sử dụng lực lượng
vũ trang để hiệu lực hóa những quyết định của mình, và có thể kêu gọi các nước thành viên áp
dụng những biện pháp này, bao gồm sự can thiệp toàn bộ hay một phần vào các quan hệ kinh
tế, các phương tiện đường sắt, đường biển, đường hàng không, bưu điện , điện tín và các
phương thức giao tiếp khá, và sự cắt đứt ngoại giao”. (“The Security Council may decide what
measures not involving the use of armed force are to be employed to give effect to its decisions,
and it may call upon the Members of the United Nations to apply such measures. These may
include complete or partial interruption of economic relations and of rail, sea, air, postal,


telegraphic, radio, and other means of communication, and the severance of diplomatic
relations.”)
http://www.securitycouncilreport.org/atf/cf/%7B65BFCF9B-6D27-4E9C-8CD3CF6E4FF96FF9%7D/special_research_report_sanctions_2013.pdf
Trong Biên bản Ghi nhớ mở rộng liên quan đến Luật Cấm Vận 2010 của Australia đã định
nghĩa: “Cấm vận là những biện pháp không bao gồm việc sử dụng lực lượng vũ trang, áp đặt
lên những tình huống mà quốc tế quan ngại, bao gồm đàn áp nghiêm trọng quyền con người hay
quyền tự do dân chủ của người dân bởi chính phủ, hay sự phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt
hoặc các phương tiện vận chuyển trong xung đột nội bộ hoặc quốc tế”
Source: http://dfat.gov.au/international-relations/security/sanctions/Pages/about-sanctions.aspx
Cấm vận áp đặt các biện pháp siết chặt các hoạt động của một số quốc gia, mặt hàng, dịch vụ
hay cá nhân và thực thể. Các biện pháp cấm vận được chia làm 5 nhóm: Giải quyết xung đột
(Conflict Resolution), Không phổ biến (Non-proliferation), Chống khủng bố (Counter
Terrorism), Dân chủ (Democratisation), Bảo vệ quyền công dân (Protection of Civilians). Các
biện pháp cấm vận được thực hiện khi quốc gia, pháp nhân, thực thể có một trong các hành vi
sau:














Đe dọa đến hòa bình, an ninh và sự ổn định.
Vi phạm cấm vận vũ trang.
Hỗ trợ các nhóm vũ trang bằng các mặt hàng thương mại bất hợp pháp.
Cản trở giải trừ quân bị, giải ngũ và tái hội nhập.
Vi phạm nhân quyền quốc tế hoặc luật nhân đạo.
Cản trở hỗ trợ nhân đạo
Tuyển mộ trẻ em làm quân nhân.
Nhắm đến việc vi phạm nhân quyền.
Hiếp dâm và bạo lực giới tính.
Sở hữu tài sản công không phù hợp.
Cản trở hoặc tấn công lực lượng gìn giữ hòa bình.
Kích động bạo lực và thù hằn.
Ủng hộ phổ biến vũ khí hạt nhân.

Nguồn:
http://www.securitycouncilreport.org/atf/cf/%7B65BFCF9B-6D27-4E9C-8CD3CF6E4FF96FF9%7D/special_research_report_sanctions_2013.pdf


Tuy nhiên, những điều vừa nêu trên là những qui định chung của Liên Hiệp Quốc trong việc
ban hành các lệnh cấm vận của tổ chức này lên một quốc gia, vùng lãnh thổ nào đó dưới sự
đồng thuận chung của các quốc gia thành viên, chứ không hề đưa ra những qui định về quyền
cấm vận của các quốc gia với nhau. Việc một hay một nhóm các quốc gia tiến hành cấm vận
một quốc gia khác được thực hiện dựa trên luật pháp của nước, nhóm nước đó, xét thấy những
hành vi của quốc gia bị trừng phạt đe dọa đến lợi ích của mình. Ví dụ, năm 1952, Mỹ áp đặt
lệnh cấm vận thương mại lên Cuba, Mỹ cấm vận Việt Nam trong cuộc chiến tranh Việt Nam,
cấm vận Iraq năm 2003 hay gần đây nhất là sự kiện Mỹ và EU cùng áp đặt cấm vận lên Nga
xung quanh vấn đề Crimea.
Do vậy có thể thấy đây là một thiếu sót trong hệ thống luật pháp quốc tế. Bởi vì với việc tự do
áp dụng các biện pháp bao vây cấm vận, các quốc gia, thực thể giàu mạnh như Mỹ, EU, Nga,
Trung Quốc, vv hoàn toàn chiếm ưu thế tuyệt đối đối với các quốc gia, vùng lãnh thổ yếu hơn.
Chính vì thế, nhóm quốc gia giàu mạnh này có thể ép buộc các quốc gia khác đi theo ý muốn
của mình, gây nên sự bất công trong quan hệ quốc tế. Riêng đối với Mỹ, cường quốc số một thế
giới này hiện nay đang đơn phương cấm vận kinh tế lên 75 quốc gia với những lí do rất “hợp lí”
như phổ biến vũ khí hạt nhân, vi phạm nhân quyền, phân biệt chủng tộc, tôn giáo vv mà không
có những bằng chứng rõ ràng và thuyết phục. Thực chất các quốc gia bị Mỹ cấm vận đã thi
hành những chính sách mà Washington không hài lòng, hay nói cách khác, những quốc gia này
đã không “vâng lời” Mỹ, do vậy họ phải bị trừng phạt. Nói tóm lại, việc luật pháp quốc tế hiện
nay chưa có qui định nào liên quan đến vấn đề ban hành lệnh cấm vận của quốc gia đã tạo điều
kiện cho những cường quốc kinh tế tự do bao vây, cấm vận các nước khác theo ý chí của mình.
2.

Hậu quả :

Nh ã nói rõ ph n trên thì khi có s xung t v chính tr c th là tranh ch p v o Crimea,
s ki n Ukraina ã khi n cho mâu thu n gi a hai bên ngày càng c ng th ng và Nga ã b M ,
EU c m v n v nhi u m t khi n cho c hai bên u ch u thi t h i.
Tr c h t v ph n Nga, chúng ta có th th y r ng n n kinh t Nga a ng suy y u rõ r t, ngoài
vi c ph i b ra ngân qu l n
duy trì n h h ng Crimea thì bên c nh ó n g Rub Nga m t
giá khi n cho th tr ng tài chính Nga lao a o, i s ng ng i dân c ng khó kh n h n r t nhi u.
Sau â y s là nh ng h u qu c th h n c a vi c c m v n này Nga.
Tr c h t là vê kinh t , trong khi tình hình n c Nga tr c l nh c m v n ã suy thoái thì sau khi
l nh c m v n có hi u l c tình hình còn c ng th ng h n nhi u. Tr c ó ch s t ng tr ng kinh
t là 2,4% thì nay ch còn 0,4%/n m. Nga không th xu t kh u hàng hóa cho b t c n c nào
trong EU nên giá nông s n, các m t hàng khác c ng gi m a ng k làm cho nông dân Nga lao
a o vì giá nông s n xu ng quá thâp, bên c nh ó giá d u c ng gi m t gi a 2014 t i nay và
ch a có bi n chuy n nhi u. Các l nh v c khác c ng g p khó kh n, tuy nhiên chúng ta v n nh n
ra s c m nh lãnh o c a t ng th ng Nga trong tình hình hi n nay, ng i Nga v n nh t m c tin
r ng tình hình n c Nga s khá h n trong th i gian t i, 2016 và 2017.
i v i EU, sau khi ra l nh c m v n Nga t n m 2014, EU b t u lao a o vì Nga tr c â y là
ngu n cung c p n ng l ng chính cho EU, bên c nh ó Nga c ng là m t th tr ng l n tiêu th


nông s n, s n ph m công nghi p khác c a EU tuy nhiên gi â y khi ngu n cung c p này không
còn thì EU c ng a ng g p nhi u khó kh n. Nh ã
c p tr c, c m v n là con dao hai l i mà
không ph i ch có Nga ch u thi t h i, EU c ng a ng g p v n
này, h u h t c chính ph và
ng i dân các n c này ã “chán” tr ng ph t Nga, vì h u nh nh ng i u này không làm Nga t
b các chính sách i v i khu v c tranh ch p mà ng c l i càng làm cho n c Nga kiên quy t
h n trong các chính sách c a mình.
i v i M , có l â y là n c duy nh t có nhi u l i ích t vi c tr ng ph t Nga. Tuy nhiên g n
â y, M a ng có nh ng xích mích v i EU khi t ng c ng c m v n Nga, tuy không nghiêm
tr ng nh ng v lâu dài không t t cho tình hình hai bên. Tr c h t, M h ng l i t vi c khai
thác nhiên li u Ukraine c bi t là các m á phi n, th hai vi c h p tác kinh t gi a M Nga c ng a ng “ m d n lên” trong khi EU v n ch a g b l nh c m v n.

III. T i sao M và EU dùng bi n pháp tr n g ph t kinh t mà không dùng bi n
pháp v trang?
Thứ nhất: sử dụng biện pháp quân sự là vi phạm luật quốc tế, cụ thể là điều 2, khoản 4 Hiến
chương Liên Hợp quốc: Cấm sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.
Việc sử dụng các biện pháp khác như kinh tế, chính trị (phi vũ trang) chỉ được coi là sử dụng vũ
lực nếu kết quả của nó dẫn đến việc sử dụng vũ lực.
Do vậy, phương Tây chắc chắn sẽ vấp phải sự phản đối mạnh mẽ của công dân nước họ và nhân
dân toàn thế giới nếu họ phát động chiến tranh vũ trang chống lại Nga.
Thứ hai: việc sử dụng bạo lực chống lại Nga sẽ dẫn đến bùng nổ chiến tranh qui mô lớn, không
loại trừ khả năng nổ ra chiến tranh hạt nhân trên phạm vi toàn cầu, hủy diệt sự sống trên Trái
Đất. Cả phương Tây (đứng đầu là Mỹ) và Nga đều có tiềm lực quân sự mạnh mẽ, nổi trội nhất
là kho vũ khí hạt nhân với hàng ngàn đầu đạn hạt nhân của mỗi bên. Mỹ và EU hiểu quá rõ tiềm
lực quân sự của Liên bang Nga, và họ biết hậu quả sẽ tồi tệ thế nào nếu tấn công Nga bằng quân
đội. Với mức độ liên kết, phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia hiện nay, trường hợp cuộc chiến
nổ ra sẽ kéo theo các bên liên quan tham chiến, dẫn đến cuộc chiến tranh thế giới lần 3 và chắc
chắn nhân loại sẽ bị diệt vong.
Do vậy, sử dụng quân sự để trừng phạt là việc làm không thể, nhưng thay vào đó là áp dụng các
biện pháp bao vậy, cấm vận kinh tế. Biện pháp này ít khả năng gây bùng nổ chiến tranh với Nga
và không vấp phải sự phản đối của cộng đồng quốc tế.
Về phía phương Tây, họ không có bất cứ lí do chính đáng nào để sử dụng vũ lực chống lại
Nga, khi việc Nga sáp nhập Crimea là không vi phạm luật pháp quốc tế. Nếu trong trường hợp
Nga dùng vũ lực để sáp nhập Crimea trái với nguyện vọng của người dân Crimea, thì Ukraina,
chứ không phải Mỹ và EU, sẽ có quyền sử dụng quân sự để đáp trả căn cứ vào quyền tự vệ cá
nhân và tập thể được qui định trong điều 51, Hiến Chương LHQ và phải báo ngay cho LHQ.
“Không có một điều khoản nào trong Hiến chương này làm tổn hại đến quyền tự vệ cá nhân hay


tập thể chính đáng trong trường hợp thành viên LHQ bị tấn công vũ trang cho đến khi HĐBA
chưa áp dụng được các biện pháp cần thiết để duy trì hòa bình và an ninh quốc tế. Những biện
pháp mà các thành viên LHQ áp dụng trong việc bảo vệ quyền tự vệ chính đáng ấy phải được
báo ngay cho HĐBAvà không được gây ảnh hưởng gì đến quyền hạn và trách nhiệm của
HĐBA, chiếu theo hiến chương này, đối với việc HĐBA áp dụng bất kỳ lúc nào những hành
động mà HĐBA thấy cần thiết để duy trì và khôi phục hòa bình và an ninh quốc tế”
Nguồn: http://www.dhluathn.com/2014/11/phan-tich-va-anh-gia-thuc-tien-thuc.html
Tương tự, về phía Nga nếu bị Mỹ hoặc EU tấn công quân sự, nước này có dựa vào điều
51, Hiến chương LHQ như đã nêu trên để có những đáp trả quân sự nhằm tự vệ chính đáng và
phải báo ngay cho LHQ.

THE END



x

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×