Tải bản đầy đủ

Tiểu luận môn quản trị phát triển sản phẩm mới kế hoạch marketing trong giai đoạn giới thiệu sản phẩm mới sản phẩm băng ghế xoay

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA MARKETING

BÀI TẬP NHÓM
KẾ HOẠCH MARKETING TRONG GIAI ĐOẠN
GIỚI THIỆU SẢN PHẨM MỚI: SẢN PHẨM BĂNG
GHẾ XOAY
LỚP

: QUẢN TRỊ MARKETING 55

MÔN HỌC

: QUẢN TRỊ, PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM MỚI

NHÓM

:8

THÀNH VIÊN NHÓM: LƯU THỊ KIỀU YẾN (NHÓM TRƯỞNG)
VŨ DIỆU QUỲNH

TRẦN THỊ NHUNG
TRƯƠNG THỊ CẨM VÂN
ĐÀO THỊ THANH HUYỀN
ĐỖ QUỲNH MAI

Hà Nội, 5/2016


MỤC LỤC


Quản trị marketing 55
Nhóm 8
KẾ HOẠCH MARKETING TRONG GIAI ĐOẠN GIỚI THIỆU SẢN PHẨM
MỚI: SẢN PHẨM BĂNG GHẾ XOAY
1. TỔNG QUAN
1.1.
Bối cảnh xây dựng ý tưởng sản phẩm mới

Cuộc sống càng hiện đại, con người càng có xu hướng muốn sử dụng những đồ dùng tiện
ích, với sự tích hợp đa chức năng, công dụng. Đôi khi những sản phẩm ấy không nhất
thiết phải là 1 kĩ thuật công nghệ quá cao siêu mà nó chỉ đơn giản là những sáng chế
thông minh giúp nâng cao công dụng, cải thiện khuyết điểm của những đồ dùng hết sức
bình thường.
Những sản phẩm như vậy ngoài việc giúp cuộc sống trở nên tiện lợi thì nó còn đem lại
những hứng thú nhất định cho người sử dụng khi được dùng 1 cái gì đó thật mới lạ, thật
thông minh và đậm chất sáng tạo.
1.2.

Nguồn gốc hình thành ý tưởng mới

Ghế ngồi công cộng là một vật dụng quen thuộc trong các công viên, trường học cũng
như các nơi tập trung đông người khác. Nó không chỉ là nơi nghỉ chân cho mọi người
trong lúc đi bộ mà dần dần còn trở thành một nét đẹp cho khuôn viên thành phố. Tuy
nhiên, vì phải để ở ngoài trời nên với khí hậu nhiệt đới ẩm như ở Việt Nam, những khi
trời mưa đa phần các ghế ngồi công cộng đều bị ướt, mọi người không ngồi được, hoặc
sẽ gây khó chịu khi ngồi. Dù trời tạnh mưa nhưng nếu chưa nắng thì ghế ngồi cũng khó
có thể khô ngay được. Việc thiết kế mái che cho ghế có thể sẽ ảnh hưởng đến cảnh quan
và gây những bất tiện khi trời không mưa.
Từ đó, nhóm nhận thấy có nhu cầu về một chiếc ghế ngồi công cộng có thể sử dụng được

cả khi trời nắng và trời mưa mà không cần có mái che. Ý tưởng về sản phẩm mới là chiếc
ghế ngồi công cộng với phần băng ghế có thể xoay ngược được hình thành.
Ghế ngồi không phải là quan trọng trong tổng thể một sản phẩm dịch vụ cung ứng như
trường học, công viên hay trung tâm thương mại. Nhưng nó có thể coi là một yếu tố nhỏ
để làm nên giá trị lớn, là sản phẩm bổ sung và làm tăng giá trị sản phẩm. Đây là một điều
mà các doanh nghiệp cũng như người làm marketing trong lĩnh vực dịch vụ thường
xuyên quan tâm, làm sao để phục vụ khách hàng một cách tốt nhất, từ những điều nhỏ
nhất.
3


Đối với các trung tâm thương mại, siêu thị, chiếc ghế ngồi này có thể là nơi nghỉ chân
cho khách hàng sau khi đi mua sắm mà trời vừa mưa, ghế bị ướt. Với các trường học điều
này tạo môi trường học tập sáng tạo cho học sinh, sinh viên. Việc có một chiếc ghế ngồi
có thể dùng khi trời mưa trong khuôn viên thành phố cũng góp phần thể hiện sự quan tâm
đến người dân, tăng giá trị du lịch, đặc biệt ở những địa điểm nổi bật như Hồ Gươm,
Lăng Bác,…
Mô tả sản phẩm ý tưởng
Ghế có cấu tạo như 1 băng ghế gỗ thông thường, không có lưng tựa
Bề mặt ghế được kết nối với 2 chân ghế thông qua 1 trục xoay chắc chắn.
Phần chân ghế sẽ có gắn cần xoay và khi người dùng xoay cần xoay này, bề mặt ghế
sẽ xoay ngược 180 độ, tức là lật mặt trước ra mặt sau. Như vậy nếu 1 mặt ghế bị mưa
ướt hay ướt sương, thì người ngồi có thể xoay ngược mặt ghế để ngồi mặt còn lại (mặt
này sẽ không bị ướt).
1.3.

-

Hình 1: Sản phẩm ý tưởng
2. NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM MỚI
2.1.
Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu tập trung vào 2 mục tiêu: Nghiên cứu người tiêu dùng cuối cùng và nghiên
cứu thái độ của các doanh nghiệp về sản phẩm băng ghế xoay.
Nghiên cứu người tiêu dùng cuối cùng: nhằm mục đích nghiên cứu thái độ của họ với
sản phẩm băng ghế xoay (họ cảm thấy như thế nào khi ghế ngồi công cộng bị ướt. Điều
đó có ảnh hưởng gì tới chất lượng sản phẩm, dịch vụ mà họ đang nhận được và mức độ
4


ảnh hưởng như thế nào) và điều tra khách hàng muốn một sản phẩm băng ghế xoay như
thế nào (để doanh nghiệp có thể tạo ra sản phẩm phù hợp với nhu cầu khách hàng).
Phương pháp nghiên cứu tiến hành là phương pháp quan sát và phỏng vấn nhóm tập
trung. Phương pháp quan sát được dùng để thăm dò thái độ thái độ và hành vi của người
tiêu dùng khi ghế ngồi bị ướt. Đây là một hành vi công khai và diễn ra trong một khoảng
thời gian ngắn nên hoàn toàn có thể quan sát được. Phương pháp này sẽ được tiến hành
sau khi mưa, tại khuôn viên một số khu chung cư, trường đại học. Phương pháp phỏng
vấn nhóm tập trung được tiến hành nhằm khai thác những ý tưởng, quan điểm của người
tiêu dùng về sản phẩm băng ghế xoay. Phương pháp này cho phép phát hiện nhu cầu, thái
độ về sản phẩm của người tiêu dùng đầy đủ và chính xác hơn.
Nghiên cứu thái độ của các doanh nghiệp: mục đích nghiên cứu nhằm xác định doanh
nghiệp có thái độ như thế nào với sản phẩm băng ghế xoay, sản phẩm này có khả năng
thương mại hóa được hay không.
2.2.

Tổng kết kết quả nghiên cứu

Đối với nghiên cứu quan sát hành vi của người tiêu dùng: Khi người tiêu dùng muốn
ngồi ghế mà ghế lại bị ướt, họ sẽ tỏ ra không hài lòng. Sự không hài lòng này có thể biểu
hiện bằng những cái trau mày, hoặc họ có thể chấp nhận đứng mà không ngồi ghế nữa.
Một số người nếu có đem theo khăn, giấy sẽ có thể dùng nó để lau ghế trước khi ngồi,
một số khác có thể ngồi trực tiếp lên ghê vẫn còn ướt. Nhưng dù bằng cách nào trong
những cách trên, quần của họ chắc chắn vẫn bị ướt. Trong một số trường hợp, người tiêu
dùng có thể dẫm chân lên ghế để tránh không bị ướt quần, nhưng hành vi của họ lại khiến
ghế ngồi bị bẩn, kể cả khi trời tạnh, và ghế đã khô cũng không thể ngồi được. Từ những
hành vi trên, nhóm nhận định rằng, một sản phẩm ghế có thể xoay là hoàn toàn cần thiết.
Đối với nghiên cứu phỏng vấn nhóm tập trung: Kết quả thu được là bản mô tả chi tiết sản
phẩm.
2.3.

Các quyết định về sản phẩm mới sau nghiên cứu

Dựa vào kết quả của cuộc nghiên cứu nhóm tiến hành đưa ra các quyết định về sản phẩm
mới với thiết kế và chắc năng phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng như
sau:
-

Chất liệu làm sản phẩm:
 Xu hướng ghế băng ngồi trong thời gian trước chủ yếu là ghế đá Granito khá nặng,
thiết kế phổ thông giá phổ biến tầm 600.000 đồng. Tuy nhiên, dạo gần đây tầm 2
năm đổ lại thì xu hướng sử dụng ghế gỗ cho khuôn viên ngoài trời đang rất được
5


ưa chuông, loại ghế này có thiết kế đẹp mắt sang trọng và giá cũng đắt hươn tầm
2.000.000 đồng/ghế tùy loại gỗ lựa chọn. Dựa theo kết quả nghiên cứu nhóm quyết
định dùng nguyên liệu gỗ để làm sản phẩm. Giá sản xuất dự kiến của sản phẩm ghế
xoay giao động từ 1.000.000 đến 1.200.000 đồng/ghế.
 Để chịu đựng được mưa gió ngoài trời, gỗ phải qua một quá trình chọn lọc và xử lý
kỹ càng, đúng chuẩn. Sau khi xẻ cây theo quy cách làm mộc, gỗ được đưa vào luộc
trong 10-12 giờ để chất dầu, nước trong thân gỗ đẩy ra ngoài. Khi gỗ còn ấm,
người ta đưa tiếp gỗ vào lò sấy để ổn định. Sau giai đoạn này, độ ẩm trong thân gỗ
chỉ còn 8-12 %. Quá trình chế tác này tạo cho gỗ chịu đựng mưa nắng tốt, giảm
thiểu việc bị co nhót, cong vênh.
 Chủng loại gỗ dùng để sản xuất ghế sẽ là là cây dầu hoặc chò chỉ hay bạch đàn
nhập ngoại từ Lào hoặc Campuchia. Khi xẻ, sẽ loại bỏ các phần gỗ gần vỏ và chỉ
lấy phần lõi của cây. Bởi vì nếu chủng loại gỗ này không được xử lý đúng mức thì
gỗ sẽ tiết ra dầu dưới tác động của nắng mưa làm cho sản phẩm bị ố.
 Phần chân ghế được làm bằng thép chống rỉ, các bộ phận của ghế sẽ tách rời và
được ghép với nhau bằng ốc vít để thuận tiện cho việc di chuyển.
 Sử dụng sơn outdoor để sơn bảo vệ cho phần ghế gỗ và chân ghế.
- Màu sắc: sử dụng màu sơn nâu sẫm cho phần gỗ và màu đen cho phần chân ghế.
- Thiết kế:
 Ghế có tựa lưng 1 chiều và khi xoay lại thì sẽ chỉ có băng ghế không có tựa lưng.
 Kích thước ghế sẽ tương tự như các loại ghế gỗ ngoài trời hiện có. Kích thước dự
kiến là 1560x640x760.
 Ghế sẽ có trục xoay nằm dọc băng ghế, trục xoay giúp xoay mặt băng ghế có thể
xoay chuyển. Để đảm bảo ghế ngôi không bị lật, trục xoay sẽ khá chắc chắn và khi
muốn xoay trục xoay cần dùng 1 lực nhất định. Hoặc thiết kế ốc vít giữ trên đầu
trục xoay để cố định trục khi không có nhu cầu xoay ghế. Hộp hỗ trợ xoay ốc vít sẽ
được gắn dưới thân ghế.
 Ghế được chia rồi phần thân và chân ghế, được nối với nhau bằng ốc vít, khi chưa
có nhu cầu sử dụng có thể gấp gọn xếp trong hộp giấy bìa.

6


7


Hình 2: Sản phẩm sau nghiên cứu
2.4.

Thử nghiệm sản phẩm mới.

Ở bước này, nhóm dự định tiến hành kiểm nghiệm sản phẩm bởi các doanh nghiệp thiết
kế ngoại thất vừa và nhỏ. Nhóm sẽ tiến hành phỏng vấn nhóm tập trung khi các doanh
nghiệp đồng ý thử nghiệm sản phẩm. Đây sẽ là bước quyết định sản phẩm sẽ được cải
tiến như thế nào và có được thương mại hóa hay không. Nếu có trên 40% doanh nghiệp
thiết kế sản phẩm nhận định sản phẩm có khả năng thương mại hóa, sản phẩm sẽ được
chính thức tung ra thị trường.
Sau một thời gian nghiên cứu và phỏng vấn với 1 lượng nhỏ các doanh nghiệp thiết kế
ngoại thất tư nhân nhóm có thể tiếp cận, thì đến 90% doanh nghiệp nhận định sản phẩm
có khả năng thương mại hóa. Và bên doanh nghiệp có gợi ý mẫu thiết kế cho sản phẩm
ghế ngoại thất như sau.

Hình 3: Sản phẩm ghế hoàn thiện

8


3. KẾ HOẠCH HÓA CHIẾN LƯỢC TUNG SẢN PHẨM
3.1.
Mục tiêu chiến lược
-

-

-

-

-

-

Mức độ chấp nhận của khách hàng: 90% người tiêu dùng chấp nhận sản phẩm, 40%
doanh nghiệp đồng sử dụng sản phẩm cho doanh nghiệp của mình.
Sự hài lòng của khách hàng: Sản phẩm mang lại sự hài lòng hơn so với các sản phẩm
ghế thông thường. Khách hàng dễ dàng trong việc lắp đặt và sử dụng sản phẩm.
Thị phần: Chiếm lĩnh 10% thị phần trong năm đầu tiên tung ra sản phẩm.
Thời gian tung sản phẩm: Sản phẩm được tung ra vào tháng 5, tại Hà Nội khi chuẩn bị
vào mùa mưa và nhu cầu về sản phẩm là cần thiết hơn những khoảng thời gian khác.
Trước khi tung sản phẩm khoảng 2 tháng là giai đoạn chuẩn bị tung sản phẩm với các
hoạt động như: thiết lập kênh phân phối, xây dựng chiến lược truyền thông cho sản
phẩm.
Phương châm chất lượng: Sản phẩm được làm bằng gỗ, có trục quay có thể dễ dàng
điều khiển, có hướng dẫn chi tiết cách sử dụng sản phẩm. Đồng thời sản phẩm phải có
khả năng chống nước tốt và mau khô để đảm bảo ít nhất một trong hai mặt ghế được
sạch và khô.
3.2.
Định hướng chiến lược
Xác định nhu cầu và khách hàng: Khách hàng mục tiêu mà doanh nghiệp hướng tới là
các cơ quan, tổ chức khác có sử dụng khuôn viên ngoài trời cho đối tượng khách hàng
của cơ quan, tổ chức của mình như các chung cư, trường đại học, công viên, các quán
cà phê vườn,…Đây là nhóm khách hàng rổ chức mà việc có sử dụng sản phẩm ghế
xoay hay không sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dịch vụ mà họ cung cấp. Sản
phẩm được xem là mới hoàn toàn với thị trường, do vậy cần phát triển chiến lược bài
bản trong việc đưa sản phẩm vào thị trường, nhấn mạnh vào việc thúc đẩy nhu cầu cốt
lõi về sản phẩm.
Xác định tư tưởng: Doanh nghiệp sẽ đạt được sự nhận diện thương hiệu đối với bộ
phận khách hàng mục tiêu. Từ đó giúp doanh nghiệp tồn tại và phát triển nếu chiến
lược tung sản phẩm mới ra thị trường đạt được các mục tiêu đã đặt ra, đặc biệt là các
mục tiêu về mức độ chấp nhận và hài lòng của khách hàng về sản phẩm.
Xác định chiến lược tấn công thị trường: Chiến lược thâm nhập nhanh (giá tốt và đẩy
mạnh truyền thông để tạo nhận biết đồng thời chiếm lĩnh thị trường nhanh chóng).
Chiến lược này sẽ giúp doanh nghiệp đạt được mức độ nhận diện thương hiệu cao
trong một thời gian ngắn, góp phần tạo nên hình ảnh của doanh nghiệp và định vị nó
vào trong tâm trí của khách hàng.

Các cấp độ cạnh tranh:
9


 Cạnh tranh nhu cầu: Các đối thủ cạnh tranh cùng hướng đến đoạn thị trường tiềm

-

-

năng mà công ty đang hướng tới. Các đối thủ này có thể cung cấp sản phẩm thỏa
mãn các nhu cầu khác nhau, từ nhu cầu cơ bản, như ăn, mặc, ở đi lại, đến các nhu
cầu bậc cao của khách hàng tiềm năng. Đây là cấp độ cạnh tranh mà bất cứ doanh
nghiệp nào cũng phải đối mặt. Trong trường hợp này, doanh nghiệp phải đối mặt
đến sự cạnh tranh của các doanh nghiệp khác như doanh nghiệp cung cấp các dịch
vụ vui chơi giải trí, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trong giữ xe trong công
viên hoặc chung cư,…
 Cạnh tranh công dụng: Các đối thủ cạnh tranh cùng hướng đến cung cấp các sản
phẩm hỗ trợ nhu cầu nghỉ chân trong thời gian ngắn của khách hàng. Ở mức độ
này, nhóm đánh giá không có đối thủ cạnh tranh nào quá quan trọng.
 Cạnh tranh trong ngành: Các đối thủ cùng hướng đến cung cấp các loại ghế ngồi
trong khuôn viên các cơ quan, tổ chức. Đây là cấp độ cạnh tranh quan trọng cần
được công ty nhìn nhận và xây dựng giải pháp đối mặt. Ở cấp đô này có một số
doanh nghiệp sản xuất ghế bằng đá, ghế bằng gỗ hoặc các nhà tài trợ của đối tượng
khách hàng mục tiêu.
 Cạnh tranh thương hiệu: Cấp độ này, doanh nghiệp chưa có đối thủ cạnh tranh nổi
bật bởi sản phẩm của công ty là sản phẩm mới hoàn toàn đối với thị trường. Chưa
có một sản phẩm tương tự nào trước đây.
Phạm vi gia nhập thị trường: Các thành phố lớn của Việt Nam, trước hết là Hà Nội.
3.3.
Định hướng hành động
Quyết định về thị trường mục tiêu: Các cơ quan, tổ chức có sử dụng khuôn viên ngoài
trời cho đối tượng khách hàng của cơ quan, tổ chức của mình như các chung cư,
trường đại học, công viên, các quán cà phê vườn,…
Chiến lược định vị: Định vị ở vị trí mới hay với hình ảnh hoàn toàn mới trên thị
trường.
Tạo ra giá trị độc đáo cho sản phẩm: Giúp khách hàng có thể sử dụng ghế ngay khi có
nhu cầu mà không lo bị ướt.

3.4.

Chuẩn bị tung sản phẩm mới
3.4.1. Phân tích SWOT sản phẩm
10


Công ty cung cấp sản phẩm là công ty mới gia nhập thị trường, vốn cũng như nguồn lực
còn hạn chế.
Điểm mạnh (S)
- Sản phẩm mang lại nhiều tiện ích
cho người sử dụng, giá cả hợp lý, có
nhiều chính sách ưu đãi về giá cả.

Điểm yếu ( W)
- Nguồn vốn chưa mạnh.
- Đội ngũ nhân viên marketing còn
hạn chế.
- Hệ thống nghiên cứu và phát triển
còn yếu.

Cơ hội (O)
- Thị trường hiện tại có nhiều tiềm
năng để phát triển sản phẩm băng
ghế xoay.
- Khách hàng tổ chức các khu
chung cư, trường học, công viên có
xu hướng mua các sản phẩm mang
lại sự tiện lợi, phục vụ khách hàng
tốt nhất đồng thời góp phần làm
tăng giá trị thương hiệu

Thách thức (T)
- Các đối thủ cạnh tranh về các sản
phẩm ghế thông minh khác, có tiềm
lực và đã có chỗ đứng trên thị trường.

3.4.2. Xây dựng hệ thống kênh phân phối

Mục tiêu:
 Đảm bảo mục tiêu tăng doanh số của công ty.
 Lựa chọn và thuyết phục các trung gian phân phối chấp nhận sản phẩm.
 Đảm bảo bao phủ thị trường và kiểm soát được hệ thống kênh.
- Thời gian thực hiện: trước 2 tháng tung sản phẩm.
- Phân phối trực tiếp: vì đặc điểm của khách hàng mục tiêu doanh nghiệp quyết định
dùng kênh phân phối trực tiếp để phân phối sản phẩm ghế xoay.
 Sử dụng đội ngũ nhân viên bánh hàng bên trong của doanh nghiệp để tìm kiếm các
doanh nghiệp thiết kế nội ngoại thất tiềm năng, tìm kiếm các dự án thầu, gọi điện,
gửi mail cho khách hàng, nhận đơn hàng từ webstie của công ty,….
 Sử dụng đội ngũ nhân viên bán hàng bên ngoài đến chào hàng, giới thiệu sản phẩm
với các doanh nghiệp thiết kế nội, ngoại thất nhằm ký kết hợp đồng cung cấp ghế
xoay cho các doanh nghiệp này khi họ cần đến sản phẩm ghế ngoại thất cho các
công trình thiết kế phù hợp.
 Tham gia đấu thầu và làm nhà đấu thầu phụ trong các cuộc đấu thầu liên quan đến
công trình xây dựng khu chung cư, trường học, công viên,…để cung cấp sản phẩm
ghế xoay cho khuôn viên của các công trình này.
-

11


-

3.4.3. Xây dựng dịch vụ khách hàng
Dịch vụ tư vấn: tư vấn về trong thời gian hành chính về sản phẩm, cách thức mua và
giao hàng qua điện thoại, website.
Dịch vụ giao hàng và lắp đặt:

Với doanh nghiệp thiết kế nội, ngoại thất:
 Miễn phí giao hàng cho các doanh nghiệp trong nội thành Hà Nội. Ngoài ra công

ty sẽ hỗ trợ giao hàng giúp đại lý đến nơi người mua lô hàng với số lượng lớn và
phù hợp với tuyến đường.
 Thời gian giao hàng từ 1-3 ngày ( kể cả cuối tuần, nghỉ lễ) đối với lượng hàng nhỏ.

Với lượng hàng lớn sẽ do 2 bên cùng thương lượng.
Với khách hàng tổ chức mua trực tiếp tại công ty qua website:
 Giao hàng trong vòng 1-3 ngày với khách hàng nội thành, miễn phí giao hàng và

lắp đặt.
 Giao hàng tận nơi trong vòng 1-7 ngày tùy khu vực xa gần và số lượng đơn đặt

hàng với khách hàng các tỉnh khác, phí giao hàng hợp lý tính theo khu vực địa lý.
Với khách hàng cá nhân mua qua website:
 Giao hàng trong vòng 1-3 ngày trong nội thành Hà Nội, xa hơn thì thời gian giao

có thể lâu hơn.
 Phí giao dựa trên vị trí khu vực địa lý
 Miễn phí lắp đặt.

-

Dịch vụ chăm sóc khách hàng:
 Xây dựng các kênh thông tin để khách hàng có thể dễ dàng tiếp cận thông tin về
công ty, sản phẩm, giá cả, phương thức mua và thanh toán, giao hàng,…: website,
hotline, email,…
 Các thông tin góp ý, khiếu nại về sản phẩm được xử lý kịp thời.
 Đưa ra kế hoạch đổi trả sản phẩm hợp lý.
 Đo lường mức độ thỏa mãn của khách hàng 2 lần/năm.
3.5.
Tung sản phẩm mới

Mỗi quyết định trong việc tung sản phẩm mới ra thị trường đều có ảnh hưởng đến sự
thành công hay thất bại của sản phẩm. Nhóm tập trung vào bốn quyết định: về thời điểm,
12


địa điểm, kênh phân phối và hoạt động truyền thông cho giai đoạn tung sản phẩm mới ra
thị trường.
-

Thời điểm :

Nhóm dự định tung sản phẩm mới ra thị trường vào khoảng giữa tháng 5. Đây là thời
điểm miền Bắc đang trong mùa hè, những cơn mưa rào cùng với những bất tiện mà nó
gây ra có thể là yếu tố khiến những lợi ích mà ghế xoay hai mặt đem lại được người sử
dụng nhìn nhận một cách rõ ràng hơn.
-

Địa điểm:

Kế hoạch ra mắt sản phẩm ghế xoay hai mặt sẽ được lồng ghép trong một sự kiện tổ chức
tại khu đô thị Ecopark. Được xây dựng và phát triển dựa trên mối tương quan cân bằng
giữa không gian đô thị và môi trường tự nhiên, khu đô thị Ecopark là một trong những dự
án quy mô lớn nhất miền Bắc, đem đến một không gian xanh cho cuộc sống tươi đẹp.
Quan trọng hơn, nhóm muốn chọn khu đô thị này vì thông điệp xuyên suốt Ecopark đem
đến là về một môi trường sống tiện nghi, hiện đại nhưng vẫn hài hòa cùng thiên nhiên.
Ghế xoay hai mặt với ý tưởng giúp mọi người dễ dàng hơn trong việc thích nghi với
những cơn mưa cũng như thời tiết bất thường sẽ có thể nhận được sự chào đón tích cực từ
những cư dân ở khu đô thị, cũng như dễ dàng hơn trong việc thuyết phục ban quản lý dự
án đầu tư sử dụng.
-

Hoạt động truyền thông:
 Xác định là một sản phẩm bổ sung nhằm gia tăng giá trị của sản phẩm chính. Trong
thời điểm ra mắt sản phẩm, hoạt động truyền thông cho ghế xoay hai mặt sẽ được
kết hợp cho truyền thông cho sự kiện tại khu đô thị Ecopark. Nội dung thông điệp
cho ghế xoay hai mặt cũng sẽ được kết hợp trong nội dung của sự kiện diễn ra với
ý tưởng về một giải pháp sáng tạo cho những ngày trời mưa, tiện lợi, hài hòa với
thiên nhiên.
 Mục tiêu của hoạt động truyền thông: làm cho người dân thành phố Hà Nội, trước
hết là cư dân trong khu đô thị Ecopark biết đến sản phẩm ghế xoay hai mặt và sự ra
mắt của sản phẩm này trong sự kiện sắp diễn ra.
 Đối tượng nhận tin mục tiêu: người dân thành phố Hà Nội, cụ thể hơn là cư dân
trong khu đô thị Ecopark.
 Các kênh truyền thông online, mạng xã hội: Youtube, Facebook. Chia sẻ, lan truyền
những hình ảnh, thông tin về thời tiết Hà Nội với những cơn mưa ẩm ướt, những
bất tiện nó gây ra, gợi mở về một giải pháp sáng tạo là chiếc ghế xoay hai mặt và
sự ra mắt trong sự kiện sắp diễn ra.

13


 Quảng cáo ngoài trời: băng rôn giới thiệu tại khu đô thị Ecopark, quảng cáo trên

-

-

-

-

-

phương tiện giao thông: xe bus, trạm dừng xe bus, ….
3.6.
Quản lý việc tung sản phẩm
3.6.1. Xác định các vấn đề phát sinh
Chưa nhận thức được nhu cầu tổng thể của khách hàng với sản phẩm mới: Hiểu rõ
rằng khách hàng mong muốn những sản phẩm tiện ích phục vụ cho nhu cẩu nhưng lại
chưa nhận diện được mức độ chấp nhận của khách hàng với một loại sản phẩm hoàn
toàn mới.
Kế hoạch sản xuất các sản phẩm có phù hợp với nhu cầu của thị trường hiện nay hay
không?
Khả năng thành công của sản phẩm ghế xoay là bao nhiêu? Có còn cơ hội để phát
triển những sản phẩm thế hệ mới hơn hay không?
Nếu sản xuất quá ít, không đủ số lượng bán.
Nếu sản xuất nhiều: nếu khách hàng có nhiều góp ý cho sản phẩm, thì số lượng sản
phẩm phải bỏ đi, để cải tiến sản phẩm gây tổn thất cho doanh nghiệp
Thời gian tung sản phẩm có thể đủ để đối thủ cạnh tranh kịp thời bắt chước hay cải
thiện những sản phẩm sẵn có để đưa ra một sản phẩm hoàn thiện hơn, khả năng cạnh
tranh cao hơn, do sản phẩm lần này sử dụng công nghệ sản xuất không quá phức tạp,
các yếu tố như chất liệu, kiểu dáng có thể mô phỏng lại được.
Đối tượng khách hàng mục tiêu hướng đến lần này chủ yếu là khách hàng tổ chức,
đây là những đối tượng có hành vi mua khó thay đổi, nên việc thuyết phục họ nhận
thức được những giá trị của sản phẩm mới là rất khó.
Chương trình lần này sử dụng công cụ chủ yếu là bán hàng trực tiếp và giới thiệu sản
phẩm qua tổ chức các sự kiện. Những hoạt động này tiêu tốn chi phí khá lớn, tuy
nhiên mức độ hiệu quả có đủ để bù lại phần chi phí bỏ ra hay không?
Những hoạt động liên tiếp có tiêu tốn nhiều nguồn lực và gây phản ứng phụ cho
khách hàng hay không?
3.6.2. Lựa chọn vấn đề

Trong chương trình tung sản phẩm mới lần này, nhóm sẽ tập trung đánh giá các vấn đề
dựa trên các góc độ: Khách hàng, đối thủ cạnh tranh, sản phẩm, hoạt động truyền thông.
-

Khách hàng: Trước khi tung sản phẩm cần nắm bắt được nhu cầu chung nhất về sản
phẩm ghế xoay, đánh giá được sự quan tâm và mức độ hấp dẫn của khách hàng thông
qua quá trình thử nghiệm sản phẩm, hoặc các sự kiện giới thiệu sản phẩm. Đặc biệt
chú trọng thu nhận các ý kiến phản hồi, đóng góp từ khách hàng để nhận diện được
những nhu cầu, mong muốn, rào cản. Từ đó, đáo ứng nhu cầu, hạn chế tối thiểu những
rào cản khách hàng gặp phải, làm gia tăng khả năng tiêu dùng sản phẩm ghế xoay.
14


-

-

-

Sản phẩm: Thường xuyên tiếp nhận ý kiến từ khách hàng, để đưa ra những cải tiến
sản phẩm hiện có, từ đó đưa ra ý tưởng phát triển những sản phẩm mới hơn, đồng thời
tìm thấy những thị trường ngách cho sản phẩm ghế xoay.
Đối thủ cạnh tranh: Do hiện nay chưa có doanh nghiệp nào có một sản phẩm tương tự
như ghế xoay, nên chưa thể định hình cụ thể ai là đối thủ cạnh tranh. Trong giai đoan
tung sản phẩm ra thị trường, bộ phận marketing cần quan sát và nhận diện các đối thủ
tiềm ẩn (những doanh nghiệp cùng sản xuất bàn ghế), từ đó đưa ra những chiến lược
cạnh tranh hợp lý.
Truyền thông: Do khách hàng lần này của sản phẩm ghế xoay chủ yếu là khách hàng
tổ chức nên truyền thông lần này vẫn tập trung vào các sự kiện giới thiệu, và hoạt
động bán hàng trực tiếp. Tuy nhiên để tránh sự lãng phí nguồn lực, cần đánh giá và
chỉ tập trung vào những sự kiện mang lại kết quả cao, không triển khai quá nhiều
chương trình nhưng không mang lại kết quả.
3.6.3. Phương án dự phòng

Để bổ sung cho kế hoạch truyền thông, ngoài tổ chức sự kiện tại khu đô thị Ecopark,
nhóm đề xuất thêm kế hoạch truyền thông qua video được phát trên web công ty,
youtube, facebook,…với thông điệp: “Mang tiện ích đến khuôn viên sống của bạn”. Đợt
quảng cáo này sẽ diễn ra vào giai đoạn giới thiệu và phát triển của sản phẩm.

3.6.4. Thiết kế hệ thống theo dõi, đánh giá

Thiết kế các chỉ tiêu theo dõi đánh giá bao gồm các chỉ tiêu:
Lập bảng kế hoạch thực hiện chiến lược theo từng giai đoạn cụ thể của quá trình tung
sản phẩm: thời gian, nhiệm vụ, người thực hiện, mục tiêu kế hoạch, ngân sách dự kiến
chp từng giai đoạn của kế hoạch,…
- Doanh thu, doanh số bán hàng trong từng giai đoạn của quá trình tung sản phẩm.
- Ước lượng những chỉ số: số lượng công chúng mục tiêu tiếp cận thông điệp truyền
thông sản phẩm (thông qua các sự kiện, email, tương tác trên fb,…).
- Sau khi thiết lập những chỉ tiêu đánh giá cần thiết, cần thu thập những số liệu thực tế
tương đương, để từ đó đánh giá:
 Khả năng thực hiện chiến lược theo kế hoạch đã đề ra.
 Hiệu quả hoạt động của từng giai đoan của kế hoạch.
 Khả năng hoàn thành mục tiêu marketing đã đề ra.
-

15


16



x

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×