Tải bản đầy đủ

skkn một số biện pháp giúp trẻ 5 – 6 tuổi tiếp cận phương tiện công nghệ thông tin tại trường mầm non hoa phượng

MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP TRẺ 5 -6 TUỔI TIẾP CẬN PHƯƠNG
TIỆN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TẠI TRƯỜNG
MẦM NON HOA PHƯỢNG
I. Phần mở đầu:
1. Lý do chọn đề tài:
Như chúng ta đã biết, Sự phát triển như vũ bão của ngành khoa học và
công nghệ đã đem lại những thành tựu to lớn trong mọi hoạt động của con
người, để đáp ứng được sự phát triển chung và nhu cầu thực tế của xã hội thì
việc vận dụng công nghệ thông tin và các trang thiết bị hiện đại vào dạy học là
hết sức cần thiết. Cùng với sự đổi mới về phương pháp và hình thức dạy để nâng
cao chất lượng dạy học của hệ thống giáo dục quốc dân nói chung thì ngành
Giáo dục Mầm non nói riêng cũng cần có những đổi mới nhằm phát huy mạnh
mẽ hơn vai trò chủ thể giáo dục. Nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, ngành
giáo dục Mầm Non là mắt xích đầu tiên trong việc thực hiện nhiệm vụ đào tạo
nguồn nhân lực và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào trong giảng dạy.
Hiện nay các trường Mầm non có điều kiện đầu tư, trang bị một số phương tiện
công nghệ như máy tính, ti vi, máy chiếu, bảng tương tác, các phần mềm trò
chơi…tạo điều kiện cho người giáo viên mầm non ứng dụng Công nghệ thông
tin vào trong giảng dạy và trẻ được tiếp cận với phương tiện Công nghệ thông
tin trong quá trình học. Công nghệ thông tin phát triển đã mở ra những hướng đi
mới cho ngành giáo dục, giúp giáo viên luôn luôn cập nhật thông tin một cách

chính xác, hiệu quả, truyền tải kiến thức nhanh tới trẻ.
Bản thân với kinh nghiệm nhiều năm chủ nhiệm lớp 5 -6 tuổi và kinh
nghiệm trong chỉ đạo hoạt động chuyên môn của nhà trường, tôi đã nhận thấy
được việc cho trẻ tiếp cận với công nghệ thông tin có ý nghĩa to lớn trong giáo
dục nhằm giúp trẻ phát triển toàn diện như: trí tuệ, đạo đức, thẩm mỹ, ngôn
ngữ, thể chất…giúp trẻ nhận biết thế giới xung quanh, giúp trẻ giao tiếp với mọi
người một cách sinh động hơn, sát thực hơn. Bên cạnh đó còn giúp trẻ hứng thú
trong học tập, vui chơi, và vận dụng sự hiểu biết, khả năng của trẻ vào hoạt động

1


hằng ngày đạt hiệu quả cao. Mặt khác, trẻ được tiếp cận với Công nghệ thông tin
ngay từ lứa tuổi Mầm non sẽ tạo tiền đề cho những bậc học tiếp theo. Điều này
làm tôi suy nghĩ cố gắng tìm tòi mọi biện pháp như soạn giáo án điện tử, sáng
tác trò chơi điện tử, sưu tầm trò chơi, sử dụng những phần mềm tin học như
Photoshop, Kidspix, Kidsmart, Happykids... vận dụng vào các hoạt động hằng
ngày nhằm kích thích trẻ tự nguyện tham gia vào hoạt động một cách tích cực,
nhẹ nhàng thoải mái. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện bản thân tôi cũng gặp
một số vần đề như trẻ chưa mạnh dạn trong việc tiếp cận, thao tác sử dụng trên
máy tính, nhấp chuột của trẻ chưa có. Bản thân hạn chế về ngoại ngữ gây ảnh
hưởng đến việc sử dụng các phần mềm giáo dục và các thiết bị Công nghệ thông
tin hiện đại. Ngoài ra một số đề tài lựa chọn ứng dụng công nghệ thông tin chưa
đạt hiệu quả và còn lạm dụng máy móc quá nhiều không có ch cho trẻ hoạt
động, trẻ trở nên thụ động, nhàm chán.
Chính vì thế tôi đã thực hiện đề tài Một số biện pháp giúp trẻ

– 6 tuổi

tiếp cận phương tiện công nghệ thông tin tại Trường Mầm non Hoa Phượng”
làm đề tài sáng kiến kinh nghiệm của mình nhằm tập hợp những kinh nghiệm
mà cá nhân mình tích lũy được trong quá trình thực hiện ứng dụng Công nghệ
thông tin nhằm phá vỡ những rào cản mà bản thân đã mắc phải cũng như cho trẻ
tiếp cận phương tiện Công nghệ thông tin trong quá trình giảng dạy.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
Mục tiêu: Ứng dụng phương tiện công nghệ thông tin nhằm giúp trẻ tiếp
cận bổ sung kiến thức một cách nhạy b n và hứng thú trong học tập.
Nhiệm vụ: Tìm ra những biện pháp, giải pháp thuyết phục trong quá trình
ứng dụng Công nghệ thông tin để giúp trẻ tiếp cận công nghệ thông tin trong các
tiết học (vd: Khám phá khoa học, làm quen chữ cái, làm quen với toán,…), trong

hoạt động vui chơi, mọi lúc mọi nơi.
3. Đối tượng nghiên cứu:
Một số biện pháp giúp trẻ

-6 tuổi tiếp cận phương tiện Công nghệ thông

tin tại trường Mầm non Hoa Phượng.

2


4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu:
Học sinh Lớp Lá 1 trường Mầm non Hoa Phượng.
5. Phương pháp nghiên cứu:
Sử dụng phương pháp quan sát, tìm tòi học hỏi qua các trang web để tìm tài
liệu. Các phần mềm violet, activprive, powerpoint,...Kinh nghiệm, sách báo,…
Phương pháp sử dụng lời nói để trò chuyện với trẻ, khơi gợi những gì trẻ
muốn tìm hiểu, trẻ cần gì và thích điều gì.
Phương pháp trực quan sinh động thông qua các tiết học.
Phương pháp thực hành khi cho trẻ chơi trò chơi, các phần mềm tin học
trên máy tính,…
II.Phần nội dung
1. Cơ sở lý luận
Xuất phát từ các văn bản chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc đẩy
mạnh ứng dụng Công nghệ thông tin vào trong công tác quản lý và tổ chức các
hoạt động chăm sóc Giáo dục trẻ. Hiện nay các trường Mầm non đều được trang
bị máy tính và nối mạng internet, trang Wed nội bộ. Đây là điều kiện thuận lợi
cho các Nhà trường trong việc đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức các
hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ nhưng cũng là những thách thức đối với đội
ngũ cán bộ giáo viên đặc biệt là đội ngũ cán bộ giáo viên mầm non hiện nay.
Ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ là
nâng cao một bước cơ bản chất lượng học tập của trẻ, tạo ra một môi trường
giáo dục mang tính tương tác cao chứ không đơn thuần như kiểu truyền thống.
Trẻ được khuyến khích và tạo điều kiện chủ động để trải nghiệm, thể hiện khả
năng và ý kiến của bản thân được tạo mọi cơ hội để phát huy tính chủ động,
sáng tạo của mình.
Ứng dụng CNTT vào trong các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ là cho trẻ
được tiếp cận với môi trường đa phương tiện kết hợp hình ảnh vedeo, camera,

3


âm thanh, chữ cái…được trình bày qua máy tính theo kịch bản vạch sẵn nhằm
đạt hiệu quả tối đa qua một quá trình học đa giác quan. Kỹ thuật đồ họa cao có
thể mô phỏng nhiều quá trình, hiện tượng thiên nhiên, các hình ảnh sống động
mà theo phương pháp truyền thống thì khó mà thực hiện được.
Cho trẻ tiếp cận với công nghệ thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin
vào trong giảng dạy ở trường Mầm Non được diễn ra rất linh hoạt theo hai hình
thức chính: hình thức trong giờ hoạt động chung và các hoạt động khác. Việc
lựa chọn hình thức cho trẻ làm quen và tiếp cận dựa trên đặc điểm tình hình của
trẻ do đó buộc người giáo viên phải lựa chọn hình thức cho phù hợp với trẻ làm
sao để trẻ dễ dàng tiếp thu. Qua đó ta thấy được sự cần thiết của việc cho trẻ
tiếp cận với công nghệ và ứng dụng công nghệ thông tin vào trong giảng dạy
và lựa chọn hình thức cho trẻ làm quen với công nghệ thông tin là yếu tố tạo tiền
đề cho sự thành công sau này của trẻ.
. Th c t ạng
a. Thuận lợi, khó khăn
* Thuận lợi
Nhà trường luôn sát sao chỉ đạo giáo viên về chuyên môn, thường xuyên
dự giờ thăm lớp để nâng cao chất lượng giảng dạy.
Lớp có đầy đủ cơ sở vật chất phương tiện công nghệ, trang thiết bị, đồ dùng
đồ chơi phục vụ giảng dạy.
Bản thân thường xuyên tham dự những buổi thao giảng, dự giờ, thi giáo
viên giỏi các cấp, hội giảng, chuyên đề có ứng dụng công nghệ thông tin do
trường, phòng giáo dục tổ chức.
Khó khăn
Bản thân chỉ mới tìm tòi học hỏi cách soạn và tạo giáo án trên các phần
mềm chưa được học qua các lớp bài bản.

4


Do Phụ huynh học sinh chủ yếu là làm nông, với tính chất công việc là
bận rộn, chân lấm tay bùn nên cũng không có thời gian để rèn trẻ, cũng chỉ có
một số phụ huynh nhà có máy vi tính nhưng chưa dám cho trẻ tiếp cận.
Có một trẻ khuyết tật như b Thúy Nga (Bệnh đao) tiếp cận thông tin của
trẻ cũng bị hạn chế.
Qua khảo sát đầu năm khoảng 70% trẻ ở lớp chưa được tiếp xúc với công
nghệ thông tin.
b. Thành công, hạn chế.
* Thành công:
100% Trẻ hứng thú và nhận thức tốt khi được làm quen và tiếp cận công
nghệ thông tin trong tiết học (Khám phá khoa học, làm quen chữ cái, làm quen
với toán, làm quen với văn học…)
* Hạn chế:
Khả năng và nhận thức của trẻ chưa đồng đều và còn hạn chế.
Một số trẻ chưa biết sử dụng máy tính như: di chuyển chuột, nhấp đôi, rê
chuột….
c. Mặt mạnh, mặt yếu
* Mặt mạnh:
Trẻ luôn mong đợi và hứng thú khi được tham gia tiết dạy có giáo án điện
tử. Một số trẻ ở gia đình đã có máy tính nên trẻ đã được tiếp xúc nhiều nên trẻ
nhanh nhẹn và thực hiện tốt khi cô hướng dẫn cách cầm chuột, rê chuột, bấm
chuột để chọn,…
* Mặt yếu:
Việc sử dụng máy móc vào trong tiết học chưa được thường xuyên vì máy
móc rườm rà, giáo viên chưa có máy tính xách tay. Dễ xảy ra dán đoạn khi dạy
như máy hỏng, mất điện,…
d. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động.

5


Qua quá trình chăm sóc và giáo dục trẻ bản thân luôn gặp khó khăn trong
việc tìm các tư liệu làm đồ dùng trực quan khi lên lớp. Việc áp dụng một số
phương tiện công nghệ trong giảng dạy là điều cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn.
(ví dụ: Có hình ảnh thực, có âm thanh,…)
Bên cạnh đó có các yếu tố chưa tốt ảnh hưởng đến quá trình sử dụng và
áp dụng đề tài như: Khả năng nhận thức của trẻ chưa đồng đều. Sự phối hợp
giữa cha mẹ học sinh với giáo viên còn lỏng lẻo.
e. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra.
Thực hiện chương trình chăm sóc giáo dục trẻ theo hướng tích hợp
Hướng vào trẻ, trẻ là trung tâm”. Đó là quan niệm mọi tác động giáo dục phải
vì lợi ích của trẻ. Trẻ là người khởi xướng các hoạt động, trẻ được khuyến khích
tham gia vào quá trình giáo dục chứ không thụ động. Trẻ được học qua chơi,
qua khám phá thử nghiệm bằng các giác quan. Người lớn giữ vai trò trung
gian”. Tổ chức môi trường, tạo điều kiện cho trẻ hoạt động nhằm phát huy hứng
thú, nhu cầu và năng lực của trẻ.
Hiện tại trong trường về cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ cho việc
giảng dạy ở các lớp lá phân hiệu chính tương đối đầy đủ, m i lớp có 1 máy vi
tính và 1 ti vi màn ảnh rộng. Nhà trường luôn sát sao chỉ đạo giáo viên về
chuyên môn, thường xuyên dự giờ thăm lớp để nâng cao chất lượng giảng dạy.
Bản thân thường xuyên tổ chức, tham gia những buổi thao giảng, dự giờ, thi
giáo viên giỏi các cấp, hội giảng, chuyên đề có ứng dụng công nghệ thông tin tại
trường, cụm, phòng giáo dục . Từ đó rút ra được những kinh nghiệm, những bài
học để tạo nên những tiết dạy sử dụng công nghệ thông tin đem kiến thức mới lạ
đến cho trẻ. Được học thông qua một số phương tiện công nghệ trẻ được mở
mang thêm kiến thức mà những tiết học sử dụng phương pháp truyền thống
không thể có được (ví dụ: hình ảnh động, video, âm thanh,…), trẻ được học qua
những trò chơi mang tính tư duy và sáng tạo, những phần mềm giáo dục
(Kismart: Ngôi nhà không gian, thời gian của Trudy, ngôi nhà khoa học của
Sammy, ngôi nhà toán học của Mili, ngôi nhà sách của Happykid…) trẻ được

6


thực hành ngay tại lớp và cô giáo có thể phát hiện ra trẻ nào có khả năng nhanh,
chậm,…Từ những thực trạng trên với những thuận lợi nhưng cũng không ít khó
khăn bản thân chỉ mới tự tìm tòi học hỏi cách soạn và tạo giáo án trên các phần
mềm mà chưa qua các lớp đào tạo bài bản. Bên cạnh đó phụ huynh học sinh chủ
yếu là làm nông, với tính chất công việc là bận rộn, chân lấm tay bùn nên cũng
không có thời gian để rèn trẻ, cũng chỉ có một số phụ huynh nhà có máy vi tính
nhưng chưa dám cho trẻ tiếp cận. Qua khảo sát đầu năm khoảng 70% trẻ ở lớp
chưa được tiếp xúc với công nghệ thông tin.
Thực hiện đề tài Một số biện pháp giúp trẻ -6 tuổi tiếp cận phương tiện
công nghệ thông tin tại trường Mầm non Hoa Phượng” bản thân luôn khắc phục
những thực tiễn khó khăn, mặt yếu để tìm ra những biện pháp phù hợp với khả
năng của trẻ giúp trẻ học tập đạt kết quả tốt nhất.
3. Biện pháp
a. Mục tiêu của biện pháp
Trẻ hứng thú và nắm được kiến thức sâu hơn khi tham gia các hoạt động
có sự can thiệp của phương tiện công nghệ thông tin.
Trẻ biết được những kỹ năng cơ bản khi sử dụng máy tính, đàn,…
Thay đổi trạng thái, không khí trong tiết học bằng những hình ảnh,
những video sinh động, tiếng kêu sinh động khơi dậy sự sáng tạo trong tâm hồn
trẻ.
Trẻ có một số thói quen tốt khi sử dụng công nghệ thông tin ở lớp và ở
nhà (vd: chơi xong biết tắt máy, sử dụng chuột,...)
Thông qua các tiết dạy có sự can thiệp của công nghệ thông tin trẻ hứng
thú và nhận thức tốt hơn, đầy đủ và sáng tạo hơn.
Các bậc cha mẹ học sinh nhận thức rõ tầm quan trọng khi cho trẻ tiếp cận
với các phương tiện công nghệ thông tin đúng cách.
b. Nội dung và cách thức th c hiện biện pháp

7


* Biện pháp 1: Biện pháp giúp t ẻ tiếp cận với công nghệ thông tin và
những kết quả đạt được:
Để giúp trẻ tiếp cận phương tiện CNTT đạt hiệu quả trong hoạt động
giảng dạy. Tôi đã tiến hành một số phương pháp :
Nắm đặc điểm tâm sinh lý của trẻ trong lớp:
Cấu tạo cơ thể, cơ tay của trẻ

tuổi còn yếu, chưa linh hoạt nên đối với

việc gõ bàn phím còn gặp nhiều khó khăn, sử dụng chuột và thực hiện một số
câu lệnh đơn giản như nhấp chuột 2 lần trẻ chưa thực hiện được.
Mắt trẻ còn yếu nên thời gian tiếp xúc với máy tính rất ngắn không qúa
30 phút đồng thời giáo viên cũng không quên nhắc trẻ khoảng cách cũng như tư
thế khi ngồi trước máy tính.
Trẻ chưa ý thức được việc cần thiết hay không cần thiết khi được tiếp
cận với Công nghệ thông tin nếu không được sự định hướng, hướng dẫn của
người lớn hoặc giáo viên.
Trẻ ít được tiếp xúc với máy vi tính, công nghệ thông tin vì đa số phụ
huynh làm nông chưa quan tâm đến việc học của trẻ.
Chính vì dựa vào những đặc điểm của trẻ đòi hỏi giáo viên cần phải chú
ý đến trẻ và tìm ra những biện pháp tạo điều kiện khi được học, chơi trên máy
tính như hướng dẫn tiếp xúc thường xuyên với máy tính, cho trẻ được chơi với
các phần mềm: ban đầu giáo viên có thể cầm tay hướng dẫn, khi trẻ đã thành
thục thì cho trẻ tự thực hiện.
Phối hợp cùng phụ huynh
Hầu hết gia đình các trẻ không có máy vi tính vì gia đình không sử dụng
máy vi tính hoặc cũng có một vài gia đình trẻ có máy vi tính trẻ vẫn không được
sử dụng máy vi tính bởi phụ huynh không có thời gian và cũng không muốn cho
trẻ tiếp xúc với máy vi tính vì đa phần phụ huynh rất e ngại trong việc cho trẻ
tiếp xúc với máy sớm và sợ b sẽ phá lung tung. Hiểu được suy nghĩ và những
lo lắng đó, bản thân tôi đã trực tiếp giải thích và động viên phụ huynh phối hợp

8


cùng tôi. Tôi nhận thấy rằng lời nói, giải thích chưa thực sự tác động đến phụ
huynh nên tôi đã xây dựng những giáo án điện tử hấp dẫn, sử dụng hình ảnh sinh
động, lạ mắt, mời phụ huynh tham gia dự giờ tiết học của trẻ, cho trẻ tiếp cận, sử
dụng Công nghệ thông tin, trẻ được lên nhấp chuột, chọn hình ảnh…để phụ
huynh tận mắt chứng kiến và tin tưởng tuyệt đối vào giáo viên, từ đó thay đổi
nhận thức về việc cho trẻ tiếp cận Công nghệ thông tin tại nhà. Ngoài ra tôi còn
trao đổi với phụ huynh về một số trò chơi trên đĩa phù hợp với trẻ như: b vui
học chữ, b tập tô màu, Kidsmart…khuyến khích phụ huynh mua đĩa về cho các
cháu chơi.
Cô trực tiếp hướng dẫn trẻ
Buổi chiều trong giờ hoạt động chiều, giờ trả trẻ, trong khi chờ phụ huynh
đến đón tôi sử dụng máy vi tính để mở nhạc thiếu nhi, phim hoạt hình cho trẻ
nghe một vài cháu tò mò tiến lại gần và hỏi tôi đã hướng dẫn và chỉ rõ từng phần
của máy vi tính cho trẻ biết nó giúp chúng ta rất nhiều việc như: đánh chữ, nghe
nhạc, vẽ hình ngoài ra các con còn có thể chơi rất nhiều trò chơi. Tôi giới thiệu
qua cho trẻ biết về các bộ phận của máy tính gồm: màn hình, con chuột, bàn
phím, CPU…. Sau đó tôi làm chậm một số thao tác cho trẻ xem như: khởi động
máy, cách rê chuột, nhấp chuột chọn biểu tượng, thoát chương trình… M i buổi
như vậy, tôi lựa chọn vài trẻ lên chỉ dẫn cho trẻ làm thử thao tác. Ban đầu các trẻ
hơi lúng túng trong việc rê chuột đến biểu tượng và khó mà nhấp liên tục được 2
cái nên tôi đã chỉ b nhấp vào rồi nhấn Enter, tôi đã cầm tay b thực hiện. Sau
đó cho trẻ tự làm lại vài lần và trẻ đã thực hiện được. Vì có một máy nên không
thể cho tất cả trẻ đều thực hiện cùng một lúc được vào những lúc đón trẻ, trả trẻ,
giờ chơi tôi đã cùng với giáo viên đứng lớp với mình lần lượt hướng dẫn cho các
b nắm được một số thao tác cơ bản về việc sử dụng máy tính.
Thông qua trò chơi
Vào giờ hoạt động vui chơi hay hoạt động chiều, giờ trả trẻ thôi thường
cho trẻ được làm quen sử dụng máy vi tính. Để kích thích sự hứng thú của trẻ,
thu hút các b thì tôi đã mua đĩa B vui học chữ”, B tập tô màu” và về cài

9


vào máy để cho các cháu chơi, thông qua việc các cháu chơi tô màu, thì các cháu
phải sử dụng những lệnh cơ bản và biết cách sử dụng chuột thành thạo hơn, qua
trò chơi nhỏ tôi còn hướng dẫn các b thêm một số lệnh như: back (trở về), xóa
hay lưu các bức tranh sau khi tô màu…). Qua trò chơi các cháu biết cách rê
chuột nhanh, chính xác hơn, thậm chí có cháu đã biết nhấp chuột được 2 cái liên
tục. Ngoài ra, qua trò chơi còn phát triển về mặt thẩm mỹ cho trẻ. Tôi luôn chú ý
đến trẻ yếu cho trẻ chơi với trẻ đã biết, đã nắm vững để trẻ tự học lẫn nhau. Sau
khoảng vài tuần lớp tôi đã tương đối biết thực hiện một số lệnh cơ bản và mạnh
dạn hơn khi sử dụng máy.
Sau một thời gian cho các b làm quen với máy vi tính, tôi thấy các b rất
mạnh dạn khi tôi trình chiếu một vài chương trình cho các bạn xem ( tôi cho trẻ
quây quần bên máy vi tính và mở cho trẻ xem vì điều kiện trường không có máy
chiếu).
* Biện pháp : Hình thức cho t ẻ làm quen với máy vi tính qua giờ
hoạt động chung.
Cho trẻ tiếp cận với Công nghệ thông tin trong các Hoạt động chung sẽ
đem lại hiệu quả cao nếu giáo viên biết cách xây dựng và sáng tạo trong tiết học
như sử dụng hình ảnh sinh động, các hiệu ứng, các trò chơi hấp dẫn.
Trong hoạt động này sử sụng đồ dụng trực quan rất có hiệu quả. Đồ dùng
trực quan có thể là tranh ảnh, mô hình, vật thật…..đây là yếu tố không thể thiếu
được trong việc dạy trẻ, vì trẻ chỉ lĩnh hội kiến thức khi được trực tiếp tri giác
các đối tượng. Đồ dùng trực quan càng đẹp, càng hấp dẫn thì càng thu hút được
trẻ. Nắm bắt được điều này khi cho trẻ hoạt động học tập nhưng cũng có một số
đề tài, ta không thể trực tiếp cho trẻ quan sát bằng vật thật được (quan sát một số
con vật sống trong rừng, tìm hiểu về các loài chim…) cũng như muốn đảm bảo
được tiết dạy sinh động, trẻ hứng thú, hoạt động tích cực tôi đã lên mạng
Internet tìm tư liệu phục vụ tiết dạy
Ví dụ: Khi dạy trẻ tìm hiểu một số con vật sống trong rừng: trẻ cần phải
biết tên gọi, hình dáng, các bộ phận, thức ăn, nơi sống, tiếng kêu, thói quen của

10


các con thú. Nếu sử dụng tranh sẽ rất hạn chế và không mang lại hiệu quả trẻ
hoạt động tích cực. Hiểu được điều này tôi đã tìm tư liệu và xây dựng tiết dạy
trên Powerpoint. Trẻ rất hứng thú khi được quan sát video về các con vật, đặc
biệt trẻ tập trung chú ý khi được xem video các con vật đang rình bắt mồi, các
con vật đang đùa giỡn, các con vật gọi đàn …. Để trẻ không thụ động trong học
tập chỉ ngồi xem và nghe, tôi thường gọi trẻ, dùng những câu hỏi kích thích tư
duy trẻ phát triển và cho trẻ lên sử dụng máy như nhấp chuột để tìm hiểu các
con vật khác, hay lên chơi trò chơi Tìm thức ăn cho tôi”, trẻ phải nhấp chuột
vào những thức ăn mà các con vật thường ăn (sư tử ăn thịt các con vật, khỉ ăn
chuối, voi ăn mía lá cây…)
Sử dụng hiệu ứng vào trong tiết dạy giúp trẻ hứng thú:
Ví dụ: Với bài dạy Khám phá khoa học các phương tiện giao thông đường
thủy ở chủ đề Phương tiện giao thông” tôi scan những hình ảnh tàu thủy, ca nô,
ghe…. lên máy vi tính, dưới những hình ảnh có từ kèm theo. Khi dạy đến
phương tiện nào thì hình ảnh đó xuất hiện kèm theo từ, trẻ phương tiện nào học
rồi thì khi nhấp chuột vào những phương tiện đó sẽ chuyển màu. Khi cô giới
thiệu tàu thủy thì hiệu ứng sẽ chuyển màu và xuất hiện ở dạng font to, hoặc khi
phân tích tàu thủy và ghe và so sánh thì 2 phương tiện này sẽ nhấp nháy, những
nét nào giống nhau thì sẽ xuất hiện và có màu giống nhau.
Sử dụng các phần mềm giáo dục (Photoshop, Kidspix, Kidsmart,
Happykids) để trẻ được tiếp cận Công nghệ thông tin.
Tận dụng những đĩa phần mềm Kidsmart, Photoshop, Kidspix trường cấp
phát nên tôi cũng đã ứng dụng vào trong tiết dạy của mình để tiết dạy thêm phần
hiệu quả.
Ví dụ: Trò chơi: Truy tìm ẩn số”.
Trẻ sẽ lên chọn ô số nào mình thích. Ở m i ô cửa sổ sẽ có 1 câu đố về
hình dáng phương tiện, (con vật…) của đó. Bạn nào đoán đúng câu đố thì bức
tranh mới hiện ra và dưới m i bức tranh sẽ có hình ảnh và trẻ sẽ phải trả lời câu
hỏi của cô dưới bức tranh. Khi đã mở được hết tất cảc các ô cửa sổ thì 1 bạn sẽ

11


đứng lên kể lại nội dung câu chuyện dựa những bức tranh trên theo suy nghĩ của
trẻ.
Ngày nay việc giảng dạy và ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng
dạy không còn là điều mới mẻ với chúng ta, nhưng ở cấp bậc mầm non thì vấn
đề này chưa được phổ biến rộng rãi, chỉ có ở khối Lá những năm trước và năm
nay là khối Chồi được tiếp cận nhưng cũng chưa nhiều. Việc sử dụng đồ dùng
trực quan trên máy vi tính còn mang lại cho trẻ hứng thú và kích thích trẻ tham
gia vào hoạt động hơn nữa bởi trên máy vi tính các hình ảnh xuất hiện và mất đi
hay kèm theo các hiệu ứng mới lạ hấp dẫn theo ý muốn của giáo viên, trẻ sẽ tập
trung sự chú ý trước những điều mới lạ, tiết học sẽ càng đạt hiệu quả hơn.
Qua những ví dụ minh họa ở trên, tôi thấy hình thức cho trẻ tiếp cận với
máy vi tính và ứng dụng công nghệ thôn tin vào trong giờ hoạt động chung hình
thức rất cơ bản giúp người giáo viên đạt được mục đích của giờ hoạt động.
Ngoài ra tùy theo nội dung của từng nội dung và chủ đề mà giáo viên có thể lựa
chọn hình thức tổ chức giờ hoạt động phù hợp nhằm tạo ra cho trẻ một trạng thái
thật thoải mái, gần gũi với cuộc sống thực, học mà chơi, chơi nhưng mà học”
Kết quả:
Điều này quả đã mang lại cho trẻ sức hấp dẫn mới lạ, làm trẻ hứng thú
nhiều, tiếp thu được bài học tốt nhanh. Trẻ tích cực hoạt động hơn không còn
nói chuyện trong giờ học, cũng như kích thích được tư duy trẻ phát triển.
* Biện pháp 3: Hình thức cho t ẻ làm quen với máy vi tính, đàn …
hoạt động khác và qua góc học tập, hoạt động vui chơi, góc nghệ thuật
Với chương trình giáo dục mầm non mới và đổi mới trong phương pháp
giáo dục thì phương pháp dạy tích hợp nhiều nội dung cũng được lồng gh p
trong một giờ hoạt động chung. Việc cho trẻ tiếp cận với công nghệ thông tin
không chỉ được tiến hành qua các bài thơ, truyện mà còn được dạy thông qua
các giờ hoạt động chung khác như: Tạo hình, Âm nhạc,môn Khám phá khoa
học …

12


Ví dụ: ở môn Tạo hình: cho trẻ vẽ con vịt, trước khi vẽ tôi cho trẻ xem,
nghe tiếng vịt kêu trên máy vi tính. Sau đó tôi hướng dẫn trẻ vẽ, trẻ rất hứng thú
và hoạt động tích cực hơn.
Ví dụ : Ở giáo dục âm nhạc với phần trò chơi âm nhạc, tôi sử dụng đàn để
dạy trẻ hát và vận động , khi chơi trò chơi âm nhạc tôi sử dụng máy vi tính để
chơi chiếc đĩa hát kì diệu
Ví dụ: Tiết khám phá khoa học ( Chủ đề Tết và mùa xuân) dưới m i bông
hoa sẽ có 1 hình ảnh trẻ sẽ nhìn hình ảnh và nói lên hoạt động của ngày tết cổ
truyền ở Việt Nam
Hay khi cho trẻ chơi với củng cố ở tiết Khám phá khoa học chủ đề :
Phương tiện giao thông.
Như vậy, cho trẻ tiếp cận với thông tin và ứng dụng thông tin qua giờ hoạt
động chung cũng là hình thức rất cơ bản để giúp trẻ nắm đựơc những kĩ năng
cần thiết khi bước vào trường phổ thông. Bên cạnh đó thì việc tạo môi trường
cho trẻ làm quen cũng giúp trẻ ngày càng tự tin, mạnh dạn tìm hiểu khám phá
cũng không k m phần quan trọng
Cho trẻ làm quen công nghệ thông tin qua các hoạt động ngoài giờ
Theo lịch sinh hoạt hằng ngày của trẻ vào lúc 3h trẻ sẽ được ra hoạt động
chiều, ngoài việc dạy trẻ theo chương trình phân phối , Tôi còn hướng dẫn trẻ
các thao tác cơ bản khi sử dụng máy vi tính như : nhấp chuột, mở loa, xóa
(delete), quay lại (Back), nhấp đôi chuột…hay chơi các trò chơi trên máy vi tính
: Làm cho hoa đào nở (Excel), đưa thú về chuồng, chọn giày cho bạn (đĩa
Kidsmart)…trẻ rất thích.
* Biện pháp 4: Hình thức cho t ẻ tiếp cận phương tiện công nghệ
thông tin qua việc tuyên t uyền phối hợp với phụ huynh.
Hiện nay trước tình hình trẻ em quá ham chơi game đã làm cho phụ
huynh rất e ngại trong việc cho trẻ tiếp xúc với máy vi tính sớm. Họ lo sợ cho
trẻ nếu trẻ biết sử dụng máy vi tính quá sớm thì trẻ sẽ ham chơi game và một khi

13


trẻ đã quá mê mẫn với trò chơi mà ngồi lâu trên máy thì rất có hại đến sức khỏe
của trẻ. Mắt của trẻ còn yếu nên thời gian tiếp xúc với máy rất ngắn không quá
30 phút và chúng ta không quên nắm rõ khoảng cách của trẻ ngồi so với máy vi
tính. Nếu chúng ta không nhắc nhở trẻ ngồi đúng khoảng cách và tránh việc để
trẻ tha hồ ngồi trên máy tùy thích sẽ rất ảnh hưởng đến sức khỏe và dễ dẫn đến
cận thị.
Do đã được học về công nghệ thông tin và chương trình Kidsmart nên
tôi đã ứng dụng vào trong giảng dạy, bên cạnh đó tôi thường xuyên lên mạng
Internet tìm tài liệu cũng như học hỏi kinh nghiệm của các anh chị làm bên công
nghệ thông tin. Những Tài liệu như Đĩa trò chơi, chương trình giúp trẻ phát triển
tư duy như (b yêu học chữ cái, bút chì thông minh, ngôi nhà toán học,…) được
dowloand từ trên mạng về tôi thường chia sẻ với đồng nghiệp và phụ huynh như
mang USB đến lớp coppy để ở nhà trẻ có thể được luyện tập thêm.
Sau quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài tôi thấy trẻ lớp tôi rất thích
và hứng thú khi tham gia vào các hoạt động có liên quan.
c. Điều kiện để thực hiện biện pháp
Giáo viên tự tin và có một số kinh nghiệm trong việc soạn giảng trên các
công nghệ thông tin: Giáo án điện tử, đàn,…
Trường có đầy đủ trang thiết bị: Ti vi màn ảnh rộng, máy chiếu,…
Trẻ mầm non lứa tuổi - 6 tuổi. Cùng cha mẹ học sinh quan tâm đến con
em mình.
d. Mối quan hệ giữa các biện pháp
Các biện pháp có mối quan hệ tương trợ lẫn nhau là mắt xích quan trọng
liên kết từ biện pháp này qua biện pháp khác. Làm tốt nội dung của biện pháp
này đồng nghĩa với việc đã hoàn thành biện pháp kia.
e. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu.

14


100% trẻ hứng thú và nhận thức tốt hơn khi tham gia tiết học có ứng
dụng công nghệ thông tin. Giáo viên tiết kiệm được thời gian và kinh phí cho
việc làm đồ dùng vì với giáo viên mầm non hiện nay lượng công việc rất nhiều.
4. Kết quả:
Qua việc giúp trẻ tiếp cận một số phương tiện công nghệ thông tin, tôi
thấy những cháu ở lớp lá 1 tôi thực hiện đề tài tuy không hoàn toàn là đã thuần
thục với máy vi tính như các cháu ở trường có phòng máy và chương trình dạy
tin học riêng nhưng đa số các cháu đã không còn bỡ ngỡ, rụt rè khi được sử
dụng máy như ban đầu, mà hầu như các cháu đã mạnh dạn với việc sử dụng
máy, 100% các cháu đều thực hiện trên máy vi tính, trong đó 20% các cháu
thuần thục với một số lệnh cơ bản.
Đó là về trẻ, còn về bản thân trong quá trình thực hiện tôi thấy mình được
nâng cao tay nghề về chuyên môn, phương pháp, đặc biệt là hình thức dạy trẻ
linh hoạt, tự tin và sáng tạo hơn.
Việc giúp trẻ tiếp cận tin học và ứng dụng công nghệ thông tin trong
giảng dạy đã giúp tôi tiết kiệm được thời gian và kinh phí cho việc làm đồ dùng
vì với giáo viên mầm non hiện nay lượng công việc rất nhiều. Vì vậy chúng ta
phải tìm biện pháp, phương pháp để giảm bớt thời gian và lượng công việc,
nhưng hiệu quả và chất lượng giáo dục luôn được đảm bảo và thực tiễn đã
chứng minh việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy là rất cần thiết
và hiệu quả cao.
Từ việc ứng dụng trên tôi không chỉ sử dụng cho riêng mình mà tôi còn
chia sẻ những tư liệu cho đồng nghiệp để có thể ứng dụng trong tiết dạy và làm
tư liệu về sau.
Đối với cô:
Có cơ hội trao dồi kiến thức thường xuyên.
Nắm bắt chính xác tình hình và khả năng của từng trẻ để từ dó có biện
pháp sát thực hơn.

15


Đối với trẻ:
Trẻ được vui chơi sảng khoái, được tìm hiểu nhiều điều mới lạ trong thế
giới xung quanh.
Trẻ được mày mò, được thực hành một cách thực tế và đầy thích thú.
Đối với phụ huynh:
Nhận thức được tầm quan trọng trong cách dạy trẻ thông qua các công
nghệ sẵn có ở gia đình mình. Nhận thức được sự cần và đủ của trẻ ở lứa tuổi
mầm non.
III. Phần kết luận, kiến nghị
III.1. Kết luận
 Việc cho trẻ tiếp cận và sử dụng máy vi tính là việc rất cần thiết để
giúp trẻ tiếp cận gần với sự phát triển của công nghệ thông tin ngày nay và làm
tiền đề cho việc học tập tin học của trẻ.
 Việc ứng dụng phương tiện công nghệ trong giảng dạy là rất cần thiết
và bổ ích nó sẽ giúp giáo viên rất nhiều trong việc giảng dạy đem lại hiệu quả
cao trong việc tiếp thu kiến thức của học sinh và giảm bớt thời gian của chúng ta
trong việc làm đồ dùng ngoài ra những tư liệu ấy còn được sử dụng lâu dài và
nhân rộng.
 Việc tìm tòi ứng dụng phương tiện trong giảng dạy sẽ giúp chúng ta rất
nhiều về các kỹ năng sử dụng máy và kiến thức của chúng ta sẽ được mở rộng
hơn.
III. . Kiến nghị
Đối với trường:
- Thường xuyên tham mưu mua sắm trang thiết bị, máy tính, máy chiếu
phục vụ dạy học.
- Thường xuyên tổ chức các cuộc thi " Giáo án điện tử", xây dựng các trò
chơi sáng tạo, hấp dẫn trên máy tính.

16


* Đối với Phòng Giáo dục
- Phòng Giáo Dục

Đào Tạo thường xuyên mở lớp tập huấn cho tất cả

giáo viên về việc sử dụng và ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy.
Trên đây là "Một số biện pháp giúp trẻ

-6 tuổi tiếp cận với phương tiện

công nghệ thông tin tại trường Mầm non Hoa Phượng" mà tôi đã rút được trong
quá trình thực hiện đề tài. Rất mong được sự đóng góp của đồng nghiệp, của hội
đồng thẩm định sáng kiến kinh nghiệm để sáng kiến được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Buôn Trấp, ngày 20 tháng 3 năm 2016
Người viết sáng kiến

Lê Thị Quyên

* NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN
(ký tên, đóng dấu)

17


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách tâm lý học lứa tuổi (Bộ GD ĐT)
2. Các trang web về giáo dục trẻ mầm non.
3. Tài liệu hướng dẫn tổ chức hoạt động giáo dục trẻ theo lứa tuổi.
4. Hướng dẫn thực hiện chăm sóc giáo dục trẻ lứa tuổi -6 tuổi.

18


MỤC LỤC
I. Phần mở đầu:………………………………………………………......2
1. Lý do chọn đề tài:...................................................................................2
.Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài................................................................3
3. Đối tượng nghiên cứu.............................................................................3
4. Phạm vi nghiên cứu................................................................................3
5. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................3
II.Phần nội dung.........................................................................................4
II.1.Cơ sở lý luận........................................................................................4
II. . Th c t ạng..........................................................................................4
a. Thuận lợi, khó khăn.................................................................................4
b. Thành công, hạn chế c. Mặt mạnh, mặt yếu........................................5
d. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động.....................................................6
e. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra.............6
II.3. Biện pháp............................................................................................6
a. Mục tiêu của biện pháp. b. Nội dung và cách thức thực hiện biện
pháp.........6
3.1. Biện pháp giúp t ẻ tiếp cận với công nghệ thông tin và những kết
quả đạt được:.....................................................................................................7
3. . Hình thức cho t ẻ làm quen với máy vi tính qua giờ hoạt động
chung + ứng dụng công nghệ thông tin vào tiết dạy.......................................8
3.3. Hình thức cho t ẻ làm quen với máy vi tính, đàn … hoạt động
khác và qua góc học tập, hoạt động vui chơi, góc nghệ thuật ………….....11
3.4. Hình thức cho t ẻ làm quen và ứng dụng công nghệ thông tin qua
việc tuyên t uyền phối hợp với phụ huynh……………….............................14

19


c. Điều kiện để thực hiện biện pháp d. Mối quan hệ giữa các biện
pháp…15
e. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học……………………….........15
II.4. Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá t ị khoa học vấn đề
nghiên cứu.
III. Phần kết luận, kiến nghị…………………………….....................18
III.1.Kết luận………………………………………………………......18
III. .Kiến nghị……………………………………………………...19

20



x

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×