Tải bản đầy đủ

Thực trạng cải thiện điều kiện làm việc của các đơn vị sử dụng lao động tại tỉnh bình dương từ năm 2005 2010

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 3 * 2012

Nghiên cứu Y học

THỰC TRẠNG CẢI THIỆN ĐIỀU KIỆN LÀM VIỆC CỦA CÁC ĐƠN VỊ
SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TẠI TỈNH BÌNH DƯƠNG TỪ NĂM 2005-2010
Hồ Hoàng Vân*, Nguyễn Văn Chinh*

TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Kết quả đo kiểm môi trường lao động có được các đơn vị sử dụng lao động làm cơ sở để
cải thiện điều kiện làm việc hay họ chỉ thực hiện theo quy định là chưa rõ.
Mục tiêu nghiên cứu: Xác định sự cải thiện các chỉ tiêu không đạt tiêu chuẩn 3733/ QĐ-BYT về vi khí
hậu, ánh sáng, tiếng ồn, bụi, hơi khí độc của các đơn vị sử dụng lao động thực hiện kiểm tra môi trường
lao động tại TT Sức Khỏe Lao Động Môi Trường tỉnh Bình Dương từ năm 2005 đến năm 2010.
Phương pháp nghiên cứu: Thiết kế so sánh trước sau được tiến hành trên những đơn vị sử dụng lao
động thực hiện kiểm tra môi trường lao động tại TT Sức Khỏe Lao Động Môi Trường tỉnh Bình Dương.
Kết quả: Các đơn vị sử dụng lao động kiểm tra môi trường lao động đầy đủ (mỗi năm đều định kỳ
kiểm tra một lần) không cải thiện các chỉ tiêu không đạt tiêu chuẩn về vi khí hậu, ánh sáng, tiếng ồn, bụi,
hơi khí độc theo những khuyến nghị mà cơ quan chức năng cung cấp. Những đơn vị sử dụng lao động
tuân thủ không đầy đủ (kiểm tra môi trường lao động nhưng không liên tục qua các năm) chỉ cải thiện chỉ
tiêu không đạt về ẩm độ, tóc độ gió nhưng lại gia tăng tỷ lệ không đạt về ánh sáng (p<0,05).

Kết luận: Các đơn vị sử dụng lao động chưa sử dụng kết quả kiểm tra môi trường lao động để làm cơ
sở cải thiện điều kiện lao động.
Từ khóa: Môi trường lao động, vi khí hậu, ánh sáng, tiếng ồn, bụi, hơi khí độc

ABSTRACT
IMPROVEMENT OF WORKING ENVIRONMENT OF LABOR EMPLOYERS
AT BINH DUONG PROVINCE FROM 2005 TO 2010.
Ho Hoang Van, Nguyen Van Chinh
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 16 - Supplement of No 3 - 2012: 610 - 612
Background: The question for the labor employers that do they base on the results of annual checking
in order to improve the working environment or they just made prescribed without regard to the
improvement of working conditions is known of the motivation underlying these practises.
Objectives: To verify the improvement of working environment from uncompleted targets of standard
no. 3733/QĐ-BYT such as microclimate, light, noise, dust, toxic gas that do checking of working
environment at Center for occupational and environmental health at Binh Duong province from 2005 to
2010.
Method: A comparative study was conducted among the labor employers checked up working
environment at center for occupational and environmental health at Binh Duong province.
Results: Labor employers had a good compliance with the regulations of checking up but had failed in
the improving working environment such as microclimate, light, noise, dust, toxic gas which were

∗ Trung tâm Sức Khỏe Lao Động Môi Trường Bình Dương
Tác giả liên lạc: BS.CKI. Hồ Hoàng Vân
ĐT: 0913639018

Email: hovan@yahoo.com.vn

Chuyên Đề Y Tế Công Cộng


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 3 * 2012

Nghiên cứu Y học

reminded by the authorities. However, the others with a median compliance just had complied with the
humidity and wind-speed improving but against the light (p<0.05).
Conclusion: Labor employers have not applied the result of checking up working environment for the
improving working environment.
Keyword: Working environment, microclimate, light, noise, dust, toxic gas


ĐẶT VẤN ĐỀ
Nghiên cứu tại Bình Dương năm 2009
cho thấy các đơn vị sử dụng lao động chỉ
kiểm tra môi trường lao động khi họ nhận
thức đúng về các quy định của nhà nước về
vệ sinh an toàn lao động, đang áp dụng tiêu
chuẩn quản lý chất lượng, số lượng người lao
động của đơn vị sử dụng lao động trên 300,
thanh tra liên ngành yêu cầu, đặc biệt được
đối tác kinh doanh yêu cầu là điều kiện tiên
quyết để họ tuân thủ các quy định của pháp
luật(2)(4). Tuy nhiên, những khuyến nghị trên
cơ sở kết quả đo kiểm môi trường lao động
hằng năm mà cơ quan chức năng cung cấp có
được các đơn vị sử dụng lao động làm cơ sở
để cải thiện điều kiện làm việc hay họ chỉ thực
hiện theo quy định mà không quan tâm đến
việc cải thiện điều kiện làm việc là chưa rõ.
Do đó nghiên cứu được tiến hành trên những
đơn vị sử dụng lao động tuân thủ quy định
về kiểm tra môi trường lao động từ năm 20052010. Kết quả nghiên cứu sẽ là những cơ sở
vững chắc để trả lời nhận định “các đơn vị sử
dụng lao động có thật sự sử dụng các kết quả
kiểm tra môi trường lao động hàng năm để
làm cơ sở cho việc cải thiện điều kiện làm
việc”
Mục tiêu: Xác định sự cải thiện các chỉ tiêu
không đạt tiêu chuẩn 3733/ QĐ-BYT về vi khí
hậu, ánh sáng, tiếng ồn, bụi, hơi khí độc của
các đơn vị sử dụng lao động thực hiện kiểm
tra môi trường lao động tại TT Sức Khỏe Lao
Động Môi Trường tỉnh Bình Dương từ năm
2005 đến năm 2010.

động kiểm tra môi trường tại TTSKLĐMT
tỉnh Bình Dương. Tất cả các đơn vị sử dụng
lao động bắt đầu kiểm tra môi trường lao
động từ năm 2005-2008 được chọn vào
nghiên cứu. Tiêu chí loại ra là những đơn vị
sử dụng lao động không kiểm tra môi trường
lao động năm 2010.
Đối tượng tham gia nghiên cứu được
thu tuyển bằng phần mềm Excel dựa trên báo
cáo hàng năm tại TTSKLĐMT tỉnh Bình
Dương để xác định những đơn vị tuân thủ
đầy đủ (mỗi năm đều định kỳ kiểm tra một
lần) và tuân thủ không đầy đủ quy định về
kiểm tra môi trường lao động (kiểm tra môi
trường lao động nhưng không liên tục qua
các năm). Trên cơ sở dữ liệu có được sẽ tiến
hành phân tích sự cải thiện về tỷ lệ các yếu tố
không đạt tiêu chuẩn QĐ 3733/2002/QĐ-BYT
như vi khí hậu, ánh sáng, tiếng ồn và hơi khí
độc từ lần đầu kiểm tra môi trường lao động
so với lần kiểm tra vào năm 2010 (1).
Dữ kiện được nhập bằng phần mềm Excel
và xử lý bằng Stata 10.0 qua phân tích bắt cặp
(Wilcoxon Signed-Rank Test) mức ý nghĩa
5%.

KẾT QUẢ
Đặc điểm mẫu nghiên cứu

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
Nghiên cứu so sánh trước sau được
tiến hành trên những đơn vị sử dụng lao

Biểu đồ 1. Đặc điểm mẫu nghiên cứu

Chuyên Đề Y Tế Công Cộng


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 3 * 2012
Số lượng các đơn vị sử dụng lao động
kiểm tra môi trường lao động tăng theo từng
năm (từ năm 2005-2008) nhưng tỷ lệ các đơn
vị sử dụng lao động kiểm tra lại môi trường
lao động vào năm 2010 kể từ lần kiểm tra đầu
tiên hầu như không tăng theo từng số năm
theo dõi, chỉ khoảng 20%.
Phân bố các đơn vị sử dụng lao động tuân
thủ kiểm tra môi trường lao động theo địa
điểm kinh doanh tính đến năm 2010

Biểu đồ 2. Tỷ lệ đơn vị sử dụng lao động tuân
thủ đến năm 2010 theo địa điểm kinh doanh
So với các đơn vị sử dụng lao động hoạt
động trong khu công nghiệp thì các đơn vị sử
dụng lao động ngoài khu công nghiệp có tỷ lệ
kiểm tra lại môi trường lao động vào năm 2010
kể từ lần kiểm tra đầu tiên theo từng số năm
theo dõi được (3 và 4 năm) cao hơn .
Phân bố các đơn vị sử dụng lao động tuân thủ
kiểm tra môi trường lao động theo ngành nghề
tính đến năm 2010

Biểu đồ 3. Phân bố số lượng đơn vị sử dụng lao
động tuân thủ đến năm 2010 theo ngành nghề
Những đơn vị sử dụng lao động tuân
thủ kiểm tra môi trường lao động định kỳ chủ
yếu thuộc lĩnh vực may mặc.
Tỷ lệ các chỉ tiêu không đạt tiêu chuẩn của
những đơn vị sử dụng lao động tuân thủ kiểm
tra môi trường lao động tính đến năm 2010

Nghiên cứu Y học

Bảng 1. Tỷ lệ các chỉ tiêu môi trường lao động
không đạt theo tiêu chuẩn 3733

Các yếu tố

Tỷ lệ không đạt qua các năm
(%)

6 năm 5 năm 4 năm 3 năm
Kiểm tra môi
Nhiệt Trước 0.22
0.21
0.02
0.11
trường lao động độ
Năm
2010 0.10
0.14
0.32
0.08
Ẩm độ Trước
0
0
0.07
0.03
Năm
2010
0
0
0
0
Tốc độ Trước 0.05
0.01
0.02
0.04
gió
Năm
2010
0
0
0
0
Ánh Trước 0.07
0.02
0.01
0.09
sáng Năm
2010 0.02
0.08
0.17
0.10
Tiếng Trước 0.11
0.02
0.12
0.15
ồn
Năm
2010 0.08
0.18
0.17
0.15
Trước 0.01
0
0
0
Bụi
Năm
2010 <0.01
0
0.01
0
Hơi khí Trước 0.16 0.125
0
0.54
độc Năm
2010 0.34
0
0.06
0.52
Nhiệt Trước 0.16
0.19
0.24
0.20
độ
Năm
2010 0.18
0.16
0.20
0.19
Ẩm độ Trước
0
0.05
0.04
0.10
Năm
2010 0.15
0.25
0.09
0
Tốc độ Trước 0.18
0.07
0.03
0.01
gió
Năm
2010 0.01
0
0
0
Ánh Trước 0.21
0.03
0.06
0.09
sáng Năm
2010 0.19
0.09
0.12
0.09
Tiếng Trước 0.17
0.05
0.10
0.16
ồn
Năm
2010 0.20
0.06
0.11
0.14
Bụi Trước
0
0
0
<0.01
Năm
2010 <0.01
0
0
0.01
Hơi khí Trước
0
0
0.46
0.44
độc
Năm 0.27
0.19
0.34
0.14
2010

Tỷ lệ các mẫu đo không đạt tiêu chuẩn
về môi trường lao động qua các năm theo dõi
liên tiếp vẫn còn tồn tại dù đơn vị sử dụng lao
động có tuân thủ đầy đủ kiểm tra môi trường
lao động hay không, trong đó tỷ lệ không đạt
vẫn còn ở mức cao ở các chỉ tiêu về nhiệt độ,
ánh sáng, tiếng ồn, hơi khí độc
Sự cải thiện các chỉ tiêu môi trường lao động
không đạt tiêu chuẩn tính đến năm 2010.

Chuyên Đề Y Tế Công Cộng


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 3 * 2012
Bảng 2. Sự cải thiện các chỉ tiêu môi trường lao
động từ lần đầu kiểm tra môi trường lao động so với
năm 2010
Không đầy đủ((kiểm tra môi
Kiểm tra Đầy đủ (mỗi năm đều định kỳ
trường lao động nhưng không
môi
kiểm tra một lần)
liên tục qua các năm)
trường
Trung bình (khoảng tứ
Trung bình (khoảng tứ
lao động
vị)
vị)
N
p N
[tỷ lệ không đạt tiêu
[tỷ lệ không đạt tiêu
chuẩn]
chuẩn]
Trước
Sau
Trước
Sau
6 năm
Năm
Năm
Năm 2010
Năm 2005
liên tiếp
2005
2010
Nhiệt độ
0 (0-0,28) 0,03 (0-0,54) 0,77
0,03 (0-0,23) 0 (0-0,30) 0,50
19
Ẩm độ 5
0
0
0 (0-0)
0 (0-0) 0,32
0,04
Tốc độ
0,12 (0,03<0,0
(0,010 (0-0) 0,06
0 (0-0)
gió
0,23)
1
0,20)
0,16
0,08 (0Ánh sáng
0,02 (0-0,02) 0,58
0,13 (0-0,30) (0,03- 0,86
0,08)
0,30)
0,08
Tiếng ồn
0,03 (0-0,07) 0,27
0 (0-0,38) 0 (0-0,38) 0,56
(0,01-0,1)
Bụi
0 (0-0)
0 (0-0)
0,87
0 (0-0)
0
0,32
Hơi khí
0,09 (0- 0,35 (0,320,18
độc
0,19)
0,38)
5 năm
Năm
Năm
6
Năm 2010
16 Năm 2006
liên tiếp
2006
2010
0,23 (0Nhiệt độ
0,19 (0-0,30) 0,42
0 (0-0)
0 (0-0) 0,08
0,52)
Ẩm độ
0
0
0 (0-0)
0 (0-0) 0,16
Tốc độ
<0,0
0
0
0 (0-0,14)
0
gió
1
0,06 (0Ánh sáng
0 (0-0) 0,05 (0-0,22) 0,08
0 (0-0,04)
0,11
0,11)
Tiếng ồn
0 (0-0) 0,25 (0-0,35) 0,05
0 (0-0,08) 0 (0-0,12) 0,41
Bụi
0
0
0
0
Hơi khí
0
0
độc
4 năm
Năm
Năm
Năm 2010
Năm 2007
liên tiếp
2007
2010
Nhiệt độ
0 (0-0)
0 (0-0,4) 0,30
0 (0-0,35) 0 (0-0,40) 0,74
Ẩm độ
0 (0-0)
0
0,16
0 (0-0)
0 (0-0) 0,34
Tốc độ
0 (0-0) 0,93 31
0 (0-0)
0
0,01
9 0 (0-0)
gió
0,09 (0- <0,0
Ánh sáng
0 (0-0)
0 (0-0,07) 0,19
0 (0-0,13)
0,23)
1
0,05 (00,02 (0Tiếng ồn
0 (0-0,36) 0,95
0,02 (0-0,1)
0,59
0,18)
0,12)
Bụi
0 (0-0)
0 (0-0) 0,15
0
0
Hơi khí
0,37 (0,16- 0,16 (00
0
0,22
độc
0,6)
0,40)
3 năm
13
liên tiếp
Nhiệt độ
Ẩm độ
Tốc độ
gió
Ánh sáng
Tiếng ồn
Bụi
Hơi khí
độc

Năm
2008
0 (0-0)
0 (0-0)
0 (0-0)

Năm 2010

22

0 (0-0)
0 (0-0)

0,56
0,16

0 (0-0)

0,16

0,06 (00,04 (0-0,17) 0,94
0,18)
0,03 (00 (0-0,30) 0,46
0,29)
0
0
0,33 (0- 0,33 (0,10,85
0,73)
0,67)

Năm
2010
0 (0-0,28) 0 (0-0,20) 0,97
0 (0-0)
0
0,04

Năm 2008

0 (0-00

0

0,15

0,05 (00,06 (0-0,14)
0,85
0,18)
0,04 (0-0,11) 0 (0-0,11) 0,06
0 (0-0)
0,47 (0,170,50)

0 (0-0) 0,97
0 (0-0) 0,02

Các đơn vị sử dụng lao động tuân thủ
đầy đủ quy định kiểm tra môi trường lao động
hầu như không có sự cải thiện có ý nghĩa thống
kê (p>0,05) các chỉ tiêu không đạt về môi trường
lao động. Tuy nhiên trên những đơn vị sử
dụng lao động không kiểm tra môi trường lao
động đầy đủ chỉ cải thiện có ý nghĩa thống kê

Nghiên cứu Y học

(p<0,05) tỷ lệ không đạt về tốc độ gió, hơi khí
độc nhưng tỷ lệ không đạt về ánh sáng lại gia
tăng. Ngoài ra tỷ lệ các chỉ tiêu không đạt khác
như nhiệt độ, ẩm độ, tiếng ồn hơi khí độc
(ngoại trừ những đơn vị sử dụng lao động
kiểm tra môi trường lao động không đầy đủ 3
năm liên tiếp) không có sự cải thiện có ý nghĩa
thống kê.

BÀN LUẬN

Sự tuân thủ kiểm tra môi trường lao
động đến năm 2010 cho thấy những đơn vị sử
dụng lao động hoạt động trong khu công
nghiệp tuân thủ thấp hơn những đơn vị sử
dụng lao động hoạt động ngoài khu công
nghiệp kể từ năm 2007. Tuy nhiên, các đơn vị
sử dụng lao động kiểm tra môi trường lao động
lại tập trung chủ yếu thuộc các ngành may mặc,
giày da, gỗ. Có lẽ sản phẩm của những ngành
nghề này thường hướng tới xuất khẩu, do đó
yêu cầu của đối tác nước ngoài cũng cao hơn
nên số lượng đơn vị sử dụng lao động này tuân
thủ kiểm tra môi trường lao động cũng cao
hơn (2)(4).
Kết quả về đo kiểm môi trường lao
động cũng như những kiến nghị từ cơ quan
chuyên môn là cơ sở cho việc cải thiện điều kiện
làm việc nhưng các đơn vị sử dụng lao động
chưa quan tâm đến việc cải thiện các chỉ tiêu
không đạt tiêu chuẩn . Mặt dù mỗi năm
TTSKLĐMT luôn nhận được đề nghị từ các
đơn vị sử dụng lao động đo kiểm môi trường
lao động và luôn cung cấp những giải pháp
chuyên môn để cải thiện điều kiện làm việc v.v.
nhưng những đơn vị sử dụng lao động kiểm
tra môi trường lao động đầy đủ 6 năm, 5 năm, 4
năm, 3 năm liên tiếp đều không có sự cải thiện
đáng kể nào (p<0,05) nhằm giảm các chỉ tiêu
không đạt về điều kiện làm việc (tỷ lệ không
đạt về nhiệt độ, ánh sáng, tiếng ồn, hơi khí độc
vẫn còn khá cao)(bảng 2). Hậu quả là người lao
động vẫn phải tiếp xúc với nhiều yếu tố độc hại
qua nhiều năm cho dù người lao động đang
làm việc trong những đơn vị sử dụng lao động
tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật.

Chuyên Đề Y Tế Công Cộng


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 3 * 2012
Một số chỉ tiêu dễ khắc phục về mặt
“hình thức” như ẩm độ, tốc độ gió thì có sự cải
thiện ở những đơn vị sử dụng lao động kiểm
tra môi trường lao động không đầy đủ qua các
năm. Thực tế những chỉ tiêu này rất dễ cải thiện
về mặt “con số”, bởi lẽ khi không đạt về các
điều kiện về ẩm độ thì họ có thể yêu cầu các cơ
quan chức năng đo kiểm lại vào buổi chiều v.v
(thực tế cho thấy kiểm tra độ ẩm tại các đơn vị
sử dụng lao động vào buổi sáng hoặc những
ngày có mưa thì đa số các chỉ tiêu này sẽ không
đạt, hoặc chỉ tiêu về tốc độ gió khi không đạt tại
một vị trí nào đó thì họ sẽ khắc phục bằng cách
trang bị thêm quạt tại những vị trí không đạt và
yêu cầu cơ quan chức năng phúc tra lại những
vị trí trên v.v. ). Đó là những giải pháp tình thế,
do đó người lao động không được hưởng lợi
nhiều từ việc đo kiểm môi trường lao động của
đơn vị sử dụng lao động. Trên những đơn vị sử
dụng lao động tuân thủ không đầy đủ 3 năm
liên tiếp thì có sự cải thiện tỷ lệ không đạt về
hơi khí độc (p<0,05)(bảng 2), tuy nhiên sự cải
thiện này là do sử dụng tiêu chuẩn đánh giá hơi
khí độc ở năm 2008 là tiêu chuẩn trung bình 8
giờ và năm 2010 là từng lần tối đa, điều này
dẫn đến sự cải thiện giả tạo do tiêu chuẩn đánh
giá nồng độ hơi khí độc là khác nhau (tiêu
chuẩn từng lần tối đa cho phép nồng độ hơi khí
độc trong môi trường làm việc là cao hơn so với
tiêu chuẩn trung bình 8 giờ). Vì vậy, các chỉ tiêu
về nhiệt độ, ánh sáng, ồn, hơi khí độc vẫn sẽ
không đạt theo tiêu chuẩn từ năm này qua năm
khác bất kể đơn vị sử dụng lao động có kiểm
tra môi trường lao động đầy đủ theo quy định
hay không.
Đơn vị sử dụng lao động “quên” đo
kiểm môi trường lao động hằng năm, không
cần cải thiện điều kiện làm việc khi kết quả
kiểm tra môi trường lao động không đạt yêu
cầu vẫn được mặc nhiên tiếp tục hoạt động.
Trong khi đó TTSKLĐMT vẫn phải đưa ra
hàng loạt kiến nghị, giải pháp, tăng cường giám
sát những đơn vị sử dụng lao động này mà
chưa nhận được thiện chí cải thiện điều kiện

Nghiên cứu Y học

làm việc. Họ chỉ thực hiện quy định một cách
hình thức nhằm hợp thức hóa về thủ tục hành
chính để đối phó với các cơ quan chức năng. Có
thể mức xử phạt hành chính ở những đơn vị sử
dụng lao động không thực hiện theo quy định
của pháp luật thấp hơn rất nhiều so với những
chi phí mà họ thực hiện công việc đo kiểm
hàng năm(3)(5). Đồng thời, tỷ lệ các đơn vị sử
dụng lao động kiểm tra môi trường lao động
qua các năm rất thấp, đa số họ không kiểm tra
môi trường lao động theo luật định, hoặc chỉ
kiểm tra một lần (5). Nhưng TTSKLĐMT tỉnh
Bình Dương là cơ quan chuyên môn về lĩnh
vực vệ sinh lao động và bệnh nghề nghiệp
nhưng những yêu cầu và giải pháp đưa ra trên
cơ sở kết quả đo kiểm môi trường lao động
chưa tác động đến sự tuân thủ các quy định
cũng như sự cải thiện điều kiện làm việc. Đây là
một thực trạng phổ biến và khó chấp nhận.
Chúng ta chưa có những chế tài đủ sức
hướng đơn vị sử dụng lao động thực hiện
nghiêm ngặt các quy định về vệ sinh lao động.
Để khắc phục các chỉ tiêu không đạt yêu cầu về
môi trường lao động gặp không ít khó khăn
nếu không có những giải pháp căn cơ và đồng
bộ. Giải pháp bắt buộc đơn vị sử dụng lao động
xây dựng lại nhà xưởng, đổi mới công nghệ sản
xuất ngay lập tức v.v để đổi lại một điều kiện
làm việc an toàn hơn là không thể thực hiện.
Cũng như chúng ta thiếu hẳn những lộ trình về
mặt pháp luật nhằm đánh giá các tiêu chuẩn về
điều kiện làm việc trước khi xây dựng nơi làm
việc. Trong khi cơ quan chuyên môn về y tế
vẫn chỉ dừng lại ở việc giám sát mà chưa có
những biện pháp chế tài hiệu quả nhằm thay
đổi nhận thức và tác động một cách hữu hiệu
để tạo ra một nơi làm việc an toàn.

KẾT LUẬN & KIẾN NGHỊ

Mặc dù các đơn vị sử dụng lao động
thực hiện nghiêm chỉnh các quy định về đo
kiểm môi trường lao động hay không thì các
chỉ tiêu không đạt về vi khí hậu, ánh sáng,
tiếng ồn, hơi khí độc vẫn còn tồn tại theo thời
gian.

Chuyên Đề Y Tế Công Cộng


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 3 * 2012
Do vậy, cơ quan y tế cần tăng cường
hợp tác với các cơ quan chức năng hoàn thiện
hệ thống pháp luật về vệ sinh lao động, tập
trung giám sát cũng như bắt buộc đơn vị sử
dụng lao động đánh giá tác động của quy trình
công nghệ và nhà xưởng lên điều kiện làm việc
trước khi tiến hành xây dựng nhà xưởng.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
2.

Bộ Y Tế (2002) "Quyết định số 3733/2002/QĐ-BYT "
Nguyễn Văn Chinh, Huỳnh Thanh Hà, Nguyễn Thị Nghĩa,
Nguyễn Đỗ Nguyên, Trịnh Hồng Lân (2010) "Các yếu tố liên

3.

4.

5.

Nghiên cứu Y học

quan đến tuân thủ quy định về kiểm tra môi trường lao động,
khám sức khỏe định kỳ của các đơn vị sử dụng lao động tại
Bình Dương năm 2009". Y học thành phố Hồ Chí Minh, 14, (2),
199-206.
Trần Thị Ngọc Lan (2008) Hệ thống các văn bản pháp luật về vệ
sinh an toàn nơi làm việc và chăm sóc sức khỏe Cho người lao
động, NXB Lao Động- Xã Hội,
Trung tâm phát triển và hội nhập quản trị (2010), Trách nhiệm
xã hội của doanh nghiệp,
http://www.vietnamforumcsr.net/default.aspx?
portalid=1&tabid=17&itemid=5840v, truy cập ngày 01/01/2010
Trung tâm sức khỏe lao động môi trường tỉnh Bình Dương
(2010). "Báo cáo tổng kết năm 2006, 2007, 2008, 2009, 2010".

Chuyên Đề Y Tế Công Cộng



x

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×